1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác nghệ thuật múa rối nước trong việc phát triển du lịch tại thành phố hồ chí minh

98 56 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ hướng nghiên cứu trên, đề tài “Khai thác nghệ thuật múa rối nước trong việc phát triển du lịch tại TP.HCM” được thực hiện với mục đích giới thiệu bộ môn nghệ thuật múa rối

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: TS Ngô Thanh Loan

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Hồng Văn Lợi (MSSV: 1356180043, Khóa 2013 – 2017)

Thành viên: Ngô Huỳnh Thủy Tiên (MSSV: 1356180092, Khóa 2013 – 2017)

Nguyễn Phước Tiến (MSSV: 1356180094, Khóa 2013 – 2017) Phan Thị Ý Nhi (MSSV: 1256180075, Khóa 2012 – 2016)

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC HÌNH ẢNH v

TÓM TẮT 1

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

7 Kết cấu đề tài 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 9

1.1 Cơ sở lí luận về du lịch 9

1.1.1 Khái niệm du lịch 9

1.1.2 Khái niệm khách du lịch 10

1.1.3 Tài nguyên du lịch 12

1.2 Nghệ thuật múa rối nước 15

1.2.1 Khái niệm múa rối nước 15

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam 16

1.2.3 Đặc điểm của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam 18

1.2.3.1 Nghệ thuật tạo hình con rối trong múa rối nước Việt Nam ……… 18

1.2.3.2 Thiết kế mỹ thuật sân khấu trong múa rối nước dân gian ……… 19

1.2.3.3 Kỹ thuật máy móc điều khiển trong múa rối nước ……… 22

1.2.4 Giá trị của múa rối nước Việt Nam 24

1.2.4.1 Giá trị giáo dục ……… 24

1.2.4.2 Giá trị nhận thức……… 24

1.2.4.3 Giá trị thẩm mĩ ……… 24

1.2.4.4 Giá trị giải trí ……… 25

Trang 3

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT 27

2.1 Tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh 27

2.1.1 Vị trí địa lý 27

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 28

2.1.3 Đặc điểm về kinh tế xã hội 29

2.1.4 Thực trạng phát triển du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh 29

2.2 Kết quả phân tích nội dung phỏng vấn sâu 30

2.2.1 Quá trình du nhập, phát triển và duy trì nghệ thuật múa rối nước tại thành phố Hồ Chí Minh 31 2.2.2 Các trò diễn 32

2.2.3 Đối tượng khách 33

2.2.4 Tổ chức hoạt động biểu diễn 33

2.3 Kết quả việc khảo sát ý kiến khách du lịch về múa rối nước 35

2.3.1 Đặc điểm của khách du lịch được khảo sát 37

2.3.1.1 Quốc tịch của khách du lịch ……… 37

2.3.1.2 Nhóm tuổi và giới tính ……… 39

2.3.1.3 Thời gian lưu trú tại Thành phố Hồ Chí Minh ……… 41

2.3.1.4 Hình thức tiếp cận nghệ thuật múa rối nước ……… 42

2.3.2 Đánh giá của khách du lịch về chất lượng cơ sở vật chất – kỹ thuật 43

2.3.2.1 Chất lượng âm thanh ……….44

2.3.2.2 Chất lượng ánh sáng ……… 46

2.3.2.3 Chất lượng sân khấu ……… 48

2.3.2.4 Chất lượng chung về cơ sở vật chất – kỹ thuật ……….50

2.3.3 Mong muốn của khách du lịch 51

2.3.3.1 Dịch cốt truyện, lời thoại ……… 51

2.3.3.2 Mua quà lưu niệm (con rối) ……… 53

2.3.3.3 Tham quan địa điểm chế tạo rối nước ……… 56

2.3.4 Ý định của khách du lịch 58

2.3.4.1 Xem lại biểu diễn múa rối nước ………58

2.3.4.2 Giới thiệu múa rối nước đến bạn bè, gia đình,… ……… 60

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC HIỆU QUẢ MÚA RỐI NƯỚC 63

Trang 4

3.1 Nhận xét chung thực tế khai thác múa rối nước tại hai địa điểm nghiên cứu 63

3.2 Giải pháp khai thác hiệu quả múa rối nước 65

3.2.1 Giải pháp về công tác tổ chức – quản lí 65

3.2.1.1 Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức ……… 65

3.2.1.2 Nguồn nhân lực ……… 67

3.2.1.3 Tổ chức các hoạt động giao lưu ……… 68

3.2.1.4 Chính sách hỗ trợ của nhà nước ………69

3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ 70

3.2.2.1 Giải pháp phục hồi các trò cổ, đồng thời sáng tạo nên trò mới ……… 70

3.2.2.2 Mô hình xã hội hóa tổ chức biểu diễn múa rối nước ……… 71

3.2.3 Giải pháp quảng bá múa rối nước 72

3.3 Đề xuất một số mô hình kết hợp múa rối nước 75

3.3.1 Mô hình tham quan các di tích ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh kết hợp thưởng thức biểu diễn múa rối nước 75

3.3.2 Mô hình kết hợp Nhà hát múa rối nước và nhà trưng bày nghệ thuật múa rối nước 77

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 1 85

PHỤ LỤC 2 86

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1: Số lượng khách du lịch phân theo khu vực 37

Bảng 2: Nhóm tuổi và giới tính 39

Bảng 3: Hình thức tiếp cận nghệ thuật múa rối nước 42

Bảng 4: Đánh giá chất lượng âm thanh 44

Bảng 5: Đánh giá chất lượng ánh sáng 46

Bảng 6: Đánh giá chất lượng sân khấu 48

Bảng 7: Đánh giá chung chất lượng cơ sở vật chất – kỹ thuật 50

Bảng 8: Mong muốn dịch cốt truyện, lời thoại 52

Bảng 9: Mong muốn mua quà lưu niệm (con rối) 54

Bảng 10: Mong muốn tham quan địa điểm chế tạo rối 57

Bảng 11: Ý định xem lại biểu diễn múa rối nước 58

Bảng 12: Ý định giới thiệu múa rối nước đến bạn bè, gia đình,… 61

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Trang

Hình 1: Cơ cấu khách du lịch phân theo khu vực 37

Hình 2: Thời gian lưu trú tại TP.HCM 41

Hình 3: Âm thanh trình diễn tại Sân khấu Rồng Vàng 45

Hình 4: Ánh sáng tại Bảo tàng Lịch sử 47

Hình 5: Ánh sáng tại Sân khấu Rồng Vàng 47

Hình 6: Sân khấu tại Bảo tàng Lịch sử 49

Hình 7: Sân khấu tại Sân khấu Rồng Vàng 49

Hình 8: Brochure giới thiệu múa rối nước tại Sân khấu Rồng Vàng 53

Hình 9: Trưng bày rối nước ở Bảo tàng Lịch sử 56

Hình 10: Trưng bày rối nước ở Sân khấu Rồng Vàng 56

Hình 11: Sơ đồ nhà trưng bày nghệ thuật múa rối nước tại sân khấu Rồng Vàng (đề xuất của nhóm tác giả) 79

Trang 7

Khi tiến hành quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành đi thực tế đến hai điểm múa rối nước điển hình ở thành phố Hồ Chí Minh, khảo sát khách du lịch quốc tế thông qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp với quản lý của đoàn múa rối nước Chúng tôi đã có được những thông tin đánh giá về hoạt động múa rối nước

từ phía khách du lịch, lắng nghe chia sẻ của họ sau khi xem múa rối nước tại thành phố Hồ Chí Minh Từ kết quả khảo sát, chúng tôi đưa ra nhận xét của mình về kết quả đó cũng như những điều ghi chú được trong quá trình đi thực tế đến các cơ sở múa rối nước Bên cạnh đó, những thông tin từ quản lý của các đoàn múa rối nước

là những thông tin quan trọng và cần thiết cho chúng tôi hiểu sâu hơn về công tác

tổ chức cũng như cách thức hoạt động của từng đoàn múa rối nước

Kết quả chúng tôi có được từ khảo sát thực tế trở thành nguồn tư liệu bổ ích, đồng thời dựa trên thông tin thu được từ hai đoàn múa rối nước, chúng tôi đưa

ra nhận xét chung về hoạt động múa rối nước trong việc thu hút khách du lịch Ngoài ra, chúng tôi cũng so sánh thông tin thu được từ hai địa điểm khảo sát để thấy được điểm mạnh, điểm yếu của từng nơi Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đưa ra những kiến giải khai thác múa rối nước phục vụ du lịch và trình bày những ý tưởng trong việc khai thác múa rối nước như xây dựng chương trình tour, kết hợp trình diễn múa rối nước trong khu phức hợp nhằm khai thác nghệ thuật múa rối nước trong phát triển du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh hiệu quả hơn

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Du lịch được xem là ngành công nghiệp không khói, là “con gà đẻ trứng vàng” của hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngày nay, du lịch đã trở thành một hoạt động không thể thiếu, trở thành một phần trong cuộc sống hiện đại của con người Sự phát triển của ngành du lịch gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người Khi hoạt động du lịch trở nên phổ biến thì việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch là một điều cần thiết Du lịch không chỉ đơn thuần là tham quan ngắm cảnh

mà còn là việc đi đến và thẩm thấu những giá trị văn hóa tinh thần tại điểm đến

Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian độc đáo, ra đời từ nền văn minh lúa nước Nghệ thuật múa rối nước

