1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con người và thơ văn phan thanh giản 150 năm nghị luận, phẩm bình

206 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 5,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Con người và thơ văn Phan Thanh Giản – 150 năm nghị luận, phẩm bình để nghiên cứu và thực hiện luận văn này, với mục đích cung cấp cái nhìn tổ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- NGUYỄN THỊ LIÊN

CON NGƯỜI VÀ THƠ VĂN PHAN THANH GIẢN –

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- NGUYỄN THỊ LIÊN

CON NGƯỜI VÀ THƠ VĂN PHAN THANH GIẢN –

150 NĂM NGHỊ LUẬN, PHẨM BÌNH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.23.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Những nội dung được trình bày trong luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Quang Trường Các tham khảo, trích dẫn sử dụng trong luận văn có ghi nguồn gốc cụ thể (tên tác giả, tên công trình, thời gian, hình thức công bố)

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Học viên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, anh chị, bạn bè Xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới:

Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

TS Lê Quang Trường – cán bộ hướng dẫn, đã nhiệt tình đã chỉ dẫn, giúp

đỡ, động viên và khuyến khích để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Ban Giám hiệu, Trung tâm Thông tin của Trường Đại học Văn Lang – nơi tôi đang công tác – đã tạo điều kiện về mặt thời gian và công việc để tôi thực hiện luận văn

Hậu duệ của cụ Phan Thanh Giản: bà Phan Thanh Ty Ty, gia đình luật sư Trần Phan Việt Dũng, chú Trương Quang Thao đã cung cấp nhiều thông tin, tư liệu

về cụ Phan Thanh Giản

Chú Trần Văn Sung – Trưởng Ban Quý tế Lăng Ông Lê Văn Duyệt đã tạo điều kiện giúp đỡ nhiều về mặt tư liệu về cụ Phan Thanh Giản

Gia đình và bạn bè – những người đã động viên tôi học tập, làm việc và hoàn thành luận văn

Trang 5

CÁC QUY ĐỊNH, KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng, phạm vi của đề tài 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Phương pháp nghiên cứu 12

5 Đóng góp của luận văn 12

6 Cấu trúc của luận văn 13

Chương 1 14

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14

1.1 Vài nét về Lý thuyết tiếp nhận 15

1.2 Bối cảnh lịch sử và thân thế sự nghiệp, thơ văn Phan Thanh Giản 17

1.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội thế kỷ XIX 17

1.2.2 Thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Phan Thanh Giản 20

Chương 2 54

LỊCH SỬ TIẾP NHẬN VẤN ĐỀ CON NGƯỜI PHAN THANH GIẢN 54

2.1 Nghị luận và phẩm bình về Phan Thanh Giản giai đoạn 1867 – 1954 54

2.2 Nghị luận, phẩm bình về Phan Thanh Giản giai đoạn 1955 - 1975 79

2.3 Nghị luận, phẩm bình về Phan Thanh Giản giai đoạn 1976 - 1986 90

2.4 Nghị luận, phẩm bình về Phan Thanh Giản giai đoạn 1986 - nay 93

Chương 3 107

LỊCH SỬ TIẾP NHẬN THƠ VĂN PHAN THANH GIẢN 107

3.1 Nghị luận, phẩm bình thơ văn Phan Thanh Giản giai đoạn 1867 - 1886 107

3.2 Nghị luận, phẩm bình thơ văn Phan Thanh Giản giai đoạn 1886 - 1954 114

3.3 Nghị luận, phẩm bình thơ văn Phan Thanh Giản giai đoạn 1954 - 1975 118

3.4 Nghị luận, phẩm bình thơ văn Phan Thanh Giản giai đoạn 1975 - 1986 126

3.5 Nghị luận, phẩm bình thơ văn Phan Thanh Giản giai đoạn 1986 - 2016 127

KẾT LUẬN 140

TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

Trang 7

Phan Thanh Giản (1796 -1867), sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử phức tạp của thế kỷ XIX, thời điểm cả thế giới và Việt Nam đều có những biến động lớn Ông là người Nam Kỳ đầu tiên đậu tiến sĩ, bước vào hoạn lộ hanh thông

ở cả ba triều vua bắt đầu từ tài năng văn chương thi phú Làm quan trong bối cảnh

ấy, Phan Thanh Giản đã chứng tỏ được năng lực, thể hiện được phẩm chất của một

vị quan tốt, nhưng cũng bộc lộ những hạn chế về tư tưởng, đưa đến cách hành xử khó hiểu, gây nên tấn thảm kịch của đất nước và bi kịch cho chính mình

Phan Thanh Giản mất ngày nay đã 149 năm tròn, nhưng những phẩm bình

về con người và thơ văn của ông vẫn chưa có một sự nhận định thống nhất, một kết luận cụ thể, sau cùng Cái nhìn của người đương thời và hậu thế về Phan Thanh Giản luôn chứa đựng sự đa chiều, các sắc thái cung bậc theo đó cũng đa dạng, từ khen – chê cho tới yêu – hận, các khuynh hướng đan xen như một bức tranh với những mảng màu sáng – tối khác nhau Và hôm nay, đề tài về Phan Thanh Giản vẫn mang tính thời sự và có sức hút với giới nghiên cứu nhiều khoa học xã hội

Trang 8

Phải chăng vì Phan Thanh Giản có cuộc đời thăng trầm, kèm theo hành trạng tương đối phức tạp, nhất là cách hành xử những năm cuối đời khởi đi từ việc ký Hòa ước

1862 “cắt” ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và năm năm sau gián tiếp để mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1867) để rồi tự xử mình bằng chén thuốc độc và lời trối lúc cuối đời gây nhiều tranh cãi suốt từ ngày ông mất đến nay

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Con người và thơ văn Phan Thanh Giản – 150 năm nghị luận, phẩm bình để nghiên cứu và thực hiện luận văn

này, với mục đích cung cấp cái nhìn tổng quan xoay quanh câu chuyện nghị luận, phẩm bình về con người, thơ văn của một tác giả triều Nguyễn, bị bỏ ngỏ lâu nay

2 Đối tượng, phạm vi của đề tài

Với đề tài Con người và thơ văn Phan Thanh Giản – 150 năm nghị luận, phẩm bình, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu chính là những phẩm bình của

người đương thời và hậu thế về Phan Thanh Giản và thơ văn của ông Phạm vi nghiên cứu là toàn bộ phẩm bình về Phan Thanh Giản ở khía cạnh là một tác giả văn học và những phẩm bình về thơ văn của ông từ năm 1867 đến nay

Con người Phan Thanh Giản có thể hiểu trên hai bình diện: một nhân vật lịch sử sống trong bối cảnh chính trị phức tạp triều Nguyễn, hai là một tác gia văn học triều Nguyễn Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu ở bình diện thứ hai của ông, nghĩa là chỉ dừng lại ở phạm vi thơ, văn viết về ông trong gần hai thế kỷ qua, dưới góc nhìn của “tòa án” văn học, văn hóa, có điểm lược và liên hệ với con người Phan Thanh Giản ở bình diện thứ nhất - con người lịch sử - văn hóa

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3.1 Nghiên cứu Phan Thanh Giản ở góc độ con người lịch sử - văn hóa

Nghiên cứu về Phan Thanh Giản trước 1975, có nhiều quan điểm khác

nhau, thậm chí đối lập Chúng tôi có thể điểm một số công trình đáng chú ý sau:

Đầu tiên, chúng ta có thể kể đến nhận xét của người đương thời về Phan Thanh Giản, nhất là sau sự kiện Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử năm1867

Trong các công trình sử học của Quốc sử quán triều Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam thực lục… viết về Phan Thanh

Giản là một vị quan đầu triều, có những tính cách nổi bật: liêm khiết, chuyên tâm

Trang 9

3

với công việc, ôn hòa, khiêm nhường, được trọng dụng ở cả ba triều vua – Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức Nhưng sự đánh giá Phan Thanh Giản ở ba nhân vật này cũng đã có sự khác nhau ở từng người, và trong mỗi người trong từng thời điểm khác nhau cũng có sự đánh giá khác nhau Sau vua là các đình thần, và nhà nho – trí thức đương thời cũng có sự đánh giá không giống nhau về Phan Thanh Giản Giới quan chức người Pháp, cái nhìn về Phan Thanh Giản cũng không thống nhất

Trong số nhà nho – trí thức đương thời thuở ấy, tiêu biểu là Nguyễn Đình Chiểu – người vốn rất rạch ròi giữa địch và ta Khi Phan Thanh Giản mất, Đồ

Chiểu đã viết Điếu Đông các Đại học sĩ Phan Công nhị thủ (một bài thơ chữ Nôm

và một bài thơ chữ Hán), sau đó trong bài Điếu Phan Tòng và sau này trong Văn tế lục tỉnh nghĩa sĩ trận vong đều nhắc đến Phan Thanh Giản, là một người đáng được

trân trọng Đây là một trường hợp khiến chúng ta suy nghĩ, trăn trở nhiều

Sang thế kỷ XX, một trong những công trình sử học đầu tiên đề cập đến Phan Thanh Giản là bài viết “Ngài Phan Thanh Giản – Thượng Thư An Nam (1789-1867)” của Tuần vũ tỉnh Quảng Trị - Đào Thái Hanh, trích in trong cuốn

Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Hué), tập 2, 1915 Đây là

một bài viết chi tiết về cuộc đời, thâu tóm con đường làm quan nhiều thăng trầm của Phan Thanh Giản, cùng với đó là những nhận định về tài năng, phẩm chất cao quý của một vị quan đầu triều: lỗi lạc về trí thức văn chương, là khoa bảng văn đầu tiên ở Nam Kỳ, một vị quan nghiêm khắc, liêm chính, được triều đình trọng vọng,

và nhiệm vụ bất khả kháng ở Nam Kỳ, dẫn đến cái chết

Bốn năm sau, 1919, Trần Trọng Kim biên soạn Việt Nam sử lược, một công

trình sử học được đánh giá cao về tính khách quan, đề cập đến hai khía cạnh: đức thanh liêm và bi kịch cuối đời của Phan Thanh Giản Đây cũng là hai vấn đề gây tranh cãi suốt nhiều năm sau đó

Bàn về Phan Thanh Giản, trong giai đoạn này, không thể bỏ qua hai sự kiện lớn ở hai miền của đất nước Bắc - Nam, sự nhận định cũng khác nhau

Đó là năm 1962-1963, tại Hà Nội, giới Sử học tổ chức cuộc tranh luận về

Phan Thanh Giản, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Chúng ta có thể điểm

nhanh các bài viết tiêu biểu: Nhuận Chi (1963): “Cần vạch rõ hơn nữa trách nhiệm của Phan Thanh Giản trước lịch sử”, Trương Hữu Kỳ (1963): “Đánh giá Phan

Trang 10

Thanh Giản thế nào cho đúng?”, Nguyễn Anh (1963): “Về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản”, Đặng Việt Thanh (1963): “Cần nhận định và đánh giá Phan Thanh Giản như thế nào?”, Nguyễn Khắc Đạm (1963): “Đánh giá Phan Thanh Giản thế nào cho đúng?”, Chu Quang Trứ (1963): “Cần nghiêm khắc lên án Phan Thanh Giản”, Trần Huy Liệu (1963): “Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản” Các bài viết tập trung vào luận điểm cho rằng Phan Thanh Giản chính là một người có tư tưởng “hàng giặc, bán nước”, xu hướng tập trung vào phê phán và

lên án Phan Thanh Giản, nhất là bài tổng kết của Trần Huy Liệu “… công đức đã bại hoại rồi thì tư đức còn có gì đáng kể… Bản án Phan Thanh Giản nằm trong hồ

sơ hàng giặc, bán nước của triều Nguyễn” [100, tr.19]

