Để đạt được mục đích trên, đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung cơ bản: khái quát về triết học pháp quyền với những hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản, phân tích mối quan hệ giữa triết
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KH&CN
Têt Tên đề tài:
LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN ĐỨC
TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN THẾ KỶ XX (History of German Law Philosophy Thought
from 18 th century to 20 th century)
Tham gia thực hiện
TT Học hàm, học vị, Họ và tên Chịu trách nhiệm thoại Điện Email
1 TS Ngô Thị Mỹ Dung Chủ nhiệm 090803
1586
mydungngothi@yahoo.de
2 TS Nguyễn Thị Hương
Giang Thư ký 083822 1903 congpdt2006@gmail.com
3 TS Phạm Thị Hồng Hoa Tham gia 091819
1791
honghoapham@hcmussh.e du.vn
4 TS Lê Đình Lục Tham gia 090417
C
Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2BÁO CÁO TỔNG KẾT
Tên đề tài:
LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN ĐỨC
TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN THẾ KỶ XX (History of German Law Philosophy Thought
from 18 th century to 20 th century)
Trang 3MỤC LỤC
TÓMTẮT………
ABSTRACT………
BÁO CÁO TÓM TẮT………
LỜI CẢM ƠN………
Trang MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN……… 27
1.1 Khái niệm triết học pháp quyền và những hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản …… 27
1.2 Mối quan hệ giữa triết học pháp quyền với triết học đạo đức, lý luận pháp quyền và triết học chính trị……… 57
Kết luận chương 1……… 68
Chương 2 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN ĐỨC THẾ KỶ XVIII……71
2.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận ảnh hưởng đến tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ XVIII……… 71
2.2 Tư tưởng triết học pháp quyền Christian Thomasius (1655 - 1728)………92
2.3 Tư tưởng triết học pháp quyền Christian Wolff (1679 - 1754) 99
2.4 Tư tưởng triết học pháp quyền Immanuel Kant (1724 - 1804)……… 112
Kết luận chương 2……… 128
Chương 3 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN ĐỨC THẾ KỶ XIX…… 131
3.1 Khái quát bối cảnh lịch sử xã hội châu Âu và Đức thế kỷ XIX……….131
3.2 Tư tưởng triết học pháp quyền Johann Gottlieb Fichte (1762 –1814)…… 143
3.3 Tư tưởng triết học pháp quyền Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831)……… 159
3.4 Tư tưởng triết học pháp quyền Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich Engels (1820 - 1895)……… 229
Kết luận chương 3……… 249
Chương 4 TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN ĐỨC THẾ KỶ XX…… 254
4.1 Khái quát bối cảnh lịch sử xã hội châu Âu và Đức thế kỷ XX ……… 254
Trang 44.2 Tư tưởng triết học pháp quyền Gustav Radbruch (1878 - 1949)……… ……… 269
4.3 Tư tưởng triết học pháp quyền Athur Kaufmann (1923 – 2001)……… 280
4.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay……… 305
Kết luận chương 4 ……….320
KẾT LUẬN CHUNG……… 324
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 330 PHỤ LỤC SẢN PHẨM
PHỤ LỤC QUẢN LÝ
Trang 5Để đạt được mục đích trên, đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung cơ bản: khái quát về triết học pháp quyền với những hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản, phân tích mối quan hệ giữa triết học pháp quyền với triết học đạo đức, lý luận pháp quyền và triết học chính trị; trình bày và phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII, XIX, XX thông qua một số nhà triết học tiêu biểu, trên cơ sở đó đưa
ra một số nhận định chung về những giá trị và hạn chế của những tư tưởng trên
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được nghiên cứu, biên soạn thành 4 chương Chương 1: Khái quát về triết học pháp quyền; Chương 2: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII; Chương 3: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XIX; Chương 4: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XX
Đề tài được thực hiện theo đúng tiến độ hợp đồng (03.2013 – 03.2015) Từ công trình nghiên cứu này đã có 4 bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành và đào tạo được hai thạc sỹ chuyên ngành triết học
Trang 6ABSTRACT
Scientific research project "History of German Law Philosophy Thought from
18th century to 20th century " by Dr Ngo Thi My Dung as chairman, code: C 2013 - 18b
- 07, under Contract No C2013 - 18 - 07/HD - KHCN signed on 03.15.2013
The purposes of the project are presenting and analyzing systematically the basic contents of the history of German law philosophy thought from the eighteenth century
to the twentieth century through specific characteristics of jurisdictional thoughts in each century, from then making scientific judgments on the advantages and limitations,
as well as defining its meaning for the theory construction of Vietnamese state of law nowadays
To achieve these purposes, the project studies the basic contents: generalizing the philosophy of law with basic law thought systems, analyzing the relationship between the philosophy of law and moral philosophy, theories of law and political philosophy; presenting and analyzing the basic content of philosophical thought about German law
in the XVIII, XIX, XX centuries through some typical philosophers, thereby giving some general observations about the value and limitations of the ideas above
Besides the introduction, conclusion and list of references, the project is compiled into 4 chapters Chapter 1: Overview of the philosophy of law; Chapter 2: German law philosophy thought in the 18th century; Chapter 3: German law philosophy thought in the 19th century; Chapter 4: German law philosophy thought in the 20th century
The project is done on schedule contract (03.2013 - 03.2015) From this project, there were four articles which were published in scientific journals and two philosophy-major Masters who were trained
Trang 7BÁO CÁO TÓM TẮT
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN
(Đính kèm trong các báo cáo toàn văn của báo cáo định kỳ, báo cáo tổng kết hoặc xin gia hạn)
A THÔNG TIN CHUNG
A1 Tên đề tài
- Tên tiếng Việt: : Lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII
đến thế kỷ XX
- Tên tiếng Anh: History of German Law Philosophy Thought from 18th century
to 20th century
A2 Thuộc ngành/nhóm ngành
Kinh tế, Luật Hóa học và Công nghệ Hóa học Cơ khí, Tự động hóa, Kỹ thuật Giao thông Quản lý Sinh học và Công nghệ Sinh học Điện – Điện tử
Khoa học Sức khỏe Công nghệ Thông tin và Truyền thông Khoa học Trái đất và Môi trường Xây dựng
Khác:…
A3 Loại hình nghiên cứu
Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu triển khai
A4 Thời gian thực hiện
Kinh phí cấp đợt 1: 40 triệu đồng theo QĐ số…………ngày ………
Kinh phí cấp đợt 2: 40 triệu đồng theo QĐ số…………ngày ………
Kinh phí cấp đợt 3: 80 triệu đồng theo QĐ số…………ngày ………
Kinh phí từ nguồn huy động (vốn tự có và vốn khác): …… triệu đồng
Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh
Mẫu R05
Mã số đề tài:………
Trang 8A6 Chủ nhiệm
Học hàm, học vị, họ và tên: TS Ngô Thị Mỹ Dung
Ngày, tháng, năm sinh: 02.09.1967 Nữ:
Cơ quan: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0908031586 .Email: mydungngothi@yahoo.de
A7 Cơ quan chủ trì
Tên cơ quan: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh
Họ và tên thủ trưởng: PGS TS Võ Văn Sen
Điện thoại: 84 -8 38293828 Fax: 84-838221903
E-mail:
A8 Danh sách tham gia thực hiện
1 TS Ngô Thị Mỹ Dung Khoa Triết học - ĐHKHXH
& NV Chủ nhiệm đề tài
2 TS Nguyễn Thị Hương Giang Khoa Triết học - ĐHKHXH
& NV
Thư ký
3 TS Phạm Thị Hồng Hoa Khoa Triết học - ĐHKHXH
& NV
Nghiên cứu, biên soạn
4 TS Lê Đình Lục Khoa Giáo dục chính trị -
B1 Nội dung công việc
B1.1 Nội dung hoàn thành theo tiến độ đăng ký
Mức độ hoàn thành nội dung đăng ký
Nghiên cứu, biên soạn chương 1: Khái
quát về triết học pháp quyền
Nghiên cứu, biên soạn chương 2: Nội
dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp
quyền Đức thế kỷ XVIII
Nghiên cứu, biên soạn chương 3: Nội
dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp
quyền Đức thế kỷ XIX
Nghiên cứu biên soạn chương 4: Nội
dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp
Trang 9 04 bài báo đăng trên tạp chí chuyên
tạp chí chuyên ngành
100%
B1.2 Nội dung chưa hoàn thành theo tiến độ đăng ký
B2 Sản phẩm nghiên cứu (kèm minh chứng)
B2.1 Ấn phẩm khoa học
Có 04 bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành:
1 Ngô Thị Mỹ Dung, Một số nội dung cơ bản trong triết học pháp quyền Georg Wilhelm
Friedrich Hegel (1770 -1831), Tạp chí Khoa học xã hội, số 4, 2013, tr 8- 16,
2 Ngô Thị Mỹ Dung, Triết học pháp quyền của Immanuel Kant, Tạp chí Khoa học xã
hội, số 2, 2014, tr 3 – 10
3 Ngô Thị Mỹ Dung: “Khái niệm công bằng trong triết học pháp quyền Arthur
Kaufmann”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 05, 2014, tr 03 – 08
4 Ngô Thị Mỹ Dung: “Một số nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền
Christian Wolff (1679 – 1754)”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 08, 2014, tr
31 – 36
B2.2 Đăng ký sở hữu trí tuệ
Mô tả sản phẩm/kết quả nghiên cứu (căn cứ đề cương được phê duyệt)
01 báo cáo cuối kỳ (kèm theo đĩa CD) và các bài báo khoa học
Công nghệ/ giải pháp hữu ích đã chuyển giao công nghệ (kèm minh chứng)
TT
Tên công nghệ/ giải pháp hữu ích
đã chuyển giao (sản phẩm chuyển
giao- Thông số kỹ thuật của sản
phẩm)
Năm chuyển giao
Đối tác ký hợp đồng hợp đồng Ngày ký
Doanh thu
từ hợp đồng
Quy
mô
1
2
Trang 10B2.3 Kết quả đào tạo (kèm minh chứng): 02 thạc sỹ
1 Lê Thị Thu Hồng với đề tài “Vấn đề con người trong triết học Immanuel Kant”,
bảo vệ ngày 03/01/2014
2 Trần Minh Lê với đề tài “Vấn đề nhận thức luận trong triết học Immanuel
Kant,” bảo vệ ngày 21/08/2014.