đã trở thành một nét đặc sắc trong văn hóa của Việt Nam, ngày càng thu hút sự quan tâm của bạn bè quốc tế Phát triển múa rối nước gắn với hoạt động du lịch không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà còn góp phần vào việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc

Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là một trong những trung tâm kinh tế - chính trị đồng thời cũng chính là một trung tâm du lịch lớn của cả nước TP.HCM hội tụ đầy đủ những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Bên cạnh việc tham quan các công trình kiến trúc, bảo tàng hay những di tích lịch sử thời kháng chiến chống Pháp – Mĩ; thì hiện nay, thành phố còn chú trọng việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống Trong đó, việc khai thác nghệ thuật múa rối nước trong hoạt động du lịch đang là một trong những hướng phát triển sản phẩm du lịch của thành

phố Xuất phát từ hướng nghiên cứu trên, đề tài “Khai thác nghệ thuật múa rối nước trong việc phát triển du lịch tại TP.HCM” được thực hiện với mục đích

giới thiệu bộ môn nghệ thuật múa rối nước và qua đó tìm hiểu về thực trạng khai thác loại hình nghệ thuật này trong hoạt động du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm khai thác các giá trị đặc trưng của nghệ thuật

Trang 9

múa rối nước phục vụ phát triển du lịch và góp phần vào việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch tại TP.HCM

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

Nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa một cách chọn lọc khái niệm về múa rối nước và những vấn

đề lí luận liên quan đến múa rối nước để làm cơ sở cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu múa rối nước và tình hình khai thác nghệ thuật múa rối nước phục vụ phát triển du lịch tại TP.HCM

- Khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu các trưởng đoàn múa rối chuyên nghiệp tại hai địa điểm nghiên cứu (Cung Văn hóa lao động và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam); điều tra bảng hỏi khách du lịch quốc tế về thị hiếu, nhu cầu và đánh giá của

họ về hoạt động múa rối nước tại hai địa điểm nghiên cứu nói trên

- Đánh giá, nêu được điểm mạnh, điểm yếu của từng địa điểm nghiên cứu

và đề xuất những giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả nghệ thuật múa rối nước trong phát triển du lịch ở TP.HCM hiện nay

3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

 Đối tƣợng nghiên cứu:

Trang 10

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động múa rối nước trên địa bàn TP HCM, đặc biệt chú trọng đến giá trị văn hóa – nghệ thuật của loại hình múa rối nước trong phục vụ phát triển du lịch

Phạm vi nghiên cứu:

Múa rối nước có nguồn gốc từ Bắc bộ và được du nhập vào miền Nam, hiện nay ở TP HCM có rất nhiều điểm tổ chức biểu diễn múa rối nước chính thức như Cung văn hóa lao động (55B, Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1), Bảo tàng Lịch

sử Việt Nam (số 02, Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1) và Nhà hát Thành phố (công trường Lam Sơn, quận 1),… Với khả năng và trong giới hạn không gian, thời gian cho phép, chúng tôi thực hiện đề tài tại 2 điểm được xem là tiêu biểu nhất và mang nét đặc thù về cách quản lý và hoạt động là: Cung văn hóa lao động và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Trong đó, chúng tôi sẽ tập trung khai thác thông tin về mức độ hoạt động tại 2 điểm trong việc biểu diễn múa rối nước phục vụ khách du lịch, khả năng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch về nghệ thuật truyền thống – múa rối nước (lực lượng nghệ nhân, trang bị về cơ sở vật chất kỹ thuật,…), mức đánh giá của khách du lịch quốc tế về loại hình nghệ thuật truyền thống này của Việt Nam

Từ đó, chúng tôi sẽ có cái nhìn cụ thể, nhận biết được thị hiếu của khách du lịch, xem xét khả năng hoạt động tại các điểm trình diễn và đề xuất những ý kiến cho việc bảo tồn, phát huy và giới thiệu múa rối nước thông qua phát triển du lịch tại

TP HCM

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài thực hiện dựa trên các phương pháp sau:

 Thu thập và phân tích dữ liệu từ các cơ quan ban ngành có liên quan, bao gồm:

- Nhà hát múa rối nước Rồng Vàng, số 55B Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Thành, quận 1, TP.HCM

- Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – chi nhánh TP.HCM, số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, TP.HCM

Trang 11

- Đoàn nghệ thuật Phương Nam, 372 - 374 Trần Phú, phường 7, quận 5, TP.HCM

 Phương pháp phỏng vấn sâu cán bộ quản lí đoàn múa rối nước tại Bảo tàng Lịch sử và tại nhà hát múa rối nước Rồng Vàng Buổi phỏng vấn được thực hiện vào tháng 12 năm 2014 và tháng 1 năm 2015

- Ông Thái Ngọc Hải – Trưởng đoàn phụ trách biểu diễn múa rối nước tại Bảo tàng Lịch sử

- Ông Châu Huỳnh Lâm – Trưởng đoàn quản lí nhà hát múa rối nước Rồng Vàng

5 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian độc đáo, ra đời từ nền văn minh lúa nước Có nguồn gốc từ các tỉnh Bắc Bộ và được du nhập vào miền Nam, đặc biệt là TP.HCM, ngày nay múa rối nước đã trở thành một sản phẩm nghệ thuật vô cùng độc đáo Chính vì lẽ đó có rất

Trang 12

nhiều đề tài nghiên cứu múa rối nước với rất nhiều khía cạnh khác nhau không phải là điều quá mới lạ

Về cơ sở hình thành và giá trị văn hóa của múa rối nước Việt Nam, luận án

tiến sĩ văn hóa học của Lê Thị Thu Hiền - trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội – “Cơ

sở hình thành và giá trị văn hóa của Múa rối nước Việt Nam” năm 2014 đã phản

biện thành công và được đánh giá cao Luận án đã lý giải sự hình thành, tồn tại, phát triển của múa rối nước trong tiến trình lịch sử xuất phát từ cơ sở văn hóa Việt Nam; phân tích, hệ thống những giá trị văn hóa của múa rối nước Việt Nam Đồng thời luận án đã đưa ra quan điểm, định hướng, giải pháp, khuyến nghị bảo tồn và phát triển múa rối nước, giúp cho các nghệ sĩ, nhà quản lý, các đơn vị nghệ thuật có được những suy nghĩ, lựa chọn đúng đắn về đường lối phát triển của nghệ thuật múa rối nước phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước

Công trình nghiên cứu cấp Bộ (năm 2005 – 2006) của GS Hoàng Chương

“Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển múa rối nước dân gian”, công

trình đã khái quát một cách chi tiết đặc điểm múa rối nước dân gian; hệ thống các giá trị thẩm mĩ được cấu thành trong từng thành tố múa rối nước (mỹ thuật sân khấu múa rối nước, tạo hình múa rối nước dân gian, kỹ thuật máy móc điều khiển múa rối nước) Giáo sư đã nêu rõ thực trạng khai thác múa rối nước dân gian ở các phường múa rối nước, đặc biệt là Bắc Bộ, đồng thời phân tích rõ đóng góp của múa rối chuyên nghiệp đối với múa rối dân gian Quan trọng hơn hết, công trình

đã định hướng phát triển múa rối nước và đưa ra nhiều giải pháp hiệu quả để bảo tồn và phát huy múa rối nước

Nói riêng về các đề tài nghiên cứu cụ thể về mối quan hệ giữa múa rối nước

và du lịch; khai thác múa rối nước phục vụ trong du lịch; đã có các đề tài xoay quanh về nhà hát múa rối Thăng Long, Nhà hát múa rối Việt Nam, bảo tàng dân

tộc học và cả trên phạm vi Bắc Bộ Đặc biệt đề tài: “Khai thác các giá trị văn hóa

của nghệ thuật múa rối nước ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam phục vụ phát triển du lịch” của Trần Thị Minh, năm 2012 đã làm rõ thực trạng khai thác các giá

trị văn hóa của múa rối nước phục vụ phát triển du lịch tại Bắc Bộ Dựa vào những

Trang 13

thành tựu, thực trạng, phân tích kiến giải, đề tài đã đề xuất nhiều giải pháp bảo tồn múa rối nước nhưng dưới góc nhìn khai thác và phục vụ trong du lịch

Tuy nhiên phần nhiều các đề tài nêu trên đều tập trung khai thác múa rối nước dưới góc nhìn là múa rối nước dân gian hay chỉ tập trung nghiên cứu tại đồng bằng Bắc Bộ Các đề tài nghiên cứu về nghệ thuật múa rối nước dưới góc độ khai thác vào hoạt động du lịch tại TP.HCM chưa có nghiên cứu cụ thể Đề tài

“Khai thác nghệ thuật múa rối nước trong việc phát triển du lịch tại thành phố

Hồ Chí Minh” là đề tài mới, chưa có nghiên cứu trước đây, hy vọng sẽ trở thành

nguồn tư liệu bổ ích cho các nghiên cứu tiếp theo

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 14

loại hình nghệ thuật này trong thời gian tới, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch từ múa rối nước, không chỉ đơn thuần xem biểu diễn mà khách du lịch còn được tham quan phòng trưng bày, nghe giới thiệu về sự hình thành và phát triển của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam

Hy vọng những đề xuất của đề tài sẽ là nền tảng cho việc nghiên cứu, phát triển đi lên để ứng dụng vào thực tiễn, góp phần đưa nghệ thuật múa rối nước đến nhiều hơn với khách du lịch trong nước và quốc tế

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung đề tài được phát triển trong ba chương với những nội dung chính sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Ở chương này chúng tôi sẽ trình bày những khái niệm, cơ sở lí thuyết về du lịch và múa rối nước cũng như những đặc trưng liên quan; tổng quan về TP.HCM

và thực trạng khai thác du lịch tại thành phố để làm nền tảng, cơ sở lí luận khoa học cho việc nghiên cứu đề tài

Chương 2: Kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu

Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bài kết quả khảo sát tại hai địa điểm nghiên cứu thông qua phỏng vấn sâu quản lí và khảo sát ý kiến của khách du lịch quốc tế về múa rối nước

Chương 3: Đề xuất giải pháp khai thác hiệu quả nghệ thuật múa rối nước

Tập trung trình bày những giải pháp để khai thác hiệu quả nghệ thuật múa rối nước trong việc phát triển du lịch tại TP.HCM

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

Trong chương này, chúng tôi trình bày những khái niệm về du lịch, khách du lịch, các tài nguyên du lịch và mối liên hệ của hoạt động múa rối nước với du lịch

1.1 Cơ sở lí luận về du lịch

1.1.1 Khái niệm du lịch

Du lịch là hoạt động đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của con người và ngành du lịch đang phát triển một cách mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới Mặc dù thế, du lịch vẫn chưa có một khái niệm thống nhất

do hoàn cảnh và góc độ nghiên cứu khác nhau của những nhà nghiên cứu

Theo nhà kinh tế học Kalfiotis: “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”

Theo Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện và PGS Trần Nhạn, trong cuốn “Du lịch

và kinh doanh du lịch” thì: “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi

quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền”

Định nghĩa của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn

ra vào tháng 6/1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”

Tổ chức Du lịch Thế giới cũng có định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của một cá nhân đi đến là lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở

Trang 16

thường xuyên của họ trong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ và mục đích khác”

Theo Luật du lịch Việt Nam ban hành vào năm 2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (điều 4, chương 1, Luật du lịch Việt Nam 2005).1

Có thể nói một cách khái quát, du lịch là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rãnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cử trú thường xuyên nhằm mục đích riêng, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ các dịch vụ do các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch cung ứng Tuy nhiên, qua các góc độ tiếp nhận định nghĩa về du lịch, đề tài dựa vào định nghĩa du lịch được ban hành trong Luật

du lịch Việt Nam để làm cơ sở lí luận bổ trợ cho việc đi sâu nghiên cứu về các vấn

đề liên quan đến hoạt động du lịch

1.1.2 Khái niệm khách du lịch

Khái niệm

Do cách tiếp cận và tình hình thực tế ở mỗi quốc gia mà lại có một cách hiểu, định nghĩa khác nhau về khái niệm khách du lịch Ở nước ta theo Luật du lịch được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua, khách du lịch có thể được hiểu như sau:

Khách du lịch là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào việc Việt Nam du lịch Khách du lịch là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

Như vậy có thể hiểu khách du lịch là người từ nơi khác đến vào thời gian rãnh rỗi của họ với nhiều mục đích khác nhau và kèm theo đó là việc tiêu thụ các dịch vụ do các cở sở kinh doanh dịch vụ du lịch cung ứng

1 Nguyễn Minh Tuệ, Lê Thông, Vũ Đình Hòa, Lê Mỹ Dung, Nguyễn Trọng Đức, Lê Văn Tin, Trần Ngọc

Điệp (2011), Địa lí du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr 5-6

Trang 17

Phân loại khách du lịch

Ngày 4/3/1993 theo đề nghị của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO), Hội nghị thống kê Liên hợp quốc (United Nations Statistical Commission) đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:

a Khách du lịch quốc tế (International Tourist) bao gồm:

 Khách du lịch quốc tế đến (Inbound Tourist): gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia

 Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound Tourist): gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch ra nước ngoài

b Khách du lịch trong nước (Internal Tourist) bao gồm:

 Khách du lịch nội địa (Domestic Tourist): gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến

 Khách du lịch quốc gia (National Tourist): gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài

Theo Luật du lịch Việt Nam ban hành năm 2005: Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế:

 Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

 Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư

ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

Ngoài ra còn có các cách phân loại khác:

 Phân loại khách du lịch theo nguồn gốc dân tộc

 Phân loại theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp

 Phân loại khách theo khả năng thanh toán

Đề tài chỉ giới thiệu một số cách phân loại thông dụng Tùy theo điều kiện

và hình thức mà khách du lịch được phân loại khác nhau theo nhóm Mỗi cách phân loại đều có ưu nhược điểm riêng vì vậy khi nghiên cứu khách du lịch cần kết hợp nhiều cách phân loại, việc phân loại khách du lịch một cách đầy đủ, chính xác

Trang 18

sẽ tạo tiền đề cho việc hoạch định các chiến lược, chính sách kinh doanh từ đó việc kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hơn

1.1.3 Tài nguyên du lịch

Khái niệm:

Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch Vì vậy, sức hấp dẫn du lịch của một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên du lịch của địa phương đó

Tài nguyên du lịch theo Pirojnik: “Là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho sự phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc du lịch hiện đại và tương lai, trong khả năng kinh tế, kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”2

Theo các nhà khoa học du lịch Trung Quốc định nghĩa là: “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành

du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế- xã hội và môi trường đầu có thể gọi là tài nguyên du lịch”3

Theo khoản 4 (điều 4, chương 1) Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”

2 Pirojnik, Cơ sở địa lí dịch vụ và du lịch (Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải biên dịch), 1985, tr.57

3 Ngô Tất Hổ (Trần Đức Thanh, Bùi Thanh Hương biên dịch), Phát triển và quản lí du lịch địa phương,

Nxb khoa học Bắc Kinh, 2000, tr.41

Trang 19

Như vậy, tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển du lịch Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc có mức độ tập trung cao thì có sức hấp dẫn với khách du lịch và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao

Từ những nhận xét trên, ThS Bùi Thị Hải Yến cho rằng tài nguyên du lịch:

“Là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo

ra có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành

Du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường”4

Phân loại tài nguyên du lịch:

Để tiến hành nghiên cứu, quản lý, bảo tồn, tôn tạo, phát triển và khai thác tài nguyên du lịch có hiệu quả theo hướng bền vững, cần phải tiến hành phân loại tài nguyên du lịch khoa học và phù hợp Việc phân loại tài nguyên du lịch tuân theo những tiêu chí nhất định, tùy theo mỗi quốc gia có nhiều cách phân loại khác nhau, đảm bảo cân bằng giữa quy hoạch bảo tồn và phát triển du lịch

Tổ chức Du lịch thế giới (1997) đã xây dựng hệ thống phân loại tài nguyên

du lịch thành 3 loại, 9 nhóm gồm: Loại cung cấp tiềm tàng (3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vạn động); loại cung cấp hiện tại (gồm 3 loại và 9 nhóm: đường sá, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kỹ thuật gồm 3 nhóm tính năng: hoạt động du lịch, cách thức và tiềm lực khu vực

Tuy nhiên, ở đề tài này, tác giả căn cứ vào Luật du lịch Việt Nam để phân loại tài nguyên du lịch Theo đó, tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác

- Tài nguyên du lịch tự nhiên

Khái niệm: Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình,

địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch (Khoản 1, Điều 13, Chương

2, Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005)

4

Bùi Thị Hải Yến (chủ biên), Phạm Hồng Long, Tài nguyên du lịch, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.19-

20

Trang 20

Đặc điểm:

 Tài nguyên du lịch tự nhiên có thể được xếp vào loại tài nguyên vô tận, tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc có quá trình suy thoái chậm nếu quá trình quy hoạch bảo vệ, khai thác hợp lí và hướng tới sự phát triển du lịch bền vững

 Tài nguyên du lịch thiên nhiên chịu ảnh hưởng và bị chi phối bởi đặc điểm thời tiết và khí hậu

 Nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên thường nằm cách xa khu dân cư

- Tài nguyên du lịch nhân văn

Khái niệm: Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu

tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch (Khoản 2, Điều 13, Chương 2, Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005)

Phân loại: Tài nguyên du lịch nhân văn được chia làm 2 loại là tài nguyên

du lịch nhân văn vật thể (các di tích lịch sử, các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật kỷ niệm, bảo vật quốc gia) Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể (các lễ hội, nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa

ẩm thực, phong tục tập quán,…)

Đặc điểm:

 Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động của thời gian, thiên nhiên và do chính con người Vì vậy dễ bị suy thoái, hủy hoại và không có khả năng tự phục hồi ngay cả khi không có sự tác động của con người

 Tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang những đặc sắc riêng tạo nên sức hấp dãn đối với khách du lịch

 Tài nguyên du lịch nhân văn là sản phẩm do con người tạo ra nên phân

bố gần khu dân cư gắn liền với sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng

Trang 21

Tiểu kết: Với đề tài của chúng tôi tập trung tìm hiểu về múa rối nước – một

loại hình sân khấu dân gian đặc sắc của Việt Nam Theo định nghĩa trên về tài nguyên du lịch, đặc biệt tài nguyên du lịch nhân văn, chúng tôi nhận thấy rằng múa rối nước là một sản phẩm tuyệt vời do người Việt sáng tạo ra, là một nét đặc trưng của Việt Nam hấp dẫn khách du lịch Vì vậy, chúng tôi làm đề tài về khai thác múa rối nước trong hoạt động kinh doanh du lịch sẽ góp phần khai thác có hiệu quả một loại hình nghệ thuật dân gian và giới thiệu về múa rối nước đến với bạn bè quốc tế

1.2 Nghệ thuật múa rối nước

1.2.1 Khái niệm múa rối nước

Múa rối nước có nhiều cách hiểu, cách giải thích khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm và cách tiếp cận mà nảy sinh các quan niệm, khái niệm khác nhau về

múa rối nước Dưới đây là khái niệm của một số tác giả mà nhóm nghiên cứu đã

tìm hiểu và nghiên cứu được:

Theo Tô Sanh: “Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu mà chỗ diễn của con rối là mặt nước ao, hồ hay bể rộng Buồng trò của người điều khiển

là một cái nhà cất giữa ao hồ hoặc sát một mé hồ Người điều khiển ngâm mình dưới nước nấp sau bức mành điều khiển con rối, thông thường bằng gỗ hoặc bằng chất liệu không thấm nước, bằng cách giật dây hoặc khua sào có đính con rối ở dây và đầu sào Nước che kín các loại que, dây, máy điều khiển bên dưới nước Múa rối nước là một bộ môn nghệ thuật sân khấu nước kỳ lạ chỉ còn thấy ở Việt Nam” 5

Theo Hoàng Kim Dung: “Rối nước thực chất là loại rối máy, rối dây diễn trên mặt nước, là một nghệ thuật độc đáo của Việt Nam Chỉ có ở Việt Nam mới

có loại hình nghệ thuật này” 6

5 Tô Sanh, Nghệ thuật múa rối nước, Nxb Văn hóa Hà Nội, 1976, tr 37

6 Hoàng Kim Dung, Về nghệ thuật múa rối, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 3/1993

Trang 22

Theo Lý Khắc Cung: “Múa rối nước là sản phẩm của nhân dân lao động Việt Nam trong một thời gian lịch sử nhất định Nó thuộc loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống phản ánh tâm tư, tình cảm của cộng đồng” 7

Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả chấp nhận khái niệm múa rối nước của

Tô Sanh, như một khái niệm mang tính tương đối hoàn chỉnh để làm căn cứ tiếp tục phát triển những lí luận của mình

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam

Ngược dòng lịch sử tìm hiểu về sự ra đời và phát triển của loại hình nghệ thuật này, qua một số những công trình nghiên cứu của những nghệ sĩ, nhà nghiên cứu về nghệ thuật múa rối nước thì múa rối nước ở Việt Nam đã có từ lâu đời trong lịch sử, gắn liền với nền văn minh lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ

Theo GS Trần Văn Khê và nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng thì nguồn gốc xuất xứ múa rối nước cho đến nay chưa ai biết chính xác Nhiều nghệ nhân lão thành đã có nhắc lại theo trí nhớ về nguồn gốc ra đời của múa rối nước nhưng chưa có đủ căn cứ và số liệu chính xác để khẳng định tính đúng đắn của nó Tuy nhiên một căn cứ mà thường hay nhắc đến khi nói về nguồn gốc múa rối nước đó

là từ bia “Sùng Thiện Diên Linh” của thời đại nhà Lý mà hiện nay đang được đặt tại chùa Long Đọi, xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Bia “Sùng Thiện Diên Linh” tên đầy đủ là tấm bia “Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh” do Nguyễn Công Bật – Thượng thư bộ hình của vua Lý Nhân Tông viết ra và dâng lên vua năm 1121 Nếu căn cứ vào bia đó thì múa rối nước ra đời vào thế kỉ XII, nhưng lại mâu thuẫn với lời văn trong bia “sau khi thể nghiệm lâu đời, thấy trò này rất vui nên mới dâng lên vua xem ở tại sông Lô”, nếu đã thể nghiệm lâu đời thì múa rối nước có thể có trước thế kỉ XI hoặc XII.8

7

Lý Khắc Cung, Chân dung nghệ thuật múa rối nước Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 2006

8 Hoàng Chương, Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển múa rối nước dân gian, Công trình

NCKH cấp Bộ, 2005 – 2006

Trang 23

Trong khi ở Trung Quốc có cuốn sách nói về các loại múa rối nước mà người Trung Quốc gọi là “Xuẩy quẩy lỳ” và kết luận rằng hình thức múa rối nước này xuất hiện từ thời nhà Tống (thế kỉ IX), trước thời nhà Lý ở Đại Việt Chính vì thế có nhiều người lập luận rằng múa rối nước của Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc Nhưng có một điều cần phải khẳng định, nếu múa rối nước từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam thì phải thông qua triều đình rồi mới đưa xuống dân gian nhưng ở đây ngược lại, múa rối nước Viêt Nam lại từ dân gian dâng lên cho vua, tức gốc là từ dân gian, mà trong dân gian thì không thể nhập từ Trung Quốc sang được Chính vì lẽ đó múa rối nước chỉ có thể là do người nông dân Việt Nam sáng tạo ra rồi dâng truyền lên cho nhà vua, không thể nào do người Trung Quốc sáng tạo ra rồi truyền sang nước ta Do đó chúng ta thấy rằng quan niệm múa rối nước sinh ra ở Việt Nam từ trong dân gian rồi dâng lên cho nhà vua từ thế kỉ XI, XII ở thời nhà Lý kéo dài đến tận bây giờ vẫn tồn tại trên đất nước Viêt Nam là hoàn toàn hợp lí.9

Trong những năm gần đây, múa rối nước Việt Nam đã đi trình diễn nhiều nơi trên thế giới, đến đâu cũng được người xem yêu thích và đánh giá cao Năm

2007, đoàn múa rối Việt Nam tham gia Liên hoan sân khấu Santa Lucia lần thứ nhất để lại nhiều ấn tượng và kỷ niệm đẹp trong lòng khán giả thành phố Monterrey Theo bà Liliana Melo de Sada - Trưởng ban tổ chức Liên hoan sân khấu quốc tế Santa Lucia tại Mexico, múa rối nước Việt Nam luôn hấp dẫn khán giả Monterrey nói riêng và Mexico nói chung, đặc biệt là khán giả trẻ, vì tính độc đáo và sáng tạo của loại hình sân khấu này Tại lễ hội Văn hóa Darwin ở Australia, chỉ trong bốn đêm diễn từ 21 - 24/8/2014 tại sân khấu nước Darwin Waterfront, các nghệ sĩ Việt Nam đã đem đến cho khách du lịch và người dân vùng Bắc Australia những màn biểu diễn tuyệt vời và nhận được vô vàng lời khen ngợi từ khách du lịch Đặc biệt các nghệ sĩ đã truyền tải được thông điệp văn hóa vô cùng

9 Hoàng Chương, tài liệu đã dẫn

Trang 24

đặc sắc, ấn tượng về một đất nước Việt Nam năng động và giàu truyền thống văn hóa qua những màn trình diễn vô cùng chuyên nghiệp và tâm huyết.10

Nghệ thuật múa rối nước truyền thống của dân tộc Việt Nam gắn liền với những điều kiện tự nhiên, điều kiện sinh hoạt của người nông dân nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ cùng với một trí tưởng tượng phong phú và óc sáng tạo thông minh của cha ông đã tạo nên một nét đặc trưng sâu sắc của loại hình nghệ thuật này Đây là một nét văn hóa truyền thống riêng biệt của dân tộc Việt Nam so với nền nghệ thuật múa rối của các quốc gia trên toàn thế giới

1.2.3 Đặc điểm của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam

1.2.3.1 Nghệ thuật tạo hình con rối trong múa rối nước Việt Nam

Thiết kế tạo hình mỹ thuật rối là phần cơ bản và quan trọng của sân khấu múa rối nước Ở các bộ môn sân khấu khác, việc sáng tạo nhân vật kịch do diễn viên đảm nhiệm còn với sân khấu múa rối nước thì việc tạo hình nhân vật (quân trò) và bộ máy điều khiển rối lại do họa sĩ thiết kế tạo hình mỹ thuật thể hiện Với múa rối nước dân gian việc tạo quân rối do các nghệ nhân điêu khắc thực hiện

Rối là quân trò để biểu diễn múa rối trên sân khấu nên có hình khối nhỏ, có khớp để rối cử động được khi nghệ nhân điều khiển máy Rối được làm bằng gỗ sung, loại gỗ nhẹ nổi trên mặt nước, được đục cốt, đẽo với những đường nét cách điệu riêng sau đó gọt giũa, đánh bóng và trang trí với nhiều màu sơn khác nhau để làm tôn thêm đường nét, tính cách cho từng nhân vật Hình thù của con rối thường tươi tắn, ngộ nghĩnh, tính hài và tính tượng trưng cao Quân trò múa rối nước dân gian tạo tạc một khối liền gồm phần thân rối và đế rối Cấu tạo phần thân rối theo yêu cầu của trò diễn thì được chia cách thành các phần riêng biệt, nói chung là rối muốn cử động chỗ nào thì tạo khớp chỗ đó Phần thân rối là phần nổi lên mặt nước thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước giữ cho rối nổi bên trên và là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động