Năm năm sau (1967), nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Phan Thanh Giản, cũng là 100 năm ngày Pháp chiếm Nam Kỳ Lục Tỉnh, tại Sài Gòn, nhóm giáo sư và sinh viên Trường ĐH Sư phạm Sài Gòn (thuộc Viện Đại học Sài Gòn)

ra số báo đặc biệt: Đặc khảo về Phan Thanh Giản (1796 - 1867) (số 7, 8) Tập san

Sử Địa đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của nhiều cây bút, ở nhiều lĩnh vực, có

thể kể ra một số bài viết như: Trương Bá Cần: “Phan Thanh Giản đi sứ ở Paris”, Nguyễn Thế Anh: “Phan Thanh Giản dưới mắt người Pháp”, Lãng Hồ: “Một nghi vấn về tập Tây phù nhật ký”, Phù Lang Trương Bá Phát: “Kinh lược Đại Thần Phan Thanh Giản với sự chiếm cứ ba tỉnh miền Tây”, Phạm Văn Sơn: “Chung quanh cái chết và trách nhiệm của Phan Thanh Giản trước các biến cố của Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX”, Trần Quốc Giám: “Cuộc đời Phan Thanh Giản”, Lê Văn Ngôn:

“Nhơn cuộc du xuân, may gặp kho tàng quý giá về Cụ Phan Thanh Giản”, T.Q.G:

“Thái độ của triều đình Huế đối với Phan Thanh Giản”… Những bài viết trên Tập

san Sử Địa đề cập đến nhiều khía cạnh, có tính đối thoại với tạp chí Nghiên cứu Lịch sử: không đồng ý với quan điểm: Phan Thanh Giản là người bán nước

Hai cuộc “bút chiến” đáng kể trên được viện dẫn ở hầu hết các công trình nghiên cứu liên quan đến Phan Thanh Giản Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xin không đi sâu, chỉ xin điểm lược như vậy để thấy sự liên tục của lịch sử, để thấy vấn đề về Phan Thanh Giản chưa khi nào bị lãng quên, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm của đất nước

Trang 11

5

Ngoài hai cuộc tranh luận trên, chúng ta tôi xin kể tên những công trình khác nghiên cứu về Phan Thanh Giản trong giai đoạn này

Chân dung Phan Thanh của Nguyễn Duy Oanh (1974) là công trình cần kể

đến, một cuốn tổng tập đầu tiên về Phan Thanh Giản – phản ánh trung thực về Phan Thanh Giản (cuộc đời, sự nghiệp, thơ văn, những phẩm bình về Phan Thanh Giản từ ngày mất đến năm 1974) Đây là tập tài liệu tham khảo có giá trị tham khảo, đáng tin cậy, đã được nhiều công trình nghiên cứu viện dẫn

Bên cạnh nguồn tài liệu sử học kể trên, những câu chuyện lưu truyền trong dân gian (những giai thoại, những bài thơ kể về một ông quan liêm khiết, yêu dân, gần dân, sẵn sàng xả thân vì dân, thể hiện trong các tác phẩm văn học, những giai thoại lịch sử) Xin điểm lược một số công trình sau:

Năm 1927, Thái Hữu Võ viết Phan Thanh Giản truyện, với 73 trang sách

(lời tựa, chuyện về Phan Thanh Giản, phần công luận phẩm bình) đã khắc họa cuộc đời của Phan Thanh Giản – bằng cái nhìn từ tâm thức của người dân Nam Bộ, mộc mạc, dung dị, nhưng thành kính Cuốn sách giúp ta hiểu trong lòng người Nam Bộ, Phan Thanh Giản có một vị trí thật sự bền vững

Năm 1945, tại Hà Nội, Tam Thanh và Hoành Hải viết Phan Thanh Giản (1796 – 1867 với một thái độ trân trọng, sùng kính Phan Thanh Giản được suy tôn

thành “lão anh hùng”, “nhà đại ái quốc thức thời”, “bậc vĩ nhân” Cuốn sách này không phổ biến trong giới nghiên cứu, không nhiều người nhắc đến

Bằng cái nhìn cảm thông, trân trọng, Nam Xuân Thọ viết Phan Thanh Giản (1796 -1867), Tân Việt, Sài Gòn xuất bản năm 1950 Cuốn sách dựng lại chân

dung Phan Thanh Giản, dẫn ra những nghị luận, phẩm bình về cụ Phan

Báo chí cũng góp phần mình bằng các bài viết đăng rải rác trên các tờ tạp

chí từ Bắc chí Nam: Tri tân, Đông Dương, Đại Việt tập chí, Nam Kỳ tuần báo, Giáo dục Phổ thông, Đồng Nai văn tập Phần lớn các bài viết chủ yếu là đánh giá

về con người lịch sử, liên quan đến sự kiện Hiệp ước 1862 và sự kiện để mất thành Vĩnh Long vào tay Pháp (1867), quy kết, lên án Phan Thanh Giản

Từ sau 1975 đến trước thời kỳ đổi mới, tình hình nghiên cứu về Phan Thanh Giản không sôi động như trước đó Giai đoạn này, các trường học, tên đường, các

Trang 12

công trình mang tên Phan Thanh Giản đều bị gỡ bỏ, không có công trình viết về

Phan Thanh Giản đáng kể tới ngoài luận án tiến sĩ: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, 1847 – 1885 (1982), của một người Nhật, Yoshiharu Tsuboi

Tác giả công trình dành một chương về Phan Thanh Giản, so sánh với Nguyễn Tri Phương, Trương Đăng Quế, dành nhiều thiện cảm cho cụ Phan, đánh giá cao vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ, có những phát hiện mới, từ điểm nhìn của người nước ngoài về lịch sử Việt Nam

Năm 1986, Đảng, Nhà nước chủ trương thực hiện chính sách đổi mới, cái nhìn về các vấn đề cũ cởi mở hơn, nhiều nhà khoa học thấy cần phải đánh giá lại Phan Thanh Giản một cách khách quan và đầy đủ hơn, như bài viết của Huỳnh Lứa

(1987) đăng trên tạp chí Tổ Quốc với tựa đề “Thử đánh giá lại nhân vật Phan

Thanh Giản”; Việt Chung chỉ ra những vấn đề về Phan Thanh Giản trong bài viết

“Chung quanh cái chết của Phan Thanh Giản”, Thế giới Những điều bí ẩn (1992)

Năm 1994, tỉnh Vĩnh Long tổ chức Hội thảo về Phan Thanh Giản, Tỉnh ủy,

ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre phối hợp với Trung tâm KHXH & NV Quốc gia, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Ban KHXH Thành ủy Tp HCM, có sự tham gia của nhiều nhà khoa học Các bài tham luận đã “chỉ ra trách nhiệm của Phan Thanh Giản trong trách nhiệm chủ yếu thuộc về Tự Đức và triều Nguyễn, và đều nhất trí: không nên quy kết tội “bán nước”, hay “phản bội tổ quốc” [68, tr.288] cho Phan Thanh Giản Đáng chú ý nhất là bài tổng kết của Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam “Phan Thanh Giản (1796-1867): Con người, sự nghiệp và bi kịch cuối đời”, như một sự tổng kết lại những chặng đường đánh giá

về Phan Thanh Giản Ngoài ra, chúng ta có thể tìm thấy những câu chuyện, những

nội dung viết về Phan Thanh Giản trong các công trình: Địa chí Bến Tre (Thạch Phương, Đoàn Tứ (1991), Chuyện đi sứ - Tiếp sứ thời thời xưa (2001) và Bang giao Đại Việt – Triều Nguyễn (2005) của Nguyễn Thế Long

Sang thế kỷ XXI, Hội thảo về Phan Thanh Giản được gọi dưới một cái tên

gắn liền với mốc thời gian: Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản,

tổ chức năm 2003, đánh dấu một chặng đường mới trong nhận định về Phan Thanh Giản, tiếp tục đào sâu và khẳng định những vấn đề đã nêu trong Hội thảo năm

1994 Hội thảo thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong giới Khoa học xã hội và nhân

Trang 13

7

văn, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tham gia Các bài tham luận trình bày tại Hội thảo được soi chiếu dưới góc nhìn sử học, hay văn học, văn hóa, thậm chí cả tâm lý, ngoài việc viện dẫn minh chứng từ nguồn sử liệu (của cả người Việt và người Pháp), có tham chiếu đến thơ văn của Phan Thanh Giản, để hiểu thực hơn về bối cảnh xã hội lúc đó Nhiều bài nghiên cứu sâu về thơ văn Phan Thanh Giản: lòng yêu nước, thiên nhiên, thơ đi sứ của Phan Thanh Giản với nhiều ý kiến khá sâu sắc của những nhà nghiên cứu đầu ngành về sử học, văn học, nhà phê bình văn học, nhà báo, nhà văn hóa học, nhà giáo… Tư liệu phong phú, cái nhìn nhiều chiều, cởi

mở, Phan Thanh Giản được đặt trong bối cảnh xã hội – thời đại ông sống, tư tưởng

ông theo, sự đánh giá bớt khắt khe hơn Ba năm sau, năm 2006, cuốn sách Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản được phát hành, tập hợp các bài

viết đã trình bày trong hội thảo năm 1994 (Vĩnh Long) và năm 2003 (Tp HCM) là một nguồn tư liệu quý đáng kể trong việc tìm hiểu, nghiên cứu, làm cơ sở để đánh giá về Phan Thanh Giản, gợi mở hướng nghiên cứu sâu hơn về Phan Thanh Giản

Từ đây, các hoạt động sưu tầm, tôn tạo các công trình, chăm sóc mộ phần về Phan Thanh Giản trên quê hương Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và những địa điểm thờ Phan Thanh Giản đã mang luồng sinh khí mới

Năm 2008, sự kiện tỉnh Bến Tre cho dựng tượng Phan Thanh Giản đã dấy lên trong dư luận hai luồng ý kiến trái chiều Các vấn đề của lịch sử một thời bị

“xới lại” từ các trang báo điện tử uy tín như Tuổi trẻ, Thanh niên, Người Lao động, Tiền Phong, cho tới Cổng thông tin điện tử tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Bình Dương, Vĩnh Long, đáng chú ý là cuộc bút chiến trên tạp chí Xưa & Nay, Hồn Việt, Văn nghệ Tp HCM, Văn nghệ Bến Tre Cái không khí đối lập ấy một lần nữa bùng phát khi Phạm Quang Long và Thanh Vân dựng vở cải lương Nợ non sông, đưa Phan

Thượng thư (tức Phan Thanh Giản) lên sâu khấu, công chiếu tháng 11/2013

Như vậy, có thể nói Phan Thanh Giản trong vai trò là một nhân vật lịch sử

đã nhận được rất nhiều ý kiến đánh giá từ phía các nhà nghiên cứu, tuy nhiên, vấn

đề công nhận hay công kích vai trò của Phan Thanh Giản đối với lịch sử dân tộc vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi, nhiều băn khoăn

Trang 14

3.2 Nghiên cứu Phan Thanh Giản trong vai trò một tác giả văn học

Phan Thanh Giản là một nhà văn, một nhà thơ triều Nguyễn, tuy nhiên những công trình nghiên cứu sâu về thơ văn của Phan Lương Khê chưa nhiều

Chúng ta cần kể đến những đánh giá về thơ văn Phan Thanh Giản của những người đương thời, là vua Tự Đức, là các văn sĩ như Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Trương Đăng Quế, Nguyễn Thông, cho tới người nước ngoài như Chánh sứ Lao Sùng Quang (Trung Hoa)… Quốc sử quán Triều Nguyễn ghi lại những câu chuyện về đối đáp văn chương giữa Phan Thanh Giản và những người đương thời Tự Đức khen văn của Giản “cổ nhã”, Trương Đăng Quế xác nhận “tài thơ không bằng Phan Thanh Giản” Bài chế của vua Đồng Khánh (1886), vừa là sự xác nhận nỗi oan của Phan Thanh Giản, trong hai mươi năm, chính thức được cởi

bỏ, bằng việc khôi phục chức tước, phẩm hàm, khắc lại tên trên bia tiến sĩ, khép lại nhận định về thơ văn của Phan Lương Khê của người đương thời, khép lại câu chuyện nghị bình về Phan Thanh Giản trong thế kỷ XIX

