1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống ngữ âm tiếng mạ (khảo sát tại địa bàn xã đắc nia, thị xã gia nghĩa, tỉnh đắc nông)

93 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SO SÁNH ĐỐI CHIẾU VỚI HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG MẠ Ở LÂM ĐỒNG VÀ TIẾNG MNÔNG TRONG CÁC NGÔN NGỮ NHÓM NAM BAHNAR.... Ngoài ra, nghiên cứu ngữ âm tiếng Mạ ở địa bàn Đắc Nông trong sự so sánh

Trang 1

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

GVHD: PGS.TS LÊ KHẮC CƯỜNG SVTH: Nguyễn Thị Kim Chi - 1156010019

Nguyễn Thị Quế Hương - 1156010071

Hà Thị Khuyên – 1156010080

TP Hồ Chí Minh, năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6

6 Danh sách cộng tác viên 7

7 Bố cục đề tài 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10

1.1 Vài nét về dân tộc Mạ ở xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông 10

1.2 Sơ lược về tiếng Mạ 13

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TIẾNG MẠ Ở ĐẮC NÔNG 15

2.1 Cấu trúc âm tiết 15

2.1.1 Cấu trúc tiền âm tiết 15

2.1.2 Cấu trúc âm tiết chính 20

2.2 Hệ thống phụ âm đầu 25

2.2.1 Phụ âm đơn 25

2.2.2 Tổ hợp phụ âm 32

2.3 Phần vần 33

2.3.1 Âm đệm 33

2.3.2 Âm chính 33

2.3.3 Âm cuối 37

2.3.3.1 Phụ âm đơn 37

2.3.3.2 Tổ hợp phụ âm 40

Trang 3

SO SÁNH ĐỐI CHIẾU VỚI HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG MẠ Ở LÂM ĐỒNG VÀ TIẾNG MNÔNG TRONG CÁC NGÔN NGỮ NHÓM NAM

BAHNAR 46

3.1 Đối chiếu hệ thống ngữ âm tiếng Mạ ở Đắc Nông với hệ thống ngữ âm tiếng Mạ ở Lâm Đồng 46

3.2 Đối chiếu hệ thống ngữ âm tiếng Mạ ở Đắc Nông với hệ thống ngữ âm tiếng Mnông cùng địa bàn 48

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

PHỤ LỤC………57

1 Bảng từ đối chiếu từ tiếng Việt - Mạ - Mnông

2 Hình ảnh

Trang 4

1

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

1.1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ học là ngành khoa học chính yếu trong hệ thống các ngành Khoa học

xã hội Nghiên cứu ngôn ngữ, vì vậy, không chỉ đóng góp quan trọng về mặt lý luận

mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Trên cơ sở đó, nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là vấn đề đáng được quan tâm, bởi nó góp phần không nhỏ trong việc thực hiện chính sách ngôn ngữ mà Đảng và Nhà nước đề ra [23] Trong đó, nghiên cứu tiếng Mạ là vấn đề cần nhắc đến

Dân tộc Mạ sinh sống chủ yếu tại khu vực Lâm Đồng, Tây Nguyên Vì vậy, các

đề tài nghiên cứu tiếng Mạ trước đây chỉ được thực hiện ở phạm vi này Một số công

trình tiêu biểu: Các nhóm thổ ngữ tiếng Mạ [2], Hệ thống ngữ âm tiếng Mạ [1], Vấn đề

thanh trong điệu tiếng Mạ [25],… Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận tộc người Mạ cư

trú ở các địa phương và khu vực lân cận như Đắc Nông, Đồng Nai, Bình Phước,…, hơn nữa, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, vì thế, việc khảo sát ngôn ngữ phải được thực hiện ở diện rộng để nắm bắt những biển đổi, phát triển cũng như quy luật một

cách đúng đắn Việc thực hiện đề tài Hệ thống ngữ âm tiếng Mạ (Khảo sát tại địa bàn

xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông) cũng nhằm mục đích ấy Ngoài ra,

nghiên cứu ngữ âm tiếng Mạ ở địa bàn Đắc Nông trong sự so sánh, đối chiếu với tiếng

Mạ ở Lâm Đồng và các ngôn ngữ Nam Bahnar còn để làm rõ vấn đề có hay không sự tồn tại phương ngữ ở ngôn ngữ này cũng như có cơ sở xây dựng hệ thống chữ viết, phục vụ công tác giáo dục song ngữ hiệu quả

1.2 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ đề tài nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào các mục đích sau:

- Khảo sát hệ thống ngữ âm tiếng Mạ tại địa bàn tỉnh Đắc Nông;

Trang 5

- So sánh tiếng Mạ ở Đắc Nông với tiếng Mạ ở Lâm Đồng cũng như một

số ngôn ngữ khác trong nhóm Nam Bahnar

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Như tên đề tài đã gọi, đối tượng nghiên cứu chính là hệ thống ngữ âm tiếng Mạ

Trang 6

trong Nguyễn Kim Thản tuyển tập [19] cũng chia các ngôn ngữ ở Việt Nam thành 3 họ

(dựa trên những cứ liệu được sử dụng nhiều nhất): họ Nam Á, họ Hán Tạng và họ Nam Đảo Theo sự phân chia này, tiếng Mạ được xét cùng các tiếng Mnông, Kơho, Stiêng, Chrau thuộc nhóm 5 trong họ Nam Á