10 Tổng hợp từ các đường link của http://www.baohaiduong.vn/News/2014/1-17-913-131827-0-0/Dua- nghe-thuat-mua-roi-Viet-Nam-den-voi-cong-chung-Australia.viss và http://vietnamtourism-

hcmc.com.vn/news.php?id=1554&cid=3&lag=vn

Trang 25

Về kích cỡ của rối, rối dân gian nhỏ hơn nhiều so với rối của các trò múa rối nước đang được biểu diễn ở các đơn vị múa rối nước chuyên nghiệp hiện nay Các phường múa rối nước có xu thế tạc rối lớn hơn trước đây Tỷ lệ các quân trò múa rối nước dân gian không phụ thuộc vào tự nhiên, lệ thực mà được tạo theo cảm hứng của nghệ nhân Thông thường rối cao từ 30cm đến 40cm là quân trò người Một số rối tạc lớn hơn như rối Tễu, rối Tiên là do yêu cầu và bố cục của trò diễn (để gây ấn tượng và sự thu hút của khán giả)

Với mỗi phường múa rối nước dân gian, họ đều có cách thiết kế tạo hình con rối với dáng vẻ riêng và bản sắc riêng đã tạo nên sự đa dạng và sống động trong tạo hình của rối Và điều này phụ thuộc vào sự sáng tạo của nghệ nhân tạo tác quân trò rối nước Rối nước dân gian chịu ảnh hưởng của điêu khắc đình làng

về bố cục như cách chạm đục, quân trò rối mang tính khái quát cao và rất đơn giản, mộc mạc song cũng rất uyển chuyển và duyên dáng Tinh thần nhân vật được thể hiên khá sinh động Hình khối của rối phóng khoáng, mạnh và giản lược tối đa các chi tiết Điêu khắc cho rối thể hiện tinh thần vai diễn của quân trò để khi trên sàn biểu diễn, diễn tả được xúc cảm, tạo sự đồng cảm cho khán giả

Nhìn chung thiết kế tạo hình múa rối nước dân gian chú trọng đến toàn cục, đến hình dạng tổng thể, khái quát của quân trò diễn (động thái của nhân vật) chứ không lột tả trạng thái cụ thể, nội tâm, tính cách của nhân vật như đối với hội họa hay điêu khắc Các nghệ nhân từ làng quê, đồng ruộng đã tự tạo tác ra những con rối nước rất hóm hỉnh, hài hước với những cảm xúc chân thực từ cuộc sống Ngoài vai trò là quân trò biểu diễn múa rối nước, rối còn là sản phẩm điêu khắc khá sinh động.11

1.2.3.2 Thiết kế mỹ thuật sân khấu trong múa rối nước dân gian

Nghệ thuật múa rối nước được xếp vào loại hình nghệ thuật sân khấu, một loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp Trong các bộ môn mỹ thuật cấu thành ở múa rối nước, có đủ các thành phần: địa điểm biểu diển, trang trí - bày trí sân

11 Hoàng Chương, tài liệu đã dẫn

Trang 26

khấu, trang phục, đạo cụ, ánh sáng,… Tất nhiên những thành phần mang giá trị mỹ thuật tham gia trong múa rối nước phải mang đặc trưng phục vụ cho múa rối nước

Về địa điểm biểu diễn, mặt nước là nơi con rối hoạt động diễn xuất Sân khấu rối nước là loại sân khấu ngoài trời, là khoảng mặt nước giữa buồng trò và nơi xem của khán giả Sân khấu múa rối nước được đánh dấu bằng mành cửa buồng trò phía sau và hai hàng lang can thấp ở hai bên Dưới mặt nước là nhiều hệ thống cọc dây của máy điều khiển các trò dây Sân khấu múa rối nước cổ truyền không có phong cảnh trang trí, nó dùng tấm mành ngay cửa buồng trò làm phông hậu Trên sân khấu thường có những đạo cụ dựng sẵn như cây đu cho trò đánh đu, bụi cậy cho trò chăn vịt, đánh cáo,…Nghệ thuật múa rối nước lấy nước là nơi hoạt động cho các con trò, nên nước vừa là yếu tố cản trở, vừa hỗ trợ phối hợp cùng với con rối là nhân vật chính Khung cảnh đặc tính lung linh của nước làm tăng thêm tính mềm mại và uyển chuyển của con rối cùng động tác của nó Nước cùng với không gian, âm thanh của buổi biểu diễn (tiếng mõ, tiếng trống, tù và,…) thêm vang vọng, đi sâu vào lòng người

Thủy đình (buồng trò rối nước hay nhà rối) là nơi các nghệ nhân giấu mình

để điều khiển các con rối Thủy đình thường được dựng lên giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam Khi bắt đầu diễn, các nghệ nhân lội xuống đứng sau mành điều khiển quân rối Mành chỉ che mặt người xem nhìn vào buồng trò, còn các nghệ nhân đứng bên trong vẫn dễ dàng nhìn ra bên ngoài nhờ các khe nan

Về trang trí và bài trí sân khấu múa rối nước, nhiều người cho rằng ở sân khấu nghệ thuật múa rối nước không có trang trí, bày trí cũng giống như sân khấu chèo, tuồng truyền thống Nhưng thực ra ở sân khấu múa rối nước không phải là hoàn toàn không có trang trí, cảnh trí Những dãy hàng rào cùng các lá cờ hội xinh xắn, màu sắc,… được dựng sẵn, dù ít nhưng điều là những biểu hiện của trang trí cho sân khấu múa rối nước Hơn nữa những cảnh vật có sẵn trên mặt ao, hồ như là

lá sung, lá sen, nào là bông sen, bông súng, nào là rong rêu, bèo tấm bồng bềnh, các thảm cỏ non dàn trải,… Nhìn chung, cảnh trí đặc trưng của múa rối nước

Trang 27

không một loại hình nghệ thuật nào có thể có được, đó là toàn bộ nhà thủy đình và mặt nước của ao, hồ Mặt nước là một cảnh trí đặc biệt lúc phẳng lặng, lung linh soi mái thủy đình với bao màu sắc thay đổi, lúc sôi động sóng xô nước dạt, bọt bạc, lửa phun, khói trắng mịt mù, lan tỏa,… khi các con rối tung hoành hoạt động (Rồng phun nước, Tứ linh, Chọi trâu,…) So với các hình thức nghệ thuật sân khấu truyền thống khác, cách trang trí, bố trí như thế chỉ có ở loại hình nghệ thuật sân khấu múa rối nước, loại hình sân khấu độc đáo và mỹ thuật sân khấu chiếm vị trí vô cùng quan trọng

Về trang phục, trong múa rối nước truyền thống chỉ có hai nhân vật chủ yếu

đó là người và con vật, còn các loại đồ đạc, vật dụng, cây cỏ,… chỉ là các đạo cụ làm phương tiện hoạt động của nhân vật Do đó trang phục trong múa rối nước chủ yếu được thiết kế cho người và con vật Nhìn chung người ta không may áo quần, yếm cho con rối nước bằng các loại vải lụa thật mà khi tạc con rối người nghệ nhân đã trang trí và vẽ trang phục lên chính con rối ấy Đối với rối con vật, về tạo hình, tạo sắc cũng giống như con rối người đều được cách điệu hóa, đa số mẫu được tham khảo từ các tượng ở đình làng, từ các bức tranh Đông Hồ truyền thống Các nghệ nhân đã mặc cho những con rối vật này những trang phục giản đơn và gần gũi nhất

Thời xưa các phường múa rối nước thường trình diễn vào ban ngày, dùng ánh sáng tự nhiên là chủ yếu Nếu cần diễn vào buổi tối, người ta dùng ngọn đuốc tẩm dầu để thắp sáng được lâu nhằm phục vụ cho diễn rối Nếu so sánh hiệu quả

kỹ thuật giữa diễn ban ngày và ban đêm thì diễn bằng ánh sáng tự nhiên người xem sẽ thấy được toàn cảnh cũng như là hoạt động của các con rối một cách dễ dàng và người điều khiển cũng đỡ vất vả hơn Nếu diễn vào ban đêm, người nghệ nhân gặp nhiều khó khăn trong khâu chuẩn bị và trình diễn nhưng hiệu quả lại cao hơn nhiều Bỡi lẽ trong môi trường ban đêm, hiệu quả sân khấu sẽ được thể hiện một cách rõ nét và sống động hơn Tuy nhiên khi đã có nguồn điện, lại có kỹ thuật

Trang 28

nhuộm màu ánh sáng, tăng giảm độ sáng, điều khiển hướng ánh sáng,… sân khấu múa rối nước càng có điều kiện phát huy hiệu quả nghệ thuật của mình.12