Hai mươi năm đầu thế kỷ XX, xuất hiện rải rác các công trình nghiên cứu

về thơ văn Phan Thanh Giản, đặc biệt ở mảng thơ chữ Nôm Năm 1903, biên soạn

Quốc âm thi hiệp tuyển, Lê Quang Chiểu trích đăng bài thơ Nôm Giã vợ đi làm quan Sau này trong nhiều công trình của các tác giả khác cũng trích đăng và bình

về bài thơ này như Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca và Điếu cổ hạ kim thi tập của Nguyễn Liên Phong (1909), Việt âm văn tuyển (1919) của Lê Sum, Ngô Tất Tố trong cuốn Thi văn bình chú (1943)

Khảo sát các công trình nghiên cứu về Phan Thanh Giản, chúng tôi thấy thơ văn cụ Phan được đưa vào chương trình học bậc phổ thông, trong một số công trình của Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đức Hiển, Nguyễn Tường Phượng

Dương Quảng Hàm, khi biên soạn cuốn Quốc văn trích diễm (1925) trích dẫn một số bài thơ Nôm của Phan Thanh Giản Sau đó khi biên soạn Việt Nam văn học sử yếu (in lần đầu năm 1941) và Việt Nam thi văn hợp tuyển (in lần đầu năm

1942) đều coi Phan Thanh Giản là một tác giả văn học triều Nguyễn

Năm 1953, biên soạn Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ XIX dành cho học sinh trung học trường Nguyễn Khuyến (Hà Nội), Nguyễn Tường Phượng, Phan

Văn Sách, Bùi Hữu Sủng xếp Phan Thanh Giản ngay ở chương 1, phần thứ nhất,

Trang 15

9

trích đăng và diễn giải chi tiết, kèm theo phần câu hỏi gợi ý về sáu bài thơ: Giã vợ

đi làm quan, Qua rừng vắng, Đi sứ sang Pháp, Tự thán, Tuyệt cốc, dẫn lời bình

của Ngô Tất Tố và Phan Khôi

Năm 1958, Chu Đăng Sơn, Nguyễn Đức Hiển biên soạn cuốn Luận đề về các thi sĩ miền Nam, dành cho các kỳ thi THPT của học sinh miền Nam Tác giả

mặc định Phan Thanh Giản là một tác giả văn học lớn của Nam Bộ, xếp Phan Thanh Giản vị trí đầu tiên, kế đến là Huỳnh Mẫn Đạt, Học Lạc, Nguyễn Đình Chiểu và Bùi Hữu Nghĩa Viết về Phan Thanh Giản, tác giả cuốn sách giới thiệu vắn tắt về tiểu sử, thơ văn, thêm phần đề thi và phần gợi ý dành cho học sinh

Song song với các hoạt động trên, việc sưu tầm, dịch thuật, viết tiểu sử, tìm hiểu về cuộc đời, thơ văn Phan Thanh Giản khá phổ biến trên các báo, tập san, tạp chí ở cả hai miền Bắc và Nam, có thể kể ra một số bài báo như: Lê Thọ Xuân

(1933): “Cụ Phan Thanh Giản” (Đồng Nai văn tập); Lê Thọ Xuân (1943): “Lại bài thơ từ thuở vương xe” (Tạp chí Tri tân); Trực Thần (1943): “Nhân ngày giỗ cụ Phan Thanh Giản trở lại bài Từ thuở vương xe mối chỉ hồng” (Tạp chí Tri tân) Khuông Việt (1943): “Hai mươi lăm ngày đi tìm dấu người xưa” (Nam Kỳ tuần báo); Duy Liên và K.X.T (1952): “Tâm sự Phan Thanh Giản” (Đồng Nai văn tập); Mai Chưởng Đức (1966), “Giới thiệu Lương Khê thi thảo”, Tập san Sử Địa, số 7,8,

Mộng Tuyết (1967): “Lời cây liễu – một áng thơ được Phan Thanh Giản trân trọng:

Dương liễu từ của Lê Bích Ngô” (Tập san Sử Địa, số 7,8)… Ngoài ra, chúng ta có

thể thấy thơ văn Phan Thanh Giản trong tập truyện của Thái Hữu Võ (1927), Tam Thanh, Hoành Hải (1945), Nam Xuân Thọ (1950)

Như vậy, trước năm 1974, nhìn một cách tổng quan, giai đoạn này không có một công trình nghiên cứu quy mô, bài bản về thơ văn của Phan Thanh Giản Thực

tế, hầu hết các hoạt động nghiên cứu về thơ văn Phan Thanh Giản chỉ dừng lại ở việc: trích dẫn và bình một vài tác phẩm thơ Nôm được truyền tụng (nhưng lại xảy

ra tình trạng một bài thơ có nhiều dị bản), chưa quan tâm đến mảng thơ chữ Hán

(từ việc dịch Lương Khê thi văn thảo được khắc in, lưu trữ tại trong các viện

nghiên cứu, cho tới hoạt động sưu tầm tác phẩm thơ văn bị thất lạc), chỉ dừng ở việc chia sẻ dữ liệu trên các báo, tạp chí Điều này lý giải tại sao trong các công trình nghiên cứu về thơ văn Phan Thanh Giản giai đoạn này thường giống nhau,

Trang 16

phần lớn chỉ trích dẫn những bài thơ Nôm, kèm lời bình ngắn, hoặc dẫn lại lời bình của một số tác giả có tên tuổi như Phan Khôi, Ngô Tất Tố Dù chưa có những dấu

ấn thật sự sâu sắc, nhưng bước đi đầu tiên như thế đã góp phần hình thành nên cuốn tổng tập về Phan Thanh Giản của Nguyễn Duy Oanh sau này

Trong năm 1974, xuất hiện một số công trình lớn, bước đầu tập hợp thơ văn

Phan Thanh Giản thành một hệ thống, đáng kể nhất là Chân dung Phan Thanh Giản của Nguyễn Duy Oanh và Văn học miền Nam lục tỉnh, tập 2 – Văn học Hán Nôm khai mở và xây dựng đất mới của Nguyễn Văn Hầu

Chân dung Phan Thanh Giản của Nguyễn Duy Oanh (1974) ra đời đã bù

đắp cho sự thiếu hụt ấy, như một tổng tập đầu tiên về thơ văn Phan Thanh Giản Nguyễn Duy Oanh đã làm của công việc của một nhà viết sử: tập hợp, thống kê, sàng lọc, sắp xếp theo trình tự thời gian, chú rõ nguồn, giúp hậu thế hình dung được những chặng đường sáng tác thơ văn Phan Thanh Giản Với công trình này, Nguyễn Duy Oanh đã phác họa lên chân dung một chính khách Phan Thanh Giản, đồng thời phác họa luôn chân dung thi sĩ Phan Lương Khê

Biên soạn Văn học miền Nam lục tỉnh, tập 2 – Văn học Hán Nôm khai mở

và xây dựng đất mới, Nguyễn Văn Hầu dành một chương về Phan Thanh Giản

(cuộc đời, về thơ văn) Tác giả có những phát hiện, kiến giải khá thú vị về thơ văn của cụ Phan Nhưng hơi tiếc, thời điểm ấy tác giả không công bố, phải đợi đến năm

2012 khi con trai của tác giả tìm được trong tập bản thảo của ông

Từ năm 1975 trở đi, có một số công trình nghiên cứu có đề cập đến thơ văn Phan Thanh Giản như Nguyễn Q Thắng viết “Văn mạch miền Nam với thơ Phan Văn Trị” (năm 1985), có đề cập tới Phan Thanh Giản khi so sánh Phan Văn Trị với

các văn sĩ đương thời và nhận định Trong Địa chí Bến Tre xuất bản năm 1991,

Thạch Phương, Đoàn Tứ điểm lược về thơ văn Phan Thanh Giản

Phạm Thiều, Đào Phương Bình biên soạn Thơ đi sứ (1993), liệt kê tác phẩm được cho là của Phan Thanh Giản viết trên đường đi sứ gồm Bình Nam phỏng cổ,

Dạ bạc văn địch, Lão phụ đường vãn bộ, Nhạc Dương dạ bạc, và khái quát đặc điểm nội dung thơ đi sứ của Phan Thanh Giản

Bùi Đức Tịnh chỉ ra sự khác biệt giữa thơ chữ Hán và Nôm của cụ Phan khi

biên soạn Lược khảo lịch sử Văn học Việt Nam từ khởi thủy đến cuối thế kỷ XX

Trang 17

11

Sang thế kỷ XXI, công trình Tinh tuyển văn học Việt Nam – Văn học thế kỷ XIX, tập 6, Hoàng Hữu Yên chủ biên, xuất bản năm 2004, đề cập đến tác giả Phan Thanh Giản, trích dẫn bốn bài thơ (Hán, Nôm): Từ giã vợ nhà đi làm quan, Tuyệt cốc, Vọng vũ, Phóng lô từ hí vịnh Bên cạnh đó, tác giả công trình giới thiệu ngắn

về tiểu sử, về di cảo thơ văn của Phan Thanh Giản

Năm 2005, Hội Nhà văn xuất bản cuốn Thơ văn Phan Thanh Giản của Phan

Thị Minh Lễ và Chương Thâu là một sự kiện đáng lưu ý Đây có thể coi là một

công trình quy mô lớn thứ hai sau Chân dung Phan Thanh Giản của Nguyễn Duy

Oanh (1974) Cuốn sách tập hợp gần 500 bài thơ và hơn 100 bài văn, thêm phần bổ

di, có in thêm phần chữ Hán và bài “Giới thiệu Di cảo Phan Thanh Giản - Lương

Khê thi văn thảo” của Chương Thâu Bài viết đã nêu khái quát nội dung thơ văn Phan Thanh Giản, khẳng định: thơ văn Phan Thanh Giản giúp hình dung “khuôn mặt của một danh sĩ – chính khách tầm cỡ của nước ta thời cận đại.” [98, tr.20]

Năm 2007, nhóm tác giả Phan Trọng Thưởng, Trần Nho Thìn trong công

trình Mười thế kỷ bàn luận về văn chương (từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XX), trích đăng bài bạt Phan Thanh Giản viết cho Mộng dương thi tập của Hà Tông

Quyền Bên cạnh đó, một số cuốn sách khác như tuyển tập Nguyễn Thông, tuyển tập Trương Đăng Quế đều có bài tựa, bạt của Phan Thanh Giản viết tặng

Năm 2011, Nguyễn Khuê và Cao Tự Thanh biên soạn một công trình khá

thú vị: 100 câu hỏi đáp về Gia Định – Sài Gòn Tp HCM: Văn học Hán – Nôm ở Gia Định – Sài Gòn, tác giả nhiều lần nhắc đến Phan Thanh Giản trên cả hai bình

diện: con người lịch sử - văn hóa, và khía cạnh là một tác giả văn học, giới thiệu

Lương Khê thi văn thảo, chỉ ra tính cổ nhã trong văn chương của Phan Thanh Giản,

cũng như khái quát đặc điểm thơ chữ Hán của Phan Lương Khê

Như vậy, trong vai trò một tác giả văn học, có thể nói, tính đến thời điểm này những nghiên cứu về thơ văn Phan Thanh Giản đã có nhiều công trình đề cập đến, nhưng vẫn còn thiếu một công trình lớn, chuyên sâu, hoặc một công trình tổng quan về những nghị luận, phẩm bình về thơ văn của Phan Thanh Giản Tuy nhiên, với những gì như đã kể trên của một nhân vật còn nhiều tranh cãi, thì những bước đầu như thế cũng đã góp phần phác họa chân dung thi sĩ Phan Thanh Giản – một tác gia văn học cuối thế kỷ XIX