B3 Hội nghi, hội thảo trong và ngoài nước đã được tổ chức, tham gia
Cán bộ được cử đi trao đổi HTQT về KH&CN (Hội nghị, hội thảo, tập huấn ngắn hạn)
thông qua đề tài/dự án
Kinh phí sử dụng đến thời điểm báo cáo (Ghi rõ từng nội dung cụ
thể như thuê khoán chuyên môn, mua sắm trang thiết bị, photo, in
ấn,…)
160
TT Tên nội dung đã quyết toán
1 Xây dựng thuyết minh đề cương; tổng thuật sưu tầm tài liệu;
viết xong 04 chương
2 Thù lao chủ nhiệm đề tài; quản lý chung; mua sách, in tài liệu;
Trang 12LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi chân thành cảm ơn Giám đốc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Ban Khoa học – Công nghệ Đại học Quốc gia, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã tạo điều kiện tốt cho nhóm nghiên cứu chúng tôi hoàn thành đề tài khoa học “Lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX” đúng thời hạn
Đặc biệt, chúng tôi chân thành cám ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Phòng quản lý Khoa học và Dự án Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu trong suốt quá trình triển khai đề tài
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền là một đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, là một khâu trọng yếu trong đổi mới hệ thống chính trị, góp phần tiến tới thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đấy là một quá trình lâu dài trên cơ sở hình thành đầy đủ các tiền đề và nền tảng của mô hình mới về nhà nước pháp quyền cả trong lý luận cũng như trong thực tiễn Vậy bản chất của pháp quyền và nhà nước pháp quyền là gì ? Quá trình nhận thức và thực hiện nó như thế nào ? Đấy là những vấn đề mà triết học pháp quyền quan tâm và đấy cũng là những vấn đề mà ở mỗi thời đại lịch sử, mỗi chế độ xã hội đều có những quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau Nhưng như Engels đã nói, một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận, mà muốn phát triển năng lực tư duy
đó thì cho tới nay, không có cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ lịch sử
quyền tiến bộ của nhân loại, trong đó có tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay là điều hết sức cần thiết
Ở phương Tây, triết học pháp quyền là một môn học quan trọng của triết học, có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng đến thể chế chính trị, văn hóa và pháp quyền trong những giai đoạn lịch sử cụ thể Ở Việt Nam, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tư tưởng pháp quyền, tư tưởng nhà nước pháp quyền với nhiều tên gọi khác nhau (lý luận về nhà nước và pháp luật, các học thuyết chính trị - xã hội trên thế giới…) đã đem lại cho chúng ta một cách nhìn tổng thể về tư
1 C Mác và Ph Ăng-ghen (2002), Toàn tập, t 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 487
Trang 14tưởng pháp quyền cùng hệ thống chính trị của nó, đóng góp thiết thực cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, việc nghiên cứu
tư tưởng pháp quyền dưới góc độ triết học ở Việt Nam còn rất ít, đặc biệt tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX lại càng ít hơn (chủ yếu chỉ đề cập đến tư tưởng pháp quyền của Marx, Engels)
Tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX một mặt, chịu sự qui định của tính lịch sử thời đại, nhưng mặt khác chính nó lại tác
động đến thể chế chính trị pháp quyền của thời đại đó Trong thế kỷ XVIII, nhiều
tư tưởng triết học pháp quyền tiêu biểu như tư tưởng của Christian Thomasius (1655 - 1728), Christian Wolff (1679 - 1754), đặc biệt là tư tưởng của Immanuel Kant (1724 – 1804) đã để lại cho nhân loại những giá trị nhân văn sâu sắc, đánh
dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tư tưởng pháp quyền phương Tây Việc Kant phân tích một cách có hệ thống về nhà nước và pháp luật xuất phát từ sự tôn trọng phẩm giá con người và sự lý giải về quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân đối với nhà nước, cũng như nghĩa vụ bảo vệ quyền tự do cá nhân của nhà nước đối với mọi công dân, rất đáng trân trọng
Kế thừa tư tưởng duy lý của các bậc tiền bối, đặc biệt là Kant, tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XIX đã được nối tiếp bởi nhà triết học Johann Gottlieb Fichte (1762 – 1814) và đạt đến đỉnh cao của nó trong triết học pháp quyền Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831) Trên tinh tiếp thu có phê
phán mạnh mẽ những quan điểm cực đoan của triết học pháp quyền Hegel, những vấn đề cơ bản của triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII về vấn đề tự
do, quyền và phẩm giá làm người, đã được Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich Engels (1820 - 1895) kế thừa và phát triển Không chỉ dừng lại ở sự
nhận thức về những vấn đề trên, triết học pháp quyền của Marx và Engels đã đưa ra phương thức cụ thể đảm bảo những nội dung pháp quyền trên có thể trở thành hiện thực
Trang 15Trong xu thế hội nhập quốc tế về mọi mặt do sự ảnh hưởng của việc toàn
cầu hóa ở thế kỷ XX, nhiều tư tưởng triết học pháp quyền Đức ra đời với nội
dung phong phú hơn Nhưng cũng chính vì thế mà câu hỏi quan trọng nhất của triết học pháp quyền Đức thế kỷ này quan tâm là, liệu có tồn tại những nguyên tắc pháp quyền chung cho mọi nền văn hóa ? Nếu có thì nội dung của những nguyên tắc pháp quyền đó là gì ? Có nhiều học thuyết được đưa ra nhưng chiếm
ưu thế hơn cả vẫn là tư tưởng pháp quyền của Gustav Radbruch (1878 - 1949) và Athur Kaufmann (1923 – 2001)
Radbruch và Kaufmann cho rằng vấn đề cơ bản của triết học pháp quyền thế kỷ XX là công bằng xã hội Nó là tiêu chí và là cơ sở cho luật ban hành nhằm hiện thực hóa quyền con người Kế thừa và phát triển những tư tưởng của các nhà triết học trong lịch sử về khái niệm công bằng, Kaufmann đã đưa ra một khái niệm công bằng theo nghĩa rộng, không chỉ dừng lại ở mặt hình thức (đối xử như nhau đối với những cái như nhau và khác nhau đối với những cái khác nhau của Aristote), mà còn là sự kết hợp hài hòa với nội dung (công bằng xã hội) và chức năng (an toàn pháp lý) của nó Ông cho rằng sự thực hiện bình đẳng và công bằng
xã hội bảo đảm an toàn pháp lý và an toàn pháp lý không tồn tại cho bản thân mà phục vụ cho sự bình đẳng và công bằng xã hội Khi đưa ra những ý tưởng pháp quyền mang tính bao trùm trên, Kaufmann cũng đề cập đến những mâu thuẫn nội tại của nó (giữa công bằng xã hội và an toàn pháp lý) và cách thức giải quyết vấn
đề trong trường hợp giữa chúng có sự xung đột
Nhìn chung, vấn đề cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX là làm thế nào để hiện thực hóa quyền con người và giải quyết vấn đề công bằng xã hội Bởi việc nghiên cứu xuất phát từ nhiều góc độ và thế giới quan khác nhau nên các nhà triết học cũng đưa ra nhiều cách thức khác nhau trong việc hiện thực hóa nội dung tư tưởng pháp quyền với những hệ thống quyền lực khác nhau Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, một số tư tưởng pháp quyền Đức đã tách rời tính chất đặc trưng của nó, vi phạm nghiêm trọng
Trang 16quyền con người (pháp quyền thực chứng và nhà nước phát xít Đức), nhưng nhìn chung, tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX phong phú, đa dạng, thể hiện sự kế thừa tinh thần văn hóa pháp quyền Đức trong nhiều thế kỷ Nó không không chỉ đề cập đến tư tưởng pháp quyền Đức trong quá khứ