1.2.3.3 Kỹ thuật máy móc điều khiển trong múa rối nước

Múa rối nước gắn liền với truyền thống văn hóa tâm linh Việt Nam Những đặc sắc biểu hiện sự tinh tế, huyền bí nó lại gắn liền với kỹ thuật máy móc điều khiển con rối và được truyền từ đời này sang đời khác Người nghệ nhân sử dụng máy điều khiển, đặc biệt là kĩ sảo điều khiển để tạo nên hành động của quân rối trên sân khấu Đó chính là mấu chốt của nghệ thuật trình diễn múa rối nước

Máy điều khiển rối nước sẽ làm di chuyển các quân rối và tạo hoạt động cho nhân vật Nhưng để con rối có thể hoạt động một cách linh hoạt trên mặt nước thì cần phải có một bộ điều khiển thật vững chắc và phù hợp Hoạt động điều khiển của rối nước thường gồm 4 phần: sào dây, sào không dây, dây điều khiển và người điều khiển

Sào dây là một loại sào được làm bằng tre đực già và thẳng, được ngâm dưới ao, sau một thời gian được vớt lên để dùng Sào đường kính 3cm, chiều dài khoảng 1,5cm, cuối đầu sào khoảng 35 - 45cm được khoan một lỗ để bắt vít vào gần cuối sào Dây quay của con rối được nối với đế của con rối, khi người nghệ sĩ quay đòn gánh thì con rối quay sang trái, sang phải theo ý của người điều khiển Dây cử động của tay được bố trí từ trên đầu cánh tay xuống, một ống được lấp vào đầu sào, có nhiệm vụ để quay rối, dẫn đến đòn gánh cuối đầu sào Có những đòn gánh để điều khiển các động tác của tay

Sào không dây là loại sào cũng dùng tre đực già để làm, không bị rổng, phải thẳng, không cong vênh, vừa tay, dễ biểu diễn Sào không dây đơn giản, không dùng đến đòn gánh, đầu sào chỉ lắp một bộ điều khiển để cho con rối quay tròn được Loại sào này ít được dùng vào con rối là người, chỉ được dùng vào các con vật có liên quan đến động tác tay chân, nhưng nó không kém phần sinh động

12 Hoàng Chương, tài liệu đã dẫn

Trang 29

như các động tác người Có những con rối dùng sào không dây, bên dưới đầu sào người ta còn lắp thêm một cái bánh lái theo sự điều khiển của con người

Dây điều khiển hay máy điều khiển bằng dây chủ yếu dùng vào các con vật như trâu chọi, múa rồng, cô tiên cưỡi cá,…Máy dây là loại máy thay cây sào bằng một dây chão, dây thép căng trên đầu một hệ thống cọc đóng ngầm từ buồng trò ra sân khấu, các nghệ nhân còn gọi dây chão này là dây nọc căng một vòng quanh hệ thống cọc, hai đầu buộc vào bàn máy để các nghệ nhân đứng trong buồng trò kéo đưa bàn máy để đưa trò ra sân khấu Lối kéo thường là đầu này thả thì đầu kia kéo

và ngược lại để dây luôn căng, đường dây chính nằm gờ giữa sân khấu để dùng cho nhiều trò, bên cạnh đó còn có nhiều đường dây dành riêng cho từng trò Các dây lớn này có nhiệm vụ đưa bàn máy ra và vào còn việc điều khiển động tác của quân rối thì do nhiều dây nhỏ mắc vào quân rối và bàn máy Dùng dây bao giờ cũng phức tạp hơn dùng sào Máy dây chủ yếu dùng cho các trò tập thể, các nhóm trò có nhiều nhân vật cùng hoạt động

Về người điều khiển trong múa rối nước, tùy vào bộ máy điều khiển và trò diễn thì sẽ có số lượng người điều khiển khác nhau cho phù hợp và thuận tiện trong việc điều khiển

Về cơ bản quân rối nước là loại rối máy Kỹ thuật chế tạo máy rối nước gồm hai phần: phần nằm trong cấu tạo bản thân con rối và phần nằm trong bản máy sào, dây Hai phần này gắn liền nhau ở đế quân rối, do vậy đế vừa mang quân rối vừa mang máy điều khiển vừa là điểm tựa cho các dây khi kéo giật Mặt phao

đế không được nổi lên trên mặt nước nhưng cũng không chìm quá sâu để giúp nghệ nhân đỡ tốn sức gìm giữ dây sào và chiều cao quân rối khi điều khiển làm động tác Máy rối nước đòi hỏi ở kỹ thuật chế tạo, sự tính toán chính xác sao cho người nghệ nhân dù đứng xa vẫn điều khiển quân rối làm trò một cách chính xác

và thoải mái 13

13 Hoàng Chương, tài liệu đã dẫn

Trang 30

1.2.4 Giá trị của múa rối nước Việt Nam

1.2.4.1 Giá trị giáo dục

Múa rối nước giáo dục con người về lòng yêu lao động, yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, về tinh thần tự hào dân tộc, đoàn kết trong cộng đồng để chống thiên tai, hiểm họa và biến cố đồng thời hướng tới cái đẹp trong tình làng, nghĩa xóm của cư dân vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng

Giá trị giáo dục trong múa rối nước tồn tại ở dạng giản dị, hồn nhiên, rõ ràng và nhân văn, gieo vào lòng người tình yêu thương con người, đồng loại, khơi gợi những ước mơ và khát vọng cao cả, nâng tâm hồn và giá trị tinh thần của con người, đưa con người vươn tới quyền làm chủ cuộc sống và thiên nhiên Có lẽ chính những thông điệp mang giá trị đạo đức hết sức nhân văn ấy đã làm cho múa rối nước trở nên mang tính nhân loại

1.2.4.2 Giá trị nhận thức

Múa rối nước có thể nói là bức tranh đa sắc thể hiện cuộc sống của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ trong cuộc sống sinh hoạt đời thường, từ đó chúng ta nhận thức được mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên

và cách dung hòa, hòa hợp của chính họ trong cuộc sống hằng ngày Hơn nữa, từ

sự phản ánh của múa rối nước, ta hiểu hơn được cuộc sống lam lũ, khốn khổ của người nông dân từ đó thấy được ước mơ, khát vọng của chính bản thân họ về sự đổi đời, cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong tiến trình của lịch sử

1.2.4.3 Giá trị thẩm mĩ

Khác với các hình thức nghệ thuật khác, sức hấp dẫn, lôi cuốn người xem thường thông qua kịch bản, ngôn ngữ và thể hiện bằng chính diễn xuất của người diễn viên Còn ở múa rối nước, sức hấp dẫn chính là ở hành động của các con rối Giá trị thẩm mĩ của múa rối nước, trước hết thể hiện trong nét đẹp của sự sáng tạo độc đáo của người nghệ nhân, từ những con rối vô tri vô giác, người nghệ nhân đã biến họ thành những vật thể sống động, có hồn hay đó là sự linh hoạt

Trang 31

trong việc vận dụng mặt nước làm sân khấu múa rối nước Hơn nữa cái đẹp nhất của múa rối nước chính là ở sự khéo léo, duyên dáng trong việc tạo ra tiếng cười cho khán giả, đó không phải là tiếng cười thô thiểng mà nó là cái cười, cái khen cho trí tuệ và tư duy của con người Việt Nam

Giá trị thẩm mĩ của múa rối nước thể hiện rất rõ ở dấu ấn địa phương, từ quân rối, kỹ thuật máy, kỹ thuật điều khiển, hay cùng một trò diễn giống nhau, nhưng mỗi phường, mỗi địa phương có cách thể hiện khác nhau Ngoài ra những hình ảnh vô cùng đặc biệt như là chú Tễu, thủy đình đã góp phần tạo nên sự độc đáo trong giá trị thẩm mĩ của múa rối nước, tạo thành một biểu tượng đẹp của múa rối nước dân gian Việt Nam

1.2.4.4 Giá trị giải trí

Giá trị giải trí của múa rối nước thể hiện trong tính kì lạ của múa rối nước Những con rối chuyển động, ca hát, nhảy múa trên mặt nước mà người xem không biết chúng chuyển động bằng cách nào Trong mênh mông ao nước, lúc thấy con rối ở đầu bờ này, lúc lại ở đầu bờ kia làm đủ các trò Đó là những điều kì diệu, cuốn hút người xem, tạo nên sự kì lạ của múa rối và hấp dẫn người xem Bên cạnh tính kì lạ, tính cười – vui cũng chính là yếu tố tạo nên giá trị giải trí của múa rối nước Con rối từ những vật vô tri, vô giác nhưng nhờ sự điều khiển khéo léo, tài

ba của người nghệ nhân bỗng trở nên sinh động và linh hoạt hơn hẳn như một sinh thể có hồn đem đến những điều kì lạ, cười vui cho khán giả

Khi nói đến giá trị giải trí của múa rối nước không thể quên Tễu, nhân vật mang tính biểu tượng của múa rối nước, chính các hành động vô cùng khôi hài và hóm hỉnh của Tễu như: gật đầu, đưa tay lên cao, xuống thấp, xoay ngang qua trái, qua phải, đi vòng vòng sân khấu và thông minh, hóm hỉnh, nghịch ngợm với lời chào: “Nay mừng vận mở thái hòa, Tễu tôi nhanh nhảu bước ra trình trò” cũng đã tạo nên sự vui tươi, thu hút ở khán giả mỗi khi xem múa rối nước 14

