1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương thức, cấu trúc nhượng bộ, đối lập trong tiếng pháp (khảo sát bài viết biện luận của sinh viên khoa ngữ văn pháp trường đại học khoa học xã hội và nhân văn)

106 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Bia_NguVanPhap_NCKHSV-2015-2016_PhuongThucDoiLapNhuongBo

  • NguVanPhap_NCKHSV-2015-2016_PhuongThucDoiLapNhuongBo

Nội dung

Trang | 3 Tóm tắt đề tài Công trình nghiên cứu « Các phương thức chỉ sự đối lập và nhượng bộ trong tiếng Pháp : khảo sát trên bài viết biện luận của sinh viên khoa Ngữ Văn Pháp, Đại học

Cơ sở lý luận

Khái niệm nhượng bộ và đối lập trong tiếng Pháp

Trong tiếng Pháp, theo từ điển Le Petit Robert Micro 3 , từ concession (nhượng bộ) diễn đạt ý tưởng thừa nhận quan điểm của một người, một sự vật, sự việc Từ nghĩa ban đầu này, khái niệm nhượng bộ dùng để diễn tả câu có cấu trúc như những ví dụ sau đây :

(1) Bien qu'Hélène soit petite, elle joue au basket 4

(Dù rằng Hélène thấp bé, cô ta vẫn chơi bóng rổ)

(2) Quelques dộỗues qu’elles soient, elles doivent recommencer 5

(Dù cho có thất vọng mấy đi chăng nữa, họ cũng phải bắt đầu lại từ đầu)

Từ hai vớ dụ trờn mượn từ trang web bàn về sự nhương bộ và từ bài học ô Mệnh đề phụ biểu đạt sự nhượng bộ và đối lập ằ trong mụn Cỳ phỏp của Cụ Bựi Khương Bích Hoàn, chúng ta có thể nhận thấy các điểm chung như sau :

- Cả hai mệnh đề trong câu (1) và hai mệnh đề trong câu (2) đều cùng chung một chủ ngữ (ô Hộlốne ằ và ô elle ằ ở cõu 1, và ô elles ằ ở cõu (2))

- Sự việc đầu và sự việc sau trong mỗi câu có giá trị khác nhau, và sự việc thứ hai được xem là việc quan trọng hơn sự việc thứ nhất Cụ thể : o Ở ví dụ 1, nếu như theo lô-gíc chúng ta hiểu, Hélène thấp bé thì không thể nào chơi bóng rổ vì đây là môn thể thao yêu cầu người chơi có một chiều cao nhất định Nhưng trên thực tế, Hélène vẫn cứ chơi, mặc cho chiều cao của mình còn thấp và không đạt yêu cầu của bộ môn Và từ đó, việc Hộlốne chơi búng rổ được nhấn mạnh, nhờ vào sự việc ô thấp bộ ằ o Ở ví dụ 2, việc họ thất vọng, theo lối suy nghĩ thông thường, sẽ dẫn đến việc họ buông xuôi và từ bỏ việc đang làm Vậy mà sự việc thứ hai trong cõu được nhấn mạnh khi núi ô họ cũng phải bắt đầu lại từ đầu ằ Đõy là điều họ không muốn, nhưng vì công việc, họ phải làm

3 Nguyờn văn trong Le Petit Robert Micro : ô le fait d'abandonner à son adversaire un point de discussion, de concộder ằ.

4 Tham khảo tại : http://monsu.desiderio.free.fr/atelier/concession.html ngày 10/09/2015.

5 Fichier ô Subordonnộes de Concession et d’Opposition ằ, Cours de Syntaxe de Mme Bựi Khương Bớch Hoàn, facultộ de Lettres franỗaises, Universitộ des Sciences Sociales et Humaines de HCM-Ville, premier semestre en 2014

Ngoài ra, vấn đề thức và thì cũng được lưu ý đến trong một số cấu trúc nhượng bộ tiếng Pháp : Mỗi sự việc đầu trong mỗi ví dụ được diễn tả bằng thức liên thuộc

(subjonctif) Bien qu’Hộlốne soit petite và Quelques dộỗues qu’elles soient đều cựng thể hiện qua lăng kính chủ quan của người nói để nhấn mạnh sự việc : Đáng lí Hélène nhỏ con thì không nên chơi bóng rổ Nhưng trên thực tế, cô ấy muốn chơi và cô ấy chơi bóng rổ (ví dụ 1), hoặc đáng lí là họ sẽ buông xuôi và bỏ cuộc khi thất vọng Nhưng trên thực tế, họ phải làm lại

Sau khi xem xét hai ví dụ trên, chúng tôi nhận thấy : Ý nhượng bộ trong hai cấu trúc cho thấy sự đối lập có tính lô-gíc giữa các sự việc được nêu ra trong câu (nghĩa là họ không thực hiện việc họ cần làm hay phải làm theo lẽ thường)

Song song với khái niệm nhượng bộ, chúng ta cũng có khái niệm đối lập trong việc biểu đạt Đối lập dùng để diễn tả các sự việc được để cạnh nhau và xét về mặt ngữ nghĩa, các sự việc này tương phản nhau, khác với nhượng bộ diễn tả sự đối lập mang tính lô-gích giữa các sự việc Chúng ta xem các ví dụ sau đây :

(3) Alors que Jacques travaillait beaucoup, son frère réjouissait la vie

(Trong khi Jacques làm việc rất nhiều, em trai anh ta hưởng thụ cuộc sống)

Xét ví dụ, ta thấy : hành động của Jacques và em trai của mình khác nhau và tương phản nhau : Jacques ra sức làm việc rất nhiều, còn em trai anh ta thì không chịu làm việc, mà chỉ biết ở nhà hưởng thụ cuộc sống của mình

Hãy cùng xem một ví dụ khác :

(4) Pierre est triste tandis que son ami est joyeux 6

(Pierre buồn sầu trong khi bạn của anh ta lại vui vẻ)

Câu nói cho chúng ta thấy hai trạng thái cảm xúc ngược nhau hoàn toàn : một bên là sự buồn sầu của Pierre, và một bên là niềm vui của người bạn Được nối bằng liên từ tandis que, hai trạng thái này diễn tả một cách mạnh mẽ sự đối lập, trái ngược về tình trạng cảm xúc của 2 đối tượng Ý niệm nhượng bộ và đối lập trong tiếng Pháp, đối với một số nhà văn phạm học như Grevisse, Mauger,…được xem như cùng một

6 Vớ dụ này về sau (nếu khụng ghi chỳ thờm) được lấy từ sỏch Les phrases complexes en franỗais của tỏc giả

Trang | 10 cách biểu đạt 7,8 Bên cạnh đó, cũng có một số chuyên gia ngôn ngữ cho rằng hai ý niệm này khác nhau nhưng được xem xét cùng nhau

Tỏc giả Huỳnh Thanh Triều, trong cuốn Les phrases complexes en franỗais, cho rằng đối lập và nhượng bộ là hai dạng câu phức có nội hàm riêng rẽ, và phải được xem xét trong từng phần của mình :

La subordonnée concessive est souvent traitée dans le même chapitre que la subordonnée oppositive (Grevisse, Mauger…) Concession et opposition sont pourtant des actes différents Pour nous, l’opposition relève de la comparaison et doit être examinée dans la sphère de celle-ci 9

(Mệnh đề phụ chỉ sự nhượng bộ thường được xem xét trong cùng một chương với mệnh đề phụ chỉ sự đối lập (theo Grevisse, Mauger…) Tuy nhiên nhượng bộ và đối lập là những hành vi ngôn ngữ khác nhau Với chúng tôi, đối lập thuộc về so sánh và phải được xem xét trong chính phạm vi của nó)