Trang 18

Trên đây, chúng tôi điểm qua những công trình nghiên cứu về con người và thơ văn Phan Thanh Giản Qua khảo sát thực tế, bước đầu chúng tôi nhận thấy: phần lớn tài liệu (chúng tôi tiếp cận được) tập trung vào vấn đề con người Phan Thanh Giản; những công trình nghiên cứu, bình luận về thơ văn Phan Thanh Giản chưa nhiều, chưa sâu Đó là một thực tế không khó để nhận ra Khi thực hiện luận văn này, chúng tôi mong muốn có thể phác thảo bức tranh toàn cảnh về Phan Thanh Giản trong cái nhìn của người đương thời và cả hậu thế trong 150 năm qua, trên cả hai khía cạnh: con người và thơ văn Phan Thanh Giản Chúng tôi cũng mong rằng, trong tương lai gần, sẽ có một công trình nghiên cứu sâu hơn về thơ văn Phan Thanh Giản một cách khoa học, bài bản, khách quan để có một sự đánh giá cụ thể về những đóng góp của Phan Thanh Giản về văn học

4.Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, triển khai luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp xã hội học, vận dụng kiến thức tiếp nhận văn học, phân tích – tổng hợp

Trên cơ sở kiến thức về Phương pháp xã hội học, chúng tôi đi vào tìm hiểu các đặc bối cảnh xã hội, truyền thống gia đình để hiểu tinh thần, tư tưởng và quan niệm sáng tác văn chương của Phan Thanh Giản Chúng tôi sẽ tập hợp tư liệu, phân tích tác phẩm để phác họa những nét cơ bản về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng thơ văn và quan niệm sáng tác văn chương của Phan Thanh Giản trên cơ sở đánh giá những đóng góp của Phan Thanh Giản ở lĩnh vực văn hóa, văn học

Vận dụng kiến thức lý thuyết tiếp nhận để lý giải các khuynh hướng đánh giá về hai vấn đề con người và thơ văn trong cái nhìn của người đương thời và hậu thế qua các giai đoạn, gắn với “bước đi” của đất nước Chúng tôi sẽ phân tích, so sánh giữa các giai đoạn để thấy có mối liên hệ nội tại chặt chẽ thông qua đối thoại giữa các thời kỳ, các thế hệ trong một mối quan tâm chung: Phan Thanh Giản

5.Đóng góp của luận văn

Thực hiện luận văn này, chúng tôi mong muốn hai điều:

Thứ nhất, chúng tôi mong muốn gợi nhắc lại bối cảnh phức tạp, nhiều biến động thời Nguyễn, qua trường hợp Phan Thanh Giản Bằng việc điểm lại bối cảnh

Trang 19

13

xã hội, tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp, con đường làm quan, tìm hiểu tư tưởng và quan niệm văn chương của Phan Thanh Giản vừa để biết được mối liên hệ giữa con người hoàn cảnh sống, vừa để hiểu Phan Thanh Giản ở một góc nhìn toàn diện hơn Qua đó, mỗi người sẽ tự tìm cho mình một đáp án cho câu hỏi Phan Thanh Giản là ai? Có công hay có tội, nếu có thì tội gì, mức như thế nào? Từ điểm nhìn,

vị trí đang đứng, từ góc nhìn của mình, mỗi người sẽ đưa ra một đánh giá phù hợp

Thứ hai, việc thống kê, phân tích và khái quát lên những xu hướng nhận định về con người và thơ văn Phan Thanh Giản trong gần 150 năm qua sẽ giúp phác thảo lên một bức tranh toàn cảnh công luận phẩm bình Đây có thể coi là sự tiếp nối công việc của Nguyễn Duy Oanh, ở khía cạnh – tổng thuật lại ý kiến của người đương thời, từ 1975 đến nay Qua việc tổng thuật này, sẽ giúp mọi người nhìn ra một vấn đề: Phan Thanh Giản là một nhân vật lịch sử, nhưng vấn đề của ông, không chỉ là của quá khứ, là chuyện của hôm nay Những tài liệu này, sẽ góp phần, cung cấp nguồn tư liệu cho các công trình nghiên cứu về sau

6.Cấu trúc của luận văn

Luận văn Con người và thơ văn Phan Thanh Giản – 150 năm nghị luận, phẩm bình gồm có 154 trang Ngoài phần Dẫn nhập (13 trang), Kết luận (4 trang),

Tài liệu tham khảo (11 trang), gồm sách, báo, tạp chí, kỷ yếu, tài liệu trên mạng internet), Phụ lục Nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương

Chương một: “Những vấn đề chung” (41 trang), luận văn đi vào ba vấn đề chính: khái quát về tình hình xã hội; một vài nét về lý thuyết tiếp nhận, tìm hiểu về cuộc đời – sự nghiệp và tư tưởng Phan Thanh Giản Đây là kiến thức nền để cho bức tranh nghị luận phẩm bình về Phan Thanh Giản trong 150 năm qua

Chương hai: “Lịch sử tiếp nhận vấn đề con người của Phan Thanh Giản” (51 trang), của luận văn đề cập đến nghị luận, phẩm bình về con người Phan Thanh Giản cụ thể, nổi lên các xu hướng – điểm nhìn của các giai tầng trong xã hội

Chương ba: “Lịch sử tiếp nhận thơ văn Phan Thanh Giản” (32 trang), luận văn đi vào tìm hiểu những nghị bình về thơ văn Phan Thanh Giản trong 150 năm

Trang 20

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

“Phan Thanh Giản là nhân vật lịch sử của Nam Bộ, của cả nước chứ không phải riêng gì của Vĩnh Long và Bến Tre Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận định, đánh giá ông, đây là trách nhiệm chung cho tất cả chúng ta chứ không phải của riêng ai.” [Dẫn lại, 98, tr.5]

Đó là những trăn trở của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau buổi hội thảo “Thế

kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản” tại Tp HCM, năm 2003

Phan Thanh Giản “là người khai khoa tiến sĩ cho Lục tỉnh Nam Kỳ” [71, tr.1396], lão thần ba triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng thuộc nhiều lĩnh vực Bên cạnh sự nghiệp chính trị thăng trầm, ông còn

là một nhà văn hóa với những đóng góp thiết thực cho sử học và văn học của dân tộc Con người tài năng, nhưng truân chuyên ấy đã chọn cái kết đời mình bằng chén dấm thanh pha thuốc phiện sau mười bảy ngày tuyệt thực, như một cách để bày tỏ sự tiếc hận, một cách trả món nợ non sông, khi để mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Tưởng rằng uống cạn chén độc dược ấy, ông được yên nghỉ, sẽ khép lại

bi kịch của vị quan “Liêm, Bình, Cần, Cán”1 Nhưng thực tế, ông vẫn bị vực dậy,

để nghe “thiên tử chiếu”, để “nêu gương” răn dạy, cảnh tỉnh người đời

Bàn về nhân cách, luận về tư tưởng, quan điểm và hành vi chính trị, phẩm bình về thơ văn của Phan Thanh Giản là một câu chuyện dài, đan xen nhiều xu hướng Đã bao lần tự nhủ và tự hỏi: vì sao Phan Thanh Giản, một nhân vật lịch sử thời cận đại lại có “sức hút” đến vậy? Vì sao hơn một thế kỷ đã trôi qua, thời thế đã

có nhiều đổi khác, nhưng vấn đề Phan Thanh Giản vẫn còn đó: khen - chê - phê phán, thậm chí căm hận? Điều gì đã tạo nên cách nhìn khác nhau đó, điều gì tạo nên những khuynh hướng đó? Câu hỏi này vẫn đau đáu hằng ngày trong suốt gần hai năm qua mỗi khi nhìn vào bức di ảnh, đọc những phẩm bình trên các trang sách, bài báo về ông

Chúng tôi cũng hiểu để lý giải những vấn đề này một cách thấu đáo là điều thật không dễ dàng gì Hiểu rồi nên biết rằng ý định phác thảo nên một bức tranh

1 Năm 1852, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương dâng sớ điều trần tám việc Xem xong sớ, Tự Đức thưởng một tấm kim khánh lớn bằng vàng khắc bốn chữ “Liêm, Bình, Cần, Cán”

Trang 21

15

toàn cảnh về những phẩm bình của người đời xung quanh Phan Thanh Giản từ sau ngày mất đến nay không thật dễ dàng Đã có trăn trở, băn khoăn để tìm lối đi, loay hoay giữa những bộn bề phẩm bình về ông trong 150 năm qua

Lần giở những trang sử liên quan đến cuộc đời Phan Thanh Giản, tìm hiểu bối cảnh lịch sử xã hội thời ông sống, khảo sát văn chương, chúng tôi mong muốn tìm được những sự thật và hiểu con người, tư tưởng và lập trường chính trị của Phan Thanh Giản, để tiếp cận gần hơn với sự thật Tiếp cận những kiến thức lý luận văn học từ lý thuyết tiếp nhận văn học cho tới phương pháp xã hội học - phương pháp lịch sử - xã hội (dựa trên cơ sở là hoàn cảnh và điều kiện xã hội - phân biệt với các phương pháp xã hội học thuần túy) chúng tôi mong có thể hiểu và

lý giải được vì sao trong từng thời điểm lại có những cách nhìn, quan điểm, đánh giá về Phan Thanh Giản khác nhau đến thế Từ những điểm tựa này, chúng tôi có thể vững tâm hơn, cùng với đó là một ước mong giản dị nhưng để làm được thật không dễ dàng chút nào là: có thể phác họa một phần nào đó bức tranh toàn cảnh hậu thế luận bàn về ông, để có thể lý giải phần nào đó các xu hướng, đặc điểm tiếp nhận Phan Thanh Giản trên hai bình diện con người và tác phẩm thơ văn

1.1 Vài nét về Lý thuyết tiếp nhận

Mỗi tác phẩm văn học là kết quả của quá trình sáng tạo nghệ thuật, nơi ký thác những nỗi niềm tâm sự, gửi gắm khát vọng hướng tới chân – thiện – mỹ; và lẽ tất nhiên, sẽ hằn in dấu ấn cá nhân, thể hiện quan điểm của nhà văn và mang dấu vết của thời đại Nhưng dù ở thời nào, hay quan điểm sáng tác của mỗi người có khác nhau thì đích đến chỉ có một là: độc giả – công chúng tiếp nhận, có thể thưởng thức và thẩm định đúng giá trị tác phẩm văn chương

Trên thực tế, tác phẩm văn học là do cá nhân nhà văn sáng tác – một người, nhưng khi rời khỏi nhà văn, đến với công chúng – nhiều người, nó sẽ có một “đời sống” riêng, sôi nổi Bạn đọc, bằng tầm hiểu biết, vốn sống, vị trí xã hội của mỗi người, sẽ tiếp nhận tác phẩm theo một cách riêng, cách đánh giá không giống nhau,

từ nền tảng văn hóa, vốn kiến thức và tùy theo mục tiêu mỗi người Hàng ngàn người tiếp nhận sẽ có hàng vạn nhận định, sẽ quyết định trực tiếp đến “đời sống” của một tác phẩm, gián tiếp quyết định số phận “cha đẻ” của nó – nhà văn Nói

Trang 22

theo cách của Vinhi: người đọc có thể “làm chết đi những người đang sống và làm sống lại những kẻ đã chết”

Câu chuyện vai trò người đọc – chủ thể tiếp nhận, không phải hôm nay mới bàn đến, mà đã từ rất lâu, ít hoặc nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp, toàn diện hoặc một vài khía cạnh, người ta đã chú ý đến mối quan hệ giữa tác phẩm với bạn đọc, tức tiếp nhận tác phẩm văn học của bạn đọc – chủ thể tiếp nhận văn học Nhưng trước đây, sự thực là, dù là văn học sử hay lý luận văn học, khi lý giải quy luật phát triển của văn học hay luận về bản chất của văn học, giới nghiên cứu thường chỉ tập trung mô tả sự ra đời và phát triển của các thể loại gắn với tên tuổi nhà văn, nhà thơ hoặc nghiên cứu quá trình sáng tác tác phẩm Vấn đề người đọc – công chúng tiếp nhận chỉ được “lấp đầy” khi lý thuyết tiếp nhận ra đời