14 Lê Thị Thu Hiền, Cơ sở hình thành và giá trị văn hóa của Múa rối nước Việt Nam,

http://huc.edu.vn/userfiles/assets/Tom%20tat%20LA%20Le%20Thi%20Thu%20Hien%20-%20TV.pdf

Trang 32

Tiểu kết: Việc tìm hiểu những vấn đề liên quan đến khái niệm; lịch sử hình thành

và phát triển; đặc điểm và giá trị của múa rối nước Việt Nam được xem là tiền đề

cơ bản cho việc nghiên cứu và vận dụng thực tế khi nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu múa rối nước tại TP.HCM

Trang 33

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT

Trong chương này, chúng tôi giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu – TP.HCM và những thông tin về tình hình phát triển du lịch tại nơi đây Tiếp theo, chúng tôi trình bày kết quả khảo sát sau những chuyến đi thực tế đến hai đoàn múa rối nước tại TP.HCM Kết quả thu được thông qua những cuộc phỏng vấn sâu với trưởng đoàn múa rối và tham khảo ý kiến đánh giá của khách du lịch thông qua bảng hỏi

2.1 Tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh

 Diện tích: 2.095,6 km²

 Dân số: 7.681,7 nghìn người (2012)

 Các quận, huyện: Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận

7, Quận 8, Quận 9, Quận 10, Quận 11, Quận 12, Tân Bình, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân, Tân Phú Huyện: Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh

 Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chăm

2.1.1 Vị trí địa lý

Lãnh thổ TP.HCM có tọa độ địa lý 10º22'13" – 11º22'17" vĩ độ Bắc và 106º01'25" – 107º01'10" kinh độ Đông Phía bắc giáp Tây Ninh, Bình Dương, phía đông giáp Đồng Nai, phía nam giáp biển Đông và Tiền Giang, phía tây giáp Long

An

TP.HCM gồm có bốn điểm cực:

 Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi

 Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi

 Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ

 Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ

Trang 34

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên

 Địa hình:

TP.HCM nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long Địa hình có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây và có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình Vùng cao nằm ở phía Bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Đức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10 – 25m và xen kẽ có những đồi gò, với độ cao cao nhất đến 32m, như đồi Long Bình (quận 9) Vùng thấp trũng ở phía Nam – Tây Nam và Đông Nam thành phố (thuộc các quận 7, 8, 9

và các huyện như Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ), với độ cao trung bình trên dưới 1m, cao nhất 2m và thấp nhất là 0.5m Vùng trung bình phân bố ở khu vực trung tâm thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ và một phần các quận 2, Thủ Đức, toàn

bộ quận 12 và huyện Hóc Môn, vùng này có độ cao trung bình 5 – 10m

Khí hậu:

TP.HCM nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với nhiệt độ cao quanh năm và có hai mùa mưa – khô rõ rệt, làm chi phối môi trường cảnh quan sâu sắc Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hằng năm vào khoảng 27.5○C và lượng mưa trung bình năm khoảng 1.979mm

Trang 35

2.1.3 Đặc điểm về kinh tế xã hội

TP.HCM là đầu mối giao thông của cả miền Nam bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường không Từ thành phố đi Hà Nội có quốc lộ 1A, đường sắt Thống nhất và quốc lộ 13 xuyên Đông Dương Bên cạnh đó, cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất có vị trí kinh tế, chính trị, có vị trí địa lý rất thuận tiện cho hoạt động hàng không dân dụng vì nằm trên các trục giao thông hàng không đông đúc Đông - Tây và Nam - Bắc của khu vực, là cửa ngõ giao thương của thành phố Hồ Chí Minh với các nền kinh tế khác trên thế giới, là điểm dừng thuận lợi và lý tưởng trong mạng đường bay từ Châu Âu, Nam Á sang Đông Nam

Á, Đông Bắc, Bắc Á và Châu Á – Thái Bình Dương

Phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn TP.HCM gắn liền với tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước; dựa trên lợi thế so sánh, vai trò và vị trí của TP.HCM đối với khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, miền Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và

cả nước, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ, phát triển kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu

Ðầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 24, phê duyệt điều chỉnh, định hướng phát triển TP.HCM đến năm 2025, theo đó thành phố sẽ phát triển đô thị ra cả bốn hướng, bán kính 30 km, số dân hơn 10 triệu người, diện tích đất xây dựng đô thị 100 nghìn ha, trở thành trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước, đầu mối giao lưu của khu vực Ðông - Nam Á và quốc tế 16

2.1.4 Thực trạng phát triển du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh

Hiện nay TP.HCM là trung tâm du lịch lớn nhất nước, thu hút 70% lượng khách quốc tế đến Việt Nam hằng năm Sự tăng trưởng nhanh của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và vào TP.HCM là kết quả của chính sách mở cửa và hội nhập thế giới, sự cải tạo và nâng cấp cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ

Trang 36

khách du lịch, sự khuyến khích đầu tư nước ngoài mà TP.HCM luôn là địa phương

đi đầu trong cả nước trong sự nghiệp đổi mới trong lĩnh vực đời sống xã hội Đặc biệt, vào tháng 6/2013, cùng với Hà Nội, Hội An và Hạ Long, TP.HCM được bình chọn là 1 trong số 25 điểm đến tại châu Á được khách du lịch yêu thích nhất, được nhận giải thưởng Asia Destination Awards năm 2013 của trang web du lịch lớn nhất thế giới TripAdvisor.17

Theo số liệu Sở Du lịch, tổng lượng khách quốc tế đến thành phố trong 7 tháng đầu năm 2014 ước đạt 2.392.648 lượt, tăng 9,1 % so với cùng kỳ và đạt 54,3% kế hoạch năm 2014 (4.400.000 lượt) Tổng doanh thu du lịch thành phố (lữ hành, khách sạn, nhà hàng) ước đạt 51.965 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ Ngoại trừ tháng 5/2014 tốc độ tăng khách quốc tế chậm lại, chỉ tăng 1,4% do tác động trực tiếp của tình hình căng thẳng tại biển Đông, các tháng còn lại, đặc biệt là tháng 6 và tháng 7/2014 đều có mức tăng từ 10 đến 10,5% so cùng kỳ là do các thị trường khách khác (khách Châu Âu) tăng trong khi thị trường khách tiếng Hoa sau khi sụt giảm mạnh vào tháng 5 cũng đã dần hồi phục trong tháng 6,7 (đạt khoảng 50% so cùng kỳ) Tình hình du lịch TP.HCM nói riêng cũng như cả nước nói chung đang trên đà phát triển, tuy nhiên vẫn còn gặp nhiều khó khăn và thách thức, với nỗ lực chung của toàn ngành, du lịch đã và đang đóng góp đáng kể vào nền kinh tế nước nhà, ngày càng đa dạng hóa thị trường nguồn, tăng cường thu hút khách từ các thị trường trọng điểm, có những chính sách kích cầu du lịch, nhằm hướng đến sự ổn định và phát triển bền vững.18

2.2 Kết quả phân tích nội dung phỏng vấn sâu

Để có những thông tin và số liệu cơ bản, cần thiết về tổ chức quản lí, hoạt động tổ chức biểu diễn, doanh thu, nguồn nhân lực (nghệ sĩ), những vấn đề liên quan đến chuyên môn múa rối nước,…tại hai điểm khảo sát, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu anh Thái Ngọc Hải (quản lí sân khấu múa rối nước tại

17

http://vietpress.vn/20130617111913513p0c66/viet-nam-co-4-trong-so-25-diem-den-yeu-thich-o-chau- a.htm

18

http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/printer/15058

Trang 37

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam) và anh Châu Huỳnh Lâm (quản lí Sân khấu múa rối nước Rồng Vàng) (Biên bản phỏng vấn sâu ở phần phụ lục)

Những vấn đề nhóm tác giả phân tích dưới đây chỉ tập trung đề cập đến những nội dung quan trọng, cần thiết cho quá trình nghiên cứu

2.2.1 Quá trình du nhập, phát triển và duy trì nghệ thuật múa rối nước tại thành phố Hồ Chí Minh

Qua biên bản phỏng vấn sâu anh Thái Ngọc Hải - quản lí sân khấu múa rối nước tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cho thấy: “Sân khấu múa rối nước bên trong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là do kế thừa và tiếp nối từ một vị tiên sinh của nghề rối nước là Nguyễn Khắc Sinh Nhưng rối nước của ông mang tính chất hiện đại nên không được tiếp nhận, kế thừa vì vậy nhà hát sử dụng con rối mang tính chất

cổ truyền” Còn ở Sân khấu múa rối nước Rồng Vàng, theo như lời nói của anh Châu Huỳnh Lâm: “Sân khấu múa rối nước Rồng Vàng hình thành vào tháng 8/2007 thuộc Công ty TNHH Sân khấu – Nghệ thuật Thái Dương và Cung Văn hóa Lao Động Mô hình sân khấu múa rối nước tại Sân khấu do đạo diễn Huỳnh Anh Tuấn xây dựng với vốn đầu tư trên 700 triệu đồng”