mà còn liên quan đến những vấn đề thời sự rất quan trọng của một nhà nước pháp quyền hiện đại hướng tới những giá trị nhân văn sâu sắc Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, do những điều kiện khách quan và chủ quan nên vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức Xuất phát từ việc cần phải nâng cao năng lực lý luận về vấn
đề pháp quyền và kế thừa có tính sáng tạo những mặt tiến bộ của tư tưởng văn minh nhân loại, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,
chúng tôi đã chọn “ Lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX” làm đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Ở phương Tây nói chung và ở Đức nói riêng, triết học pháp quyền là một môn học quan trọng của triết học, có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng đến thể
chế chính trị, văn hóa và pháp quyền trong những giai đoạn lịch sử cụ thể Ở
Việt Nam tư tưởng triết học pháp quyền được đề cập đến trong các học thuyết
lý luận về nhà nước và pháp luật, triết học chính trị và chính trị học Trong các
tác phẩm "Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế” của các học giả liên bang
Nga biên sọan và Lưu Kiếm Thanh, Phạm Hồng Thái dịch, Nxb Văn hóa thông
tin, Hà Nội, xuất bản năm 2001; “Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật” do Đào Trí Úc (chủ biên) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1995, “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của TS Trần Hậu Thành, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; Nguyễn Ngọc Đào “Lịch sử nhà nước và pháp luật nhà nước”, xuất bản năm 1998; “Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật” của Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc
Trang 17gia, Hà Nội, 1995…đã đề cập đến khái niệm pháp quyền, nhà nước pháp quyền, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền trong tiến trình lịch sử tư tưởng nhân loại và thực tiễn tổ chức nhà nước theo hướng
nhà nước pháp quyền hiện nay trên thế giới
Tài liệu nghiên cứu về lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế
kỷ XVIII đến thế kỷ XX ở Việt Nam chưa nhiều Hầu hết các bài báo khoa học
và tài liệu tham khảo tập trung trình bày và phân tích tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ XIX, cụ thể là của Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich Engels (1820 -1895) thông qua một số tác phẩm tiêu biểu đã được dịch ra tiếng Việt (Mác và
Ăngghen toàn tập) như "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel"
(1843), "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel Lời nói đầu”
sản" (1848), "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước", (1884) và bộ "Tư bản" gồm ba tập xuất bản vào những năm 1867, 1885 và
1894 Qua đó các nhà nghiên cứu đã làm rõ nội dung cơ bản của Marx và Engels về nguồn gốc, bản chất của nhà nước và pháp luật, cũng như cách thức hiện thực hóa nội dung pháp quyền thông qua thể chế chính trị
Tư tưởng triết học pháp quyền của các nhà triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII - XIX như Immanuel Kant (1724 – 1804), Johann Gottlieb Fichte (1762 -
1814), và Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831) lại càng ít hơn bởi nguồn tài liệu gốc được liệu dịch ra tiếng Việt quá ít Chúng ta có thể tìm thấy
tư tưởng pháp quyền của các nhà triết học trên thông qua một số tài liệu tham
khảo như “Triết học Imanuin Cantơ”của Nguyễn Văn Huyên, Nxb Khoa học
xã hội, Hà nội, xuất bản năm 1996; “I Cantơ - Người sáng lập nền triết học cổ điển Đức”do Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
xuất bản năm 1977 Các công trình khoa học trên chủ yếu đề cập đến triết học
lý luận và triết học đạo đức của Kant, chỉ một vài bài nghiên cứu trình bày khái
Trang 18quát tư tưởng triết học pháp quyền của ông Trong các tác phẩm “Lịch sử triết học”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1998, của Nguyễn Hữu Vui; “Lịch sử phép biện chứng” (tập 3), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998,
của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, do Đỗ Minh Hợp dịch và hiệu đính;… đã giới thiệu sơ lược một số tư tưởng pháp quyền của Kant và Hegel Đáng chú ý
là tác phẩm “Triết học pháp quyền của Hêghen”, do Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, xuất bản năm 2002, của Nguyễn Trọng Chuẩn và Đỗ Minh Hợp đã đề cập đến những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Hegel như ý chí tự do và vấn đề bản chất của pháp luật; vấn đề xã hội, nhà nước và con người; vấn đề quan hệ giữa các nhà nước và lịch sử thế giới
Thông qua sự phân tích các tác phẩm của Marx về triết học pháp quyền
Hegel như “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”; “Lời nói đầu cho tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, của
Đinh Ngọc Thạch, một số nội dung tư tưởng của triết học pháp quyền Hegel cùng với thế giới quan duy tâm thần bí, tính chất dung hòa về mặt chính trị của ông đã được làm rõ Những năm gần đây, Bùi Văn Nam Sơn đã dịch và chú giải một số tác phẩm quan trọng của Immanuel Kant trong đó có tư tưởng triết
học pháp quyền, cụ thể là “Phê phán lý tính thuần túy”, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 2004; “Phê phán lý tính thực hành”, Nxb Tri thức, Hà Nội, xuất bản năm 2007 và “Phê phán năng lực phán đoán”, Nxb Tri thức, Hà Nội, xuất
bản năm 2007; Một số tác phẩm quan trọng của hệ thống triết học G.W F
Hegel cũng được Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải Đó là “Hiện tượng học tinh thần”, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 2006; “Bách khoa thư các khoa học triết học - I Khoa học Lôgíc”, Nxb Tri thức, Hà Nội, xuất bản năm
2008 và “Các nguyên lý của triết học pháp quyền”, Nxb Tri thức, Hà Nội,
năm 2010 Đây là những nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng ta có cơ sở để phân tích tư tưởng triết học pháp quyền Kant và Hegel một cách hệ thống hơn
Trang 19Nhìn chung, tài liệu nghiên cứu tiếng Việt về lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX còn rất ít Đặc biệt là tư tưởng pháp quyền của các nhà triết học khai sáng Đức thế kỷ XVIII như Christian Thomasius (1655 - 1728), Christian Wolff (1679 - 1754) và tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ XX như Gustav Radbruch (1878 - 1949) và Athur Kaufmann (1923 – 2001) hầu như chưa được các nhà khoa học ở nước ta quan tâm
Ở Đức, lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ
XIX rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên không phải nhà triết học Đức nào cũng đề cập đến tư tưởng pháp quyền, và không phải tư tưởng pháp quyền nào cũng có giá trị Vì vậy đề tài chỉ tập trung phân tích những tư tưởng pháp quyền tiêu biểu có ý nghĩa nhất định của từng thế kỷ Để thực hiện tốt đề tài,
chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu cả nguồn tài liệu nguyên bản của các nhà triết học, lẫn nguồn tài liệu tham khảo có giá trị
Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII có ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển của lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức sau này, đặc
biệt là tư tưởng triết học pháp quyền của Christian Thomasius (1655 - 1728),
Christian Wolff (1679 - 1754) và Immanuel Kant (1724 – 1824)
Trong những tài liệu tham khảo về tư tưởng triết học Christian
Thomasius có thể kể đến tác phẩm “Giới thiệu về Christian Thomasius”
(“Christian Thomasius zur Einführung”) của Peter Schröder, Nxb Junius Verlag, 1999; hai tác phẩm “Vương quốc và luật pháp trong triết học Đức” (“Reich und Recht in der deutschen Philosophie”, xuất bản năm 1943 và “Tìm hiểu về lịch sử tư duy pháp quyền Đức và về những học thuyết đạo đức”(Untersuchungen zur Geschichte des deutschen Rechtsdenken und zur Sittenlehre”, xuất bản năm 1944 của K Larenz
Các tác giả trên đã trình bày và phân tích tư tưởng pháp quyền của Thomasius trong mối quan hệ với thể chế chính trị phong kiến và đạo đức cửa
Vương quốc Đức thời bấy giờ Theo đó, Thomasius đã bác bỏ quan điểm cho
Trang 20rằng, ý chí của Thượng đế tạo nên bản chất tự nhiên của con người và vì vậy luật tự nhiên nằm trong ý chí của Thượng đế và trở thành cơ sở của luật thành văn Ông chỉ công nhận con người và cuộc sống tình cảm của họ Con người là
một thực thể cảm tính Phù hợp với quan điểm đó, Thomasius cho rằng, sự ổn
định của luật pháp là sự ổn định của cuộc sống ham muốn và xúc cảm nội tâm của con người dưới khía cạnh của những ý tưởng về lợi ích Sự ổn định của luật pháp là cần thiết bởi những ham muốn của con người như sự hiếu thắng, tham vọng và tính hưởng thụ cá nhân có thể làm cho đời sống xã hội mất sự ổn định Theo ông, cần thiết phải có những biện pháp bắt buộc từ bên ngoài để hạn chế những ham muốn cá nhân nhằm đưa lại sự ổn định cho xã hội Luật không phải là trách nhiệm đạo đức bên trong mà là sự bắt buộc nhằm cân bằng một cách thông minh kết quả của tất cả các cá nhân bằng phương tiện quyền lực nhà nước Ông nhấn mạnh sự cần thiết phải tách rời đạo đức, tôn giáo khỏi luật pháp hiện hành, và nhà thờ khỏi nhà nước Các qui phạm pháp luật có thể cưỡng chế thực hiện, nó có nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội, còn đạo đức là lĩnh vực của lương tâm cá nhân, thuộc
về đời sống nội tâm của con người
Tư tưởng triết học của Christian Wolff được đề cập đến trong nhiều tài
liệu tham khảo Một số tác phẩm như “Sự trình bày mang tính khái quát về triết học của Christian Wolff, Günter Gawlick, und Lothar Kreimendahl” (“Einleitende Abhandlung über Philosophie im allgemeinen von Christian Wolff, Günter Gawlick, und Lothar Kreimendahl”) của Frommann Holzboog, 2006; “Trách nhiệm pháp lý mang tính lý tính của Christian Wolff” (“Das rationale Pflichtenrecht Christian Wolff) của B.Winiger, xuất bản năm 1992,
“Lịch sử triết học” (“Geschichte der Philosophie”), tập 2, của Hirschberger,
Johannes, xuất bản năm 1991, cho chúng ta một cách nhìn tổng thể tư tưởng
pháp quyền của Wolff Theo đó Wolff cho rằng, tất cả các hiện tượng trong tự nhiên đều có thể nhận thức được bằng lý tính Giống Thomas Aquinas, Wolff
Trang 21cho rằng, giữa lý tính và niềm tin không có sự mâu thuẫn, vì vậy con người vừa
có thể thực hiện trách nhiệm tôn giáo của mình vừa có thể thực hiện trách nhiệm xã hội do luật pháp hiện hành qui định Luật thành văn cần phù hợp với luật tự nhiên
Tài liệu về tư tưởng triết học pháp quyền Immanuel Kant khá nhiêu
Phần lớn các tác phẩm quan trọng của ông vẫn được lưu giữ nguyên bản, thậm chí được tái xuất bản nhiều lần với những chú giải phong phú của các nhà
nghiên cứu như “Phê phán lý tính thuần túy” (“Kritik der reinen Vernunft”) ,
do Raymund Schmidt phát hành, Nxb Philipp Reclam jun Leipzig, 1979;
“Dẫn luận về một siêu hình học tương lai” (“Prolegomena zu einer jeden künftigen Metaphysik”), do Steffen Dietzsch phát hành, Nxb Philipp Reclam jun Leipzig, 1979; “Phê phán năng lực phán đoán” (“Kritik der Urteilskraft”), do Karl Kehrbach phát hành, Nxb Philipp Reclam jun Leipzig, 1982; “Đặt nền móng cho siêu hình học của đạo đức” (“Grundlegung zur Metaphysik der Sitten”), do Matina Thom phát hành, Nxb Philipp Reclam jun Leipzig, 1983; “Phê phán lý tính thực tiễn” (“Kritik der praktischen Vernunft”) do Matina Thom phát hành, Nxb Philipp Reclam jun Leipzig,
1983
Tư tưởng chủ đạo của Kant về triết học pháp quyền trong các tác phẩm
của ông là khẳng định quyền con người xuất phát từ quyền tự nhiên bẩm sinh (das angeborene Recht) và quyền có được (das erworbene Recht) do pháp luật ban hành qui định – một bước tiến lớn so với tư tưởng pháp quyền tự nhiên của thời phục hưng – cận đại Điều đặc biệt ở Kant là luận giải của ông về khái niệm “pháp quyền” và “trách nhiệm pháp lý” (die Rechtspflichten) Khác với cách hiểu thông thường theo nghĩa tiêu cực (chịu sự trừng phạt khi gây ra hậu quả xấu), trách nhiệm pháp lý ở Kant được hiểu theo nghĩa tích cực là nghĩa vụ của mỗi người đối với chính mình và với mọi người Theo đó, với chính mình, hãy là một con người biết nhận thức về quyền của mình trong mọi quan hệ xã
Trang 22hội Luôn khẳng định giá trị của mình là giá trị của một con người, không tự làm mình chỉ trở thành phương tiện, mà đối với người khác hãy đồng thời là mục đích Với mọi người, không làm điều gì bất công, phải đối xử đúng luật và hãy tránh xa những mối liên hệ, những tổ chức gây bất công cho người khác
Nguồn tài liệu tham khảo về triết học pháp quyền Kant khá đa dạng Một
trong những tác phẩm quan trọng khái quát tư tưởng triết học của Kant tương
đối hệ thống là tác phẩm “Kants Rechtsphilosophie” (“Triết học pháp quyền của Kant”) của G.- W Kuenters, xuất bản năm 1988 Tập hợp những văn bản
liên quan đến tư tưởng pháp quyền Kant, nhà nghiên cứu H Klenner đã cho ra
đời tác phẩm “Immanuel Kant, học thuyết pháp quyền; tài liệu về triết học pháp quyền” (“Immanuel Kant, Rechtslehre; Schriften zur Rechtsphilosophie”) xuất bản năm 1988, trong đó ông đi sâu phân tích tư
tưởng pháp quyền tự nhiên của Kant, cụ thể là quyền tự do của con người và khái niệm “pháp quyền” của Kant
Những tài liệu khá quan trọng luận bàn trực tiếp về hệ thống pháp quyền của Kant bao gồm luật tự nhiên và luật ban hành, khẳng định sự tiến bộ của Kant khi ông vừa kế thừa tư tưởng pháp quyền tự nhiên của các nhà khai sáng Pháp để lập luận cho quyền tự nhiên của con người, vừa thấy được tầm quan trọng của luật ban hành trong việc thực thi quyền tự nhiên đó, thể hiện rõ trong
các tác phẩm “Khái niệm của Kant về luật tự nhiên và mối quan hệ giữa tư luật
và công luật” (“Kants Begriff des Naturrechts und das Verhältniss von privatem und öffentlichem Recht”) của G Römpp, xuất bản 199; “Luật tự nhiên và luật ban hành trong triết học pháp quyền Kant”( “Naturrecht und positives Recht in Kants Rechtsphilosophie”) do R Dreier chủ biên, xuất bản
năm 1990
Tư tưởng cơ bản của triết học pháp quyền Kant về vấn đề tự do, quyền
và phẩm giá làm người được trình bày trong nhiều tác phẩm trong đó có các tác
phẩm “Nhân phẩm con người, pháp quyền và nhà nước của Kant: năm sự
Trang 23nghiên cứu” (“Menschenwürde, Recht und Staat bei Kant: Fünf Untersuchungen”) của Dietmar von der Pfordten , Nxb Mentis-Verlag, xuất bản năm 2009; “Siêu hình học Kant: cuộc cách mạng trong tư duy lý luận hay Kant về tự nhiên, Thượng đế và con người” (“Die Metaphysik Immanuel Kants: Eine Revolution im theoretischen Denken oder Kant über die Natur, Gott und den Menschen”) của Georg Biedermann, Nxb Angelika Lenz Verlag, xuất bản năm 2000; “Sở hữu và lập luận về nhà nước trong siêu hình học đạo đức Kant”(Eigentum und Staatsbegründung in Kants Metaphysik der Sitten”) của Rainer Friedrich, Nxb Gruyter, xuất bản năm 2004;
Nối tiếp truyền thống duy lý từ Kant, tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ
XIX đã đạt tới đỉnh cao của nó với triết học pháp quyền Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831) mà người nâng đỡ nó là Johann Gottlieb Fichte (1762 – 1814) Trên cơ sở của điều kiện kinh tế - xã hội Đức thời bây
giờ và sự tiếp thu có tính phê phán những mặt cực đoan của triết học pháp
quyền Hegel, triết học pháp quyền của Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich
Engels (1820 - 1895) ra đời, kết thúc một thời kỳ lịch sử rất đáng tự hào của
dân tộc Đức trên lĩnh vực tinh thần
Các tác phẩm nguyên bản của Johann Gottlieb Fichte về tư tưởng triết
học nói chung và tư tưởng pháp quyền nói riêng được con trai ông - Immanuel
được Nxb Bayrische Akademie der Wissenschaften, tái xuất bản năm 1971,
trong đó có tác phẩm “Những nền tảng của pháp quyền tự nhiên theo những nguyên tắc của học thuyết khoa học” (“Grundlage des Naturrechts nach Prinzipien der Wissenschaftslehre”) - một tác phẩm quan trọng luận bàn về tư
tưởng pháp quyền tự nhiên của Fichte
Các tác phẩm quan trọng khác của Fichte như “Sự đòi hỏi trở lại của sự
tự do tư tưởng từ những lãnh chúa Châu âu đối với những dân tộc mà họ đã đè nén cho đến nay”(“Zurückforderung der Denkfreiheit von den Fürsten
Trang 24Europens, die sie bisher unterdrückten”) được Frank – Peter Hansen phát hành, Nxb Akademie – Verlag , Berlin, năm 1998; “Về khái niệm học thuyết khoa học nói chung” (“Űber den Begriff der Wissenschaftslehre überhaupt”)
do Johannes Hirschberger phát hành, Nxb Herder, Freiburg, năm 1991; “Cơ
sở của toàn bộ học thuyết khoa học” ( “Grundlage der gesammten Wisenschaftslehre”) do Schulter Gueter phát hành, Nxb Campus Verlag, Frankfurt am Main; “Những ý niệm về triết học của tự nhiên” (“Ideen zu einer Philosophie der Natur”) (1797), trong: Tủ sách các nhà triết học, do Heinrich Opitz và Hans Steussloff phát hành, Nxb Dietz Verlag, Berlin, năm 1988; “Về linh hồn thế giới, một giả thuyết của vật lý tối cao nhằm giải thích về cơ thể phổ biến” (“Von der Weltseele, eine Hypothese der hoeheren Physik zur Erklaerung des allgemeinen Orgasnismus”) (1798), do Manfred Schoeter phát hành, Nxb Frankfurt a Main;“Nhà nước thương mại khép kín Một phác thảo triết học như là sự bổ sung cho học thuyết về luật và là sự thử nghiệm về một chính sách chính trị trong tương lai” (“Der geschlossene Handelsstaat Ein philosophischer Entwurf als Anhang zur Rechtslehre und Probe einer kuenftig zu liefernden Politik”) (1800) do Kutschera Franz phát hành, Nxb Deutscher Verlag der Wissenschaften, Berlin, năm 1982 “Hệ thống của học thuyết đạo đức” (“Das System der Sittenlehre”) do Immanuel Hermann Fichte phát hành, Nxb Bayrische Akademie der Wissenschaften, 1971, t.2; “System des transzendentalen Idealismus” (“Hệ thống chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm”) (1800), do Wener Juergen phát hành, Nxb Frankfurt am Main, 1982; “Hệ thống của học thuyết pháp quyền” (“Das System der Rechtslehre”)
(1812), do Richard Schottky phát hành, Hamburg, 1980
Tư tưởng cơ bản của triết học pháp quyền Fichte trong các tác phẩm của ông là vấn đề tự do và cùng với nó là quyền tự nhiên của con người Một trong những tác phẩm có ý nghĩa quan trọng trong tư tưởng triết học pháp quyền của
Fichte là tác phẩm “Những nền tảng của pháp quyền tự nhiên theo những
Trang 25nguyên tắc của học thuyết khoa học” (“Grundlage des Naturrechts nach Prinzipien der Wissenschaftslehre” (1796) Trong tác phẩm này Fichte đã đề
cập đến những nội dung cơ bản của triết học pháp quyền (khái niệm pháp
quyền, quan hệ pháp quyền, hệ thống pháp luật…), đặc biệt là quyền nguyên thủy (Urrecht) của con người theo lập luận của những nguyên tắc khoa học
chung Một trong những nguyên tắc đó là: cái Tôi không thể tồn tại nếu không
có cái Không - Tôi, hay cái Tôi bị giới hạn bởi cái Tôi khác Vận dụng nguyên
tắc trên vào lĩnh vực pháp quyền, Fichte đã lập luận rằng mỗi cá thể (tức chủ
thể - Subjektivitaet) không thể tồn tại nếu không có sự tồn tại của những cá thể khác (cái liên chủ thể – Intersubjektiviaet) và tự do của mỗi cá thể cần sự tồn tại (bị giới hạn bởi) tự do của những cá thể khác
Trong tác phẩm “Nhà nước thương mại khép kín Một phác thảo triết học như là sự bổ sung cho học thuyết về luật và là sự thử nghiệm về một chính sách chính trị trong tương lai” (“Der geschlossene Handelsstaat Ein philosophischer Entwurf als Anhang zur Rechtslehre und Probe einer künftig
zu liefernden Politik”) (1800), Fichte đã trình bày một mô hình nhà nước lý tính (Vernunftstaat) với những những đạo luật và cách thức sản xuất cụ thể để
mỗi con người đang sống là một công dân thực sự của nhà nước đó và mỗi sản phẩm do công việc làm ra thuộc vào khối lượng của vòng luân chuyển chung Một nhà nước mà sự phân công lao động giữa các nghành nghề phải phù hợp với năng lực tự nhiên và mỗi người đều phải có việc để tồn tại xứng đáng với nhân phẩm của một con người
Từ sự phân tích mối quan hệ giữa tự do và quyền, giữa quyền và luật
trong tác phẩm “Hệ thống của học thuyết pháp quyền” (“Das System der Rechtslehre”) (1812), Fichte kết luận rằng “pháp luật nhất thiết phải là một
tổng thể (eine Allheit), và chỉ những cá thể mà ý chí của anh ta tự giác phục tùng pháp luật mới thuộc vào tổng thể đó.” Một nguyên tắc quan trọng nhất trong quan hệ pháp quyền, theo Fichte, là “tất cả cần phải được tự do và không
Trang 26ai cản trở tự do của người khác” (“Alle sollen frei sein, und keiner die Freiheit des Andern stoeren”)
Tự do của mỗi cá nhân thể hiện thông qua hành vi đạo đức Nhưng hành
vi đạo đức chỉ có thể có nếu các cá nhân đối xử với nhau như những nhân cách, thừa nhận quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền duy trì sự sống của tất cả những người còn lại Tất cả cần phải hạn chế tự do tự nhiên của mình để người khác cũng được tự do Tuy nhiên theo Fichte, trong thực tế không phải lúc nào các cá nhân cũng thực hiện đúng nguyên tắc trên, vì vậy tình trạng sử dụng vũ lực để chống lại nhau là khó tránh khỏi Để thoát khỏi tình trạng trên, các cá nhân phải trao toàn bộ quyền và sức mạnh của mình cho một tổ chức cao hơn có thể đảm bảo quyền của họ, đó là nhà nước Một nhà nước hoàn thiện là nhà nước hiện thực hóa những quyền cá nhân của con người
Nguồn tài liệu tham khảo liên quan đến tư tưởng triết học pháp quyền Fichte khá đa dạng, trong đó có nhiều tác phẩm quan trọng bàn về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong hệ thống triết học Fichte, vai trò của triết học Fichte trong chủ nghã duy tâm Đức và vấn đề tự do trong triết học phap quyền
học Fichte và học thuyết về luật trong hệ thống”("Die Vernunft ist praktisch”: Fichtes Ethik und Rechtslehre im System”) của Carla De Pascale, Nxb Duncker
& Humblot, xuất bản năm 2003; “Hệ thống của luân lý/ phê phán pháp quyền
tự nhiên Fichte” (“System der Sittlichkeit / Kritik des Fichteschen Naturrechts”) của Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Horst D Brandt và Kurt Reiner Meist, Nxb.Meiner, xuất bản năm 2001; “Học thuyết của Fichte về những mối quan hệ pháp quyền: diễn giải điều 1- 4 trong „Cơ sở pháp quyền
tự nhiên” và vị trí của nó trong triết học pháp quyền” (“Fichtes Lehre vom Rechtsverhältnis: Die Deduktion der §§ 1-4 der "Grundlage des Naturrechts”
Trang 27und ihre Stellung in der Rechtsphilosophie”) của Rainer Zaczyk, Nxb
Klostermann, xuất bản năm 1992
Triết học pháp quyền Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831)
nhận được sự quan tâm thu hút từ nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như triết học, đạo đức học, chính trị học, luật học,… Tài liệu nghiên cứu về triết học pháp quyền Hegel rất đa dạng và phong phú, xuất phát từ nhiều góc độ và thế giới quan khác nhau Đáng chú ý nhất là tài liệu của nhà nghiên cứu Manfred Riedel Trong nhiều năm thu thập tài liệu về triết học Hegel nói chung
và triết học pháp quyền của ông nói riêng, Riedel đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn vừa tổng thể vừa chuyên biệt về các lĩnh vực của toàn bộ hệ thống triết học Hegel Đối với triết học pháp quyền Hegel, Riedel đã nghiên cứu và tập hợp một khối lượng lớn những bài viết (đồng ý, phê phán, bình luận, giải thích)
về tác phẩm “Những nguyên lý của triết học pháp quyền” của Hegel trong các
tác phẩm “Nghiên cứu về triết học pháp quyền Hegel” (“Studien zu Hegels Rechtsphilosophie”), xuất bản tại Frankfurt am Main năm 1969; “Lý luận và thực tiễn trong tư duy Hegel” (“Theorie und Praxis im Denken Hegel”), xuất bản tại Stuttgart năm 1965; “Những tài liệu về triết học pháp quyền Hegel” (“Materialien zu Hegels Rechtsphilosophie”), tập 1 và 2, xuất bản tại Frankfurt
am Main những năm 1974 và 1975; “Xã hội công dân và nhà nước ở Hegel” (“Bürgerliche Gesellschaft und Staat bei Hegel”), xuất bản tại Frankfurt am
Trang 28Hegel” (“Anspruch und Leistung von Hegels “Rechtsphilosophie”), của Jermann, Christian, xuất bản tại Stuttgart, năm 1986; “Sự tự do và hệ thống ở Hegel” (“Freiheit und System bei Hegel”), của Angehrn, Emil, xuất bản tại Berlin năm 1976; “Hegel và lịch sử triết học” của Dietmar Heidemann, xuất bản tại Berlin năm 2004; “Hegel và cách mạng Pháp” (“Hegel und die französische Revolution”), của Ritter, Joachim, xuất bản tại Frankfurt am
“Hegel và cách mạng Pháp” (“Hegel und die französische Revolution”) lại
cho rằng triết học pháp quyền Hegel thể hiện tinh thần tự do của cách mạng Pháp, tuy nhiên hiện thực của tinh thần ấy được Hegel thực hiện bằng con đường dung hòa các mặt đối lập Vì vậy mô hình quân chủ lập hiến của Hegel
không hoàn toàn là không có ý nghĩa
Quan điểm chủ đạo của các công trình nghiên cứu về triết học pháp quyền Hegel vẫn là phê phán sự bảo thủ về mặt chính trị và tư duy tư biện, thần
bí về mặt phương pháp Trong tác phẩm “Hegel và thời đại của ông Những bài giảng về sự hình thành và phát triển, bản chất và giá trị của triết học Hegel” (“Hegel und seine Zeit Vorlesungen ueber Entstehung und
Trang 29Entwicklung, Wesen und Wert der Hegel’schen Philosophie”) của Haym
Rudolf, xuất bản tại Berlin,năm 1962, tác giả đã phê phán gay gắt quan điểm chính trị cực đoan của Hegel nhằm bảo vệ chế độ hiện tồn của chính quyền
Phổ
Trong các tác phẩm “Sự bình luận mang tính phê phán của hệ thống triết học Hegel” (“Kritische Erlaeuterungen des Hegelschen Systems”) của Rosenkramz, Karl, xuất bản tại Koeningsberg năm 1963; “Hiện tượng học tinh thần của Hegel và nhà nước Một đóng góp cho sự bình luận về hiện tượng học tinh thần và triết học pháp quyền cũng như lịch sử phát triển của hệ thống triết học Hegel” (“Hegels Phänomenologie des Geistes und der Staat Ein Beitrag zur Auslegung der Phänomenologie des Geistes und Rechtsphilosophie und zur Geschichte der Entwicklung des Hegelschen Systems”), của Busse, Martin,
xuất bản tại Berlin năm 1971, các nhà nghiên cứu đã phân tích tư tưởng triết học Hegel một cách có hệ thống và đưa ra những bình luận, đánh giá về sự tiến
bộ cũng như những hạn chế của triết học pháp quyền Hegel Mặc dù nghiên cứu tư tưởng triết học pháp quyền Hegel từ nhiều góc độ và thế giới quan khác nhau, nhưng hầu hết họ đều nhất trí rằng, vấn đề cơ bản của triết học pháp quyền Hegel là vấn đề tự do ý chí, vấn đề nhà nước và quyền lực nhà nước cũng như mối quan hệ giữa chúng
Tư tưởng triết học pháp quyền Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich
Engels (1820 - 1895) thu hút nhiều công trình nghiên cứu từ nhiều góc độ và
quan điểm khác nhau Nguồn tài liệu nguyên bản về tư tưởng pháp quyền được tìm thấy trong Karl Marx / Friedrich Engels Toàn tập (Karl Marx / Friedrich
Engels Gesamtausgabe (MEGA)) với những tác phẩm tiêu biểu như "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel Học thuyết về nhà nước" (“Zur Kritik
der Hegelschen Rechtsphilosophie Staatslehre”) (1843), "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel Lời nói đầu” (“Zur Kritik der Hegelschen Rechtsphilosophie Vorrede”) (1843/1844), "Hệ tư tưởng Đức” ( “Die
Trang 30deutsche Ideologie”) (1845/1846), "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" (das Manifest der kommunistischen Partei”)(1848), "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (“Der Ursprung der Familie, des Privateigentums und des Staats”) và bộ“Tư bản” (“Das Kapital”)
Tư tưởng cơ bản của triết học pháp quyền Marx trong "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel Học thuyết về nhà nước" là phê phán tính
chất duy tâm, tư biện, thần bí của triết học pháp quyền Hegel về mối quan hệ giữa gia đình, xã hội công dân và nhà nước; về quyền lực nhà nước (quyền lực của nhà vua, quyền hành pháp, lập pháp), phân tích sự khác nhau giữa chế độ nhà nước quân chủ lập hiến và chế độ nhà nước dân chủ, khẳng định rằng pháp luật phải tồn tại vì nhân dân chứ không phải nhân dân tồn tại vì pháp luật, và điều đó chỉ có thể xảy ra trong một chế độ nhà nước dân chủ mà thôi
Tác phẩm thể hiện rõ nhất tư tưởng pháp quyền của Engels là "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” Trong tác phẩm này Engels đã vận dụng quan điểm duy vật lịch sử để phân tích các mối quan hệ
xã hội trong các giai đoạn lịch sử và đi đến kết luận rằng, các tiền đề kinh tế và điều kiện lịch sử làm phát sinh chế độ tư hữu, nhà nước và gắn với chúng là sự
tiến hóa của các hình thức hôn nhân và gia đình Engels đã phát hiện ra cơ sở kinh tế của chế độ tư hữu (sự phát triển của lực lượng sản xuất, cụ thể là của tư liệu sản xuất; sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và trao đổi hàng hóa phát triển mạnh), của giai cấp và nhà nước Từ đó Engels đã chứng minh tính chất nhất thời về mặt lịch sử của chúng Ông nhấn mạnh tính biện chứng của
sự phát sinh ra chế độ tư hữu và nhà nước với tính cách là cơ sở của xã hội có đối kháng giai cấp Nhà nước được hình thành do mâu thuẫn giai cấp và trở thành “công cụ bóc lột“, là “bộ máy đàn áp“ của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị
Tất cả những tài liêu nguyên bản trên của Marx và Engels về pháp quyền
được tập hợp trong “Karl Marx / Friedrich Engels Toàn tập (MEGA): Tác
Trang 31phẩm của Karl Marx đến năm 1844” (“Karl Marx / Friedrich Gesamtausgabe (MEGA): Werke von Karl Marx bis 1844” do Oldenbourg Akademieverlag , xuất bản năm 2009; “Karl Marx / Friedrich Engels: Hệ tư tưởng Đức” (“Karl Marx / Friedrich Engels: Die deutsche Ideologie”) do Harald Bluhm biên soạn, Nxb Oldenbourg Akademieverlag, xuất bản năm 2009 “Karl Marx / Friedrich Engels Toàn tập (MEGA): Tập 12-13 Tư Bản” (“Karl Marx / Friedrich Gesamtausgabe (MEGA): Bd 12 – 13 Das Kapital”) do Izumi
Omura, Keizo Hayasaka, Rolf Hecker và Akira biên soạn, Nxb Oldenbourg
Akademieverlag, xuất bản năm 2005; “Karl Marx / Friedrich Engels Toàn tập (MEGA): Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước 29”) (“Karl Marx / Friedrich Engels Gesamtausgabe (MEGA): Der Ursprung der Familie, des Privateigentums und des Staats: 29”) Nxb Oldenbourg
Akademieverlag, xuất bản năm 1990
Ngoài tài liệu gốc nguyên bản, tài liệu tham khảo của các nhà nghiên cứu
về tư tư tưởng pháp quyền của Marx và Engels khá phong phú và đa dạng (mácxít và phi mácxít) Nhưng nhìn chung, các công trình khoa học vẫn tập trung vào những tác phẩm tiêu biểu liên quan đến vấn đề nhà nước và pháp luật
của Marx, Engels Có thể kể đến những tác phẩm như “Về Karl Marx – Phê phán triết học pháp quyền Hegel” (“Ueber Karl Marx - Zur Kritik der Hegelschen Rechtsphilosophiecủa Patrick Kiesch, Nxb Grin Verlag năm 2002;
Trong tác phâm này, tác giả đã trình bày và phân tích nội dung tư tưởng cơ bản của Marx về pháp quyền thông qua sự phê phán triết học pháp quyền Hegel, tác giả đồng ý với Marx về những đánh giá tích cực cũng như những mặt còn hạn chế của triết học pháp quyền Hegel
Một số tác phẩm đề cập một cách khái quát nhất tư tưởng pháp quyền của Marx, Engels thông qua việc giới thiệu những chuyên đề về triết học Marx
trong đó có tưởng pháp quyền như “Những nguyên lý của triết học Marx” (“Grundlagen der marxistischen Philosophie”) của Manfred Bưrner und Peter
Trang 32Bollhagen, Nxb.Dietz, xuất bản năm 1959; “Dẫn nhập triết học Marx” (“Einfuehrung in die marxistische Philosophie”) của Robert Steigerwald, Nxb Edition Marx Blaetter, xuất bản năm 1990; “Bản chất và sự hình thành triết học Marx” (“Wesen und Entstehung der marxistischen Philosophie”) của
Gerhard Harig, Nxb Verl., xuất bản năm 1958;
Cũng có những nhà nghiên cứu không đồng tình hoàn toàn với quan điểm của Marx và Engels về một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tương lai dựa trên sự xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Dựa trên quan điểm của Hegel về quyền tự do sở hữu như là sự thể hiện nhân cách của con người, các nhà triết học này cho rằng sự xóa bỏ sở hữu tư nhân đi ngược lại quyền tự nhiên và quyền con người Tuy nhiên họ thừa nhận điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hường mạnh mẽ đến tư tưởng pháp quyền của một chế độ chính trị Đó là
các tác phẩm “Phê phán triết học về nhà nước và pháp quyền xã hội chủ
Staatsphilosophie ”) của Valentin Petev, Nxb Duncker & Humblot, xuất bản
năm 1989; “Hegel va học thuyết nhà nước mácxít) (“Hegel und die marxistische Staatslehre ”) của Jakob Barion, Nxb Bouvier, xuất bản năm 1963…
Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XX là sự kế thừa tư tưởng
pháp quyền Đức từ những thế kỷ trước trong xu thế hội nhập quốc tế về mọi mặt, mọi lĩnh vực Câu hỏi quan trọng mà triết học pháp quyền Đức thế kỷ này quan tâm là, liệu có tồn tại những nguyên tắc pháp quyền chung cho mọi nền văn hóa ? Có nhiều học thuyết được đưa ra đề cập đến nhiều khía cạnh khác
nhau trong lĩnh vực pháp quyền trong đó nối bật hơn cả là tư tưởng của Gustav
Radbruch (1878 - 1949) và Athur Kaufmann (1923 – 2001)
Tài liệu liên quan đến những vấn đề lý luận về nội dung pháp quyền, sự cần thiết phải kế thừa những tư tưởng tiến bộ của triết học pháp quyền tự nhiên
và triết học pháp quyền thực chứng cũng như triết học pháp quyền mácxít được
Trang 33đề cập đến trong những tác phẩm như “Dẫn nhập về khoa học luật và triết học pháp quyền trong thời đại ngày nay”(“Einführung in die Rechtswissenschaft und Rechtsphilosophie der Gegenwart“) của Alfred Bllesbach, Guenter
Ellscheid, Winfried Hassemer und Arthur Kaufmann, Nxb C.F Mueller, xuất
bản năm 2010; “Triết học pháp quyền: Sách nghiên cứu” („Rechtsphilosophie: Ein Studienbuch”) của Reinhold Zippelius, Nxb Beck Juristischer Verlag, xuất bản năm 2007; “Triết học pháp quyền và học thuyết về luật” (“Rechtsphilosophie und Rechtstheorie”) của Matthias Mahlmann, Nxb Nomos, xuất bản năm 2010; “Triết học pháp quyền trong thế kỷ XX: Sự trở lại của công bằng” (“Rechtsphilosophie im 20 Jahrhundert: Rueckkehr der Gerechtigkeit”) của Johann Braun, Nxb C.H Beck, xuất bản năm 2001; “Triết học pháp quyền trong thời đại ngày nay” (“Rechtsphilosophie der Gegenwart”) của Arno Baruzzi, Nxb Wissenschaftliche Buchgesellschaft, xuất bản năm 2006 (“Grundprobleme der Rechtsphilosophie”) của Martin
Kriele von Lit-Verlag, 2008 Các tác phẩm trên đã trình bày và phân tích sự khác biệt cũng như sự tương đồng giữa lý luận về nhà nước và pháp luật của khoa học luật và triết học pháp quyền của khoa học triết học Khẳng định rằng triết học pháp quyền là môn học rất quan trọng của triết học và nội dung cơ bản của nó là vấn đề công bằng nhưng không chỉ là công bằng cá nhân mà là công bằng xã hội Trong thời đại ngày nay, khi các nền văn hóa đang xich lại gần nhau thì điều cần thiết là phải có những nguyên tắc pháp quyền chung mang tính thời đại, làm nền tảng cho luật ban hành
Gustav Radbruch, nhà triết học pháp quyền đã trải qua thời kỳ phát xít
nhận thấy sự sai lầm của tư tưởng thực chứng pháp quyền thời kỳ cuối, khi nó chỉ quan tâm đến tính lôgic, tính hệ thống của các đạo luật, văn bản luật mà
không để ý đến nội dung pháp quyền Trong tác phẩm “Luật ban hành bất công và luật ban hành công bằng” (“Gesetzliche Unrecht und über gesetzliches Recht”), in trong toàn tập, gồm 20 tác phẩm của ông do Arthur
Trang 34Kaufmann biên soạn, Nxb C.F Mueller, xuất bản năm 2003, đã khẳng định rằng: Ở đâu mà luật ban hành không nhằm đạt tới công bằng, ở đâu mà sự bình đẳng là hạt nhân của công bằng bị phủ nhận một cách có ý thức khi ban hành luật, thì ở đó luật ban hành không chỉ là “luật sai”, mà nó còn hoàn toàn không chứa đựng bản chất của luật Bởi vì người ta không thể nào định nghĩa pháp quyền khác đi là một trật tự mà ý nghĩa của nó không gì khác là phục vụ cho công bằng Tư tưởng trên của ông được xem như là một công thức cho luật ban
hành được phân tích trong tác phẩm “Công thức Radbruch Tìm hiểu về triết học pháp quyền Radbruch” (“Die Radbruchsche Formel Eine Untersuchung der Rechtsphilosophie Gustav Radbruchs” của Hidehiko Adachi, Nxb Nomos,
xuất bản năm 2006;
Tiếp thu tư tưởng của Radbruch, bổ sung phát triển thêm những ý
tưởng mới, Arthur Kaufmann cho rằng tiêu chí của luật ban hành phải phù
hợp với quyền tự do cơ bản và quyền con người mới được gọi là “luật đúng.”