Xuất hiện vào thập niên 60 của thế kỷ XX, gắn với các tên tuổi Hans Robert Jauss và một số tên tuổi của trường phái Konstanz (Đức), lý thuyết tiếp nhận ra đời trên cơ sở kế thừa, phát triển và kết hợp những lý luận của nhiều trường phái trước

đó, đánh dấu bước phát triển mới của lý luận văn học, khẳng định một đường hướng mới, một phương diện mới để tiếp cận văn học nghệ thuật Quan điểm, cách nhìn nhận và tiếp cận văn học của lý thuyết tiếp nhận được thể hiện thông qua hệ thống khái niệm như “tầm đón đợi”, “kinh nghiệm thẩm mỹ”, “khoảng cách thẩm mỹ” và “công chúng” Trong số các khái niệm nêu trên, chúng tôi chú ý đến “tầm đón nhận” - một khái niệm quan trọng có thể vận dụng khi thực hiện luận văn

Theo Hans Robert Jauss “tầm đón nhận” của công chúng là “hệ quy chiếu

có thể trình bày một cách khách quan đối với mỗi tác phẩm ở thời điểm lịch sử xuất hiện của nó Hệ quy chiếu đó được rút ra từ ba yếu tố cơ bản: kinh nghiệm có trước của công chúng về thể loại, hình thức và hệ đề tài của tác phẩm; và sự đối lập giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ thực tế, giữa thế giới tưởng tượng và thực tế hàng ngày” [24, tr.201-202] Nghĩa là, mỗi độc giả đều có một tầm hiểu biết của mình về mặt văn học và tầm hiểu biết đó sẽ luôn thay đổi theo lịch sử và tùy thuộc vào tác động của tác phẩm được tiếp nhận Việc tái lập tầm đón nhận ứng với một tác phẩm với tư cách là một tác phẩm nghệ thuật tùy thuộc vào tính chất, mức độ

và tác động của nó đến loại công chúng nhất định

Trang 23

17

Khi phân tích về “tầm đón đợi”, Hans Robert Jauss đã ra ba luận điểm quan trọng ảnh hưởng đến việc tiếp nhận tác phẩm: “Động cơ tiếp nhận”, “tâm thế tiếp nhận”, “môi trường tiếp nhận”, trong đó, “động cơ tiếp nhận” là một nhân tố quan trọng tạo nên sự phong phú của đời sống, làm nên những loại người đọc, cách đọc khác nhau, “tâm thế tiếp nhận”, “môi trường tiếp nhận”[24, tr.202] có ý nghĩa trong việc tiếp xúc với tác phẩm

Phan Thanh Giản là một nhà nho, một mệnh quan triều Nguyễn, do đó, tư tưởng và quan niệm sáng tác văn chương của ông sẽ chịu ảnh hưởng bởi ý thức hệ nho giáo và tinh thần thời đại Đó là lý do vì sao, khi tìm hiểu về Phan Thanh Giản, cần đặt trong bối cảnh thời đại của ông Đó cũng là lý do khi tìm hiểu về những nghị luận phẩm bình về con người và thơ văn Phan Thanh Giản (chúng tôi sẽ nói sâu hơn ở chương hai và chương ba), chúng tôi phân chia theo giai đoạn gắn với tình hình thực tế của đất nước Mỗi thời kỳ đặt ra những nhiệm vụ và tư tưởng không đồng nhất sẽ chi phối cách nhìn, cách hiểu của người đương thời về Phan Thanh Giản Đây cũng là điều Hans Robert Jauss nhắc nhở khi tìm hiểu văn học trung đại: “Khi chúng ta không nắm vững được về tác giả văn học cổ, về dự định tác giả, về quan hệ của anh ta với các nguồn gốc tạo nên tác phẩm thì phương diện tốt nhất để trả lời câu hỏi: phải hiểu văn bản như thế nào để được coi là hiểu đúng tức là phù hợp với thời đại và dự kiến của tác giả?”

1.2 Bối cảnh lịch sử và thân thế sự nghiệp, thơ văn Phan Thanh Giản 1.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội thế kỷ XIX

Bối cảnh lịch sử xã hội thế kỷ XIX có nhiều biến động và diễn biến phức tạp, các nước châu Âu, giai cấp tư sản đã lần lượt lên nắm chính quyền Với sự hậu thuẫn của khoa học kỹ thuật, các nước tư bản phương Tây đã tạo ra một lượng hàng hóa khổng lồ, gấp nhiều lần so với các thời kỳ trước cộng lại, đòi hỏi phải một thị trường rộng lớn hơn bên ngoài Châu Phi, châu Á rơi vào tầm ngắm, dần dần trở thành “sân sau” của tư bản phương Tây, bởi hai châu lục này, khi ấy, về cơ bản, vẫn là xứ nông nghiệp, với đất rộng, người đông, nguồn tiêu thụ hàng lớn, giàu tài nguyên và nguồn nhân công rẻ

Nước Pháp, thế kỷ XIX, thuộc nhóm các nước tư bản phát triển, sở hữu phần lãnh thổ thuộc địa rộng lớn ở một số nước châu Á, châu Phi Nhưng thời kỳ

Trang 24

này, Pháp đang lâm vào khủng hoảng cả về kinh tế lẫn chính trị, luôn bị tư sản Anh chèn ép, hớt tay trên phần thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ, Canada Bù lại sự thiếu hụt

ấy, Pháp nuôi ý đồ xâm lược các nước Đông Nam Á, tâm điểm là Việt Nam Để hợp thức hóa hành vi của mình, Pháp tung ra chiêu bài “truyền giáo” và hoạt động thông thương buôn bán, từng bước can thiệp chính trị bằng việc “chống lưng” cho Nguyễn Ánh lật đổ triều Tây Sơn Và sau này, Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, lập

ra triều Nguyễn, thực dân Pháp đã đòi chia quyền lợi, dã tâm xâm lược lộ rõ bằng hành động gây hấn ở Đà Nẵng năm 1858 - 1859

Việt Nam, thế kỷ XIX, về cơ bản, vẫn là một nhà nước phong kiến chuyên chế thống nhất Đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên cai trị đất nước, đóng đô tại Huế, bắt tay xây dựng đất nước với niềm hy vọng sẽ tạo dựng được một vương triều hùng mạnh, vững bền Nhưng trên thực tế, khi lên ngôi trị vì, các đời vua triều Nguyễn nối tiếp nhau đã thiết lập chính sách “truyền thống, lối mòn”: chuyên chế, khép kín, sớm bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với bối cảnh lịch sử mới, nhanh chóng bị lịch sử bỏ qua

Về đối nội, dựa trên nền tảng học thuyết nho giáo để cai trị đất nước, triều Nguyễn duy trì chế độ phong kiến chuyên chế, vua nắm mọi quyền hạn trong tay, giúp vua là hệ thống đình thần Từ Gia Long cho tới Tự Đức, các ông vua Nguyễn thống nhất chủ trương “trọng nông, ức thương”, khước từ mọi canh tân nhằm duy trì nền kinh tế tự cấp, tự túc Nhưng văn hóa ở triều Nguyễn rất được chú trọng, điều này đã giúp lý giải hiện tượng vì sao dưới triều Nguyễn, văn hóa, văn học đạt được những thành tựu rực rỡ Có thể coi, văn hóa, văn học chính là điểm sáng, là đóng góp lớn nhất của triều Nguyễn cho dân tộc

Với chính sách đối nội trên, nền kinh tế đất nước thêm nghèo nàn, bức tranh

xã hội thêm u ám, đời sống nhân dân cơ cực, đẩy những mâu thuẫn vốn đã âm ỉ bấy lâu càng trở nên sâu sắc, khởi nghĩa nông dân, binh lính nổ ra khắp nơi, chỉ tính riêng triều Tự Đức, năm 1862, đã xảy ra hơn bốn mươi cuộc nổi dậy, rồi hạn hán, thiên tai, bệnh dịch diễn ra khắp nước, đẩy người dân vào nạn đói thương tâm:

“Vợ con thì nheo nhóc Chồng phải đi phu phen Muốn vạch cả trời lên

Trang 25

19

Kêu gào cho hả dạ

…Cơm thì không có Rau cháo cũng không Còn một bộ xương sống

Vơ vất đi ăn mày, Rồi xó chợ lùm cây

…Xác đầy nghĩa địa Thây đói bên cầu

… Dân nghèo thì cùng kiệt

Kẻ lưu lạc tha phương Người chết chợ chết đường

… Là cái thời Tự Đức.” [Dẫn lại, 120, tr.32]

Những cảnh tượng nheo nhóc trên, gợi nhắc về một thời huy hoàng xưa: đời vua Thái Tổ, Thái Tông trị vì Khi ấy, nước ta vẫn là chế độ phong kiến, vẫn lấy nông nghiệp làm nền tảng, nhưng nhân dân được yên hưởng thái bình, no ấm:

“Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn”

Xưa là thế Nhưng nay, nhìn đâu cũng thấy cảnh khốn cùng, điêu linh: hoặc

là trụ lại ở những xóm làng tiêu điều, xơ xác, hoặc vất vưởng tha hương chịu cảnh

li tán, chịu kiếp sống của những lưu dân Nhưng ở đâu trên đất nước này, người nông dân vẫn là những người khốn cùng nhất Họ phải làm việc quần quật, mà không đủ ăn bởi tệ nhũng nhiễu quan lại, vì loạn lạc, mất mùa, vì nạn phu phen tạp dịch nặng nề để xây thành, đắp lũy, cung điện nguy nga cho các ông hoàng, bà

chúa Câu ca dao “Vạn Niên là Vạn Niên nào Thành xây xương lính, hào đào máu dân” được viết ra từ máu và nước mắt của những người dân thấp cổ bé họng, có

sức nặng để tố cáo xã hội, là như thế

Về đối ngoại, triều Nguyễn nhìn thấy dã tâm cướp nước của thực dân Pháp

từ rất sớm, đã đưa ra đường lối đối ngoại “bế quan, tỏa cảng” làm quốc sách

Trang 26

Nhưng triều đình lại dùng sức mạnh quân đội để xâm lược các nước nhỏ lân cận, đàn áp các cuộc khởi nghĩa trong nước “Cô lập”, là tư duy trị nước của các ông vua Nguyễn, và tin rằng đó là điều cần thiết vì “nó sẽ giúp giữ vững ngai vàng, giữ vững được nền độc lập dân tộc của đất nư ớc Kiêu căng, ngạo mạn là căn bệnh trầm kha của các ông vua triều Nguyễn.” [68, tr.120]

Bảo vệ đạo Gia - tô, là một cái cớ hoàn bị thực dân Pháp tạo nên cuộc chiến tại Việt Nam Ngày 1/9/1858, liên minh Pháp – Tây Ban Nha đổ bộ lên cửa biển

Đà Nẵng, nổ phát súng đầu tiên tại bán đảo Sơn Trà, chính thức công khai xâm lược Trước tình thế đó, “vua tôi triều Nguyễn tỏ ra bị động, lúng túng” [96; tr 14]

“Chủ chiến”, “chủ hòa” là hai luồng ý kiến của đình thần đề xuất lên vua để đối phó với thực dân Pháp, nhưng cả hai đường lối trên đều rất mơ hồ, chung chung: đánh như thế nào, hòa như thế nào thì không ai đưa ra một phương cách hoạt động

cụ thể Tự Đức cũng không tỏ rõ chủ kiến của mình, mà lưỡng lự giữa cả hai Và cuối cùng, sau những thất bại, Tự Đức nghiêng về phía “chủ hòa” để bảo toàn quyền lợi của giai cấp, từng bước thương lượng và nhượng bộ dần đất đai và chủ quyền cho giặc, khởi đi từ việc ký hòa ước Nhâm Tuất (5/6/1862) với mười hai điều khoản bất lợi, nặng nhất là việc “cắt” ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, năm năm sau là ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, vài năm sau nữa, toàn cõi Việt Nam nằm trong tay thực dân Pháp

Phan Thanh Giản sinh ra trong điều kiện lịch sử ấy Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc hệ tư tưởng của Nho giáo: học để làm quan, phò vua, giúp dân Và thực tế, trong 41 năm làm quan, “có những vấn đề Phan Thanh Giản đã vượt qua được giới hạn giai cấp, lịch sử, nhưng cũng có những nhiệm vụ trọng đại không hoàn thành, gây nên hậu quả nghiêm trọng, đã đẩy con cháu vào ách thực dân kéo dài hàng trăm năm” Đó là vấn đề của Phan Thanh Giản mà hôm nay chúng ta vẫn gọi bằng

từ hai từ “bi kịch”

1.2.2 Thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Phan Thanh Giản

1.2.2.1 Thân thế, sự nghiệp Phan Thanh Giản

Nghiên cứu về thân thế Phan Thanh Giản đã có nhiều công trình viết khá chi tiết từ dòng dõi tổ tiên bên nội, bên ngoại, quê quán, con đường làm quan, bi kịch cuối đời, cái chết, phần mộ tại quê hương Bến Tre và hậu duệ Trong luận văn,

Trang 27

về vấn đề con người và thơ văn Phan Thanh Giản

Về tài liệu tham khảo, chúng tôi dựa theo hai nguồn chính: sử liệu và tác

phẩm thơ văn, chủ yếu là hai công trình lớn: Chân dung Phan Thanh Giản của Nguyễn Duy Oanh, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên (1974), Tạp chí Xưa & Nay tái bản năm 2003 (với sự đồng ý của tác giả) và Thơ văn Phan Thanh Giản,

Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu biên soạn, Hội Nhà văn xuất bản (2005)

Nguồn gốc xuất thân của Phan Thanh Giản có nhiều công trình sử học viết:

tổ tiên của Phan Thanh Giản là người gốc Trung Hoa, một số nói rõ nguồn gốc Trung Hoa bên nội, một số nói bên ngoại Theo tìm hiểu của chúng tôi, dựa vào hai cuốn gia phả họ Phan Thanh, theo những điều Phan Thanh Giản viết về tổ tiên, Phan Thanh Giản có nguồn gốc Trung Hoa ở bên nội và bên ngoại:

“Bên nội: Nội tổ sáu đời - Phan Văn Chơn, di thần đời Minh di cư sang Việt Nam từ năm 1659, sinh sống tại vùng Bàu Sen, ấp Hội Trung, xã

Ô Liêm, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định Khởi nghĩa Tây Sơn, Phan Thanh Tập (tổ phụ của Phan Thanh Giản) cùng các con di cư vào Nam Lúc đầu

họ định cư ở Thang Trông (Định Tường), sau đó rời về làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, sau đổi lại là làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long

Bên ngoại: Thân mẫu của cụ Phan Thanh Giản là bà Lâm Thị Búp (1776 -1802), gốc người Trung Hoa mà tổ tiên đã di cư sang Việt Nam khi nhà Thanh mất, cư ngụ tại Quảng Ngãi, rồi chống quân Tây Sơn và định cư tại huyện Bảo An là quận Ba Tri, Bến Tre, nơi đó bà gặp ông Phan Thanh Ngạn (cha của Phan Thanh Giản) đang làm thủ hạp tại Vĩnh Long.” [73]

Từ những thông tin trên, đối chiếu với tư liệu lịch sử, chúng tôi cho rằng: Phan Thanh Giản có nguồn gốc Trung Hoa ở cả bên nội và bên ngoại, nghĩa là những tài liệu trước đây viết về nguồn gốc của ông có thể chấp nhận được (vì có tài liệu viết: nguồn gốc Trung Hoa bên nội, có tài liệu viết nguồn gốc Trung Hoa bên

Trang 28

ngoại) Nhưng chuyện muốn lạm bàn ở đây, không chỉ là chuyện nguồn gốc xuất thân ở Trung Hoa ở bên nội hay bên ngoại, chúng tôi muốn nói đến chuyện di dân giữa các vùng trong một quốc gia và giữa Việt Nam với Trung Hoa Sự kiện của một dòng họ, lưu lạc từ Trung Hoa sang Việt Nam, rồi từ miền Trung di chuyển vào miền Nam, cũng đã phản ánh chiến tranh đã gây ra cảnh loạn lạc, li tán, tác hại của chiến tranh đã ảnh hưởng đến cuộc sống của từng gia đình cụ thể

Qua cảnh ngộ của một gia đình, ta hiểu rằng: chiến tranh luôn là một nỗi ám ảnh chung của người dân, dù Việt Nam hay Trung Hoa, hay bất kỳ một quốc gia nào khác Chiến tranh làm mầm mống của khổ đau Vì thế, tổ tiên của Phan Thanh Giản đã di chuyển từ Trung Hoa sang Việt Nam, chọn miền Trung, vùng Thang Trông (Bình Định) – mảnh đất khô cằn sỏi đá, chỉ để mưu cầu một cuộc sống bình yên Nhưng đến đây, họ cũng lại tiếp tục chạy, vì chiến tranh với nhà Tây Sơn miền Nam là miền đất hứa, chưa biết sẽ ra sao nhưng vẫn phải đi vì ở đó không có chiến tranh Họ di dời vào Nam Kỳ, cũng lại chọn một mảnh đất thật xa xôi hẻo lánh – vùng quê Bảo Thạnh, cũng là để chạy trốn chiến tranh Đến đây, chúng tôi

đã tự giải đáp cho thắc mắc của mình: vì sao tổ tiên của Phan Thanh Giản lại chọn những vùng đất xa xôi, hẻo lánh để mưu sinh, từ chối các vùng đất màu mỡ, phì nhiêu khác bởi một nguyên nhân sâu xa: những ám ảnh bởi chiến tranh Do đó, sức nặng tố cáo tội ác của chiến tranh không đề cập đến ở đây nhưng cứ hiện lên một cách sâu sắc Đây cũng rất có thể, là một trong những nguyên nhân, Phan Thanh Giản tìm mọi cách để tránh chiến tranh, bằng việc đồng ý nhận sứ mạng vào Nam

ký hòa ước 1862, đồng ý đi sứ sang Pháp thương thuyết để chuộc đất, và cả việc đồng ý giao thành, nhưng với điều kiện không được làm hại dân lành chăng?

Về tiểu sử, theo thông tin tra cứu từ cuốn gia phả họ Phan Thanh và những tài liệu sử học, chúng ta có thể tóm gọn cuộc đời 71 năm tại thế của Phan Thanh Giản như sau: Phan Thanh Giản sinh vào giờ Thìn, năm Bính Thìn (1796), mất ngày 5 tháng 8 (Âm lịch), năm Đinh Mão (1867) tại Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (xưa là Tân Thạnh, huyện Tân An, dinh Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long) Cha: Phan Thanh Ngạn, mẹ: Lâm Thị Búp Giản có ba vợ (bà Nguyễn Thị Mỹ (Gia Định), bà họ Lê (Long Hồ, Vĩnh Long), bà Trần Thị Hoạch (tự Cúc, quê ở Quảng Trị) và một người thiếp tên Thịnh (bà Hoạch cưới, đưa ra Huế theo hầu Phan Thanh Giản, bị trả về, bà Thịnh không lấy chồng, ở với bà Hoạch đến lúc chết); có

Trang 29

23

sáu người con, ba người chết yểu, ba người còn lại: Phan Hương, Phan Tôn, Phan Tòng2 Đây là những thông tin cơ bản nhất về tiểu sử của Phan Thanh Giản Chúng tôi xin không nêu chi tiết, vấn đề này đã được các nhà sử học nêu khá sâu trong các

công trình nghiên cứu, cuốn Chân dung Phan Thanh Giản là một tài liệu có thể để

tham khảo Chúng tôi xin nói sâu hơn về tuổi thơ “long đong” của Phan Thanh Giản để thấy được việc ông là tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ, là một kỳ tích, cũng là

để hiểu hơn vì sao Phan Thanh Giản lại có những phẩm chất đáng quý như thế trong thời buổi mà “dân sợ quan hơn cọp”

Tìm hiểu nhiều tài liệu, sử học cũng như các mẩu chuyện lưu truyền trong dân gian, tuy có “tam sao thất bản” nhưng lại thống nhất trong các sự kiện, nhận

định: từ thuở thiếu thời đã nổi tiếng giỏi văn chương thi phú Lương Khê thi thảo, Lương Khê văn thảo, Ước Phu thi tập… là những tập thơ được đặt theo các “biệt

hiệu” của Phan Thanh Giản: tên tự Đạm Như, hiệu Lương Khê, biệt hiệu Mai Xuyên, Ước Phu Những tập thơ, văn này được con cháu ông sưu tầm, tập hợp

Phan Thanh Giản sinh ta trong một gia đình nông dân nghèo tại miền ven biển khắc nghiệt, Bảo Thạnh, đã hun đúc cho chàng thanh niên họ Phan những đức tính tốt: cần mẫn, siêng năng, nhẫn nại và một tinh thần kiên cường vượt khó hiếm thấy, hiểu được nỗi khổ của người dân, nên rất thương dân Và chính trong gian khó đã hình thành nên một thi tài văn chương, thi tài ấy đã đưa ông đến với quan

lộ, nhiều thăng trầm, trong 41 năm

Bảy tuổi, mồ côi mẹ, mọi việc trông cậy vào cha – ông Phan Thanh Ngạn, một viên chức nhỏ ở Vĩnh Long, luôn phải xa nhà, Phan Thanh Giản ở với mẹ kế, theo học với một nhà sư tại một ngôi chùa ở làng Phú Ngãi

Mười chín tuổi, một biến cố lớn xảy đến với gia đình họ Phan: cha bị phạt tù

vì tội danh “để dân thiếu thuế không thu, cố ý muốn ăn hối lộ của dân” [120, tr 42] chỉ bởi tính tình ngay thẳng, quan trên không ưa Cha bị cách chức, phạt tù, Phan Thanh Giản tình nguyện nhận hình phạt thay cha, nhưng vẫn không quên lời

“nghiêm huấn”: chuyên cần học tập để “nối chí” cha Cảm động trước tấm lòng hiếu đễ, ý chí của chàng thanh niên họ Phan, quan Hiệp Trấn Lương khuyên gắng học và giúp về tài chính; bà quả phụ tên Ân chu cấp tiền và quần áo

2 Xem thêm tại phần Phụ lục 1: Niên biểu Phan Thanh Giản

Trang 30

Mười năm sau, năm 1825, Phan Thanh Giản tham gia kỳ thi Hương tại trường Gia Định đậu cử nhân, ra Huế thi Hội đậu tiến sĩ – trở thành người khai khoa đầu tiên của Nam Kỳ, làm rạng danh gia đình, tự hào cho quê hương Bến Tre,

và của miền Nam Kỳ Lục Tỉnh khi ấy Có thể nói, chính tuổi thơ ấy, sống trong sự đùm bọc của quê hương, sự nghiêm khắc của người cha đã hun đúc cho Phan Thanh Giản tinh thần vượt khó, kiên nhẫn, luôn tin tưởng vào đạo đức, vào lòng tốt, tình người, giữ mình trong sạch ở cả ba triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức

Phan Thanh Giản kể chuyện thời niên thiếu trong Lương Khê tiểu thảo tự tự:

“Gia bản hàn tố, sở cư hựu tịch lậu Nhật thừa đình huấn, ấu phỉ nhi hoặc dĩ tác nhân chi khổ vô thư tịch; tuy phát phẫn phỉ nhi hoặc hữu khải phát; vô nhân tiệm trưởng hựu tao bất tạo, đăng hỏa chuyển hoang, nhất lành? tác lại, đăng sơn thiệp hải, đông tây xu mệnh vô hữu chỉ kỳ, dĩ chí ư lão, sở tồn văn tự, nhàn thần, tự duyệt, độ bất túc quan, nhất luật tương dĩ tùng hỏa.” [98, tr.861]

(Cảnh nhà vốn bần bạch, chốn ở lại hẻo lánh quê mùa; hằng ngày nhờ lời dạy bảo của cha, tự lúc thơ ấu chỉ nghe biết đạo lý để làm người; khổ nỗi không có sách vở; dẫu nhờ ở sự phẫn khích mở mang ra được đôi chút, không dè khi lớn lên lại gặp lúc vận nhà chẳng được may mắn khiến cho công phu đèn sách trở nên hoang phế; rồi khi ra làm lại (nha lại), trèo non vượt bể, chạy khắp đông tây, chẳng được lúc nào ngơi nghỉ, cho mãi tới lúc tuổi già, những văn tự của mình đem duyệt lại, chẳng có câu nào đáng

để mắt đến, toan đem tất cả gửi vào đống lửa cho rồi.)

Bài Gia biệt, ông viết về gia cảnh ấy bằng cái nhìn của một người trẻ vô tư,

pha chút bông lơn, đạp bằng mọi khó khăn để sống và đi:

“Ngã sinh bổn hàn tố,

Ngã tâm tư cổ đạo

Thập tải sự mao chuỳ,

Sở chí phi ôn bão.”

(Đời ta vốn nghèo nàn,

Lòng ta nghĩ đến đạo xưa

Trang 31

25

Mười năm theo bút mực,

Nhưng chí ta không phải cầu no ấm)

(Gia biệt – Vu kinh thảo) (Lê Quang Trường dịch)

Vào đời bằng con mắt trong sáng, tươi vui của một người trẻ, nhiều hoài bão, Phan Thanh Giản kể về tuổi thơ gian khó bằng tinh thần lạc quan và thành thực trong cả suy nghĩ với chính mình: ghi chép lại để cho con cháu sau này biết cha ông đã sống một cuộc đời như thế

“Độc học tối cô lậu,

Sở đắc diệc lỗ mãng

Khởi cảm vọng thanh tử, Văn kiến thứ hữu bổ.”

(Tự học nên (kiến thức) thật hẹp hòi, Điều học được cũng tạp nhạp

Đâu dám mong áo xanh đai tía, Chỉ mong kiến văn bồi đắp thêm)

(Gia biệt – Vu kinh thảo) (Lê Quang Trường dịch)

Phan Thanh Giản kể về những kỷ niệm cùng bạn bè học dưới ánh sáng phát

ra từ chiếc đèn đom đóm, hay dưới ánh trăng mờ:

“Ngô thôn hậu học chí anh hiền, Tằng ức vân song lạc cứu nghiên

Huỳnh hỏa nang thu tam hoãn cộng, Quỳnh liêm nguyệt đạm nhất duy huyền

Cử học tân danh tối khả liên”

(Lớp hậu học làng tôi có chí phấn đấu đến bậc giỏi giang, Từng nhớ lại những niềm vui nghiên cứu học tập trong phòng sách

Trang 32

Chung nhau túi đom đóm suốt tháng mùa thu, Ánh trăng mờ trước rèn tre với một cái màn trướng treo lên

Việc học hành theo nếp cũ chứ kông có gì sáng tạo)

(Thu hoài – Hoàng Châu thảo)

Để mưu sinh, cậu bé Phan Thanh Giản theo bạn lên rừng kiếm củi Bài Sơn hành miêu tả chân dung chàng trai họ Phan chân mang giày cỏ, áo tơi, huýt sáo

vang cuốc bộ vào rừng:

“Mang hài cương bị đả sài tồi,

Sơ xuất Nam môn cước bộ khai

Độ điếm ngọ yên thanh niểu niểu, Giao đồ hoang trủng bạch luy luy

Đoạn bồng lạc diệp tuỳ phong vũ,

Dã thuỷ khê vân đáo xứ hồi

Cưỡng thí đăng cao chiêm cố lĩnh, Nam sơn đương diện bích thôi ngôi”

(Giày cỏ áo tơi vạch củi đi, Vừa ra khỏi cửa nam, chân bước mau

Khói buổi trưa từ quán bên bến đò um màu xanh mờ mờ,

Gò mả hoang ven đường ngoài thành nối nhau trăng trắng

Lá rời cành, cỏ bồng bay tung múa theo gió, Mây bờ khe, bến nước đồng nội đi khắp nơi lại quay về

Thử gắng lên cao nhìn về núi cũ, Núi Nam trước mặt vòi vọi một màu xanh)

(Sơn hành – Thái hương thảo) (Lê Quang Trường dịch)

Trang 33

27

Sơn đồ khẩu hiệu là một khung cảnh lao động vui tươi, có những người trẻ

đang đùa giỡn Trong số ấy, sẽ có người làm nên nghiệp lớn bởi cái hành động

quăng mình lên không trung, chạm cho được “rốn vũ trụ”:

“Huề phủ đăng nham trường khiếu thư, Trí thân cao xứ dục lăng hư

Mô lai nhất ác thiên tâm cận, Tiếu sát quần phong dã bất như.”

(Đeo rìu lên núi cao, thanh thản huýt sáo vang,

Thân đã đặt ở nơi cao, vẫn muốn tung lên trời không

Đưa tay sờ như gần sát đến lòng trời, Cười ngất vì mấy đỉnh núi cũng không bằng mình)

(Sơn đồ khẩu hiệu – Thái hương thảo)

(Lê Quang Trường dịch)

Những hình ảnh tươi sáng, trẻ trung này sẽ không trở lại ở những tập thơ sau, khi Phan Thanh Giản dấn thân vào quan trường, đã có nhiều trải nghiệm về cuộc sống, nếm trải những nỗi đau lớn: mất cha, mất con, và buồn về thế sự trước mắt

Ngược dòng thời gian tìm về thời niên thiếu, giúp hiểu thêm về con người, nghị lực, những phẩm chất đáng quý của Phan Thanh Giản, lý giải được phần nào cội nguồn hun đúc nên một vị quan mẫn cán, kiên nhẫn, liêm khiết, chí hiếu, tận trung, đã giúp ông bước dài trên con đường thanh vân, tạo được sự tin tưởng của các ông vua triều Nguyễn, sự vị nể của các vị quan trong triều, bạn bè, đồng liêu, thương mến của nhân dân

Hoạn lộ của Phan Thanh Giản bắt đầu từ khoa thi Bính Tuất, Minh Mệnh

thứ 7 (1826): đậu tiến sĩ Với học vị này, Phan Thanh Giản bắt đầu dấn thân vào quan trường, khởi đi từ chức Hàn lâm viện biên tu thăng Lang trung bộ Hình (1826) Sau đó, sự thăng giáng liên tiếp: quyền nhiếp trấn Nghệ An (1828), Phủ doãn Phủ Thừa Thiên, Thị lang bộ Lễ, Hiệp trấn Ninh Bình (1829), đổi về Quảng Nam (1831), bị thua trận trong việc dẹp giặc Mọi (Chiên Đàn), bị cách chức, khôi

Trang 34

phục chức, sung phó sứ sang Trung Hoa, Đại lý tự khanh, kiêm công việc bộ Hình (1832), khâm phái đi trấn Tây, Bố chánh Quảng Nam (1835), vì can ngăn vua đi tuần thú Quảng Nam, giáng xuống hàng lục phẩm (1836), sung làm phó khảo trường thi vì sơ suất bị giáng một cấp; thăng tham tri (1841), thăng Thượng thư bộ Hình, sung Cơ mật viện đại thần (1847), đổi sang Thượng thư bộ Lại (1848), sung làm Kinh diên giảng quan, Tổng tài Quốc sử quán, Chánh sứ sang Pháp, Hiệp biện Đại học sĩ, Kinh lược sứ Nam Kỳ

Phan Thanh Giản đảm nhiệm nhiều chức vụ, trải nghiệm thực tế nhiều cảnh đời, cảnh người Từ những hoạt động thực tiễn đó, học vấn và tài năng của ông được khẳng định, tỏa sáng,từ triều Minh Mệnh, tiếp tục được trọng dụng ở triều Thiệu Trị và đạt đến tột đỉnh vinh quang, và tột cùng đau khổ ở triều Tự Đức Hơn bốn mươi năm dấn thân trên quan trường, kinh qua 58 chức vụ [68, tr 197], thăng - giáng luân phiên, nhưng Phan Thanh Giản đã vượt lên giới hạn để hoàn thành sứ mệnh phò vua trong công cuộc “chăn dân”

Với mong muốn “nối chí” cha, Phan Thanh Giản đã kiên nhẫn theo đuổi nghiệp học, đậu tiến sĩ, ra làm quan, như vậy bổn phận làm con, Phan Thanh Giản

đã làm tròn Hơn bốn mươi năm chốn quan trường, Phan Thanh Giản chọn lối sống giản dị, thanh đạm theo tinh thần của một nhà nho, cũng là thực hiện theo lời

“nghiêm huấn” của cha Không từ nan, với các công việc được vua giao phó, dù là thăng hay giáng, Phan Thanh Giản vẫn làm trọn nghĩa vụ của một bề tôi hết mực trung thành, nghĩa vụ với nhân dân Ông đã hăm hở biết bao nhiêu, lo lắng biết bao nhiêu sau mỗi lần được cất nhắc chức vụ mới và luôn luôn giữ được tinh thần ấy, toàn tâm toàn ý để làm tròn bổn phận Khi sức đã kiệt, tự nhận thấy không đủ tài trí phục vụ đất nước, Phan Thanh Giản dâng sớ xin nghỉ hưu, chứng tỏ ông không phải là người tham quyền cố vị, điều đó thống nhất với tinh thần từ đầu khi bước vào hoạn lộ: lập chí cốt không vì danh lợi cho bản thân Bốn mươi mốt năm làm quan có thăng, có giáng nhiều đấy, nhưng không ai dám nghĩ, cuộc đời con người tận trung ấy là có cái kết thật bi thương Phan Thanh Giản đã chọn cái chết theo một phương cách “khó khăn” nhất để kết thúc khi thụ động giao thành (1867)

Là một đại thần triều Nguyễn, lẽ tất nhiên, sự nghiệp của Phan Thanh

Giản sẽ gắn liền với hoạt động chính trị Nhìn vào hệ thống chức vị đã kinh qua

Trang 35

29

chứng tỏ ông đã rất được trọng dụng Phan Thanh Giản giữ nhiều chức vụ quan trọng trong nhiều lĩnh vực, cao nhất là Hiệp biện Đại học sĩ, trên Thượng thư, hàm Tùng nhất phẩm Ông cũng là một trong những người được giao phó trọng trách đi

sứ sang Trung Hoa, Singapore, sau này sang Pháp Tìm hiểu về lịch sử bang giao của Việt Nam, đã có rất nhiều câu chuyện thú vị kể vể chuyện đi sứ của Phan Thanh Giản, nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ của một sứ thần

Về lĩnh vực văn hóa, Phan Thanh Giản có nhiều đóng góp cụ thể Trong vai

trò Tổng tài của Quốc sử quán, ông có nhiều đóng góp trong việc biên soạn các bộ

sử lớn như Minh Mệnh chính yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, đặc biệt là công trình Khâm định Việt sử thông giám cương mục, biên soạn (1856-1859), khắc

in và ban hành vào năm 1884 Đây là một công trình đồ sộ, viết theo lối “cương mục”, chép lịch sử dân tộc từ thời Hùng Vương cho đến khi Quang Trung đại phá quân Thanh (1789), gồm 52 quyển Trên quan điểm Nho giáo kết hợp với tinh thần dân tộc, với những lời chua nhằm chú giải tên đất, tên người và giám định một số

sự kiện, niên đại trên cơ sở khảo chứng công phu, và những lời phê của vua Tự

Đức “Khâm định Việt sử thông giám cương mục cùng với Đại Việt sử ký toàn thư

là hai bộ quốc sử lớn nhất được khắc in toàn bộ trong thời đại phong kiến Việt Nam Về phương diện này, chúng ta cần ghi nhận cống hiến to lớn của Phan Thanh Giản và với bộ quốc sử này, ông là một nhà sử học lớn” [68, tr 287]

Ngoài ra, Phan Thanh Giản đã cùng Nguyễn Thông và các sĩ phu Lục tỉnh

di dời phần mộ nhà giáo Võ Trường Toản về làng Bảo Thạnh vì không muốn một bậc Thầy của Nam Bộ phải nằm trên lãnh thổ của Pháp Ông dành thời gian viết văn bia ca ngợi công đức của bậc hiền đức để lại cho đời sau Khi nhậm chức ở Vĩnh Long, ông chủ trương cùng Nguyễn Thông hiệp lực và các sĩ phu xây dựng Văn Thánh miếu thờ Khổng Tử, lập Văn Xương Các làm nơi hội họp bình thơ văn, bàn kế sách an dân, canh tân đất nước

Có thể nói, bằng những hoạt động cụ thể của mình, trong hơn bốn mươi năm làm quan, bên cạnh hoạt động chính trị, Phan Thanh Giản có những hoạt động

tích cực cho nền văn hóa dân tộc

Nhưng trước hết và sau cùng, Phan Thanh Giản vẫn là một nhà thơ, nhà

văn Thời đại Phan Thanh Giản sống là một xã hội chuộng thơ văn, những người

Trang 36

cai trị thiên hạ khi ấy đều là những người giỏi văn chương thi phú và việc đánh giá

và kén chọn nhân tài đều thông qua thơ văn, xem thơ văn là một phương tiện để giao tiếp Sống trong không khí của thời đại đó, cộng với năng khiếu thơ văn từ nhỏ3 thì việc ông để lại cho đời Lương Khê thi văn thảo như một điều không mấy khó hiểu Ngày nay, hậu thế biết đến thơ văn của ông qua tập Lương Khê thi văn thảo viết bằng chữ Hán, bên cạnh đó là mảng thơ viết bằng chữ Nôm, sáng tác

trong những dịp đặc biệt Tuy nhiên, mảng thơ Nôm không được khắc in, nên đã bị tản mát nhiều, hiện chỉ còn dăm ba bài, được biết đến nhiều hơn vì sự giản dị, trong sáng, mang hồn cốt của thơ văn Nam Bộ

Thơ văn Phan Thanh Giản có ở các tập sách4 của nhiều tác giả đương thời,

đó là những lời bạt, tựa viết tặng bạn bè, đồng môn Dù chưa khảo sát hết toàn bộ, nhưng qua một số bài trích in trong sách của Nguyễn Thông, Trương Đăng Quế, ít nhiều ta cảm nhận được những tình cảm tốt đẹp, sự trân quý tình bạn bè, ẩn chứa những quan điểm về thơ ca hướng đến sự chân thật, dung dị, ít sáo ngữ rất gần với quan niệm văn chương ngày nay Ngoài ra, Phan Lương Khê đã dày công sưu tầm

những bài thơ hay, nhất là thơ Đường, được tập hợp trong Đường thi tuyển, gồm

10 quyển, sách nay đã thất lạc [204]

Về thơ, Phan Thanh Giản sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm, từ năm

1818 - 1867, tập hợp trong cuốn Lương Khê thi thảo (gồm hơn 500 bài, viết theo nhiều thể Đường luật ngũ ngôn, thất ngôn, từ, vịnh, sau có thêm phần bổ di gồm 21

bài) do chính ông và các con tập hợp lại, lấy tên hiệu Lương Khê đặt cho tập thơ

Lương Khê thi thảo chia thành 18 quyển thơ, ứng với 18 chặng đường bôn

ba của Phan Thanh Giản “như một thứ nhật ký” [98, tr 9] Số lượng bài thơ ở mỗi quyển không giống nhau, ít nhất là một bài, nhiều nhất có tới hơn trăm bài, là do tâm trạng của tác giả Sau cái chết của người con tên Quân (người con trai Phan Thanh Giản rất kỳ vọng sẽ nối được chí mình, nên đã dạy bảo rất nghiêm khắc), ông viết ít hơn, lời thơ nặng ưu tư, hoài nghi, chán nản về thời cuộc

3 Quốc Sử quán triều Nguyễn viết: “Phan Thanh Giản thuở nhỏ có tiếng là văn chương, năm Minh Mệnh thứ 7, đỗ tiến

sĩ, là đỗ khởi đầu cho Nam Kỳ” (Đại Nam liệt truyện, tập 4, NXB Thuận Hóa, Huế, tr.37.)

4 Trong cuốn Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Trịnh Khắc Mạnh đã thống kê tác phẩm của Phan Thanh Giản trong các công trình như: Bái Dương thi tập, Dương mộng tập, Giá Viên toàn tập, Hoa trình ký thi họa tập, Nam hành tập, Quốc triều hành uyển, Quế triều văn tuyển, Tây phù nhật ký, Vạn tuyển tân biên…

Trang 37

31

Về văn, viết bằng chữ Hán, là các bài biểu, sớ, ký, tự, thuyết, lụy, thư, luận,

biện, phú, châm, tụng, hành trạng, hành thuật, bi minh, tập hợp trong Lương Khê

văn thảo, gồm: Quyển một: 8 bài biểu tạ ơn và 3 bài sớ Quyển hai: 2 bài ký, 5 bài

tự (đề tựa cho tập văn thơ của các danh sĩ đương thời), 1 bài thuyết, 1 bài lỗi, 6 bức thư, 2 bài luận Quyển ba: 4 bài luận, 1 bài biện, 1 bài phú, 1 bài châm, 1 bài tụng,

1 bài hành trạng, 1 bài hành thuật, 1 bài văn bia về Phạm Đăng Hưng

Phần “Văn thảo bổ di” gồm 4 bài (1 bài văn bia về Xử sĩ xứ Gia Định Võ Trường Toản, 1 bài văn kể về hành trạng thân phụ của tác giả, 1 bài ký về thần nữ Thiên Y A Na, 1 bài Di sớ lúc lâm chung)

Trang 38

BẢNG TÓM TẮT VỀ TẬP LƯƠNG KHÊ THI THẢO 5

Quyển Tên tập thơ Số lượng Thời gian Hoàn cảnh sáng tác

Thanh - Nghệ - Tĩnh, Bình Định

5Bảng được lập dựa theo bài nghiên cứu “Giới thiệu Di cảo Phan Thanh Giản Lương Khê thi văn thảo” của Chương Thâu, trích trong Thơ văn Phan Giản, Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu biên soạn, xuất bản năm 2005)

Trang 39

33

1.2.2.2 Tư tưởng và quan niệm văn chương của Phan Thanh Giản

Phan Thanh Giản chịu ảnh hưởng ý thức hệ tư tưởng nho gia Nhưng hoàn

cảnh của gia đình, quê hương cũng có những tác động sâu sắc đến tư tưởng của Phan Thanh Giản Không ít lần ông đã bộc bạch điều đó trong thơ văn, từ nếp nghĩ,

sở thích, con đường lập thân Vì thế, cuốn sách gối đầu giường của ông là Đại học

Ông tin và thực hành theo những lời dạy của bậc thầy Đông Lỗ Trong bài bia viết

cho Phạm Đăng Hưng, Phan Lương Khê viết ngợi ca cuốn sách: “… trọn cuốn Đại học diễn nghĩa, trên hết đều tập hợp các tinh túy về tính mệnh đạo đức thánh hiền, bên cạnh đó góp nhặt dấu tích an nguy trị loạn xưa nay nguồn gốc rất sâu xa Thực sự là vi diệu trong lời dạy của bậc thầy Đông Lỗ.” [98, tr 806]

Trọng, và tin những lời dạy của hiền nhân thời Xuân Thu – Khổng Tử Và Phan Thanh Giản cũng trọng và yêu mến người thầy chung của Nam Kỳ - Võ

Trường Toản Phan Thanh Giản rất tâm đắc với cách đọc sách Đại học của người

thầy Nam Bộ - Võ Trường Toản Trong bài văn bia viết về Gia định Xử sĩ dựng ở

mộ cụ Võ (1867), ông viết: “… Sách Đại học một ngàn bảy trăm chữ, tan ra gồm

vô số sự vật, tóm lại còn hai trăm chữ, tóm nữa trong một chữ, lại tóm nữa thì một chữ cũng không.” [98, tr 805]

Từ yêu mến, tin tưởng, trở nên sùng kính Phan Thanh Giản đã coi sách Đại học và cụ Võ Trường Toản – chính là hai người thầy tư tưởng của mình Điều này

được biểu hiện sinh động qua phương châm sống, cách ứng xử với đời và trong cả thơ văn của Phan Thanh Giản

“Minh minh đức” (làm sáng cái đức sáng của mình), “tân dân” (làm mới cho dân, ngụ ý sau khi tự sửa mình thành tựu lại đứng ra giúp người cải cách, bỏ xấu theo tốt) và “chỉ ư chí thiện” (an trụ ở nơi chí thiện) là ba cương lĩnh lớn của

Đại học, được cụ thể hóa bằng tám điều mục nhỏ: “cách vật” (tiếp cận và nhận

thức sự vật), “trí tri” (đạt tri thức về sự vật), “thành ý” (làm cho ý của mình thành thực), “chính tâm” (làm cho tâm của mình được trung chính), “tu thân” (tu sửa thân mình), “tề gia” (xếp đặt mọi việc cho gia đình hài hòa), “trị quốc” (khiến cho nước được an trị), “bình thiên hạ” (khiến cho thiên hạ được yên bình) Những điều này được thể hiện khá rõ khi tìm hiểu cuộc đời và thơ văn của Phan Thanh Giản

Trang 40

Cuộc đời của Phan Thanh Giản là một minh chứng thuyết phục cho tinh thần “tu thân” mà đạo nho đề cập tới Sống trong điều kiện “dân chúng làng Bảo Thạnh sống cơ cực khó khăn, phải can đảm và kiên nhẫn chống đối với đất đai cằn cỗi và rừng rậm sình lầy để sinh tồn” [120, tr 37], Phan Thanh Giản đã vượt lên trên trở thành tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ Và trong suốt hơn 40 năm làm quan, trải qua bao sóng gió, thăng trầm, Phan Thanh Giản vẫn không ngừng tu dưỡng bản thân, trau dồi phẩm hạnh theo đạo của một nhà nho chân chính: trung thành

với một cuộc sống đạm bạc, làm quan lớn mà không hầu thiếp “Cụ làm quan mà phu nhân ở nhà phải ở cần ăn kiệm, trồng bông dệt vải lấy mà mặc, cấy lúa tỉa răng lấy mà ăn Nhà thờ tổ tiên thì bằng cột mắm, phên tre, đến khi chết thì cụ trong lều tranh một túp.” [120, tr 417]

Phan Thanh Giản là tấm gương sáng về việc rèn rũa làm cho đức của mình thêm sáng, có sức thuyết phục rất lớn trong tình cảm của nhân dân Nam Bộ và cả những nơi ông nhậm chức Cái đức ấy thêm sáng, khi Phan Thanh Giản làm quan, giúp vua, giúp dân, thể hiện rõ nhất là lẽ Hiếu – Trung

Xuất thân nơi cửa Khổng sân Trình, vì thế hơn ai hết, Phan Thanh Giản là người hiểu rõ về lẽ Hiếu – Trung Nho gia quan niệm, chữ Hiếu được coi là nền tảng, Phan Thanh Giản đồng tình với quan điểm này khi ông bàn luận về hiếu đễ:

“Đứng đầu tứ đức là nhân Nhân chủ về lòng yêu thương, lòng yêu thương thì không gì lớn hơn là thương yêu cha mẹ Gần gũi với người thân

mà nhân đức với dân, nhân đức với dân mà yêu muôn vật, đều là những biểu hiện của đức nhân (…) Không có hiếu đễ thì lòng nhân biết theo đâu? (…) Nhưng nếu tìm về nguồn cội thì hiếu đễ thực sự là gốc.” [98, tr 774]

Từ chữ hiếu, Phan Thanh Giản vào hoạn lộ, đọc bài Gia biệt, có thể thấy điều này:

“Thập tải sự mao chùy,

Sở chí phi ôn bão

Đình huấn cánh gia nghiêm, Hiếu tử tại thừa chí.”

(Mười năm theo bút mực,

Nhưng chí ta không phải cầu no ấm

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w