Về việc tạo tác con rối trong múa rối nước, theo lời anh Hải: “Chỉ được làm

ở các làng nghề múa rối nước ở Bắc Bộ sau đó chuyển vào trong Nam, chứ không trực tiếp dạy hay truyền nghề” Không khác gì sân khấu múa rối nước ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, tại Sân khấu múa rối nước Rồng Vàng theo lời anh Lâm, “Việc đào tạo nghệ nhân tạo tác con rối và nghệ nhân điều khiển bộ máy múa rối nước đều được làm ở các làng nghề múa rối nước ở Bắc Bộ sau đó chuyển vào trong Nam, chứ không trực tiếp dạy hay truyền nghề Nếu muốn có thêm trò mới thì các nghệ sĩ phải ra các làng nghề ngoài Bắc Bộ mua trò chứ không được đào tạo, truyền nghề trực tiếp nữa”

Thực trạng này trở thành một vấn đề mà nhóm nghiên cứu đang suy xét, bởi lẽ, nếu việc tạo tác con rối không chỉ có ở miền Bắc mà ở miền Nam, đặc biệt

là TP.HCM cũng có nơi chế tạo rối thì đây sẽ trở thành một sản phẩm du lịch hấp

Trang 38

dẫn thu hút khách du lịch Khách du lịch có thể vừa xem múa rối nước, vừa có thêm trải nghiệm thực tế thông qua tham gia trực tiếp vào việc chế tác rối với các nghệ nhân Đây chắc chắn sẽ trở thành yếu tố hấp dẫn thu hút khách du lịch nhiều hơn chỉ đơn thuần tổ chức xem múa rối nước

2.2.2 Các trò diễn

Tại sân khấu múa rối nước trong Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam, theo lời anh Hải: “Trong biểu diễn múa rối nước, theo cổ truyền thì có khoảng 17 trò cổ (Múa rồng, Câu ếch, Đánh cáo bắt vịt, Múa lân tranh cầu, Múa Tứ Linh,…) nhưng mỗi suất diễn hiện nay chỉ sử dụng 3-5 trò vì hạn chế về thời gian (mỗi suất diễn chỉ khoảng 15 - 20 phút)” Thực tế cho thấy khung chương trình này đã gây nhàm chán cho khách du lịch rất nhiều vì sự lập lại hoạt động biểu diễn không chút thay đổi Chính vì thế để thu hút khách du lịch nhiều hơn, thay vì chỉ diễn có 3 – 5 trò cổ trong mỗi suất diễn, quản lí sân khấu có thể linh hoạt trong việc thay đổi những trò này trong hệ thống 17 trò cổ sẵn có vừa tránh sự nhàm chán trong du khách vừa tạo thêm động lực cho các nghệ sĩ hoạt đông hăng say hơn thay vì chỉ diễn lại có 3 – 5 trò trong khoảng thời gian dài

Còn theo như lời anh Lâm ở sân khấu múa rối nước Rồng Vàng, “Kho tàng trò cổ của múa rối nước khoảng trên 100 trò nhưng 7 năm nay từ lúc Sân khấu bắt đầu hoạt động biểu diễn thì chỉ sử dụng 17 trò cổ” Từ thực tế này, không chỉ tại Sân khấu múa rối nước Rồng Vàng mà cả sân khấu múa rối nước tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nên chú trọng đến việc thay đổi, đa dạng hóa trò cổ để tạo thêm

sự hấp dẫn và thu hút khách du lịch nhiều hơn Rõ ràng 7 năm nay Sân khấu Rồng Vàng cũng chỉ sử dụng 17 trò cổ cho tất cả các suất diễn, nếu khách du lịch nào đã đến đây xem, cảm nhận được sự hấp dẫn, thu hút của múa rối nước và muốn xem lần nữa nhưng khi quay trở lại thì vẫn thấy không gì thay đổi Chắc chắn điều này

sẽ làm mất đi một số lượng khách du lịch rất lớn đối với loại hình nghệ thuật sân khấu đặc sắc này

Trang 39

2.2.3 Đối tƣợng khách

Theo anh Hải, “Đa số khách du lịch đến xem múa rối nước là khách nước ngoài, chủ yếu là khách đoàn đi theo tour của công ty du lịch đến tham quan Còn đối với khách lẻ là người nước ngoài, khách nội địa (lẻ hay theo đoàn) thì số lượng tương đối ít” Điều này phản ánh một thực tế rằng, cách tổ chức trình diễn múa rối nước ở sân khấu chưa đủ thu hút khách du lịch ngay cả là khách nội địa của Việt Nam Và đặc biệt phương thức truyền thông, quảng bá chưa đủ tốt để nhiều khách

du lịch nội địa biết đến nó Còn về trường hợp, khách du lịch nước ngoài đa số đi theo tour và khách lẻ rất ít, nhóm tác giả nhận định rằng có hai trường hợp xảy ra Trường hợp một, khách du lịch thực sự biết đến múa rối nước và họ muốn đến đây xem hình thức nghệ thuật đặc sắc này Trường hợp hai, đây chỉ là điểm đến bắt buộc của khách du lịch trong chuyến tham quan của họ, họ không hề có hứng thú hay hấp dẫn gì cả đối với loại hình nghệ thuật này Qua những gì nhóm tác giả quan sát được thông qua khảo sát thực tế, thì trường hợp mà khách du lịch đã từng biết đến loại hình nghệ thuật này rất ít đa số do đặt tour công ty lữ hành và được giới thiệu Nếu có biết trước loại hình nghệ thuật này thì chủ yếu là đã từng biết ở

Hà Nội rồi tiếp tục xem tại TP.HCM, còn về biết về nó qua truyền thông, quảng bá thì rất hạn chế

Tại Sân khấu múa rối nước Rồng Vàng, theo anh Lâm đối tượng khách đến xem múa rối nước tại sân khấu Rồng Vàng, “Đa số là khách nước ngoài, chủ yếu

là khách đoàn đi theo tour của công ty du lịch đến tham quan Còn đối với khách

lẻ là người nước ngoài, khách nội địa (lẻ hay theo đoàn) thì số lượng tương đối ít” Như những gì nhóm tác giả đã phân tích tại sân khấu múa rối nước tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam về vấn đề đối tượng khách đến xem múa rối nước thì tại sân khấu Rồng Vàng cũng tương tự

2.2.4 Tổ chức hoạt động biểu diễn

Theo lời anh Hải – quản lí sân khấu múa rối nước tại Bảo tàng Lịch Sử, hiện tại, “Mỗi ngày sân khấu múa rối nước diễn 6 suất (bao gồm các suất 9h00,

Trang 40

10h00, 11h00, 14h00, 15h00 và 16h00), mỗi suất khoảng 15-20 phút, với suất dành cho trẻ em là 35 nghìn đồng/ suất, người lớn là 50 nghìn đồng/ suất Và mỗi suất chỉ được diễn khi đạt được mức doanh thu đề ra ít nhất cho mỗi suất là 500 nghìn đồng” Chính điều này cho chúng ta thấy rõ, sân khấu múa rối nước hoạt động bị lệ thuộc rất nhiều vào chỉ tiêu doanh thu đề ra Theo lời anh Hải: “Sân khấu múa rối nước trong bảo tàng kinh doanh chịu sự quản lí trực tiếp của Nhà nước Mọi doanh thu và chi tiêu đều do Nhà nước cấp và hỗ trợ” do đó mọi hoạt động kinh doanh phải do Nhà Nước kiểm soát và điều phối Chính thực tế đủ doanh thu mới tiến hành biểu diễn đã dẫn đến tình trạng nhiều khách du lịch muốn xem múa rối nước nhưng đôi khi do sân khấu múa rối không có tour đặt sẵn hoặc

ít khách du lịch muốn xem, do đó họ không tiến hành trình diễn múa rối nước Và cuối cùng sân khấu mất một số lượng khách rất lớn vì chất lượng phục vụ không tốt, đồng thời khách du lịch cảm thấy phục vụ thiếu chuyên nghiệp, phàn nàn và cuối cùng nhu cầu quay trở lại xem múa rối nước của khách du lịch giảm xuống đáng kể

Trong khi đó, tại sân khấu múa rối nước Rồng Vàng, hiện tại, “Mỗi ngày sân khấu diễn 2 suất (bao gồm các suất 17h00 và 18h30’) mỗi suất 45 phút Đôi khi có thêm suất phụ (suất dự phòng) lúc 19h45’ (suất này thường vào dịp cuối tuần) để phục vụ nhu cầu thêm của khách du lịch Sân khấu chỉ biểu diễn vào ban ngày khi có hợp đồng với các đơn vị du lịch Và hiện tại giá vé cho mỗi suất xem múa rối nước là 120 nghìn đồng/ 1 lượt xem và sân khấu sẽ giảm 40% cho khách đoàn của công ty lữ hành hợp đồng với sân khấu” Việc sân khấu múa rối nước giảm 40% cho khách du lịch của công ty lữ hành hợp đồng với sân khấu là một cách thu hút nhiều hợp đồng du lịch hiệu quả, vừa đem lại doanh thu cho sân khấu múa rối nước, đồng thời cũng đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp lữ hành, đặc biệt là lợi nhuận Hơn nữa việc thời gian mỗi suất diễn múa rối nước ở Rồng Vàng kéo dài tới 45 phút với sự đầu tư về số lượng trò cổ lên đến 17 trò đã làm thỏa mãn được nhu cầu khách du lịch với lối diễn chuyên nghiệp và đầu tư cao

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:13

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm