1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Môi trường kinh doanh quốc tế tại thành phố hồ chí minh và tác động của nó đến nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhật bản

90 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, hướng đến việc phân tích rõ hơn những rào cản cũng như những thuận lợi mà môi trường này mang đến cho vấn đề nhân sự của các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Thành phố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN

Sinh viên thực hiện:

Lê Hồng Nhã Quyên ( Nhật Bản 1-12, khóa 2012 – 2016 )

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Tuấn Khanh

( Chuyên môn Quan hệ Quốc Tế, Bộ môn Nhật Bản Học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh )

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 6

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 8

2.1 Mục đích 8

2.2 Nhiệm vụ 8

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 9

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 10

5 Kết cấu đề tài 10

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG I 12

1 Các vấn đề trong kinh doanh quốc tế 12

1.1 Khái quát về kinh doanh quốc tế 12

1.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế 12

1.3 Đặc trưng của kinh doanh quốc tế 13

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế 14

1.4.1 Điều kiện phát triển kinh tế 14

1.4.2 Điều kiện chính trị, xã hội và quân sự 14

1.4.3 Sự phát triển của khoa học và công nghệ 15

1.4.4 Sự hình thành các liên minh kinh tế 15

2 Kỹ năng Horenso 15

3 Phương pháp cải tiến Kaizen ( PI.Kaizen ) 18

4 Khái niệm quản trị nhân sự theo các học thuyết quản trị 18

4.1 Thuyết X 19

4.2 Thuyết Y 19

4.3 Thuyết Z 20

CHƯƠNG II 21

Trang 3

1 Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam trước 2007 21

1.1 Giai đoạn 1975-1982 21

1.2 Giai đoạn 1982-1986 22

1.3 Giao đoạn 1986 - 2007 22

2 Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam sau 2007 24

3 Khái quát thực trạng đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh 28

4 Các vấn đề về nhân sự của các doanh nghiệp Nhật Bản hiện nay 34

4.1 Những thuận lợi về mặt nhân sự và nguyên nhân 34

4.1.1 Về văn hóa 34

4.1.2 Về kinh tế 41

4.1.3 Nguyên nhân khác 42

4.2 Những khó khăn về mặt nhân sự và nguyên nhân 43

4.2.1 Về văn hóa 43

4.2.2 Về kinh tế 45

CHƯƠNG III 48

1 Đối với nhân viên người Việt Nam 48

2 Đối với nhà quản lý người Nhật Bản 49

PHẦN KẾT LUẬN 51

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 53

Trang 4

TÓM TẮT

Có thể nói, trước năm 1986, các hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam chưa thật sự phát triển Bởi lẽ, giai đoạn này Việt Nam vẫn còn hạn chế các hoạt động xuất

khẩu Quyền xuất nhập khẩu thời điểm này chịu sự chi phối chủ yếu bởi nhà nước dưới

dạng tổng công ty xuất nhập khẩu Tuy nhiên, đến năm 1988, việc cho ra đời Luật Thuế xuất nhập khẩu đã tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra một cách dễ dàng hơn Từ đó các tổ chức thương mại quốc tế tại Việt Nam được thành lập cũng đơn giản hơn Từ đây, độc quyền xuất nhập khẩu của Nhà nước đã chấm dứt Nhiều tổ chức, công

ty cũng đã bắt đầu được tạo điều kiện để tham gia các hoạt động kinh doanh quốc tế Tuy vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thật sự khởi sắc vì còn những hạn chế do các ràng buộc của các tổ chức quốc tế khác Tuy vậy, những cố gắng hòa nhập vào môi trường kinh doanh quốc tế của Việt Nam đã được chứng minh với sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập WTO từ năm 2007

Sự kiện đáng ghi nhớ này đã mở ra một thời kì mới cho nền kinh tế của Việt Nam với việc thị trường Việt Nam dần dần hòa vào xu thế toàn cầu hóa, góp phần hình thành nên môi trường kinh doanh quốc tế với số lượng những công ty, tập đoàn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều cả về số lượng lẫn quy mô Một trong số những đối tác đó chính là Nhật Bản Mặc dù đã có sự giao thương với Việt Nam từ cuối thế kỉ XVI, nhưng đến ngày 21/09/1973, Việt Nam – Nhật Bản mới chính thức xác lập quan hệ ngoại giao Đến năm 1992, Nhật Bản bắt đầu mở lại viện trợ cho Việt Nam Hiện tại, Nhật Bản đang đóng vai trò là đối tác tin cậy, ổn định lâu dài của Việt Nam Từ sau

khi Việt Nam và Nhật Bản dành cho nhau thuế suất “Tối huệ quốc” vào năm 1999, đặc biệt hơn là sau Tuyên bố chung "Vươn tới tầm cao mới của đối tác bền vững" vào tháng

7/2004 trong chuyến thăm của Ngoại trưởng Nhật Bản Yoriko Kawaguchi, làn sóng đầu

tư của Nhật Bản vào Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể Tuy vậy, với một nền kinh

tế đang phát triển và lại đang trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa như Việt Nam thì việc đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản, bên cạnh những thuận lợi, vẫn còn tồn tại một số rủi ro do các khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, thể chế chính trị, kinh tế…

Trang 5

Một trong những rủi ro hàng đầu mà đa số các doanh nghiệp Nhật Bản đang gặp phải chính là vấn đề nhân sự Vì lẽ đó, đề tài nghiên cứu “Môi trường kinh doanh quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và tác động của nó đền nguồn nhân lực của các doanh nghiệp Nhật Bản” đã được thực hiện nhằm khái quát lại môi trường kinh doanh quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời, hướng đến việc phân tích rõ hơn những rào cản cũng như những thuận lợi mà môi trường này mang đến cho vấn đề nhân sự của các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế quốc tế đang diễn ra trên toàn cầu với tốc

độ nhanh chóng, kinh tế Việt Nam cũng đang tửng bước chuyển mình hội nhập Từ sau khi gia nhập WTO vào năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp nươc ngoài ( FDI ) và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ( FII ) vào Việt Nam vẫn không ngừng tăng lên Đây chính là dấu hiệu đáng mừng cho nền kinh tế non trẻ của Việt Nam Việc gia nhập WTO là một cột mốc đáng nhớ mang ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, chính trị, đời sống, xã hội, góp phần to lớn vào việc thúc đẩy sự tăng trưởng về kinh tế và hòa nhập với xu hướng chung của thế giới

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, sự thành công ít hay nhiều trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc rất lớn vào sự nhận thức và hiểu biết của các doanh nghiệp về môi trường kinh doanh quốc tế và chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Theo website V1000 ( www.v1000.vn ) thì chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm 2013, làn sóng đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore dẫn đầu trong danh mục các quốc gia đầu tư vào Việt Nam Xét riêng về Nhật Bản, số vốn đăng ký câp mới và tăng thêm đạt hơn 4842 tỉ USD Tiếp theo là Hàn Quốc với 4019 tỉ USD Thứ ba là Singapore với 3985 tỉ USD Có thể thấy, làn sóng doanh nghiệp Nhật Bản đang ồ ạt đầu tư vào thị trường Việt Nam, cụ thể là tại Thành phố Hồ Chí Minh Tuy vậy, với một nền kinh tế non trẻ đang phát triển, lại đang trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa như Việt Nam thì việc đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản, bên cạnh những thuận lợi, vẫn còn tồn tại một số rủi ro do các khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, thể chế chính trị, kinh tế… Một trong những rủi

ro hàng đầu mà đa số các doanh nghiệp Nhật Bản đang gặp phải chính là vấn đề nhân sự Một doanh nghiệp có thể sẽ không thất bại hoàn toàn nếu như gặp phải vấn đề về nhân sự, nhưng chính những bất đồng giữa cấp quản lý và nhân viên về văn hóa, xã hội, ngôn ngữ, quan điểm hay bất cứ một vấn đề nào khác sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và năng suất làm việc Vì lẽ đó, đề tài niên luận này được thực hiện nhằm khái quát thực

Trang 7

trạng đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại thành phố Hồ Chí Minh và phân tích rõ vấn đề nhân sự mà các doanh nghiệp Nhật Bản đang gặp phải

1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Vấn đề môi trường kinh doanh quốc tế tại Việt Nam nói chung và tại thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng cũng như ảnh hưởng của nó đến nguồn nhân lực của các doanh nghiệp Nhật Bản, ít nhiều đã được nghiên cứu trong và ngoài nước Trong số các tài liệu liên quan đến đề tài này có thể kể đến khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Quang Ninh

do TS Nguyễn Xuân Thiện hướng dẫn, “Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật

Bản – thực trạng và giải pháp”, đã xác định được mối quan hệ về kinh tế giữa Nhật Bản

và Việt Nam cũng như với các nước Châu Á trong thời kỳ mở cửa Ngoài ra, trong đề tài này, tác giả còn phản ánh rõ ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hóa đến sự thay đổi các chính sách đối ngoại của Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề về nhân sự giữa Việt Nam và Nhật Bản chưa được đề cập rõ trong khóa luận này

Ngoài ra, Luận án Tiến sĩ kinh tế “Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế ở

Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế” của tác giả Đỗ Phú Trần Tình (Đại

học Kinh Tế - Luật) đã nghiên cứu nguyên nhân khiến chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa cao, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh Trong đó, tác giả đã khái quát môi trường kinh doanh quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh Đây là nguồn tài liệu hữu ích cung cấp các kiến thức nền tảng cho đề tài, tuy nhiên thực tiễn vấn

đề nhân sự và môi trường kinh doanh Việt Nam có tác động như thế nào đến các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn chưa được tác giả đề cập trong luận án của mình

Trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 333, tháng 3/2012 có đăng bài “Thách thức

văn hóa trong trào lưu thế giới hóa” của tác giả Ariane Berthoin Antal (Giáo sư tiến sĩ

thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Xã hội Berlin – WZB) do Nguyễn Việt Tư dịch Bài viết khẳng định xu hướng quốc tế hóa đang ngày càng tăng trong các doanh nghiệp Tác giả cho rằng, mô hình này cần được áp dụng tùy vào cơ cấu của từng công ty, vì nó

có tác động trực tiếp đến chiến lược phát triển kinh doanh và quản lý nguồn nhân lực cũng như việc đào tạo cán bộ quản lý Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên ý kiến khi so sánh giữa hai mô hình hoạt động của các công ty đa quốc gia (MNCs) và công ty xuyên quốc gia (TNCs) Khi muốn thay đổi cơ cấu từ doanh nghiệp quốc gia sang doanh nghiệp

Trang 8

đa quốc gia hoặc xuyên quốc gia, thì ngoài chiến lược kinh doanh, các nhà quản lý còn phải thay đổi văn hóa để phù hợp với năng lực của nguồn nhân sự tại chi nhánh của nước

sở tại Đề tài chủ yếu thực hiện nghiên cứu đối với những doanh nghiệp tại các nước Âu