Phương thức biểu đạt ý niệm nhượng bộ và đối lập trong tiếng Pháp

Các phương thức biểu đạt ý niệm nhượng bộ và đối lập trong tiếng Pháp đã được đề cập rất nhiều trong cỏc sỏch văn phạm 350 exercices de grammaire franỗaise de l’Universitộ de Sorbonne, Cours de langue et de civilisation franỗaise, 450 exercices Grammaire, … Tuy nhiên, trong phần này, chúng tôi hình thành hướng nhìn dựa trên sự phân loại và liệt kê của trang web WebLetters trong phần biểu đạt bằng câu đơn, và của chuyên gia ngôn ngữ Pháp Huỳnh Thanh Triều với cuốn Les phrases complexes en franỗais trong phần biểu đạt bằng cõu phức Tuy nhiờn, chỳng tụi chủ động giới hạn danh sách trích dẫn dựa trên mẫu cứ liệu chúng tôi đã thu thập, vì thiết nghĩ nghiên cứu của chúng tôi không phải là một tổng hợp về tất cả các cấu trúc biểu đạt ý niệm nhượng bộ và đối lập trong tiếng Pháp Qua nghiên cứu mẫu thu thập, chúng tôi sẽ được biết đâu là những cấu trúc được sử dụng nhiều, tần số cũng như cách dùng (có chính xác hay không) của người sử dụng

7 Grevisse M., Le bon usage, Duculot, 1980

8 Mauger G., Grammaire pratique du franỗais d’aujourd’hui, Librairie Hachette, 1968

9 Huỳnh Thanh Triều, Les phrases complexes en franỗais, NXB Giỏo dục, 2010, mục 3.10.13, trang 126

2.1 Biểu đạt bằng câu đơn

Trong câu đơn tiếng Pháp, để diễn đạt ý niệm nhượng bộ và đối lập, chúng ta có những phương thức như nhóm giới từ (groupe prépositionnel), động danh từ

(gérondif), tính từ (adjectif) và phân từ (participe) để đảm bảo câu chỉ có một mệnh đề Nhưng trong phạm vi nghiên cứu này, dựa trên thực tế cứ liệu, chúng tôi chỉ quan tâm tới hai phương thức dùng nhóm giới từ (groupe prépositionnel) và tính từ (adjectif)

2.1.1 Biểu đạt bằng nhóm giới từ

Nhóm giới từ biểu đạt ý niệm nhượng bộ và đối lập trong tiếng Pháp bao gồm các từ, nhóm từ : malgré, en dépit de, à défaut de, au lieu de, à part, sauf, pour, à contre cœur, contrairement à, si ce n’est (liền sau là nhóm danh từ – groupe nominal, đại từ – pronoms và nhóm đại danh từ – groupe pronominal), sans, au lieu de, loin de, quitte à (liền sau là nhóm động từ – groupe verbal hoặc động từ nguyên mẫu – infinitif)

2.1.1.1 malgré + danh từ : diễn tả ý đối lập với mệnh đề chính trong câu

(5) Malgré sa malchance, il réussira

(Mặc cho vận xui của mình, anh ta sẽ thành công)

Ngoài danh từ thì malgré cũng có thể kết hợp với đại từ nhấn mạnh (pronoms toniques) để diễn đạt ý bất đắc dĩ (chủ thể không muốn làm nhưng lại bị đưa vào tình thế bắt buộc phải làm):

(6) Le médecin malgré lui (Une pièce théâtrale de Molière)

(Le médecin malgré lui – một vở kịch của Molière)

(7) C’est un président malgré lui

(Đây là một vị tổng thống bất đắc dĩ)

2.1.1.2 au lieu de + danh từ, động từ nguyên mẫu: biểu đạt ý sự việc đã được thay thế bằng một sự việc khác trong mệnh đề chính

(8) Au lieu du dictionnaire de Larousse, je préfère celui de Robert

(Thay vì cuốn từ điển Larousse, tôi chuộng cuốn của Robert hơn)

2.1.2 Biểu đạt bằng tính từ và phân từ

Trong ngữ pháp tiếng Pháp, tính từ và phân từ được sử dụng với nhiều chức năng khác nhau Tuy nhiên, để diễn đạt ý nhượng bộ và đối lập, tính từ được sử dụng

Trang | 12 với chức năng ô tớnh ngữ ằ (ộpithốte 10 ) và ô phõn từ ằ, qua bước chuyển đổi (conversion) thành tính từ và sử dụng với chức năng tương tự

(9) Quoique peu averti des précautions à prendre en montagne, il était prudent 11

(Dù ít được trang bị biện pháp phòng ngừa khi leo núi, anh ta vẫn thận trọng)

(10) Même très timide avant des spectateurs, ella a eu un exposé réussi 12

(Dù rất rụt rè trước các khán thính giả, cô ấy đã có một buổi thuyết trình thành công)

Thông thường, các tính từ và phân từ khi dùng với chức năng này sẽ đi sau các liên từ bienque, quoique, même và tout

2.2 Biểu đạt bằng câu phức Ở một trình độ ngôn ngữ tiếng Pháp nhất định, ví dụ như ở trình độ trung/cao cấp, trong văn phong khoa học, biện luận, việc sử dụng câu phức để diễn đạt ý tưởng của mình, để nói về ý chỉ sự nhượng bộ và đối lập là không thể tránh khỏi, cả ở người Pháp lẫn người nước ngoài học tiếng Pháp Đây cũng không là điểm ngoại lệ

Thế nào là câu phức ? Câu phức là câu có từ hai mệnh đề trở lên, tức là có hai hay nhiều chủ ngữ và các động từ được chia theo các chủ từ của nó

Theo sự phân chia, câu phức được chia làm ba loại :

2.2.1 Câu phức có mệnh đề kế cận (phrases complexes à propositions juxtaposées) : loại câu phức có các mệnh đề ngăn cách nhau bởi dấu câu yếu

(ponctuation faible 13 ) gồm các dấu phẩy (virgule), chấm phẩy (point-virgule) và dấu hai chấm (deux-points) Về mặt cú pháp, các mệnh đề trong câu độc lập với nhau Về mặt ngữ nghĩa, các mệnh đề tạo nên những mối quan hệ đa dạng : miêu tả, giải thích, nguyên nhân, hậu quả, điều kiện, giả thuyết, nhượng bộ, đối lập, …

(11) Mon père lit le journal, ma mère fait la cuisine, ma sœur joue du piano

(Bố tôi đọc báo, mẹ tôi nấu ăn, em tôi chơi piano)

10 Tính ngữ (épithète) là khái niệm để chỉ chức năng mô tả một danh từ hoặc đại từ, mà không có sự trung gian của một động từ (như trỏi ngược với chức năng thuộc tớnh) Xem thờm tại từ điển Larousse, từ ô ộpithốte ằ

11 averti trong câu ban đầu là quá khứ phân từ (participe passé) của động từ avertir, sau đó được dùng như là tính từ (qua bước chuyển đổi – conversion) cú chức năng ộpithốte cho chủ từ ô il ằ và khụng tạo ra một mệnh đề mới, từ đú khụng sinh ra một câu phức có hai mệnh đề

12 timide trong cõu là tớnh từ cú chức năng ộpithốte cho chủ từ ô elle ằ.