Theo đó nội dung cơ bản của triết học pháp quyền là sự công bằng/công lý (Gerechtigkeit) hay là học thuyết về sự công bằng, mà mục đích của nó là công bằng xã hội, và để đạt được mục đích ấy cần sự bảo đảm về mặt pháp lý (an toàn pháp lý), tức là hiệu lực của luật Yêu cầu trước tiên của an toàn pháp lý
là tính xác định của luật Các khái niệm luật không xác định như “nguy hiểm“
“sai sự thật“ sẽ gây phương hại đến an toàn pháp lý Những quan điểm trên của
ông được trình bày cụ thể trong những tác phẩm “Những vấn đề cơ bản của triết học pháp quyền Nhập môn về tư duy pháp quyền” (“Grundprobleme der Rechtsphilosophie Eine Einfuehrung in das rechtsphilosophische Denken” của Arthur Kaufmann, Nxb Beck, 1994; Cụ thể và hệ thống hơn là tác phẩm “Triết học pháp quyền” (“Rechtsphilosophie” ) của Arthur Kaufmann, Nxb C.H
Beck Verlag, xuất bản năm 1997, trong đó ông đã lập luận về bản chất, nhiệm
vụ của triết học pháp quyền thế kỷ XX, lịch sử tư tưởng pháp quyền từ thời trước đến nay thông qua hai hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản là pháp quyền tụ
Trang 35nhiên và pháp quyền thực định cũng như sự chuyển hóa nội dung pháp quyền phù hợp với tình hình mới Arthur Kaufmann đã công bố trên 30 tác phẩm liên quan đền triết học pháp quyền, tạo dựng được dấu ấn trong lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức
Như vậy, với những học thuyết của mình về sự công bằng, các nhà triết học pháp quyền Đức thế kỷ XX cho rằng họ đã tìm được “con đường thứ ba“ nằm ngoài triết học pháp quyền tự nhiên và chủ nghĩa thực chứng pháp quyền Kaufmann cho rằng, học thuyết của ông về sự công bằng là “sự phản chiếu ý tưởng“ của con người Nó thể hiện rằng, con người là thực thể tự quyết (là người làm luật), là mục đích của thế giới loài người (và như vậy cũng là mục đích của luật) và con người đồng thời là thực thể phụ thuộc (chịu sự điều chỉnh của luật pháp)
Nhìn chung, tài liệu nghiên cứu về lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX rất phong phú và đa dạng Chắc chắn rằng nguồn tài liệu bằng những ngoại ngữ khác về vấn đề này cũng rất nhiều nhưng chúng tôi sẽ dựa trên nguồn tài liệu trong và ngoài nước, đặc biệt là nguồn tài liệu nguyên bản bằng tiếng Đức để trình bày, phân tích, đưa ra những nhận định khoa học nhất, đáp ứng phần nào nhu cầu tìm hiểu chuyên sâu về tư tưởng pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là trình bày và phân tích một cách có hệ thống
những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX thông qua những tư tưởng pháp quyền đặc trưng của từng thế kỷ, từ đó đưa ra những đánh giá về mặt tiến bộ, hạn chế, và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng lý luận về một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Trang 36Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát về triết học pháp quyền với những hệ tư tưởng pháp
quyền cơ bản; phân tích mối quan hệ giữa triết học pháp quyền với triết học đạo đức, lý luận pháp quyền và triết học chính trị
Thứ hai, khái quát điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận ảnh hưởng
đến tư tưởng pháp quyền Đức thế kỷ XVIII; trình bày và phân tích những nội
dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII thông qua một
số nhà triết học tiêu biểu như Christian Thomasius (1655 - 1728), Christian Wolff (1679 - 1754), Immanuel Kant (1724 – 1804), trên cơ sở đó đưa ra
những nhận định về những giá trị và hạn chế của những tư tưởng trên
Thứ ba, khái quát bối cảnh lịch sử xã hội Tây Âu và Đức thế kỷ XIX; trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XIX thông qua một số nhà triết học tiêu biểu: Johann Gottlieb
Fichte (1762 –1814), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831), Karl Marx (1818 – 1883) và Friedrich Engels (1820 - 1895), đưa ra những đánh giá
về những giá trị và hạn chế của những tư tưởng trên
Thứ tư, khái quát bối cảnh lịch sử xã hội Tây Âu và Đức thế kỷ XX; trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XX thông qua một số nhà triết học tiêu biểu như Gustav
Radbruch (1878 - 1949) và Athur Kaufmann (1923 – 2001); nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ
XX đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đề tài đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh để giải quyết những vấn đề đã được đặt ra trong mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trang 375 Những đóng góp mới của đề tài
Đề tài đã trình bày, phân tích một cách khái quát về những hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản trong lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền phương Tây cũng như sự ảnh hưởng của chúng đối với các thể chế chính trị pháp quyền trên thế giới, nhất là tại nước Đức Bên cạnh đó đề tài đã làm rõ mối quan hệ giữa triết học pháp quyền với triết học đạo đức, lý luận pháp quyền và triết học chính trị
Từ việc phân tích bối cảnh lịch sử xã hội Tây Âu và Đức trong những thế kỷ XVIII, XIX, XX, đề tài đã làm rõ sự ảnh hưởng của chúng đối với sự hình thành những tư tưởng pháp quyền Đức trong từng thế kỷ Những nội dung
cơ bản của tư tưởng pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX được trình bày và phân tích một cách có hệ thống thông qua những tư tưởng cúa các nhà triết học tiêu biểu của từng thế kỷ, từ đó đề tài đã đưa ra những nhận định về những giá trị và hạn chế của những tư tưởng trên cũng như ý nghĩa của nó đối
với việc xây dựng lý luận về một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Lịch sử tư tưởng pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX khá phong phú và đa dạng với nhiều học thuyết khác nhau, thậm chí đối lập nhau Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những tư tưởng mang tính đặc trưng của từng thế kỷ có ảnh hưởng sâu đậm đến lịch sử tư tưởng pháp quyền phương Tây nói chung và ở Đức nói riêng Đó là tư tưởng pháp quyền của Thomasius, Wolff và Kant trong thế kỷ XVIII; Fichte, Hegel, Marx và Engels trong thế kỷ XIX; Radbruch và Kaufmann trong thế kỷ XX
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở trình bày và phân tích một cách có hệ thống những nội dung
cơ bản của lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ thế kỷ XVIII đến thế
kỷ XX thông qua những tư tưởng pháp quyền đặc trưng của từng thế kỷ, từ đó đưa ra những đánh giá về mặt tiến bộ và hạn chế của nó, đề tài có ý nghĩa nhất định đối với việc xây dựng và hoàn thiện lý luận nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho
Trang 38công tác nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử tư tưởng triết học phương Tây, triết học pháp quyền, triết học chính trị và các nghành khoa học xã hội khác
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được triển khai thành 4 chương: Chương 1: Khái quát về triết học pháp quyền; Chương 2: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XVIII; Chương 3: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XIX; Chương 4: Tư tưởng triết học pháp quyền Đức thế kỷ XX
Trang 39CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN
1.1 Khái niệm triết học pháp quyền và những hệ tư tưởng
pháp quyền cơ bản
Triết học pháp quyền là một hình thái ý thức xã hội của xã hội có giai cấp, nó ra đời cùng với sự xuất hiện nhà nước Triết học pháp quyền chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định về kinh tế, xã hội và chính trị trong xã hội loài người Khi xã hội phân chia thành giai cấp và khi mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì nhà nước ra đời và cùng với nó là những tư tưởng triết học pháp quyền cũng được hình thành Điều đó cũng có nghĩa là trong xã hội cộng sản nguyên thủy, chưa thể tồn tại tư tưởng triết học pháp quyền Măc dầu vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thủy vẫn tồn tại những chuẩn mực, những qui tắc xử sự nhất định để có thể ổn định và phát triển Đó là các tập quán, các tín điều tôn giáo và những qui phạm đạo đức Các qui phạm xã hội này tuy không phải là pháp luật nhưng đã phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và được mọi người tự giác thực hiện
Sự hình thành và phát triển khái niệm pháp quyền là một quá trình lâu dài, phức tạp Là một hình thái ý thức xã hội nên đối tượng, nội dung nghiên cứu của triết học pháp quyền ở mỗi mỗi thời đại lịch sử rất khác nhau Tuy nhiên chúng ta có thể khái quát lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền thành bốn
hệ tư tưởng pháp quyền cơ bản, đó là pháp quyền tự nhiên, pháp quyền thực chứng, pháp quyền mácxít và tư tưởng pháp quyền hiện nay
Mặc dù quan điểm về triết học pháp quyền được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau do tính qui định của lịch sử thời đại và bản chất giai cấp của nó, nhưng nhìn chung triết học pháp quyền thường được các nhà
Trang 40nghiên cứu phương Tây định nghĩa là triết học về pháp luật và về quyền con người trong việc ban hành pháp luật Một trong những câu hỏi chính được đặt
ra là, con người có tự do ban hành pháp luật hay không, giá trị pháp quyền tối cao là gì, và làm thế nào thực thi những giá trị pháp quyền đó thông qua hệ
Tư tưởng pháp quyền tự nhiên có cội nguồn từ thời cổ đại, ở thời kỳ đó,
con người đã bắt đầu nghiên cứu về pháp luật và quyền lực, hình thức và cơ cấu về mối quan hệ qua lại giữa chúng Pháp luật của một nhà nước thường được các triết gia cổ đại gắn liền với khái niệm công bằng Công bằng, lẽ phải, pháp luật là do Thượng đế định ra, chúng là những thuộc tính vốn có trong Trời
- Đất, chúng đối lập với bạo lực, sự chuyên quyền, độc đoán và sự hỗn loạn Khi nói về sự phục tùng pháp luật, sự tuân thủ pháp luật của người dân La Mã
và Hy Lạp cổ xưa, thì pháp luật được hiểu là những đạo luật công bằng, hợp với lẽ thường của Trời - Đất, chứ không phải là sự áp của bạo lực Platon cho rằng, một chế độ nhà nước chỉ có thể tồn tại ở nơi nào đó, nếu ở đó các đạo luật công bằng giữ vai trò thống trị Aristote đã nhấn mạnh rằng, nơi nào không có sức mạnh của luật pháp thì nơi đó không có hình thức chế độ nhà nước Aristote nhấn mạnh tính tối cao của pháp luật trong một nhà nước được tổ chức theo đúng nghĩa của nó
Các nhà triết học cổ đại không chỉ chú trọng tới giá trị tối cao của pháp luật - sự công bằng - mà còn chú ý tới sự tổ chức hợp lý của hệ thống quyền lực nhà nước, tổ chức các cơ quan nhà nước, phân định rõ ràng thẩm quyền của các cơ quan đó Cả hai khía cạnh này đều có ý nghĩa quan trọng, gắn bó mật thiết với nhau Mặc dù không phải là người đưa ra học thuyết phân quyền theo tinh thần của lý luận về nhà nước pháp quyền nhưng Aristote đã đưa ra tư tưởng là trong bất kỳ nhà nước nào cũng phải có ba yếu tố: cơ quan làm luật,
2 A Kaufmann: Rechtsphilosophie (Triết học pháp quyền), Nxb Beck, München, 1997, tr 7 - 8