Mĩ như Thụy Sĩ, Anh, Pháp, Đức chứ không đào sâu tìm hiểu các doanh nghiệp Châu Á, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhật Bản Tuy nhiên, bài viết đã gợi ý cho chúng tôi mở rộng nghiên cứu tương quan mô hình hoạt động của các doanh nghiệp Âu Mỹ và Nhật Bản để làm rõ hơn cho các vấn đề liên quan đến những nội dung chính của đề tài

Tác giả Vũ Hồng Nhung với bài viết “Các công ty Nhật Bản đang chuyển hoạt

động sản xuất kinh doanh từ Trung Quốc sang các nước ASEAN” được đăng trên

website Viện Nghiên Cứu Đông Bắc Á, ngày 30.03.2012 (www.cjs.inas.gov.vn) đã trình bày cơ cấu chuyển dịch vùng kinh tế của các công ty Nhật Bản, mà cụ thể là dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang Ấn Độ và các nước ASEAN như Việt Nam, Thái Lan, Phillipines Nguyên nhân của sự chuyển dịch này là do sự chênh lệch về giá thành sản xuất giữa Trung Quốc và các khu vực trên khá cao Do đó, khi đầu tư vào Việt Nam, Ấn

Độ, Thái Lan, Phillipines thì lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ tăng Điều này giải thích cho làn sóng đầu tư ngày càng cao của các công ty Nhật Bản vào Việt Nam Tuy vậy, nghiên cứu tại bài viết này được thực hiện trên diện rộng chứ chưa mang tính cụ thể và cập nhật với tình hình hiện nay

Theo đó, đề tài luận văn tốt nghiệp đại học của tác giả Lương Lê Thủy, do PGS

– TS Võ Thanh Thu hướng dẫn, với tên gọi “Các đặc trưng văn hóa xã hội và quản trị

nhân sự ở các công ty Nhật Bản”, cũng đã khái quát được phần nào các vấn đề nhân sự

tại các công ty Nhật Bản khi đầu tư tại Châu Á Cũng trong luận văn này, tác giả đã đưa

ra cấu trúc quản lý nhân sự tại các công ty Nhật Bản đầu tư trong nước, so sánh với các công ty Nhật Bản đầu tư ở nước ngoài Tác giả cũng đưa ra được những khác biệt để làm bật lên được những thuận lợi và khó khăn về nhân sự khi đầu tư tại nước ngoài Từ đó, đề xuất kinh nghiệm cho các nhà quản lý tại Việt Nam Tuy nhiên, luận văn chưa mang tính cập nhật và chưa cụ thể được vấn đề nhân sự mà các doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp phải

Một bài viết khác cũng liên quan đến vấn đề nhân sự lao động tại các công ty

Nhật Bản là “Vấn đề đãi ngộ trong tuyển dụng lao động ở Nhật Bản” được đăng trên

Trang 9

website Viện Nghiên Cứu Đông Bắc Á, ngày 12/12/2012 Tuy có đề cập đến nguyên nhân chính gây nên mâu thuẫn trong vấn đề nhân sự lao động tại các công ty Nhật Bản là chế

độ lương bổng, song bài viết vẫn chưa đề cập trực tiếp đến đối tượng lao động là người Việt Nam tại các công ty Nhật Bản

Nhìn chung, các tải liệu nói trên chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến đề tài, giá trị cập nhật vẫn chưa cao Đặc biệt, chúng tôi vẫn “chưa thấy bất kỳ tài liệu nào liên quan đến đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp khảo sát và phỏng vấn sâu”

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục đích

Đề tài tập trung nghiên cứu những rào cản trong vấn đề nhân sự mà các doanh nghiệp Nhật Bản đang phải đối mặt khi hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Nhiệm vụ

Với những nội dung nêu trên, đề tài hướng đến các nhiệm vụ chính như sau:

- Mô tả và đánh giá hiện trạng môi trường kinh doanh quốc tế tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng qua hai giai đoạn: trước khi Việt Nam gia nhập WTO ( năm 2007 ) và sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay

- Khái quát những thuận lợi và khó khăn mà các doanh nghiệp gặp phải khi mở rộng các kinh doanh, đầu tư vào một quốc gia khác Từ đó góp phần đưa ra những nhận định về các tác động mà môi trường kinh doanh quốc tế mang lại cho các doanh nghiệp nước ngoài

- Trình bày thực trạng đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, phân tích và làm rõ những ảnh hưởng mà nguồn nhân lực của các doanh nghiệp Nhật Bản đang gặp phải do môi trường kinh doanh quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh mang lại

- Lý giải những nguyên nhân tác động đến các doanh nghiệp Nhật Bản do môi trường kinh doanh quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh mang lại

Trang 10

- Bước đầu đề xuất các giải pháp nâng cao những thuận lợi và khắc phục những hạn chế mà môi trường kinh doanh quốc tế đang ảnh hưởng đến vấn đề nhân sự tại các

doanh nghiệp Nhật Bản

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu áp dụng hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, cụ thể:

Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng thông qua (1) phân tích các

nguồn tài liệu từ sách, báo, tạp chí, những website đáng tin cậy, các báo cáo nghiên cứu khoa học, tạp chí khoa học, các cơ sở lý thuyết liên quan v.v… về vấn đề môi trường kinh doanh quốc tế trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO (2007) cũng như về hiện trạng đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, (2) tìm hiểu các yêu cầu về nhân sự của các doanh nghiệp Nhật Bản, thông qua các văn bản tuyển dụng của một số công ty Nhật Bản đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh, (3) nghiên cứu liên ngành những tài liệu thuộc các lĩnh vực văn hóa học, pháp luật học, kinh tế học, quan hệ quốc tế nhằm đưa ra phân tích, nhận định khách quan và khái quát nhất về tác động mọi mặt của môi trường kinh doanh quốc tế đối với vấn đề nhân sự tại các doanh nghiệp Nhật Bản hiện nay

Phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng thông qua (1) sử dụng bảng

hỏi để điều tra nhu cầu làm việc tại các công ty Nhật Bản của người lao động Việt Nam, cũng như những khó khăn và thuận lợi mà người lao động Việt Nam đang gặp phải khi làm việc với các doanh nghiệp Nhật Bản, (2) phỏng vấn sâu các nhân viên quản lý Việt Nam đang làm việc tại các doanh nghiệp Nhật Bản để tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải về vấn đề nhân sự

Song song đó, nghiên cứu còn áp dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu

như phương pháp lịch sử ( để tìm hiểu rõ lịch sử nghiên cứu vấn đề ), phương pháp so

sánh ( để làm bật lên những khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản trong

tương quan với vấn đề nhân sự mà các doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản mang lại ) và

phương pháp logic ( để kết nối các sự kiện cũng như chuỗi tư duy nhận thức – thái độ -

hành động của các công ty Nhật Bản khi nghiên cứu và đầu tư tại Việt Nam gắn với vấn

đề nhân sự )

Trang 11

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Nhằm có cái nhìn toàn cảnh về nhu cầu nhân sự của lao động Việt Nam, cũng như để đưa ra được những nhận định một cách tương đối chính xác về chế độ làm việc tại các doanh nghiệp Nhật Bản, chúng tôi đã thực hiện khảo sát từ ngày 17/12/2013 đến ngày 20/01/2013 đối với 132 nhân viên người Việt Nam đang làm việc tại các doanh nghiệp Nhật Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh Đó là các doanh nghiệp : Tokyo Deli, Evolable Asia Co., Ltd., GNT Vietnam, Sotochika Vietnam, FPT Japan, Yazaki Eds Vietnam, G.A Consultants Vietnam Co., Ltd., Worksmedia Co., Ltd., Toyo Itec Vietnam, Sapporo Vietnam Ltd., Hitachi Plant Technologies Ltd., NTT Data Vietnam Co., Ltd Về phía Nhật Bản, chúng tôi thực hiện phỏng vấn với 2 nhà quản lý – điều hành từ công ty Noah Vietnam Co., Ltd và Building Vietnam Business Center Do thời gian khảo sát có hạn nên số lượng bảng phỏng vấn nhân viên người Việt còn ít, và số lượng bảng phỏng vấn các nhà quản lý Nhật Bản chưa nhiều, khiến cho kết quả mà chúng tôi thu thập được chưa thật sự tương xứng với quy mô của công trình nghiên cứu Tuy nhiên, mặc dù số lượng người tham gia khảo sát còn hạn chế, song kết quả của cuộc khảo sát mang tính chân thật, khái quát và cập nhật cao Qua đó, chúng tôi phần nào nhận định được nhu cầu, nguyện

vọng cũng như những đãi ngộ khi làm việc cùng phía đối tác Nhật Bản

5 Kết cấu đề tài

Chương I : Một số khái niệm liên quan đến đề tài

Trong chương này, chúng tôi đưa ra một số khái niệm liên quan đến vấn đề kinh doanh quốc tế và quản trị nhân sự đang được áp dụng trong rất nhiều công ty ( horenso, thuyết X, thuyết Y, thuyết Z, kaizen )

Chương II : Tình hình kinh tế Việt Nam và vấn đề quản trị nhân sự của các công ty Nhật Bản tại thành phố Hồ Chí Minh

Chương này nhằm khái quát hóa toàn cảnh nền kinh tế Việt Nam từ trước và sau

2007 cũng như thực trạng đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó cũng tập trung nghiên cứu những khó khăn và thuận lợi về vấn đề nhân sự mà các doanh nghiệp Nhật Bản đang gặp phải

Trang 12

Chương III : Kết luận và khuyến nghị

Trong chương này, chúng tôi đưa ra những kết luận về vấn đề nhân sự tại các doanh nghiệp Nhật Bản Song song đó, chúng tôi cũng đưa ra những định hướng hạn chế

và khắc phục những khó khăn đối với nguồn nhân lực Việt Nam tại các doanh nghiệp Nhật Bản Từ đó, đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khi làm việc với các đối tác Nhật Bản trong tương lai

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 Các vấn đề trong kinh doanh quốc tế

1.1 Khái quát về kinh doanh quốc tế

Kinh doanh quốc tế là toàn bộ các hoạt động giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữa hai hay nhiều quốc gia, khu vực và vùng lãnh thổ nhằm thỏa mãn các mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức quốc tế hoặc Chính phủ

Kinh doanh quốc tế đã xuất hiện rất sớm cùng với quá trình giao lưu trao đổi, mua bán hàng hoá giữa hai hay nhiều quốc gia Cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản, các hoạt động kinh doanh quốc tế ngày càng được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức và phương thức khác nhau Các hoạt động của kinh doanh quốc tế

có liên quan đến sự mua bán những tài nguyên như vốn, công nghệ, con người… và dịch

vụ, có thể bao gồm dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, thi công xây dựng… Bằng những lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý các công ty xuyên quốc gia trên thế giới đã và đang nâng cao vị thế và tăng cường thị phần của mình trong khu vực và trên thế giới nói chung

Hiện nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự tác động ngày càng tăng của xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa, hoạt động kinh doanh quốc tế và các hình thức kinh doanh quốc tế ngày càng đa dạng và trở thành vấn đề cốt lõi trong mối quan hệ quốc tế hiện đại

1.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế

Với sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới thông tin toàn cầu, mối liên hệ giữa các quốc gia cũng phát triển mạnh mẽ Đây là một cơ sở vững chắc giúp hoạt động kinh doanh quốc tế ngày một phát triển rực rỡ, chứng tỏ được vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Trang 14

Hoạt động kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tự do tham gia vào việc phân công lao động quốc tế và sự trao đổi mậu dịch quốc tế, làm cho nền kinh tế quốc gia trở thành một hệ thống mở, tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp đầu vào

và tiêu thụ các yếu tố đầu ra cho nền kinh tế quốc gia trong hệ thống kinh tế quốc tế

Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh quốc tế cũng đảm bảo các nhu cầu và lợi ích

về trao đổi sản phẩm, vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến cho các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh này

Đồng thời, tham gia vào môi trường kinh doanh quốc tế còn giúp các chủ thể kinh doanh so sánh được tiềm năng kinh tế của mỗi quốc gia, từ đó, có thể khai thác triệt

để các thế mạnh mà từng môi trường kinh doanh mang lại Nhờ vậy mà chủ thể kinh doanh có thể đạt được quy mô tối ưu cho mỗi ngành sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, thúc đẩy việc khai thác các nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu, thu hút vốn đầu tư bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân

Thông qua hoạt động kinh doanh quốc tế, phân công lao động giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước được đẩy mạnh, đảm bảo được đầu vào và đầu ra cho các doanh nghiệp trong nước một cách ổn định và phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân

Mặt khác, thị trường nước ngoài có thể cung cấp cho thị trường nội địa các yếu tố của quá trình sản xuất, từ đó nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo tính cạnh tranh cho sản phẩm, đảm bảo cho hàng hóa đứng vững trên thị trường nước ngoài

1.3 Đặc trưng của kinh doanh quốc tế

Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa một hay nhiều chủ thể kinh doanh đến

từ các quốc gia khác nhau, tạo nên một môi trường kinh doanh hoàn toàn xa lạ và mới mẻ Chính vì yếu tố đó mà các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức không thể áp dụng những kinh nghiệm kinh doanh nội địa vào hoạt động kinh doanh quốc tế Do đó, để đạt được kết quả tốt nhất trong môi trường kinh doanh quốc tế, nhà đầu tư cần phải hiểu rõ những đặc trưng của môi trường này

Trang 15

Thứ nhất, kinh doanh quốc tế là hoạt động kinh doanh diễn ra giữa các quốc gia khác nhau Cần có sự phân biệt rõ ràng với kinh doanh nội địa

Thứ hai, hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra ở nước ngoài, do đó, nhà đầu tư

cần hiểu rõ các nguy cơ rủi ro sẽ xảy ra

Thứ ba, kinh doanh quốc tế buộc phải diễn ra trong những môi trường mới và xa

lạ Chính vì thế, các nhà đầu tư phải thay đổi để thích ứng nhằm đạt hiệu quả

Thứ tư, kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận bằng cách mở rộng thị trường

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế

1.4.1 Điều kiện phát triển kinh tế

Sự tăng trưởng các hoạt động kinh doanh quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu Kinh tế có điều kiện

để phát triển, kéo theo đời sống người dân được nâng cao, các nhu cầu về sinh hoạt đời sống, xã hội cũng ngày càng nhiều Từ đó, thị trường nội địa không còn đủ khả năng đáp ứng cho sự phát triển này, buộc lòng kinh tế phải mở rộng ra nước ngoài Có thể nói, điều kiện phát triển kinh tế là nhân tố hàng đầu, làm phát sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh quốc tế

Bên cạnh đó, khối lượng hàng hóa tiêu thụ, số vốn đầu tư… đều chịu tác động mạnh mẽ bởi điều kiện phát triển kinh tế Tuy vậy, sự gia tăng đầu tư và buôn bán luôn có biến đổi nhanh hơn sự biến đổi của nền kinh tế Sự thay đổi về mức sống trên thế giới đã

và đang ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ khối lượng hàng hóa được luân chuyển trên thế giới

1.4.2 Điều kiện chính trị, xã hội và quân sự

Sự ổn định hay bất lợi về mặt chính trị, xã hội và quân sự cũng là một nguyên nhân to lớn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh quốc tế và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Các quan điểm về chính trị, xã hội tác động trực tiếp đến phạm vi, lĩnh vực, mặt hàng và đối tác kinh doanh Các cuộc xung đột lớn trong nội bộ quốc gia ( nội chiến ) và giữa các quốc gia với nhau tác động tiêu cực đến mặt hàng kinh doanh và mật

độ phân bố sản xuất hàng hóa trên thế giới Mặt khác, sự bất ổn về mặt quân sự làm ảnh

Trang 16

hưởng đến quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới và hình thành nên một rào cản “vô hình”, cản trở các hoạt động kinh doanh quốc tế

1.4.3 Sự phát triển của khoa học và công nghệ

Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đang thúc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế ở các quốc gia Chính sự phát triển vượt bậc về khoa học và công nghệ mà mỗi quốc gia, doanh nghiệp bắt đầu xác định được loại hình, mặt hàng kinh doanh chủ yếu của mình Từ đó, vị trí của từng quốc gia, từng doanh nghiệp cũng thay đổi trong hoạt động kinh doanh quốc tế

Thực tế, các quốc gia phát triển đang nắm giữ phần mậu dịch và đầu tư lớn trong lĩnh vực công nghiệp, do hầu hết những kỹ thuật, công nghệ, máy móc, thiết bị tiên tiến đều xuất phát từ các quốc gia này Vì lẽ đó, các quốc gia nghèo đang phải chịu những áp lực hết sức to lớn trong một môi trường kinh doanh quốc tế

1.4.4 Sự hình thành các liên minh kinh tế

Việc hình thành các khối liên kết về kinh tế, chính trị, quân sự đã góp phần làm tăng hoạt động kinh doanh mua bán giữa các quốc gia thành viên, làm giảm tỉ lệ mậu dịch với các quốc gia không thành viên Từ đây, những hiệp định, thỏa ước, cam kết giữa các quốc gia thành viên và không thành viên ra đời, nhằm tạo điều kiện giao thương buôn bán, góp phần xóa bỏ rào cản “vô hình” đang cản trở hoạt động kinh doanh quốc tế

Bên cạnh những hiệp định song phương và đa phương giữa các quốc gia đã và đang ký kết, các tổ chức kinh tế quốc tế, ví dụ như Ngân hàng quốc tế ( World Bank –

WB ), Ngân hàng phát triển Châu Á ( Asian Development Bank – ADB ) có vai trò cực

kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động kinh doanh quốc tế Thông qua các hoạt động cho vay, các tổ chức này đã kích thích mậu dịch và đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Từ đó, hoạt động kinh doanh quốc tế cũng được kích thích phát triển theo

2 Kỹ năng Horenso

Theo Thần đạo thì dân tộc Nhật Bản chính là hậu duệ của nữ thần mặt trời Amaterasu Ngay từ ngày sơ khai, trải dọc theo suốt quá trình lịch sử, dân tộc Nhật Bản

đã phải sống trong một không gian sinh tồn chật hẹp, với số lượng tài nguyên thiên nhiên

vô cùng khan hiếm Với vị trí địa lý nằm ngay điểm tiếp xúc của 4 đĩa lục địa, Nhật Bản

Trang 17

thường xuyên phải hứng chịu những trận động đất và núi lửa Trải qua nhiều khó khăn như vậy nên từ xa xưa, người Nhật đã hình thành nên tính cộng đồng hết sức mạnh mẽ Người Nhật luôn coi nhau như anh em một nhà, cùng nhau đoàn kết để cùng sinh tồn và phát triển

Tính cộng đồng của người Nhật không chỉ được đề cao trong sinh hoạt hàng ngày mà nó còn đi sâu vào mọi mặt đời sống Trong kinh doanh, lối tư duy cộng đồng cũng là một nhân tố góp phần không nhỏ vào kết quả thành công của công việc Nếu như

đa số người Việt Nam thích làm việc cá nhân để có thể chủ động xử lý công việc theo ý kiến chủ quan thì người Nhật lại ngược lại Người Nhật, với tinh thần cộng đồng sẵn có, cho rằng làm việc nhóm sẽ mang lại kết quả tối ưu hơn, và kết quả công việc chính là thành quả làm việc của cả một tập thể chứ không phải cá nhân Đối với lối tư duy cộng đồng của người Nhật Bản, hiệu suất công việc cao hay thấp, tiến độ công việc nhanh hay chậm… tất cả phụ thuộc vào quá trình làm việc nhóm có suôn sẻ, trôi chảy hay không Do

đó, khi làm việc nhóm, các cá nhân người Nhật luôn cẩn thận mở ra những nguồn thông tin với nội bộ nhóm, nhằm duy trì và tiến hành công việc nhóm được trôi chảy hơn

Đào sâu vào quy trình làm việc nhóm của người Nhật, không thể nào không kể đến Horenso, một quy tắc truyền thống trong việc truyền thông nội bộ của các doanh nghiệp Nhật Bản Horenso không chỉ là một phương thức truyền thông nội bộ, mà còn là

một nét văn hóa đặc trưng của quốc gia Horenso là viết tắt của 3 từ : hokoku – renraku –

sodan ( báo cáo – liên lạc – bàn bạc )

Hokoku ( 報告 ) nghĩa là báo cáo Đây là một nhiệm vụ tất yếu của nhân viên

đối với nhà quản lý Khi làm việc cùng với người Việt Nam, thì bảng báo cáo của người Nhật so với người Việt Nam là vô cùng chi tiết, vô cùng quan trọng Người Nhật cho rằng, việc báo cáo của nhân viên đối với cấp trên sẽ giúp nhân viên hoàn thành tốt tiến độ của công việc và nhận được sự giúp đỡ khi cần thiết Về phía nhà quản lý, việc báo cáo của nhân viên giúp nắm bắt rõ diễn biến của công việc đã bàn giao Ngoài ra, nhờ những bảng báo cáo này mà cả nhân viên và nhà quản lý đều hiểu rõ được những nguy cơ phát sinh trong quá trình làm việc Tuy vậy, có một số nguyên tắc riêng sẽ giúp cho công việc báo cáo rõ ràng, rành mạch và chi tiết hơn :

Trang 18

- Thứ nhất, nhân viên cần phải hiểu rõ những nội dung báo cáo mà cấp trên muốn

nghe Việc cung cấp sai thông tin hoặc cung cấp thông tin thừa sẽ làm mất thời gian của

cả hai phía và gây nhiễu thông tin của cấp trên Trước khi thực hiện nhiệm vụ báo cáo, nhân viên cần xác định rõ đâu là thông tin phía nhà quản lý muốn nghe, và cách báo cáo thông tin ấy như thế nào là phù hợp và chính xác

- Thứ hai, ngay khi vừa hoàn thành nhiệm vụ, nhân viên hãy báo cáo với cấp

trên Việc báo cáo này giúp thông tin được truyền đến nhà quản lý một cách chính xác về mặt thời gian

- Thứ ba, nếu công việc được giao có thời gian thực hiện dài, hãy thường xuyên

báo cáo định kỳ với cấp trên Nhà quản lý sẽ đánh giá cao năng lực, đồng thời cũng sẽ đưa ra những sự hỗ trợ kịp thời nếu nhân viên gặp sự cố trong quá trình thực hiện Việc báo cáo thường xuyên cho tới khi kết thúc công việc cũng giúp nhà quản lý dễ dàng hoạch định những kế hoạch song song hoặc kế hoạch tiếp theo Nhờ vậy mà năng suất làm việc

sẽ đạt kết quả tối ưu hơn

- Cuối cùng, hãy báo cáo sự cố Trong horenso, việc báo cáo sự cố liên quan rất

chặt chẽ đến hai vấn đề còn lại Báo cáo sự cố cần được thực hiện càng sớm càng tốt Thực hiện báo cáo sự cố một cách nhanh chóng và chính xác sẽ giảm thiểu được những rủi ro phát sinh trong quá trình tiến hành công việc

Renraku ( 連絡 ) nghĩa là liên lạc Mục đích của việc liên lạc là giúp cho luồng

thông tin có thể truyền đến tất cả các thành viên trong nhóm Không chỉ vậy, trong quá trình thực hiện công việc, nhân viên còn chính là cầu nối giữa nhà quản lý và khách hàng cũng như các bên có liên quan Liên lạc có tốt, thì thông tin mới chính xác, nội dung công việc sẽ được tiến hành một cách dễ dàng hơn

Tuy vậy, liên lạc là công việc khó thực hiện nhất trong horenso Nhân viên khi thực hiện nhiệm vụ này cần xác định chính xác thời điểm thích hợp để liên lạc

Sodan ( 相談 ) nghĩa là bàn bạc Đây chính là chiếc chìa khóa chính để giải

quyết toàn bộ vấn đề Trong khi làm việc nhóm, sự bàn bạc, trao đổi giữa các thành viên

là hết sức cần thiết Bởi vì lượng kiến thức mỗi cá nhân có được là khác nhau, cách giải quyết trước những tình huống cũng khác nhau, nên việc bàn bạc sẽ giúp công việc của nhóm tìm ra được phương án tối ưu nhất

Trang 19

3 Phương pháp cải tiến Kaizen ( PI.Kaizen )

Kaizen ( 改善 ) trong tiếng Nhật nghĩa là cải tiến, cải thiện Từ năm 1986, cuốn sách “Kaizen - chìa khoá của sự thành công trong quản lý của Nhật Bản” của tác giả Masaaki Imai được xuất bản thì thuật ngữ Kaizen đã được coi là khái niệm cơ bản trong quản lý

Kaizen là cách tiếp cận mang tính triết lý và có hệ thống, được Nhật Bản phát triển sau Chiến tranh Thế Giới thứ II Trong tiếng Nhật, Kaizen được ghép chữ Kai ( 改 ) nghĩa là “thay đổi” hay “làm cho đúng” và Zen ( 善 ) - “tốt”, nghĩa là “cải tiến liên tục” Cốt lõi của Kaizen là sự tích lũy các cải tiến nhỏ thành kết quả lớn, tập trung vào xác định vấn đề, giải quyết vấn đề và thay đổi chuẩn để đảm bảo vấn đề được giải quyết tận gốc

Do đó, Kaizen còn hơn một quá trình cải tiến liên tục, với niềm tin rằng sức sáng tạo của con người là vô hạn Qua đó, tất cả mọi thành viên trong tổ chức từ lãnh đạo đến công nhân đều được khuyến khích đưa ra đề xuất cải tiến dù là nhỏ xuất phát từ những công việc thường ngày Phương pháp này tạo ra tư tưởng chú trọng tới quá trình tiến hành công việc vì cần phải cải tiến các quá trinh trước khi có được kết quả tốt hơn Kaizen hướng về con người, cũng như những nỗ lực của con người

Phương pháp Kaizen nhấn mạnh vai trò của người quản lý trong việc ủng hộ và khuyến khích các nỗ lực của công nhân để cải tiến quy trình làm việc Các doanh nghiệp

áp dụng phương pháp Kaizen đều chú trọng đến kỷ luật, quản lý thời gian, phát triển tay nghề, tham gia các hoạt động trong công ty, tinh thần lao động, sự cảm thông của tất cả các nhân viên

Phương pháp này được áp dụng ở hầu hết trong nội dung quản trị nhân sự ở các doanh nghiệp, sắc thái văn hóa của công ty và cách đối nhân xử thế của giới kinh doanh Nhật Bản

4 Khái niệm quản trị nhân sự theo các học thuyết quản trị

Trong ngành khoa học quản trị, có nhiều tư tưởng cũng như học thuyết quản trị khác nhau Vì thời gian thực hiện niên luận có hạn nên chúng tôi chỉ trình bày một số đặc điểm nổi bật về quản trị nhân sự qua một số học thuyết quản trị tiêu biểu

Trang 20

4.1 Thuyết X

Thuyết X được khởi xướng bởi Douglas McGregor vào thập niên 1960 Thuyết X

là lý luận về hành vi chung của người lao động dựa theo quan điểm truyền thống với nội dung :

- Một người bình thường có một ác cảm với công việc và sẽ lẩn tránh nó nếu có

4.2 Thuyết Y

Thuyết Y là một khoa học quản lý thông qua tự giác và tự chủ, được Douglas McGregor xây dựng dựa trên các giả thuyết :

- Làm việc cũng tự nhiên như chơi đùa

- Kiểm tra, điều khiển hoặc đe dọa bằng hình phạt không phải là cách duy nhất

để buộc con người cốc gắng nhằm đạt các mục tiêu của tổ chức Con ngưới sẽ tự chủ, tự lãnh đạo bản thân để đạt các mục tiêu của tổ chức mà họ được giao phó

- Trong những điều kiện thích hợp, người bình thường hướng đến trách nhiệm Trình độ tưởng tượng và sáng chế cao của con người ít được sử dụng trong đời sống công nghiệp hiện nay Điều đó dẫn đến thất vọng và biến con người thành kẻ chống đối tổ chức

Thuyết Y có tính dân chủ, kích thích và ủng hộ phân quyền, làm phong phú nội dung công việc, cải thiện mối tương quan giữa con người, hợp lực giải quyết vấn đề

Trang 21

4.3 Thuyết Z

Bên cạnh thuyết X và thuyết Y thì từ những năm 70 của thế kỉ trước trở lại đây, một học thuyết khác cũng đã được ra đời Được biết đến như là một phong cách “Quản lý kiểu Nhật”, thuyết Z được W Ouchi, một người Mỹ gốc Nhật khởi xướng Nguyên nhân của sự ra đời thuyết này là xuất phát từ thực tế quản trị của Nhật có tính đặc thù hơn tổ chức của các nước phương Tây như sự khác nhau về văn hóa, lịch sử, truyền thống, tâm

lý dân tộc nên đòi hỏi phải có cách quản trị đặc thù, cụ thể

Xuất phát từ gốc rễ văn hóa và tập quán Nhật Bản, thuyết Z bao gồm những nội dung :

- Thể chế quản lý phải đảm bảo cho cấp trên nắm bắt được tình hình của cấp dưới một cách đầy đủ Duy trì việc ra quyết định và nâng cao trách nhiệm tập thể bằng cách tạo điều kiện cho nhân viên tham gia vào các quyết sách, kịp thời phản ánh tình hình cho cấp trên Để nhân viên đưa ra những lời để nghị của họ rồi sau đó cấp trên mới quyết định

- Nhà quản lý cấp trung gian phải thực hiện được những vai trò thống nhất tư tưởng, thống nhất chỉnh lý và hoàn thiện những ý kiến của cấp cơ sở, kịp thời báo cáo tình hình với cấp trên và đưa ra những kiến nghị của mình

- Đảm bảo chế độ làm việc lâu dài để nhân viên phát huy tính tích cực, khuyến khích họ đưa ra những phương án để nghị của mình Tạo cảm giác yên tâm cho nhân viên

và tăng thêm tinh thần trách nhiệm, cùng doanh nghiệp chia sẻ vinh quang và khó khăn, gắn bó vận mệnh của họ vào vận mệnh của doanh nghiệp

- Nhà quản lý phải thường xuyên quan tâm đến tất cả các vấn đề của người lao động, kể cả gia đình họ Từ đó tạo thành sự hòa hợp, thân ái, không cách biệt giữa cấp trên và cấp dưới Nhà quản lý cũng cần tạo ra điểm hấp dẫn trong công việc nhằm thu hút nhân viên vào công việc, chú ý đào tạo và phát triển nhân viên Bên cạnh đó, việc đánh giá nhân viên cũng cần được thực hiện một cách toàn diện, rõ ràng, cẩn trọng và có biện pháp kiểm soát tế nhị, mềm dẻo, giữ thể diện cho người lao động

Có thể thấy, công ty quản trị nhân sự theo thuyết Z là một cộng đồng sinh tồn, là

bộ phận khắng khít về tổ chức, không áp đặt kế hoạch từ trên xuống mà để nhân viên giải quyết công việc theo từng tình huống cự thế

Trang 22

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ CỦA CÁC CÔNG TY NHẬT BẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1 Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam trước 2007

1.1 Giai đoạn 1975-1982

Năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn sát nhập với miền Bắc, cả hai nền kinh tế hợp lại trong một hoàn cảnh khá đặc biệt Lúc đó miền Bắc gần như kiệt quệ sau hàng chục năm chiến tranh Gánh nặng của chế độ bao cấp miền Bắc mang vào cộng với nền kinh tế của Miền Nam lúc đó gần như quỵ hẳn sau khi bị hàng loạt biến động như đánh tư sản, giãn dân lên vùng kinh tế mới và phong trào vượt biên ngày một nhiều hơn đã khiến cho Việt Nam gần như suy sụp hoàn toàn

Từ sau khi Việt Nam đổi tên thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 2/7/1976 thì Nhà nước đã cho ra Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, được quyết định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc năm 1976 Đường lối kinh tế chủ đạo của Việt Nam thời kì này là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu

Nền kinh tế Việt Nam vốn dựa vào nông nghiệp Song, trong giai đoạn này, ngay bản thân nền nông nghiệp cũng bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh Sau năm 1975 thì cả hai miền tuy nhập lại cùng một nước nhưng hệ thống kinh tế thì khác nhau và những rối loạn ban đầu sau chiến tranh về mặt xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế Nhà nước chuyển hướng tập trung ưu tiên các ngành công nghiệp nặng nhằm vực dậy nền kinh tế vốn đang bị tàn phá sau chiến tranh Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, đồng thời, Nhà nước cũng xây dựng kinh tế quốc doanh thành nền kinh tế chủ đạo và

Trang 23

được phát triển ưu tiên, nông dân ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ được khuyến khích tham gia sản xuất tập thể Chế độ kiểm soát hàng hóa cũng được sử dụng trong thời gian này

Về mặt đối ngoại, sau năm 1975 thì các nước phương Tây theo chính sách của

Mỹ cấm vận Việt Nam nên rất dè dặt trong chuyện phát triển quan hệ với Việt Nam Về

cơ bản Việt Nam vẫn duy trì liên hệ với khối Liên Xô, với Đông Âu và một phần Trung Quốc, duy trì hội nhập kinh tế thông qua các hình thức hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong khuôn khổ Hội đông tương trợ kinh tế năm 1978

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và cả chủ quan, các chính sách được đề ra trong thời kỳ này dần đi vào ngõ cụt Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu rơi vào khủng hoảng trong những năm đầu của thập kỷ 80

1.2 Giai đoạn 1982-1986

Năm 1982, tại Đại hội V của Đảng cộng sản Việt Nam, cùng với việc thừa nhận sai lầm trong các chính sách kinh tế, Đảng đã đưa ra quyết định Việt Nam sẽ tập trung phát triển mạnh nông nghiệp và coi nông nghiệp là mặt trận hàng đâu, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dung và kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng

Sự thay đổi này góp phần hình thành nên một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lí hơn Kinh

tế quốc doanh vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, song, kinh tế gia đình đã được khuyến khích

Tuy nhiên, thời kì 1981-1985 kinh tế Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đã đề ra trong nghị quyết đại hội V là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân Sai lầm về tổng điểu chỉnh giá – lương - tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới Nền kinh tế - xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng Siêu lạm phát xuất hiện và kéo dài

1.3 Giao đoạn 1986 - 2007

Trong những năm 1986-1990, Việt Nam tập trung triển khai ba chương trình kinh tế lớn : lương thực - thực phẩm - hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Lúc bấy giờ, nền kinh tế Việt Nam có nhiều bước chuyển biến mới Các hình thức ngăn sông cấm chợ, chia cắt thị trường dần được xóa bỏ Đây chính là tiền đề cho sự thừa nhận các thành phần

Trang 24

kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể trở thành một phần tất yếu của nền kinh tế quốc dân Hai thành phần kinh tế mới được thừa nhận bắt đầu được tạo điều kiện tham gia các hoạt động kinh tế Nền kinh tế Việt Nam dần dần được thị trường hóa Song Đảng chủ trương

và thực hiện kinh tế quốc doanh là chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế khác

Kinh tế Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến tốt Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã sản xuất đủ tự cung cấp, có dự trữ và còn xuất khẩu gạo Hàng hóa, nhất là hàng tiêu dùng, nhiều hơn và đa dạng hơn Xuất khẩu tăng mạnh, thâm hụt thương mại giảm Từ năm 1989, Việt Nam bắt đầu sản xuất dầu khô, đem lại nguồn thu xuất khẩu lớn Lạm phát được kiềm chế dần dần

Tháng 6 năm 1991, Đảng cộng sản VIệt Nam đã tổ chức Đại hội Đại biều toàn quốc lần thứ VII, tại đây một văn kiện quan trọng đã ra đời, đó là “ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa” Cương lĩnh này sau đó liên tục được

bổ sung và hoàn chỉnh trong các kì hợp của Ban chấp hành Trung ương Đảng và Đại hội đại biểu toàn quốc tiếp theo

Thời kì 1993 - 1997 là thời kì kinh tế Việt Nam kiềm chế thành công lạm phát đồng thời lại tăng trưởng nhanh chóng Sau đó, kinh tế tăng trưởng chậm lại trong 2 năm

1998, 1999 Nếu năm 1996 lạm phát ở mức 4,5%, năm 1997 ở mức 3,6%, thì năm 1998 lên mức 9,2% Giá USD tại thời điểm năm 1995 giảm 0,6%, 1996 tăng 1,2%, năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6% Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu năm 1996 ở mức 33,2%, năm 1997 ở mức 26,6%, đến năm 1998 chỉ còn 1,9% Tình hình nhập khẩu nước

ta giai đoạn 1996 tăng 36,6% thì đến 1997 tăng chỉ còn tăng được 4%, 1998 đã giảm 0,8%, và đến năm 1999 tăng lại 2,1%

Tuy bắt đầu tăng tốc dần từ năm 2000, nhưng nền kinh tế có lúc rơi vào tình trạng giảm phát và thiếu phát Các năm 2007 - 2008, lạm phát tăng tốc và hàng năm đều ở mức 2 chữ số

Thời gian này, việc mở giao du với các nước khác vẫn còn 1 số hạn chế, xuất khẩu so với GDP chỉ đạt 30%, đồng tiền chưa được chuyển đổi Do có dầu thô, gạo xuất khẩu với khối lượng lớn cùng sự chủ động ứng phó từ trong nước nên Việt Nam đã tránh

Trang 25

được cuộc khủng hoảng kinh tế Tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2000 - 2007 đạt khoảng 7,63%/năm

Đặc biệt vào năm 2007, GDP bình quân đầu người đạt 843 USD, cao gấp 2,3 lần năm 1999 Nếu vào những năm 1998 - 1999, vốn đăng kí bình quân FDI là 3,8 tỉ USD thì thời kì 2000 - 2008 đã đạt gần 12,9 tỉ USD và thực hiện đạt 4 tỷ USD; ODA cam kết đạt gần 3,5 tỷ USD, giải ngân đạt 1,75 tỷ USD

Dự trữ ngoại hối cũng đạt mức tăng khá Cuối năm 2002, dự trữ ngoại hối gần đạt mốc 3,7 tỷ USD, nhưng đến cuối năm 2007 đã đạt trên 21 tỷ USD Vị thế của Việt Nam đã chuyển sang mở cửa hội nhập đầy đủ với thế giới1

2 Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam sau 2007

Từ năm 2007 đến nay, tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới biến đổi nhanh với những diễn biến phức tạp Trong thời gian qua, tuy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại những kết quả tích cực và có những tác động sâu sắc đến kinh tế và xã hội, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức Tiếp cận thị trường xuất nhập khẩu dễ dàng hơn, dòng vốn dầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng nhanh, môi trường kinh doanh được cải thiện

và minh bạch hơn, thể chế kinh tế theo định hướng thị trường được củng cố và hoàn thiện nhanh hơn, thế và lực của Việt Nam trên trường thế giới ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm nảy sinh một số vấn đề Các ngành công nghiệp trong nước cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình điều chỉnh

do sức ép cạnh tranh Mở cửa và hội nhập sâu rộng hơn cũng làm cho nền kinh tế dễ tổn thương và có thể dẫn đến các rủi ro và bất ổn kinh tế vĩ mô Môi trường thiên nhiên có thể

bị ảnh hưởng tiêu cực do các hoạt động kinh tế với cường độ cao

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam tiếp tục ký nhiều hiệp ước, hiệp định với nhiều

tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia khác nhằm tạo điều kiện cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cho nền kinh tế nước nhà Các cam kết khi gia nhập WTO như cam kết thuế quan, cam kết dịch vụ, cam kết về quyền kinh doanh… đã ảnh hưởng sâu sắc đến

1

Nguồn www.vi.wikipidia.org

Trang 26

những chuyển biến kinh tế ở Việt Nam Tham gia đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu này, một mặt, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển một cách toàn diện, tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh công bằng, song cũng rất khắc nghiệt Mặt khác, các định chế kinh tế toàn cầu này gây nên một sức ép không nhỏ từ chu chuyển hàng hóa, tín dụng, vốn đầu tư quốc tế gắn liền với tình trạng bất ổn về giá cả hàng hóa, dịch vụ, khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, tình hình kinh tế quốc tế và trong nước tương đối ổn định Các chỉ số kinh tế của Việt Nam khá tích cực như GDP tăng 8,46%, CPI tăng 8,3%, cao nhất so với 10 năm trước đó Nguyên nhân thuận lợi chính là do các yếu tố bên ngoài như kinh tế thế giới tăng trưởng cao, giá hàng hóa thấp, vốn đầu tư rẻ và dồi dào, các rào cản thương mại tại các nước đối tác giảm nhờ hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, cũng phải kể đến các yếu tố tích cực trong nước như môi trường kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ, môi trường chính trị ổn định, tâm lý phấn khởi và kỳ vọng của các nhà đầu tư

Tuy nhiên, năm 2008, đã diễn ra hai trạng thái trái ngược khi trong 3 quý đầu năm, tình trạng lạm phát cao, nhưng những tháng cuối năm lại giảm phát do suy thoái kinh tế thế giới Năm 2009 và 2010, bất ổn kinh tế toàn cầu tiếp tục làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Năm 2009, GDP tăng 5,32%, CPI tăng 6,88%, trong khi năm 2010, con số tương ứng là 6,8% và 9,54% Năm 2011, GDP tăng 5,89%, CPI tăng trên 18% Tuy nhiên, đến năm 2013, tình hình tăng trưởng GDP đã có những chuyển biến đáng mừng Tổng sản phẩm trong nước GDP ước tính tăng 5,42% so với năm 2012 Tuy mức tăng trưởng năm 2013 thấp hơn mục tiêu đã đề ra 5,5%, nhưng vẫn cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 Đây có thể được coi là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang có dấu hiệu hồi phục Tuy vậy, chỉ số CPI của Việt Nam đạt 9,21% vào năm 2012, nhưng đến năm 2013, con số này chỉ chạm mốc 6,6%, Mặc dù chỉ số CPI trong năm 2013 đã mang tính tương đối ổn định, song vẫn tăng trưởng thấp, vào khoảng 0,4% - 0,8%/tháng Nền kinh tế Việt Nam dần bị chi phối sâu sắc bởi tình hình kinh tế và tiền tệ thế giới Giá nguyên nhiên liệu trên thế giới tăng cùng với tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế đối với thị trường của các đối tác chính, khiến nguồn vốn FDI giảm mạnh đã gây nên khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, cũng phải kể đến

Trang 27

nguyên nhân chủ quan do các chính sách kinh tế còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với tình hình kinh tế đầy biến động Sự lúng túng trong việc hấp thu, trung hòa hóa dòng vốn FDI tăng đột biến trong năm 2007, cũng như xử lý các chính sách tài khóa và tiền tệ trong giai đoạn kinh tế vĩ mô đầy bất ổn vào giai đoạn 2008 – 2010 cũng làm giảm tác dụng của từng chính sách đối với nền kinh tế nước nhà Có thể thấy, những mong đợi trước khi gia nhập WTO đã không diễn ra nhiều như dự tính, tuy vậy, nếu không có việc hội nhập kinh

tế quốc tế, tăng trường kinh tế nước ta sẽ thấp hơn

Từ sau 2007, các hoạt động xuất nhập khẩu cũng có nhiều biến đổi rõ rệt Năm

2007, mức tăng trưởng xuất khẩu đạt 21,9%, trong khi đó, vào năm 2008, con số này là 29,1% Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 19,5%/năm Tính hết năm 2013, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã đạt được 132,2 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2012 Trong khi kim ngạch xuất khẩu năm 2012 tăng 18,2% và năm 2011 đã tăng 34,2% Trong thời kì 2007 – 2011, tỉ lệ đóng góp bình quân của xuất khảu vào tăng trưởng kinh tế đạt tới 113,2%, cao hơn nhiều so với tiêu dùng là 89,4% và tích lũy tài sản

là 66,4% Như vậy, ngay cả trong bối cảnh kinh tế đang gặp nhiều biến động, Việt Nam vẫn tận dụng được tiềm năng xuất khẩu và chuyển hóa những tiềm năng ấy thành thu nhập cho dân cư Hoạt động nhập khẩu cũng mang lại nhiều thành quả tích cực Mức tăng trưởng nhập khẩu trong năm 2007 và 2008 lần lượt là 40% và 28,6% Kim ngạch nhập khẩu trong năm 2011 chỉ tăng 25,8%, năm 2012 tăng 6,6% Đến năm 2013, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tăng 15,4% Tính chung cả năm 2013, xuất siêu 863 triệu USD, bằng 0,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 13,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 14 tỷ USD Trong giai đoạn 2007 – 2011, nhập khẩu tăng 2,4 lần, tốc độ đóng góp trung bình là 18,9%/năm Sau khi gia nhập WTO, nhập siêu hàng hóa tăng mạnh, đạt 14,2 tỉ USD vào năm 2007 và 18,0

tỉ USD năm 2008 Sau dó, do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và các chính sách của Chính phủ, nhập siêu giảm xuống 12,9 tỉ USD vào năm 2009, và chỉ đạt 9,8 tỉ USD trong năm 2011 Tuy nhiên, con số này đã đạt 131,3 tỷ USD vào năm 2013 Tính theo tỉ

lệ kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trên GDP, độ mở thương mại của Việt Nam đã tăng gần như liên tục, từ 130,4% năm 2005 lên 157,4% vào năm 2008 Sau khi sụt giảm

Trang 28

vào năm 2009, độ mở thương mại tăng trở lại kể từ năm 2010 và đạt tới 166,1% trong năm 2011

Việc gia nhập WTO cùng với tình hình, bối cảnh trong và ngoài nước đã tác động nhiều chiều đến đầu tư toàn xã hội của nước ta Vào năm đầu tiên gia nhập WTO, mức tăng trưởng nhảy vọt, tăng 27,0%, sau đó, giảm đà tăng trưởng đến mức thấp hơn so với 5 năm trước gia nhập WTO và cuối cùng là tăng trưởng âm 9,3% trong năm 2011 Như vậy, tính bình quân, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2007 – 2011 chỉ tăng 8,3%/năm, thấp hơn đáng kể so với mức 13,4%/năm giai đoạn 2002 – 2006 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng mạnh trong năm đầu tiên gia nhập WTO nhờ vồn FDI tăng kỉ lục (93,4%), khu vực ngoài Nhà nước cũng tăng cao nhất trong nhiều năm (26,9%) Năm

2007 cũng là năm tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế tăng kỉ lục ở mức 53,9% theo giá thực tế Một trong những nguyên nhân đầu tư toàn xã hội năm 2008 tăng thấp hơn là do chính sách thắt chặt đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước nhằm đối phó với tình hình lạm phát cao và những khó khăn của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước FDI vẫn tăng.36,1% nhờ những thuận lợi về môi trường đầu tư khi Việt Nam gia nhập WTO Năm 2009, mặc

dù Chính phủ áp dụng các biện pháp kích thích kinh tế, trong đó có kích cầu đầu tư, nhưng do FDI giảm -8,6% nên tổng vốn đầu tư toàn xã hội chỉ tăng 11,4% Năm 2011, Chính phủ thực hiện chủ trương ưu tiên tập trung kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó có các biện pháp cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư của Nhà nước, thắt chặt tín dụng Vốn đầu tư toàn xã hội từ mức tăng trưởng 7,8% năm 2010 đã tăng trưởng âm -9,3% vào năm 2011, điều chưa từng xảy ra trong vòng 20 nam qua tại nước ta

Cùng với việc thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO, Nhà nước ta cũng đã cho ra đời nhiều chủ trương, chính sách mới nhằm thu hút nguồn vốn FDI vào thị trường kinh tế Việt Nam Chính nhờ đó, môi trường đầu tư tại Việt Nam đang dần được minh bạch, thông thoáng hơn Việc mở cửa hàng hóa, dịch vụ cũng như các cải cách đồng bộ trong nước đã phần nào làm ổn định tâm lý và gia tăng sức hấp dẫn đối với những nhà đầu tư nước ngoài Điều này đã góp phần thu hút được nguồn FDI với mức cao kỉ lục, nhất là trong những năm đầu sau khi gia nhập WTO Tỉ trọng vốn đầu tư của khu vực FDI

so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã tăng lên đáng kể góp phần không nhỏ vào việc bổ sung nguồn vốn quan trọng cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khu vực FDI

Trang 29

đã có những đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, thu ngân sách Nhà nước và tạo việc làm cho nguồn nhân công dồi dào tại Việt Nam Song, bên cạnh đó vẫn tồn tại khá nhiều hạn chế ở khu vực đầu tư FDI Từ sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới năm 2009, vốn tại khu vực FDI tăng trưởng thấp và phục hồi chậm Vốn FDI đa phần chỉ tập trung tại một số thành phố lớn, khu công nghiệp… Vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn chưa thật sự được chú trọng khi chiếm tỉ lệ thấp và chậm được cải thiện Nhiều doanh nghiệp FDI có tỉ lệ nhập khẩu cao, chủ yếu về lĩnh vực gia công, lắp ráp và kinh doanh thương mại Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự cân bằng kinh tế tại thị trưởng Việt Nam, làm ảnh hưởng sâu sắc đến cán cân thương mại Bên cạnh đó, cũng có những doanh nghiệp lợi dụng những kẻ hở về chính sách, pháp luật của Việt Nam

để thục hiện những hành vi gây bất lợi cho tình hình tài chính quốc gia như chuyển giá, kê khai lỗ hoặc lợi nhuận thấp, nên đóng góp rất hạn chế vào ngân sách Nhà nươc của Việt Nam Có những dự án FDI sử dụng công nghệ thấp, tiêu hao nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường, khai thác nhiều đất đai, tài nguyên, khoáng sản nhưng lại đạt hiệu quả không cao, không thực hiện đúng về nghĩa vụ tiến độ góp vốn, huy động vốn, xây dựng, chuyển giao công nghệ, cũng như những nghĩa vụ đối với người lao động… Những vấn

đề nêu trên đều có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

3 Khái quát thực trạng đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nhật Bản đang là đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam Đặc biệt là từ sau khi hai nươc dành cho nhau những hiệp định riêng, nhằm tự do hóa mậu dịch giữ hai quốc gia Điển hình là Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản ( AJCEP ) được

ký vào năm 2008 với cam kết đưa 90% số dòng thuế về mức 0% vào năm 2023 Tuy nhiên, các cam kết thuế trong hiệp định AJCEP không cao như trong Hiệp định đối tác kinh tế song phương Việt Nam – Nhật Bản ( VJEPA ) Hiệp định VJEPA, được ký kết vào ngày 25 tháng 12 năm 2008, là hiệp định song phương đầu tiên mà Việt Nam ký kết, bao gồm các quy định về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, mua sắm chính phủ và các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác Về mức cam kết

Trang 30

chung, trong vòng 10 năm kể từ khi thực hiện Hiệp định, Việt Nam cam kết tự do hoá đối với khoảng 87,66% kim ngạch thương mại và Nhật Bản cam kết tự do hoá đối với 94,53% kim ngạch thương mại Vào năm cuối của lộ trình giảm thuế tức là sau 16 năm thực hiện Hiệp định, Việt Nam cam kết tự do hoá đối với 92,95% kim ngạch thương mại

Lộ trình giảm thuế của Việt Nam trong Hiệp định EPA sẽ bắt đầu từ năm 2009 và kết thúc vào năm 2026 Các mặt hàng được cắt giảm xuống 0% tập trung vào các năm 2019 và

2025 Về diện mặt hàng, các mặt hàng được xoá bỏ thuế quan chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp Ngoài ra, Nhật bản còn chấp nhận dành khoản vay ODA lãi suất ưu đãi cho Việt Nam nhằm thực hiện kế hoạch đào tạo mỗi năm 200 - 300 y tá Việt Nam tại Nhật bản và cho phép y tá đào tạo tại Nhật bản được làm việc lâu dài Ngoài ra, Nhật Bản cũng

hỗ trợ xây dựng hệ thống kiểm định tay nghề cho y tá và hộ lý Việt Nam, hỗ trợ xây dựng

hệ thống cấp chứng chỉ cho nghề y tá và hộ lý1

Bên cạnh đó, Việt Nam và Nhật Bản cũng đã cùng nhau kí kết nhiều hiệp ước, hiệp định quan trọng khác nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các doanh nghiệp, tổ chức của mỗi quốc gia khi tham gia vào hoạt động kinh doanh, như Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Việt Nam – Nhật Bản được kí kết vào ngày 24 tháng 10 năm 1995

Hiệp định này được kí kết nhằm mục đích loại bỏ việc đánh thuế trùng Song song đó, Hiệp định cũng tạo ra khuôn khổ pháp lý cho việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan thuế tại Việt Nam với các cơ quan thuế tại Nhật Bản trong công tác quản

lý thuế quốc tế, nhằm ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản

1Nguồn Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Trung tâm WTO, Tóm tắt cam kết của Việt Nam

trong Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam – Nhật Bản ( EPA ),

http://www.trungtamwto.vn/node/4353

Trang 31

Trong năm 2013 đã có 54 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Dẫn đầu là Nhật Bản với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 5,747 tỷ USD, chiếm 26,6% tổng vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam Tiếp theo là Singapore đứng ở

vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,376 tỷ USD, chiếm 20,2% tổng vốn đầu tư Hàn Quốc đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới

và tăng thêm là 4,293 tỷ USD, chiếm 19,9% tổng vốn đầu tư đăng ký (1) Điều này cho thấy, Việt Nam vẫn có sức hấp dẫn nhất định đối với các doanh nghiệp Nhật Bản Các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động kinh doanh tại TP.HCM trên nhiều ngành nghề khác nhau, trong đó có chủ yếu tập trung vào một số ngành chính như thương mại, dịch

vụ, vận tải du lịch, xây dựng, may mặc, sản xuất chế tạo và công nghệ thông tin Theo JETRO, tính đến hết năm 2011, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đầu tư 1672 cơ sở sản xuất

và kinh doanh trên khắp cả nước Trong số đó, nếu bỏ qua các nhà máy, cơ sở xản xuất thì còn lại 1047 cơ sở là các công ty mẹ, công ty con và văn phòng đại diện cho công ty mẹ ở Nhật Bản Số lượng văn phòng công ty đặt tại TP.HCM là cao nhất cả nước với 539 cơ sở, chiếm tỷ lệ 51,5 Điều đó cho thấy TP.HCM là địa bàn thích hợp để các doanh nghiệp Nhật Bản chọn làm nơi đặt các cơ quan quản lý và điều hành của mình

Bên cạnh đó, việc cho ra đời những tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp của Nhật Bản tại Việt Nam phần nào cho thấy sự lớn mạnh của làn sóng đầu tư Nhật Bản tại đây Điển hình là Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt nam ( JBAV ) khởi đầu với 26 thành viên, được thành lập vào tháng 12 năm 1992 Đến năm 1998, Hiệp hội chính thức được cấp phép thành lập với 120 công ty thành viên Tính đến tháng 4/2013, Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt nam đã có số thành viên là 514 công ty, tổ chức (2)

1

Nguồn Cục đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ( 26/12/2013 ), Tình hình đầu tư trực tiếp nước

ngoài 12 tháng năm 2013, http://fia.mpi.gov.vn/News.aspx?ctl=newsdetail&aID=1550

2

Nguồn website Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam www.jbav.vn

Trang 32

Biểu đồ 1 : Biểu đồ FDI của từ Nhật vào Việt Nam giai đoạn 1993 -

2013

76.2 332.6

2229.9

591.3657.3

108 62.1 80.6163.5 102 100.4224.3

437 1056.4965.2

7653.7

138.3

2040.1 1849.3 3536.6 5747.82

15 27

47 54

65

12 14

26 40

48 53

61 107

146

154 147

77 114

208

126 291

( Nguồn : Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu tư 1 )

Theo kết quả cuộc “Điều tra về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Châu Á - Châu Đại Dương” của JETRO, ông Hirokazu Yamaoka, trưởng đại diện JETRO cho biết, năm 2011 và năm 2012 là hai năm ghi kỷ lục mới, cao nhất về đầu tư

1

Nguồn Cục đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ( 26/12/2013 ), Tình hình đầu tư trực tiếp nước

ngoài 12 tháng năm 2013, http://fia.mpi.gov.vn/News.aspx?ctl=newsdetail&aID=1550

Trang 33

của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam Ông cho rằng việc đầu tư vào Việt Nam của phía đối tác Nhật Bản đang ở cục diện cao, và hiện là sự bùng nổ lần thứ 3 Tuy nhiên, trưởng đại diện JETRO cũng cho biết, cần sáng suốt nhìn nhận các khía cạnh khác như những dấu hiệu bất ổn của nền kinh tế Việt Nam về môi trường đầu tư, cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, thiếu nguồn nhân lực cũng như kỹ năng trong công việc, về phía Nhật Bản có

sự biến động của môi trường kinh tế thế giới, nên cũng có những quan điểm cho rằng việc tăng cường hơn nữa đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam trong những năm sau là khá khó khăn Bên cạnh đó, ông Hirokazu Yamaoka cũng đồng cảm với quan điểm của Chính phủ Việt Nam rằng mức đầu tư này chưa xứng tầm với tiềm năng của Việt Nam Từ đó, đề xuất ra mục tiêu cho các dự án đầu tư mới ở mức khoảng 20 tỷ USD mỗi năm, chỉ ra phương hướng để tăng cường các nhân tố có lợi và giảm thiểu các nhân tố bất lợi

Cũng theo đơn vị này, có 65,9% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho biết có

kế hoạch mở rộng kinh doanh trong vòng 1 - 2 năm tới, cao hơn tỷ lệ chung là 57,8% Mặc dù tỷ lệ này có giảm trong năm 2011 và 2012, nhưng có thể thấy trong cùng thời điểm thì tỷ lệ này tại Thái Lan và Trung Quốc còn giảm mạnh hơn Xét về mặt lợi nhuận kinh doanh, có 60,2% số doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho biết hoạt động kinh doanh của họ tại thị trưởng Việt Nam có lãi Mặc dù tỉ lệ này thấp hơn tỉ lệ trung bình của khối các nước ASEAN, nhưng cao hơn mức 57,2% tại Trung Quốc

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng chỉ ra được các điểm hạn chế khi đầu tư tại thị trường Việt Nam Ví dụ như trong khi đánh giá cao triển vọng kinh tế và tiềm năng của thị trường, các doanh nghiệp Nhật Bản lại không đánh giá cao Việt Nam vì chi phí nhân công hiện nay là 18,3%, cao hơn mức của toàn khối ASEAN Vấn đề tăng lương cũng là một gánh nặng cho các doanh nghiệp Nhật Bản Mặc dù, về giá trị tuyệt đối, thì tiền lương ở Việt Nam vẫn thuộc mức thấp so với các quốc gia khác trong khu vực, song, có đến 81,5% số doanh nghiệp Nhật Bản tỏ ra quan ngại về vấn dề tiền lương Một điểm khác bị đánh giá thấp là tỉ lệ nội địa hóa chỉ ở mức 27,9%, thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung là 47,8% và so với mức 60,8% của Trung Quốc hay 52,9% của Thái Lan, thậm chí Indonesia cũng đã đạt mức 43,3%

Trang 34

Một vấn đề khác cũng làm băn khoăn các doanh nghiệp Nhật Bản khi đầu tư tại Việt Nam chính là vấn đề pháp lý cũng như hệ thống pháp luật tại Việt Nam Một quản lý người Nhật khi được phỏng vấn đã cho biết :

“Trở ngại lớn nhất khi đầu tư vào Việt Nam, chính là các vấn đề về pháp lý”

(B02, Trưởng bộ phận kinh doanh )

Biểu đồ 2 : Phân bố cơ sở của doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam

năm 2011

430 539

20

58

Miền Bắc Miền Trung

Thành phố Hồ Chí Minh

Các tỉnh Miền Nam

Đơn vị : cơ sở ( không bao gồm nhà máy, cơ sở sản xuất )

( Nguồn: JETRO (2012), ベトナム・ホーチミン市近郊ビジネス情報2012, ホーチミ

ン市 )

Có thể nói, với lợi thế là thành phố kinh tế trọng điểm của cả nước, Thành phố

Hồ Chí Minh luôn nhận được những sự ưu ái khi đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản Với cơ sở hạ tầng phát triển, cùng thị trường kinh doanh đầy tiềm năng, Thành phố Hồ Chí Minh dần trở thành một trong những điểm đến đầu tư lý tưởng của các công ty Nhật Bản

Trang 35

4 Các vấn đề về nhân sự của các doanh nghiệp Nhật Bản hiện nay

Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự phát triển của đất nước và sự sống còn của các doanh nghiệp Một doanh nghiệp có thể không hoàn toàn thất bại, nhưng chắc hẳn, năng suất lao động cũng như môi trường làm việc trong công ty sẽ không được thuận lợi nếu như gặp phải những vấn đề về nhân sự Do vậy, trong quản lý doanh nghiệp nói chung, quản lý nhân sự nói riêng, người quản lý nếu biết huy động đầy đủ sức sáng tạo và tính tích cực của nhân viên sẽ khiến cho nhân viên thực sự hoà mình vào doanh nghiệp, phát huy được hết và khả năng giá trị của họ Điều này đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong một môi trường kinh doanh quốc tế như ở Việt Nam, mà tại

đó, các hoạt động kinh doanh đều mang tính cạnh tranh gay gắt Do đó, việc đào tạo và ổn định nguồn nhân lực của các doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết, nhất là đối với những doanh nghiệp nước ngoài đang đầu tư tại thị trường Việt Nam Mặc dù nhận được khá nhiều sự ưu đãi từ các chính sách của Chính phủ hai nước, cũng như những đãi ngộ từ việc hội nhập kinh doanh quốc tế Song, những yếu tố khó khăn luôn tồn tại Bên cạnh các vướng mắc xung quanh vấn đề thị trường, hàng hóa, giá cả, dịch vụ… thì môi trường kinh doanh quốc tế cũng tác động mạnh mẽ đến vấn đề nhân sự tại các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam Hơn ai hết, các doanh nghiệp Nhật Bản hiểu rằng, hiệu quả và sự thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng bắt nguồn trước hết từ nguồn nhân lực Để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều phải phát huy khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực qua tất cả các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp Trong nhiều kết quả nghiên cứu

về nền kinh tế Nhật Bản – nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, đã chứng minh rằng, một trong những nguyên nhân góp phần tạo nên sự thành công của nền kinh tế Nhật Bản là hiệu quả của các mô hình quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp

4.1 Những thuận lợi về mặt nhân sự và nguyên nhân

4.1.1 Về văn hóa

Nhật Bản là một trong những quốc gia thành công trong việc phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ việc giáo dục cho người dân rằng, nước Nhật nghèo tài nguyên thiên nhiên, thiên tai thường xuyên tàn phá nên để phát triển chỉ có thể dựa vào chính mỗi

Trang 36

người dân Nhật Bản Nhật Bản đã đặc biệt chú trọng tới giáo dục đào tạo và coi đây là quốc sách hàng đầu và Nhật Bản đã trở thành một trong những quốc gia có nền giáo dục tốt nhất thế giới Áp dụng những ý kiến đó vào kinh doanh, các nhà quản lý Nhật Bản xem doanh nghiệp chính là nơi giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực Điều này tạo ra một môi trường học tập không ngừng nghỉ trong công ty Nhật Bản, không chỉ về mặt chuyên môn mà còn về phong cách làm việc, cũng như văn hóa kinh doanh Công ty Nhật thường tuyển hàng loạt người mới ra trường vào tháng tư và đào tạo họ những phong cách, cách thức của công ty Với người Nhật giáo dục trong công ty là quan trọng nhất Mọi người trong công ty đều hiểu rằng “phương hướng kinh doanh của một xí nghiệp là vì lợi ích của mọi người chứ không vì lợi ích cá nhân Kinh doanh tốt có lợi cho xã hội, kinh doanh không tốt có hại cho xã hội” Do đó mỗi người đều có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với công ty và họ sẽ được nhận những giá trị tương xứng Nhân viên Việt Nam không được đào tạo về các nguyên tắc làm việc trong công ty Nhật Bản như horenso, 5S, kaizen Song khi được khảo sát, có đến 84,7% nhân viên Việt Nam đang làm việc tại công ty Nhật cho biết họ đang giải quyết công việc theo mô hình horenso và cảm thấy hài lòng về cách làm việc đó