13 Liên quan các dấu câu, trong tiếng Pháp, các dấu câu chia làm hai loại : dấu câu mạnh (ponctuations fortes) gồm : dấu chấm (point), dấu hỏi chấm (point d’interrogation), dấu chấm than (point d’exclamation) ; dấu câu yếu (ponctuation faibles) gồm : dấu phẩy (virgule), dấu chấm phẩy (point-virgule), dấu hai chấm (deux-points)

2.2.2 Câu phức có mệnh đề liên kết (phrases complexes à propositions coordonnées) : loại câu phức có mệnh đề được liên kết với nhau bằng liên từ

(conjonction) hoặc cụm liên từ (locution conjonctive) Về ngữ nghĩa, các liên từ đảm bảo thực hiện việc tạo nên những mối quan hệ giữa các mệnh đề

(12) Il veut sortir, mais elle dit non

(Anh ta muốn đi ra ngoài, nhưng cô ấy nói không)

2.2.3 Câu phức có mệnh đề phụ (phrases complexes à propositions subordonnées) : loại câu phức có mệnh đề chính và mệnh đề phụ được liên kết với nhau bằng liên từ mở mệnh đề hoặc đại từ quan hệ Đây là hệ thống câu phức phức tạp và đa dạng trong tiếng Pháp vì ngoài những chức năng biểu đạt đa dạng về nghĩa, câu phức có mệnh đề phụ còn được phải quan tâm dưới góc cạnh của thức (modes) và thì (temps) cũng như từ dẫn vào (mots subordonnants) Có như thế, một phát ngôn mới được hiểu đúng với tất cả những lăng kính soi xét vào Câu phức có mệnh đề phụ có nhiều loại với mệnh đề phụ đóng vai trò chủ ngữ, bổ ngữ, mệnh đề phụ chỉ thời gian, nguyên nhân, hậu quả, nhượng bộ, đối lập, …

(13) Bien qu’il travaille trop dur, sa femme ne le respecte pas en jettant de l’argent par la fenêtre

(Dù rằng anh ta làm việc cực nhọc, vợ anh ta lại không trân trọng điều này khi cứ chi tiền không hợp lí)

Tuy nhiên, theo ghi nhận của Huỳnh Thanh Triều trong Les phrases complexes en franỗais, một số nhà ngụn ngữ học tõn thời, nhất là cỏc nhà ngụn ngữ học chức năng, cho rằng câu phức có mệnh đề kế cận và câu phức có mệnh đề liên kết không được xem như một dạng câu phức để so sánh và phân biệt với câu phức có mệnh đề phụ Lý do :

Với câu phức có mệnh đề kế cận, các mệnh đề chỉ liên kết với nhau bằng những dấu cõu Cú chăng đú chỉ là những lần ô ngắt hơi ằ 14 khi người núi phỏt ngụn ra cõu hoặc chuỗi cõu cỏc dấu cõu khụng ảnh hưởng tới cấu trỳc gốc ô chủ từ + động từ ằ, và thường là cả ngữ nghĩa

14 Huỳnh Thanh Triều, Les phrases complexes en franỗais, NXB Giỏo Dục, 2010, Đ2.5, tr 12-15

Với câu phức có mệnh đề liên kết, các liên từ chỉ dẫn vào các câu độc lập và không tác động đến cấu trúc ngữ pháp của câu (về cách chia thức, thì), chúng đơn giản chỉ lệ thuộc theo ý định thông báo của người nói 15

Khái niệm về nhượng bộ và đối lập trong tiếng Việt

Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam dường như ít quan tâm đến nghiên cứu cấu trúc nhân nhượng trong ngữ pháp tiếng Việt Chỉ có một vài các tác giả điển hình như: Hoàng Tuệ, Hoàng Trọng Phiến và Nguyễn Kim Thản, Hồ Lê, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Phổ, … Mỗi nhà Việt ngữ đưa ra những khái niệm và phân loại những khía cạnh khác nhau về cấu trúc câu nhượng bộ Ở nghiên cứu này, chúng tôi không đi

Trang | 19 sâu phân tích, mà chúng tôi chỉ dừng lại ở những điểm khái quát và mang tính đặc trưng nhưng của cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt

Ngôn ngữ có cách biểu đạt rất phong phú Cùng một hình thức những có thể biểu thị nhiều ý nghĩa khác nhau và ngược lại, để biểu thị một sự việc thì có nhiều cách thể hiện Chúng tôi dựa trên sự kết hợp giữa hai yếu tố hình thức với ngữ nghĩa của cấu trúc nhân nhượng để phân loại, cụ thể là theo 2 tiêu chí: quan hệ nhân quả và tính hiện thực Theo hai tiêu chí này, cấu trúc nhân nhượng được chia như sau:

Cấu trúc nhượng bộ: Mặc dù P nhưng Q, Tuy P nhưng Q

Cấu trúc điều kiện nhượng bộ: Dù P thì Q

Chúng tôi chỉ phân loại dạng đầy đủ các chỉ tố cấu trúc nhân nhượng Ngoài các hình thức này, cấu trúc nhân nhượng còn có các dạng tĩnh lược khác, có thể là tĩnh lược một liên từ trước P hoặc Q, cũng có thể tĩnh lược cả hai liên từ trước P và Q đồng thời có sự xuất hiện của vị từ tình thái cũng, vẫn

3.2 Ngữ nghĩa của cấu trúc nhượng bộ

3.2.1 Cấu trúc nhượng bộ Mặc dù P nhưng Q

Trong cấu trúc Mặc dù P nhưng Q (dạng đầy đủ) (tương đương với cấu trúc Tuy

P nhưng Q) ta có một kết cấu đề - thuyết 17 P - Q Cũng có dạng thức tỉnh lược liên từ đứng trước Q biểu hiện dưới biểu thức Mặc dù P, Q thì lúc này P là thành phần trạng ngữ đứng trước Kết cấu đề - thuyết của P hoàn toàn có thể thay bằng một danh ngữ tương ứng, chẳng hạn như:

(34) Trời giông bão, nó vẫn ra khỏi nhà

Có thể diễn đạt theo kiểu

(35) Trong tình hình trời giông bão, nó vẫn ra khỏi nhà

(36) Khi trời giông bão, nó vẫn ra khỏi nhà

17 Thành phần nòng cốt trong cấu trúc đề - thuyết chính là đề và thuyết Những khái niệm chung được chúng tôi tổng hợp dựa trên quan điểm của Cao Xuân Hạo và Đào Thanh Lan Phần đề: chỉ ra cái được nói đến trong câu Cái được nói đến thường là cái đã biết trong quá trình diễn ra hoạt động giao tiếp giữa hai người Nó là cơ sở, là điểm xuất phát cho hoạt động thông báo ở trong câu Phần thuyết: chứa đựng nội dung nói về phần đề Do đó nó thường là phần mang thông tin mới, là trọng tâm thông báo của câu Cũng vì thế, một câu không thể không có phần thuyết, trong khi có thể không có phần đề Xem thêm tại: Trần Kim Phượng - TS ĐH Sư phạm Hà Nội, tạp chí "Ngôn ngữ và đời sống" số 3 (173)-2010, bài "Bàn thêm về cấu trúc đề thuyết của ngôn ngữ tiếng việt"

(37) Ngay cả trong tình hình trời giông bão nó vẫn ra khỏi nhà

(38) Ngay cả khi trời giông bão nó vẫn ra khỏi nhà

Và mặc dù có thể được thay bằng một số chỉ tố nhượng bộ khác (mà màu sắc vị từ còn rõ rệt – nghĩa là mức độ hư hóa ít hơn mặc dù)

Khi mặc dù P đứng đầu câu, có một đòi hỏi thiết yếu đối với Q đó là Q phải được tình thái hóa đủ tường minh và có quan hệ hô ứng (nghĩa là quan hệ giữa các cặp phó từ, chỉ từ hay đại từ đi đôi với nhau hoặc dùng để nối các vế câu ghép) 18 với P Ví dụ:

(39) a Mặc dù đã hết tháng giêng, mai vẫn nở rộ b Mặc dù chỉ giải được hai bài toán, nó cũng vượt qua được kì thi Ở (a) và (b) sự xuất hiện của từ tình thái là bắt buộc Nếu thay đổi vị trí của P và

Q cho nhau thì ta có một cấu trúc Đề - thuyết có trạng ngữ bình thường (Q, mặc dù P) Khi đó, sự hiện diện của tác tố tình thái không còn bắt buộc nữa Ví dụ:

(40) a Mai nở rộ, mặc dù đã hết tháng giêng b Nó vượt qua được kì thi, mặc dù chỉ giải được hai bài toán

Vai trò của vị từ tình thái cũng/ vẫn trong cấu trúc nhân nhượng là rất quan trọng xét về mặt ý nghĩa Trong nhiều trường hợp, cấu trúc tuy… nhưng có thể tỉnh lược

(41) Mặc dù chẳng ai mời nhưng nó vẫn tới

Vẫn có thể nói: Mặc dù chẳng ai mời, nó vẫn tới

Hay: Chẳng ai mời, nó vẫn tới

Chúng ta có thể thấy rằng, nhưng có thể được thay thế bằng dấu phẩy (,), liên từ

“mặc dù” xuất hiện hay không thì nội dung vẫn được đảm bảo Ngoài những yếu tố nòng cốt của câu, ta thấy phó từ vẫn xuất hiện trong tất cả các trường hợp Nếu tỉnh lược vẫn câu sẽ trở thành Chẳng ai mời, nó tới Rõ ràng nếu tỉnh lược và giữ nguyên

18 Tham khảo tại : https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%AF_ph%C3%A1p_ti%E1%BA%BFng_Vi%E1%BB%87t#C.E1.BA.B7p_t.E1.BB.AB_h.C3.B4_.E1.BB.A9ng, ngày 01/04/2016

Trang | 21 hình thức, hai vế của câu không hề có sự liên kết gì về nghĩa, nếu bỏ đi dấu phẩy giữa hai vế thì ngữ nghĩa của câu hoàn toàn thay đổi: chẳng có ai mời nó tới cả (vì thế mà nó không đến), trong khi đó, nghĩa gốc là nó có đến Vai trò của vẫn mang tính chủ đạo trong cấu trúc nhân nhượng dạng này

Khi hai tiểu cú diễn đạt hai sự tình liên kết với nhau bằng chỉ tố đối lập nhưng thì sự có mặt của mặc dù (và cả yếu tố tình thái ở tiểu cú Q) trở thành không quan yếu Trong tiếng Việt, cấu trúc nhượng bộ đánh dấu bằng mặc dù bao giờ cũng có thể được thay thế bằng nhưng (P nhưng Q) hoặc đi kèm với nhưng (Mặc dù P nhưng Q) Chẳng hạn, ta có P “tôi khuyên”, và Q “Nó không nghe” Gắn P với Q bằng nhưng ta sẽ có một cấu trúc chuẩn tắc P nhưng Q So sánh:

(42) a * Mặc dù tôi khuyên, nó không nghe (ngôn ngữ nói vẫn chấp nhận) b (Mặc dù) tôi khuyên nhưng nó không nghe

Hoặc với P “trời nhiều mây”, ta có:

(43) a * Mặc dù trời nhiều mây, không mưa (ngôn ngữ nói vẫn chấp nhận) b (Mặc dù) trời nhiều mây nhưng không mưa

Có thể thấy, nhưng là một tác tố liên kết đủ mạnh để bảo đảm cho sự hoàn chỉnh của cả phát ngôn về hai sự tình có quan hệ đối lập; về hình thức, quan hệ được đánh dấu tự nhiên bằng nhưng ấy không cần kèm theo bất cứ một ràng buộc nào: thành phần Q sau nhưng không cần phải thay đổi để thích ứng với P P nhưng Q là một biểu thức liên kết hai tiểu cú có liên hệ về nghĩa, nhưng tương đối độc lập về cấu trúc; mỗi tiểu cú là một cấu trúc hoàn chỉnh – do đó, dễ dàng trình bày thành P Nhưng Q –

(40.b) Tôi khuyên Nhưng nó không nghe

Xét về cấu trúc, Mặc dù P nhưng Q có hai ràng buộc: hoặc Q phải được tình thái hóa thích hợp bằng các tác tố cũng, vẫn, hoặc phải có nhưng liên kết P với Q Mặc dù có thể loại bỏ mà cấu trúc và ngữ nghĩa không bị tổn hại

Sơ kết

Sau khi tìm hiểu về khái niệm nhượng bộ và đối lập trong tiếng Pháp và tiếng

Việt, để có cơ sở cho phần phân tích và miêu tả cứ liệu thu thập được trong chương 3, chúng tôi có một số nhận xét như sau : Có đôi lúc, hai khái niệm này, ta thấy mất đi ranh giới giữa hai phương thức, về cấu trúc cũng như cách sử dụng, cụ thể là trong tiếng Việt Do hình thức ngôn ngữ của hai nước khác nhau, với những khác biệt về cú pháp, cách biểu đạt một số nét nghĩa…, chúng tôi thấy khó có thể so sánh, phân biệt rạch ròi cụ thể các cách thể hiện ý nhượng bộ và đối lập trong tiếng Việt và tiếng Pháp Với lí do đó, việc tuân thủ cú pháp của ngôn ngữ được sử dụng khi dùng phương thức này cũng là một điều kiện đòi buộc người dùng ngôn ngữ phải lưu ý để không mắc lỗi ngữ pháp, kể cả trong tiếng Pháp lẫn tiếng Việt

21 Ngô Thị Thanh Thuý, Luận văn thạc sĩ “Ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt”, Trường ĐHKHXH&NV ĐHQG Tp.HCM, tháng 11 năm 2012

22 Ngô Thị Thanh Thuý, Luận văn thạc sĩ “Ngữ nghĩa và ngữ pháp của cấu trúc nhân nhượng trong tiếng Việt”, Trường ĐHKHXH&NV ĐHQG Tp.HCM, tháng 11 năm 2012

Chương trình dạy và học phương thức Nhượng bộ - Đối lập của

Nội dung chương trình đào tạo

Nội dung của hai chương trình đào tạo với các môn học tương đương được tóm tắt dưới đây :

(những mụn để trong ô ( ) ằ là những môn được đào tạo ở phần chuyên ngành)

TD Horslab Composition Grammaire Thème Version Interprétation

Compréhension Écrite Compréhension Orale Expression Orale Expression Écrite (Syntaxe) (Traduction) (Traduction) (Interprétation)

Roman Poésie Théâtre Phonétique Sémantique Pragmatique

Roman Poésie Théâtre Phonétique Sémantique Pragmatique Syntaxe Morphologie Traduction Interprétation Histoire et Gộo franỗaises Vie socio-culturelle fraỗaise Vie ộco-politique franỗaise

Le franỗais des communications professionnelles

Le franỗais des communications professionnelles

Littérature francophone et comparée Les courants littộraires franỗais Les genres littéraires

Bảng 2 : Giới thiệu sơ lược các môn học trong chương trình đào tạo khoá 2010, 2011 và khoá 2012 trở về sau

Từ bảng trên, chúng tôi chỉ xem xét các môn liên quan đến nghiên cứu này dựa trên hai tiêu chí : một, môn học có bài viết chúng tôi lấy làm cứ liệu ; hai, môn học có nội dung liên quan đến phương thức, cấu trúc chỉ sự nhượng bộ và đối lập Chi tiết môn học này nằm trong bảng 3 dưới đây :

Nội dung về biểu đạt ý nhượng bộ, đối lập được học

6 học phần Mỗi học phần gồm

- 30 tiết dành cho khối D3 mais, cependant, pourtant, au lieu de, malgré, néanmoins, bien que, quoique, malgré que

4 học phần Mỗi học phần gồm

- 30 tiết dành cho khối D3 mais, cependant, pourtant, au lieu de, malgré, néanmoins, or, bien que, quoique, quoi que, malgré que

Bảng 3 : Các môn học liên quan trong chương trình đào tạo khoá 2010, 2011

Nội dung về biểu đạt ý nhượng bộ, đối lập được học

Mỗi học phần kéo dài 60 tiết

2 năm đầu mais, bien que, malgré, cependant, pourtant, or, néanmoins, quoi que, au lieu de, en revanche, au contraire, à l’inverse

1 học phần Kéo dài 45 tiết Năm thứ 3 bien que, malgré que, quel(le) que, quelque…que, qui que, quoi que, ó que, si/tout…que, quand même, même si

Bảng 4 : Các môn học liên quan trong chương trình đào tạo khoá 2012 trở về sau

Qua nội dung được trình bày ở các bảng trên, chúng tôi có nhận xét về việc học các phương thức, cấu trúc biểu đạt ý nhượng bộ và đối lập như sau :

Trong chương trình đào tạo khoá 2010 và 2011 (chương trình cũ), giờ học hai môn Grammaire và Composition được phân bố trong suốt chương trình học 4 năm

Trong mỗi học phần Grammaire và Composition, số tiết dành cho lớp D1 23 nhiều hơn

15 tiết (6 học phần Composition tổng cộng 270 tiết và 4 học phần Grammaire tổng cộng 180 tiết), điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên có nhiều giờ trên lớp để học và thực hành kiến thức ngữ pháp tiếng Pháp và viết luận Pháp Mặt khác, việc các học phần của Composition và Grammaire được phân bổ trải dài suốt 4 năm cùng chương trình các môn học khác, giúp sinh viên ngày một nâng cao và chuyên sâu hơn trong việc biểu đạt của mình Tuy nhiên, chương trình này có ít các môn học, các kiến thức được cung cấp có phần còn giới hạn, khiến cho sinh viên ít có cơ hội thể hiện ý tưởng của mình

Môn Composition trong từng học phần giúp cho sinh viên tập viết, từ những câu đơn giản cho đến những đoạn văn ngắn và cuối cùng là những bài viết nghị luận nêu lên quan điểm cá nhân Các chủ đề được chọn trong môn học này đòi hỏi lý luận cũng như ý kiến, quan điểm của người viết Thông thường những chủ đề được chọn liên quan tới đạo đức con người, các hiện tượng trong đời sống xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá, du lịch, môi trường, việc làm,…hoặc là những câu nói hay của những người có tầm ảnh hưởng trên thế giới Sinh viên được biểu đạt ý kiến riêng của mình : đồng tình, ủng hộ, hoặc là phản đối, lên án, hoặc là đưa ra một giải pháp, một lý do cho một vấn đề,…Dưới đây là một số chủ đề viết của môn Composition :

- ô Faudrait-il choisir un mộtier en fonction du revenu qu’il rapporte ? Rộdigez un texte de 150 mots ằ

(đề thi môn Composition 4 năm học 2012-2013)

(Liệu rằng có nên chọn một nghề dựa vào thu nhập nó mang lại ? Viết một bài viết 150 từ) Đây là một trong những chủ đề gợi mở nhiều cho sinh viên, và giúp sinh viên dễ đánh giá vấn đề cũng như nói lên quan điểm, ý kiến của mình Việc làm là điều mà sinh viên quan tâm nhất sau khi hoàn thành chương trình học đại học Các bài viết của sinh viên về chủ đề này cho thấy được sự đa dạng trong lối tư duy, cách suy nghĩ cũng như những cái nhìn đa chiều (được trình bày trong phần phụ lục)

Một số chủ đề khác trong môn Composition :

Chủ đề về công nghệ và đời sống :

23 Lớp của các bạn sinh viên chưa biết tiếng Pháp

- ô Le tộlộphone portable s’est aujourd’hui beaucoup dộveloppộ Dans la rue, dans les trains, entre amis, au volant,…l’individu devient esclave de son tộlộphone portable ằ Donnez votre opinion dans un texte cohérent de 300 mots (classe A), de 200 mots (classe B, C) (đề thi môn Composition 3 năm học 2012-

(Điện thoại di động ngày nay đã phát triển rất nhiều Ngoài đường, trên xe lửa, khi gặp bạn bè, khi ngồi lái xe…mỗi người trở nên nô lệ của điện thoại di động Hãy cho biết quan điểm của bạn trong một bài viết 300 từ (lớp A), 200 từ (lớp B, C))

- ô Est-il indispensable d’ờtre membre d’un ou plusieurs rộseau(x) social/aux ? Si oui, lequel de prộfộrence ? Explicitez votre rộponse dans un texte de 200 mots ằ (đề thi mụn Composition 5 năm học

(Có nhất thiết phải là thành viên của một hay nhiều trang mạng xã hội ? Nếu có, trang nào tốt hơn ? Hãy làm rõ câu trả lời của anh/chị trong một bài viết 200 từ)

Chủ đề về thường thức đời sống:

- ô Connaissances et compộtences sont deux facteurs fondamentaux dans l’exercice d’une profession Y en a-t-il d’autres qui sont nécessaires au succès professionnel ? Justifiez votre réponse dans un texte de

250 mots ằ (đề thi mụn Composition 4 năm học 2011-2012)

(Kiến thức và kĩ năng là hai nhân tố nền tảng trong khi thực hiện một công việc Vậy còn nhân tố nào khác cần thiết cho thành công trong công việc hay không ? Hãy xác minh câu trả lời của bạn bằng một bài viết 250 từ)

Chủ đề về văn hoá và ngôn ngữ :

- ô Connaợtre d’autres langues et cultures pourrait-il ờtre utile au dộveloppement personnel et à la carriốre ? Rộdigez un texte cohộrent de 200 mots ằ (đề thi mụn Composition 6 năm học 2012-2013)

(Biết những ngôn ngữ khác và các nền văn hoá khác liệu rằng có hữu ích cho sự phát triển cá nhân và cho sự nghiệp ? Hãy viết một bài viết mạch lạc 200 từ)

Suốt thời gian học các học phần môn Composition, sinh viên được giảng viên giảng dạy giới thiệu và hướng dẫn cách viết câu, cách chia động từ, cách diễn giải thành một đoạn văn hoặc một văn bản Riêng về cách viết câu, cách chia động từ, sinh viên cũng được học và tìm hiểu kĩ trong môn học Grammaire là môn giới thiệu tất cả những kiến thức liên quan tới ngữ pháp, bao gồm các loại từ, các loại câu và các phương thức diễn đạt theo nội dung các sách văn phạm tiếng Pháp

Trong chương trình đào tạo từ khoá 2012 tới nay (chương trình mới), tuy thời lượng hai môn học liên quan là Expression Écrite và Syntaxe không nhiều (4 học phần Expression Écrite tổng cộng 240 tiết và 1 học phần Syntaxe 45 tiết cho cả hai khối lớp D1 và D3), nhưng các phương thức, cấu trúc chỉ sự nhượng bộ và đối lập được giới thiệu nhiều hơn, đa dạng hơn, giúp sinh viên chọn lựa một cách linh hoạt hơn các cấu trúc phù hợp với ý tưởng cần biểu đạt Bên cạnh đó, chương trình đào tạo từ khoá 2012 tới nay có thêm nhiều môn học khác giúp sinh viên phát huy tư duy độc lập qua các bài

Trang | 30 thuyết trình (exposé) hoặc các bài làm luận nhóm (dossier), là điều kiện thuận lợi để sinh viên có thể áp dụng những gì đã được học về lí thuyết tiếng

Môn Expression Écrite của chương trình mới được xem như là một trong bốn môn kĩ năng thực hành tiếng (cùng với Compréhension Écrite, Compréhension Orale và Expression Orale) được dạy và đồng hành với sinh viên trong suốt hai năm đầu đại học Do thời lượng phân bổ cho cả hai khối D1 và D3 như nhau, nên khi bắt đầu học các kĩ năng này, đặc biệt là môn Expression Écrite, các bạn sinh viên mới bắt đầu học tiếng Pháp sẽ bước vào bài học đầu tiên của giáo trình cùng tên của nhà xuất bản CLE International, trong khi đó, các bạn sinh viên đã biết trước tiếng Pháp sẽ học ở bài học thứ ba hoặc thứ hai của giáo trình Hai học phần đầu của Expression Écrite (1 và 2 trong hai học kì đầu của năm thứ nhất) giúp sinh viên thực hành viết những câu đơn giản, từ chào hỏi, giới thiệu bản thân, sở thích, gia đình, đến việc giới thiệu công việc, lịch hẹn, lời mời dự tiệc ; từ việc miêu tả ngoại hình, tính cách, sở trường, sở đoản của một ai đó, cho đến tập viết một mẩu chuyện ngắn Song song với việc học cách viết câu, giảng viên phụ trách môn cũng giới thiệu các điểm ngữ pháp Pháp cho sinh viên, từ các thì hiện tại đến quá khứ, tương lai ; từ thì cho tới thức… tạo điều kiện cho sinh viên có thể viết đúng và viết tốt tiếng Pháp

Sang đến Expression Écrite năm thứ 2 (học phần 3 và 4), sinh viên được tiếp cận với những chủ đề viết biện luận Xem một số ví dụ dưới đây :

Chủ đề về đạo đức : ô D’aprốs vous, qu’est-ce le respect ? Justifiez votre rộponse ằ (chủ đề tập viết dành cho lớp A mụn

Sơ kết

Trong chương 2, chúng tôi đã giới thiệu chương trình đào tạo cũ, mới, và tập trung chủ yếu vào phần giới thiệu chương trình các môn có sử dụng bài viết làm mẫu nghiên cứu (Composition và Expression Écrite) cùng các môn học bổ trợ (Grammaire và Syntaxe) Giới thiệu về các môn học này chủ yếu liên quan đến thời lượng học, nội dung học và kiến thức mà sinh viên nhận được sau khi học các môn này Qua nội dung này, chúng tôi thấy được kiến thức mà sinh viên học được từ chương trình về các biểu đạt sự nhượng bộ và đối lập Kiến thức này, theo chúng tôi là đủ (thậm chí có thể nói

Trang | 32 là sâu rộng) để sinh viên thể hiện được các ý về đối lập và nhượng bộ của mình Tuy nhiên, để có cái nhìn rõ hơn về cách áp dụng kiến thức này vào bài viết biện luận thì chương 3 sẽ đưa ra câu trả lời cụ thể hơn

Phân tích mẫu

Thống kê mẫu nghiên cứu

Trong phần này, chúng tôi tập trung thống kê các cấu trúc nhượng bộ và đối lập theo hai hướng : Một là số lần sử dụng trong tổng số mẫu thu thập và trong tổng số lần dùng các từ/cụm từ ; hai là vị trí cũng như chức năng của các từ/cụm từ này (ở vị trí đầu câu, nối các câu ; ở vị trí giữa câu, nối các mệnh đề kế cận trong câu phức ; ở vị trí đầu đoạn văn, nối giữa các đoạn văn)

Các mẫu nghiên cứu lấy từ môn Composition 3, 4, 5 và 6 có sử dụng cấu trúc chỉ sự đối lập và nhượng bộ được thống kê sắp xếp theo thứ tự từ số lần được dùng nhiều nhất đến số lần được dùng ít nhất:

STT Từ/Cụm từ chỉ sự nhượng bộ và đối lập

Tổng số mẫu thu thập

Tổng số lần dùng các từ/cụm từ

Bảng 5 : Thống kế tần suất sử dụng cấu trúc thể hiện sự nhượng bộ và đối lập môn Composition 3, 4, 5 và 6

Qua bảng thông kê trên, chúng tôi nhận thấy : các sinh viên sử dụng liên từ mais với tần suất sử dụng nhiều hơn hẳn so với các từ/cụm từ khác trong tiếng Pháp (với số lần sử dụng là 251 trong tổng số bài là 174 bài và tổng số lần sử dụng của các từ là 388 lần, chiếm tỉ lệ 64,69%) Tiếp theo là liên từ cependant và pourtant với số lần sử dụng lần lượt là 33 và 31 trong tổng số bài là 174 bài và tổng số lần sử dụng của các từ là

388 lần, chiếm tỉ lệ lần lượt 8,50% và 7,99% Sau là những liên từ/ngữ ít sử dụng như bien que (tỉ lệ 4,12%), malgré (tỉ lệ 2,84%), malgré que (tỉ lệ 2,58%)

Các mẫu nghiên cứu lấy từ môn Expression Écrite 3 và 4 có sử dụng phương thức, cấu trúc chỉ sự đối lập và nhượng bộ có bảng thống kê sắp xếp theo thứ tự từ số lần được dùng nhiều nhất đến số lần được dùng ít nhất thể hiện như sau :

STT Phương thức, cấu trúc chỉ sự nhượng bộ và đối lập

Tổng số mẫu thu thập

Tổng số lần dùng các từ/cụm từ

Bảng 6 : Thống kế tần suất sử dụng các cấu trúc thể hiện sự nhượng bộ và đối lập môn Expression Écrite 3 và 4

Tương tự như bảng thống kê môn Composition, chúng tôi nhận thấy : các sinh viên các khoá 2012 và 2013 cũng sử dụng liên từ mais với tần suất sử dụng nhiều hơn hẳn so với các từ/cụm từ khác trong tiếng Pháp (với số lần sử dụng là 104 lần trong tổng số bài là 54 và tổng số lần sử dụng của các từ là 151 lần, chiếm tỉ lệ 68,87%)

Khác với thống kê của chương trình cũ, phương thức được sử dụng nhiều sau mais trong các bài làm của sinh viên khoá 2012 và 2013 là bien que và hơn nữa, các bài làm có sử dụng phương thức này phần lớn đúng ngữ pháp khi chia động từ ở thể Subjonctif với số lần sử dụng là 10 lần trong tổng số 54 bài và tổng số lần sử dụng của các từ là

151 lần, chiếm tỉ lệ 6,62% (khác với chương trình cũ khi bien que được dùng rất ít –

16 lần trong tổng số 174 bài với tổng số lần sử dụng của các từ là 388, chiếm tỉ lệ 4,12%)

Xét về vị trí, chức năng liên kết của cấu trúc nhượng bộ và đối lập, chúng tôi có bảng thống kê dưới đây:

Vị trí, chức năng Số lần Tổng số lần Tỷ lệ Đầu câu, dùng để liên kết các câu 103

44,21% Đầu câu, dùng để liên kết các đoạn văn trong bài 2 0,86%

Giữa câu, dùng để liên kết các mệnh đề liên kết 128 54,93%

Bảng 7 : Thống kê vị trí, chức năng các cấu trúc thể hiện sự nhượng bộ và đối lập trong môn Composition

Với môn Expression Écrite 3 và 4 :

Vị trí, chức năng Số lần Tổng số lần Tỷ lệ Đầu câu, dùng để liên kết các câu 65

50,78% Đầu câu, dùng để liên kết các đoạn văn trong bài 5 3,91%

Giữa câu, dùng để liên kết các mệnh đề liên kết 58 45,31%

Bảng 8 : Thống kê vị trí, chức năng các cấu trúc thể hiện sự nhượng bộ và đối lập trong môn Composition

Sau khi thống kê các mẫu nghiên cứu lấy từ hai chương trình (chúng tôi tạm gọi chương trình đào tạo trước khoá 2012 là chương trình cũ và chương trình đào tạo từ khoá 2012 là chương trình mới), chúng tôi rút ra một số kết luận như sau : Điểm tương đồng giữa chương trình cũ và chương trình mới trong cách sử dụng, cấu trúc nhượng bộ và đối lập việc sử dụng thường xuyên liên từ mais Ngoài ra, các cấu trúc này cũng được sử dụng đa dạng trong các bài viết biện luận của sinh viên Trong chương trình cũ thì có 16 cấu trúc nhượng bộ và đối lập trong tiếng Pháp được sử dụng ; trong chương trình mới thì có 18 cấu trúc Điều đó cho thấy sinh viên đã cố gắng vận dụng linh hoạt các cấu trúc quen thuộc, gần gũi, được sử dụng thường xuyên trong giao tiếp và trong việc viết văn

Bên cạnh đó cũng có những điềm khác biệt giữa chương trình cũ và chương trình mới Trước tiên, đó là sự phân phối tần suất sử dụng phương thức, cấu trúc nhượng bộ và đối lập Tuy trong cả hai chương trình, tần suất xuất hiện của các phương thức, cấu trúc không đều nhau, nhưng trong chương trình cũ, chúng tôi thấy các phương thức, cấu trúc được sử dụng tương đối đồng đều hơn chương trình mới Điều đó cho thấy sinh viên các khoá 2010 và 2011 sử dụng linh hoạt và đa dạng các phương thức, cấu trúc hơn sinh viên các khoá 2012 và 2013 Câu trả lời cho tình huống này, là liên quan đến chương trình đào tạo Chương trình cũ trong phần kiến thức cơ bản ngành, với môn học Composition bao gồm 6 học phần được trải đều 4 năm học đại học, sinh viên có thêm nhiều thời gian để trau dồi, củng cố khả năng lập luận của mình trong cách viết, trong khi với chương trình mới, môn học Expression Écrite bao gồm 4 học phần trong phần kĩ năng thực hành tiếng được thực hành chỉ trong 2 năm đầu đại học Đây là hạn chế vì sinh viên có ít thời gian để tập viết và lập luận nâng cao.

Miêu tả và phân tích các mẫu nghiên cứu

Sau khi đã thống kê các mẫu nghiên cứu theo các hướng đã đề ra trong phần tiếp theo của chương này, chúng tôi tiến hành miêu tả và phân tích mẫu Đây là những mẫu thu thập từ các cứ liệu chúng tôi đã nêu ở phần đầu chương Trình tự mẫu được miêu tả và phân tích như sau : các phương thức, cấu trúc nhượng bộ và đối lập được sử dụng nhiều nhất, kế đến là các phương thức, cấu trúc nhượng bộ và đối lập được sử dụng ít hơn, và sau cùng là các phương thức, cấu trúc nhượng bộ và đối lập còn lại

Nhờ việc khảo sát và thu thập cứ liệu, chúng tôi thấy cách sử dụng phương thức, cấu trúc nhượng bộ và đối lập của sinh viên, nhưng tập trung chủ yếu vào việc sử dụng liên từ mais

Vị trí của liên từ này rất đa dạng Trong bảng thống kê xét về vị trí, chức năng liên kết trong câu, liên từ mais được dùng ở cả 3 vị trí : Ở vị trí đầu câu, dùng để liên kết các câu, được xem là từ nối giữa các câu (connecteur des phrases) ta có một số ví dụ sau đây lấy từ cứ liệu môn Expression Écrite :

(52) Actuellement, il y a beaucoup de restaurants et kiosques qui sont ouverts pour servir à tout le monde Mais ils ne sont pas hygiène

(53) Chaque année, des millions de mariages sont organisés sur la planète pour faire preuve de l’amour humain Mais on n’oublie jamais la vộritộ qu’un sur trois couples se divorce aprốs des annộes se ô subir en deux

(54) Les animaux ne peuvent pas vivre non plus ; les singes, les éléphants, les oiseaux,… Mais il y a encore un tigre qui peut passer l’orage

Và trong cứ liệu được lấy từ môn Composition :

(55) Pour nourrir votre famille, vous devez changer votre gỏt Mais ce n’est pas détester le rêve, on peut l’accomplir quand on a un revenu stable

(56) Il faudrait apprendre à équilibrer toutes les choses autour de nous Chacun a sa pensée Mais on a un point commun, c’est que comment gagner et comment dépenser avec une appropriation ?

Mais được dùng ở giữa câu, dùng để liên kết các mệnh đề liên kết với tần suất xấp xỉ so với vị trí đã nêu ở trên Trong cứ liệu từ các bài viết môn Composition, chúng tôi tìm thấy những ví dụ sau :

(57) Finalement, on ne sort pas de sa maison, mais on peut acheter quelque chose parce qu’on registre un membre d’un réseau social pour acheter sur Internet

(58) Etre un membre d’un ou plusieurs réseaux sociaux est peut-être indispensable dans notre société moderne mais il faut toujours être en éveil pour ne pas devenir lui dépendre et pour l’utiliser efficacement et sagement

(59) C’est très difficile pour choisir un métier mais vous devez penser au loin et à votre famille Pour accomplir votre rêve, vous avez toutes les conditions convenables Un métier en fonction du revenu qu’il rapporte est une clé de votre réussite

Và ví dụ trong cứ liệu của môn Expression Écrite :

(60) Sachant qu’aucun métier n’est facile, mais avec ma patience, ma disponibilité, je deviendrais une bonne éducatrice de petits enfants à leurs premiers pas dans la vie

(61) Deuxièmement, pour certains, la deuxième raison qui fait un mariage mauvais est la jalousie Les couples s’aiment, ils veulent attraper leurs amours, c’est pourquoi ils sont souvent en colère, jalousie C’est un gỏt pour faire un amour coloré, mais c’est même le poison qui tue l’amour entre eux

Các ví dụ trên cho thấy : liên từ mais được dùng, về mặt cú pháp, trong câu phức có mệnh đề liên kết như một yếu tố kết dính hai hay nhiều mệnh đề nhưng trong cùng một câu Vì thế, chúng tôi xem trong trường hợp này, mais là một từ nối của một câu duy nhất (connecteur d’une seule phrase – khi phrase được xem là câu có mệnh đề liên kết)

Mais ở vị trí đầu câu, dùng để liên kết các đoạn văn trong bài cũng có sự xuất hiện của mais nhưng với tần suất thấp nhất trong tất cả các vị trí:

(62) Mon père dit que c’est le métier pour la jeunesse, quand j’aurai vieilli, il m’abjurera

Mais, je pense qu’il y a beaucoup de filles suivant ce métier

(63) Ou bien, elles ont beaucoup d’ambitions pour réussir et devenir une femme à belle carrière

Mais, parce que la jeunesse a toujours le temps plus beau, elles ont perdu beaucoup de souvenirs de l’amitié, de l’amour

Mais là liên từ được các giáo trình sử dụng nhiều cũng như được giảng viên giới thiệu và dùng nhiều trong việc dạy tiếng Pháp, đồng thời liên từ này dễ sử dụng, về chức năng và cú pháp – nghĩa là việc chia động từ ở thức, thì phù hợp không là điểm gây khó khăn trong khi viết, nên được sinh viên (nhất là những sinh viên mới bắt đầu học tiếng Pháp) chuộng dùng nhiều

Về mặt này, chúng tôi lấy trở lại sự đối sánh chức năng của mais với ý niệm bác bỏ - đính chính và với ý định biện luận đã được trình bày ở chương 1 trong các ví dụ sau 24 :

(64) Pour certaines personnes, cette vie de mobilité régulière leur fait peur, mais pour moi, c’est une source d’inspiration non-limitée qui – je crois – rendra ma vie dans l’avenir plus belle et préférable

(Với một số người, cuộc sống thường xuyên phải di chuyển khiến họ sợ, nhưng với tôi, đây là một nguồn cảm hứng vô tận mà – tôi tin – sẽ khiến cuộc sống của tôi trong tương lai trở nên đẹp hơn và đáng yêu hơn)

24 Để tạo điều kiện dễ dàng cho việc so sánh giữa cấu trúc tiếng Pháp và tiếng Việt, cũng như việc phân tích lỗi sai, chúng tôi chọn dịch ví dụ (64), (65), (66) và (67) ra tiếng Viêt

(65) Une autre raison est que mon père joue de la guitare très bien, je peux l’apprendre gratuitement !

Mais la raison la plus importante est que ma petite amie aime beaucoup la guitare, et moi, je veux lui donner les plus belles mélodies

Sơ kết

Chương 3 là phần tổng hợp quan trọng những thống kê, miêu tả và phân tích cứ liệu thu thập có sử dụng phương thức, cấu trúc nhượng bộ và đối lập Trong phần này, chúng tôi đã thống kê được trong 174 bài viết môn Composition có 16 cấu trúc biểu đạt ý nhượng bộ và đối lập, và trong 54 bài viết từ môn Expression Écrite có 18 cấu trúc loại này Các cấu trúc bao gồm : mais, cependant, pourtant, bien que, malgré, en revanche, par contre, toutefois, au lieu de, tandis que, néanmoins, au contraire, or, en fait, quoique, à l’inverse, quoi qu’elle soit, ó que và contrairement Mỗi nhĩm bài viết đều có những điểm cần lưu ý : các bài viết môn Composition có số cấu trúc sử dụng không nhiều bằng, cũng như các bài viết đều tập trung sử dụng mais là chính, tuy nhiên tỉ lệ sử dụng các cấu trúc khác mais tương đối đồng đều nhau, trong các bài viết môn Expression Écrite, số cấu trúc đa dạng hơn, nhưng ngoài mais, các cấu trúc còn lại không được sử dụng nhiều, dẫn đến hiện tượng chênh lệch lớn

Số liệu thống kê cụ thể trình bày trong bảng tổng kết dưới đây :

Môn Composition Môn Expression Écrite

Cấu trúc Số lần dùng Tỷ lệ Cấu trúc Số lần dùng Tỷ lệ

Bảng 11 : Tổng kết các cấu trúc nhượng bộ và đối lập được dùng trong 2 môn học

Ngoài kết quả thu được về tỉ lệ và tính đa dạng trong cách sử dụng cấu trúc nhượng bộ và đối lập, chúng tôi cũng đã ghi nhận vị trí các cấu trúc trong bài viết :

Vị trí, chức năng Số lần Tổng số lần Tỷ lệ Số lần Tổng số lần Tỷ lệ Đầu câu, dùng để liên kết các câu

50,78% Đầu câu, dùng để liên kết các đoạn văn trong bài

Giữa câu, dùng để liên kết các mệnh đề liên kết

Bảng 12 : Tổng kết vị trí, chức năng các cấu trúc nhượng bộ và đối lập trong 2 môn học

Bên cạnh việc thống kê, chúng tôi cũng đã tiến hành miêu tả và phân tích các mẫu đã thu thập dựa trên tần suất sử dụng các liên từ chính, trong đó có các liên từ mais, cependant, pourtant và bien que và sau là các cấu trúc còn lại (malgré, en revanche, toutefois,…) Trong mỗi phần, chúng tôi đều có ghi nhận về vị trí, chức năng (khác với phần thống kê tất cả các cấu trúc), ngữ nghĩa, cú pháp và đồng thời trình bày những lỗi sai mà người viết vi phạm trong bài viết của mình Về khía cạnh ngữ nghĩa và ngữ dụng, nhất là trong liên từ mais, chúng tôi có sự vận dụng linh hoạt cả hai chức năng bác bỏ và biện luận của mais trong các bài viết ở cả hai môn học Với cependant, pourtant cũng như một số cấu trúc khác như au lieu de, au contraire, or, tandis que,…chúng tôi ghi nhận không thấy xuất hiện các lỗi sai Tuy nhiên, các lỗi sai xuất hiện ở cách dùng mais về cú pháp (sử dụng mais dư thừa khi đã sử dụng các cấu trúc khác), lỗi sai về ngữ nghĩa (sử dụng mais giữa các ý nhưng không thấy được biểu đạt nhượng bộ hay đối lập trong câu ; ở cách dùng bien que hay quoique, ngoài sai về cú pháp (sử dụng chung với mais), còn có lỗi về ngữ pháp (chia sai động từ của mệnh đề đi với những từ dẫn này, người viết chia động từ ở thức trực thuyết thay vì chia đúng là ở thức liên thuộc)

Tóm lại, kết thúc chương 3, chúng tôi có được cái nhìn đa dạng hơn về việc sử dụng các cấu trúc chỉ sự nhượng bộ và đối lập của người học tiếng Pháp, cụ thể là các sinh viên khoa Ngữ Văn Pháp Cái nhìn này giúp chúng tôi nhận biết tình hình hiện tại của sinh viên khi sử dụng : biết ứng dụng những điều được học vào trong thực hành, vận dụng đa dạng các cấu trúc, sử dụng đúng những cấu trúc quen thuộc tuy vẫn còn một số lỗi sai ở những cấu trúc ít gặp, hoặc không tương đồng về mặt ngữ nghĩa và cú pháp giữa tiếng Việt và tiếng Pháp Ngoài ra các yếu tố về chương trình có thể có ảnh hưởng ít nhiều đến việc sử dụng này (như chúng tôi đã nêu ở phần sơ kết của chương

Như chúng ta đã biết, giữa các ngôn ngữ luôn có sự khác biệt, cả về hình thức lẫn ngữ pháp Để thông thạo hai hay nhiều ngôn ngữ, người sử dụng ngôn ngữ đó phải có một kiến thức nhất định về ngôn ngữ mà mình đang sử dụng, phải hiểu được những đặc trưng cũng như khác biệt giữa ngoại ngữ đang hướng tới và ngôn ngữ mẹ đẻ Chính vì vậy, các cấu trúc nhượng bộ và đối lập cũng có nhiều điểm khác biệt giữa hai ngôn ngữ Pháp – Việt mà đề tài của chúng tôi có đề cập đến Ở nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu cách sử dụng các phương thức, cấu trúc chỉ sự nhượng bộ và đối lập của người học tiếng Pháp nói chung và sinh viên khoa Pháp nói riêng

Nhờ thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi có cơ hội tìm hiểu một cách cặn kẽ về cấu trúc nhượng bộ và đối lập trong tiếng Pháp, và từ đó nhận ra một số ngộ nhận về những cấu trúc ngỡ như rất quen thuộc này Thông qua nghiên cứu, chúng tôi đã tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: “Sinh viên có thường xuyên sử dụng các cấu trúc chỉ sự đối lập - nhượng bộ và có sử dụng đa dạng các phương thức, cấu trúc chỉ sự đối lập – nhượng bộ không? Nếu có thì đó là những phương thức, cấu trúc nào?” Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy đã giới thiệu được một cách cụ thể, trực quan và đa dạng cú pháp và cách sử dụng của các cấu trúc đối lập – nhượng bộ Nhưng trong nghiên cứu này, tham vọng dịch các cấu trúc chỉ sự đối lập – nhượng bộ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và ngược lại của chúng tôi chưa thực hiện được Do các nét nghĩa tương đương của các cấu trúc này trong từ điển Pháp Việt – Việt Pháp mà chúng tôi đã tham khảo không tương thích nên việc dịch chúng không thể chỉ dựa trên các nghĩa tương đương trong từ điển mà cần tuân thủ theo một qui trình dịch có tính đến các đặc trưng về ngữ nghĩa và ngữ dụng của các liên từ trong tiếng Việt và tiếng Pháp, vì vậy, để thực hiện ý tưởng nghiên cứu này, cần đầu tư nhiều và kĩ lưỡng hơn

Qua những kết quả thu được từ nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy sự khác biệt về cách sử dụng các cấu trúc chỉ sự đối lập – nhượng bộ của sinh viên qua hai chương trình đào tạo mới và cũ Những khác biệt trên có thể là do sự khác nhau trong hai chương trình đào tạo Trong chương trình cũ, môn học về ngữ pháp (grammaire) được

Trang | 54 chú trọng và đi sâu hơn, bên cạnh đó môn viết (composition) được trải đều trong các năm học, giúp sinh viên có một nền tảng kiến thức ngữ pháp vững chắc và được luyện tập nhiều hơn Điều này giúp cho sinh viên không ngần ngại sử dụng phong phú và đa dạng các cấu trúc Còn trong chương trình đào tạo mới, sinh viên tiếp cận ngữ pháp tiếng Pháp thông qua các môn học kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết, chứ không được đi sâu và cặn kẽ ngữ pháp trong một môn học nào Có lẽ điều này đã làm cho sinh viên ngần ngại trong việc sử dụng các cấu trúc mới và họ chỉ đi theo phương án an toàn là sử dụng các cấu trúc đơn giản và quen thuộc Các sinh viên được đào tạo theo chương trình cũ sử dụng các cấu trúc chỉ sự đối lập – nhượng bộ phong phú và ít có lỗi sai hơn các sinh viên được đào tạo theo chương trình mới Đề tài nghiên cứu của chúng tôi liên quan đến các phương thức và cách sử dụng cấu trúc chỉ sự nhượng bộ - đối lập trong tiếng Pháp và tiếng Việt Chính vì vậy, người học tiếng Pháp có thể tìm thấy ở nghiên cứu của chúng tôi cách sử dụng, cú pháp của các cấu trúc nhượng bộ - đối lập, những điểm tương đồng và khác biệt của những cấu trúc ấy khi đối chiếu giữa tiếng Pháp và tiếng Việt Chúng tôi hi vọng thông qua nghiên cứu này, người học tiếng Pháp nói chung và sinh viên khoa Pháp nói riêng có thể tìm thấy cho mình những thông tin hữu ích cho việc sử dụng các cấu trúc này Ngoài ra, việc tổ chức những buổi nói chuyện về chuyên đề này trong sinh viên cũng là một trong những ý tưởng đưa đề tài vào ứng dụng thực tiễn của chúng tôi

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:13

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w