Các chương trình đào tạo, các đợt đánh giá nhân viên và thăng tiến nghề nghiệp được tiến hành lâu dài và theo cách cho nhân viên luân phiên tiếp xúc với nhiều kinh nghiệm và cơ hội khác nhau trong hoạt động của công ty Từ đó, nhà quản trị có thể đánh giá nhân viên thông qua xem xét hoạt động của nhân viên trong một thời gian dài, trong khi đó vẫn khuyến khích nhân viên tiếp tục học hỏi và tăng tiến mà không sợ phạm lỗi đe dọa đến việc làm Như thế, các nhà quản lý đã khuyến khích nhân viên hoạt động tiến bộ hơn, tích cực hơn, không sợ sai lầm mà biết rút kinh nghiệm từ sai lầm và cố không phạm lại sai lầm nữa Tuy vậy, do thể chế của từng công ty khác nhau, và do tác động của nền kinh tế cũng như môi trường kinh doanh tại Việt Nam, mà hiện nay, các chế độ lương bổng cũng như các chính sách đãi ngộ nhân viên đã không còn phụ thuộc nhiều vào thâm niên Theo kết quả khảo sát, có 76,9% nhân viên người Việt Nam cho rằng mức lương hiện tại không phụ thuộc nhiều vào thâm niên, 65,3% nhân viên nhận định việc tăng lương không phụ thuộc nhiều vào thâm niên, 73% nhân viên cho biết thâm niên không ảnh hưởng đến sự thăng tiến trong công ty Điều này đã tạo được sự phấn khích của

Trang 37

những nhân viên vừa mới vào công ty nhưng có tay nghề cao Mức lương và các chế độ được nhận không phụ thuộc vào thâm niên, tạo thành một động lực vô hình giúp các nhân viên Việt Nam trong công ty Nhật Bản nâng cao năng suất và kết quả công việc

Một đặc trưng khác cũng là điểm thuận lợi về mặt nhân sự tại các công ty Nhật Bản là mô hình quản lý mang những đặc điểm như chú trọng nguồn lực con người, coi trọng con người và mối quan hệ hài hoà trong quan hệ con người, mọi người trong tổ chức đều tham gia vào quá trình hoạt động quản lý và tập thể quan trọng hơn cá nhân Trong đó đáng chú ý là thuyết kiểm tra chất lượng toàn diện(1) theo hệ thống Kaizen Khái niệm TQC vốn được Nhật học hỏi, tiếp thu và cải tiến từ khái niệm kiểm tra chất lượng(2)của Mỹ vào năm 1946 Ban đầu, QC chỉ có nghĩa là “chất lượng của sản phẩm”, nhưng với tinh thần ham học hỏi, người Nhật đã mở rộng khái niệm này, trở thành kiểm tra chất lượng toàn diện Với khái niệm kiểm tra chất lượng toàn diện, chất lượng sản phẩm, hoạt động, nhân lực, uy tín và cải tiến không ngừng quy trình Hoạch định – Thực Hiện – Kiểm tra – Đối phó Khái niệm kiểm tra chất lượng toàn diện được người Nhật hiểu là “sự cải tiến ( kaizen ) không ngừng, bất cứ chất lượng nào được nhận thấy là mục tiêu cải tiến với

sự tham gia đầy đủ của mọi thành viên trong tổ chức, sử dụng những kỹ thuật kiểm tra chất lượng để thực hiện” Kiểm tra chất lượng toàn diện là một công cụ để “không ngừng cải tiến chất lượng” ( kaizen ), nhằm cải tiến sản phẩm và dịch vụ, củng cố và tăng cường các hoạt động của công ty Việc đưa kaizen vào trong ý thức của mọi nhân viên, là một nhân tố khiến cho Nhật Bản phát triển và tạo nên một nếp văn hoá kinh doanh riêng biệt của họ Với tư tưởng này, các doanh nghiệp Nhật Bản luôn thúc đẩy việc nhân viên của mình trau dồi thêm tri thức Theo người phỏng vấn A02 :

“công ty luôn tạo điều kiện cho tôi nâng cao trình độ Như tôi được biết, một số

công ty Nhật Bản tại Việt Nam, ngoài việc hỗ trợ kinh phí cho nhân viên đi học nâng cao kiến thức, còn có chính sách tăng lương hay phụ cấp mỗi tháng nếu nhân viên đạt được các chứng chỉ Nhật ngữ hay có bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ, hoặc là các chứng chỉ chuyên môn khác” ( A02, kỹ sư )

Trang 38

Bên cạnh đó, không thể không kể đến 4 yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ trong kinh doanh của người Nhật là sự kiên nhẫn ( nintai – 忍耐), thể diện ( kao - 顔), trách nhiệm ( giri - 義理), nghĩa vụ ( on - 恩) Trong đó, kao là cái quý nhất đối với người Nhật, biểu hiện sự kính trọng và là nguồn gốc của sự tự trọng nên rất quan trọng Người Nhật không chỉ trích, xúc phạm người khác mà chỉ có thể góp ý riêng Thật vậy, có dến 60% số người được khảo sát cho biết, cấp trên người Nhật của họ không bao giờ khiển trách nhân viên tại nơi đông người Quan nịêm thể diện có quan hệ chặt với trách nhiệm và nghĩa vụ Trách nhiệm với mọi người và với bản thân, là trách nhiệm tự giác, trách nhiệm xã hội, nó thể hiện trong mọi lĩnh vực, mọi nơi chốn như sự tặng quà, sự chào đón và phục vụ khách hàng… và còn thể hiện ở lòng trung thành, sự tận tâm trong công ty Nhờ tinh thần đó

mà xã hội Nhật Bản có điều kiện ổn định và kinh tế Nhật Bản nhanh chóng phục hồi sau chiến tranh Đồng thời, ý thức trách nhiệm và lòng trung thành đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm và tâm lý người Nhật Do đó, có 92% số nhân viên Việt Nam được khảo sát luôn CHỦ ĐỘNG nhận nhiệm vụ mới ngay khi kết thúc nhiệm vụ cũ, và có đến 90% trong số

họ nhận được nhiều sự ưu đãi và thiện cảm từ phía cấp trên người Nhật Như người phỏng vấn A01 đã cho biết :

“khi đã bắt nhịp được thì mọi việc thuận lợi hơn Vì công ty Nhật cần sự trung

thành và tận tụy, cố gắng hết khả năng thì bạn hoàn toàn được tín nhiệm giao công việc”

( A01, nhân viên )

Công ty Nhật Bản được quan niệm là một gia đình lớn, mà trong đó, chủ tịch hội đồng như cha mẹ của cán bộ nhân viên Họ tự nhận thấy phải có trách nhiệm, nghĩa vụ chăm lo cho cuộc sống của nhân viên cũng như cả gia đình nhân viên, phải nhân từ với nhân viên theo tín điều kinh doanh : “Gánh vác toàn bộ trách nhiệm đối với người Nhật Chịu trách nhiệm trước người làm công của mình Để thực hiện hai nghĩa vụ trên, họ tìm cách đạt được thành công trên thương trường” Có thể thấy dộng cơ để thúc đẩy họ thu được lợi nhuận thuần tuý là không rõ ràng, mà phần lớn động cơ khiến họ quyết định hành vi trong giao dịch, thương lượng, kinh doanh… chính là ở những yếu tố khác như duy trì sự nhất trí, đoàn kết nội bộ, thị trường cho đến quốc gia… Các doanh nghiệp Nhật Bản cho nhân viên người Việt thấy được lợi ích của nhân viên gắn chặt với lợi ích của công ty Điều này làm thay đổi tư duy của các nhân viên người Việt Nam Họ không còn

Trang 39

suy tính giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của doanh nghiệp, bởi vì, chính các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã giúp họ quán triệt hai định nghĩa ấy thành một Do vậy, trứơc khi đưa ra quyết định, người Nhật thường tính rất kỹ các lợi ích và quyết định theo tập thể

Việc tôn trọng ý kiến cá nhân cũng như sự sáng tạo trong công việc cũng là một lợi thế thu hút nguồn nhân sự tại các doanh nghiệp Nhật Bản 100% nhân viên Việt Nam tham gia khảo sát đều cho biết môi trường làm việc tại công ty Nhật Bản cho phép họ được phát huy tính sáng tạo của mình Đồng thời, những ý kiến cá nhân, đề xuất cho những quyết định quan trọng tại công ty của những nhân viên người Việt Nam cũng được cấp trên lắng nghe và chú trọng Tại công ty Nhật, mỗi vấn đề được giải quyết theo tập thể bằng nhiều hình thức như “nemawashi” ( 根 回 し ) và “ringisho” ( 稟 議 書 ) Nemawashi theo nghĩa gốc là “quay quanh gốc”, là một quá trình công việc chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng giữa các cấp, bàn bạc với nhau, thăm dò, thuyết phục, thảo luận, tranh thủ

sự ủng hộ của từng cấp trước khi đưa ra một chủ trương nào đó Ringisho là hình thức quyết định bằng cách chuyền một tờ giấy trình bày về một quyết định gì đó và chuyển đến các phòng ban để từng cá nhân xem xét, góp ý kiến trước khi đưa lên cấp trên xét duyệt Phòng ban nào đồng ý, đóng góp ý kiến thì đóng dấu hanko ( 判子 ) Ngược lại, nếu như

có yêu cầu xem xét lại hay đề xuất ý kiến, sửa chữa thì phòng ban đó sẽ đóng dấu hanjko ngược Trong trường hợp không đóng dấu có nghĩa là phòng ban đó không chấp thuận Hình thức đóng góp ý kiến này khiến cho nhân viên cảm thấy được tôn trọng ý kiến và có những suy nghĩ tích cực trong quá trình làm việc cũng như giải quyết vấn đề

Trang 40

Văn bản chấp thuận sau quá trình Ringisho ( 稟議書 )

( Nguồn :http://ja.wikipedia.org/wiki/%E7%A8%9F%E8%AD%B0%E6%9B%B8 )

Mối quan hệ giữa người lãnh đạo và nhân viên cấp dưới trong công ty Nhật Bản theo hướng tạo ra bầu không khí đoàn kết như trong gia đình và theo hệ thống “oyabun – kobun” ( 親分 - 子分) hay “sempai – kohai” ( 先輩 - 後輩) Sự quyết định các vấn đề thường dựa trên ý kiến của nhiều người dưới nhiều hình thức thảo luận và sau cùng mới đưa ra quyết định “Oyabun” là “cá nhân với quy chế “oya” ( 親- cha mẹ ), “kobun” là cá nhân với quy chế “ko” (子- con cái )” Vai trò của những người đứng đầu và bảo vệ lợi ích cho công ty là người chủ của gia đình Các thành viên còn lại đối xử với nhau như anh

em một nhà và tuyệt đối kính trọng, tuân theo “oyabun”, vì mục đích tạo ra sự ổn định của

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w