Hội Ngữ học mùa hè (Summer Institures of Linguistic) trong Ethnologue –

Lanuages of the World (bản in thứ 17, 2014) xếp tiếng Mạ thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm

Môn - Khmer, chi Đông Môn - Khmer, nhóm Bahnar, tiểu nhóm Nam Bahnar Tài liệu này xem tiếng Mạ là một ngôn ngữ độc lập nhưng cũng cho rằng có khi tiếng Mạ được cho là một phương ngữ của tiếng Kơho

Về mối quan hệ giữa tiếng Mạ với các ngôn ngữ cùng nhóm Môn - Khmer, Nguyễn Văn Lợi xếp tiếng Mạ nằm trong nhóm các phương ngữ Kơho bao gồm các phương ngữ: Lát, Chil, Srê, Nộp, Kơđòn, Tạp chí ngôn ngữ số 1 (1977)

Vấn đề ý thức dân tộc của người Mạ cũng được nhắc đến trong một số đề tài

Tiêu biểu có Mối quan hệ giữa người Kơho và Mạ dưới góc độ ngôn ngữ học trong quyến Tìm hiểu các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam [20; 358-369] Tác giả cho rằng

“Nếu xét về ngôn ngữ thì người Mạ và người Kơho thuộc cùng một cộng đồng người,

nhưng về thành phần dân tộc thì đó là hai dân tộc khác nhau”, bởi theo ông ý thức tự

giác dân tộc là yếu tố quan trọng nhất

Ngoài ra còn nhiều tiểu luận về tiếng Mạ và các ngôn ngữ nhóm Nam Bahnar Có

thể nhắc đến tiểu luận tốt nghiệp đại học Hệ thống ngữ âm tiếng Mạ (Tô Thị Nhân Ái)

[1] Trong tiểu luận này, đối tượng được khảo sát là ngữ âm tiếng Mạ ở xã Lộc Lâm,

Trang 7

huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Theo tác giả, hệ thống phụ âm đầu của âm tiết chính bao gồm 24 phụ âm: ph, th, ch, kh, b, d, j, g, p, t, k, c, ƀ, đ, m, n, nh, ng, w, s, y, h, l, r; phụ âm đầu của tiền âm tiết gồm 9 phụ âm: p, t, c, k, ƀ, m, s, l, r; hai âm đệm: i, u; âm chính gồm 11 nguyên âm đơn: i, ê, e, ư, ơ, â, a, ă, u, ô, o và 2 nguyên âm đôi: iê, uô; phụ âm cuối bao gồm 15 phụ âm: p, t, c, k, q, m, n, nh, ng, s, h, l, r, u, i và 2 tổ hợp phụ

âm cuối gồm một bán nguyên âm và một âm thanh hầu iq và uq Ngoài ra, tác giả khẳng định tiếng Mạ tại địa bàn khảo sát là ngôn ngữ đang trong quá trình hình thành

thanh điệu Cùng địa bàn khảo sát còn có tiểu luận tốt nghiệp Các nhóm thổ ngữ tiếng

Mạ (Trần Tuấn Anh)[2] Theo tác giả, tiếng Mạ có 24 phụ âm đơn: ph, th, ch, kh, p, t,

c, k, b, d, j, y, g, b, đ, m, n, ng, nh, w, s, h, l, r và các phụ âm kép: pl, tl, kl, br, tr, kr, gr Hệ thống nguyên âm gồm 13 nguyên âm: i, ư, u, ê, ơ, â, ô, o ( bổng), o ( trầm), a,

ă, iê, uê Hệ thống phụ âm cuối gồm 13 phụ âm: p, t, b, k, q, m, n, ng, nh, s, h, l, r và 2 bán nguyên âm: u, i Tác giả cũng khẳng định tiếng Mạ là ngôn ngữ có 4 thanh điệu: ngang , hỏi, sắc, nặng

Lê Khắc Cường có một số bài viết về các ngôn ngữ Nam Bahnar Trong Cơ cấu

ngữ âm các ngôn ngữ Nam Bahnar [7], tác giả cho rằng, cấu trúc âm tiết của các ngôn

ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Bahnar (Mnông, Stiêng, Kơho, Mạ, Chrau) có 2 dạng:

từ đơn đơn tiết (cấu trúc CSVCf với C: âm đầu, S: bán nguyên âm giữ chức năng âm đệm, V: nguyên âm làm âm chính, Cf: âm cuối) và từ đơn đa tiết (gồm tiền âm tiết (cấu trúc CpVp với Cp: phụ âm đầu, Vp: nguyên âm) và âm tiết chính (CmSVmCf với Cm: phụ âm đầu, Vm: nguyên âm, Cf: âm cuối)) Phụ âm đầu của tiền âm tiết xuất hiện ở vị trí Cp gồm: /p-, t-, c-, k-, Ɂ-, Ɂb-, Ɂd-, Ɂj-, Ɂg-, m-, n-, ɲ-, ŋ-, w-, l-, r-, y-, s-, h-/ Hệ thống phụ âm đầu của các ngôn ngữ Nam Bahnar gồm: /p-, t-, c-, k-, p’-, t’-, c’-, k’-, b- , d-, j-, g-, Ɂb-, Ɂd-,Ɂj-, Ɂg-, m-, n-, ɲ-, ŋ-,Ɂm-, Ɂn-, w-, r-, l-, Ɂl-, s-, h-/ Âm đầu này có thể do một tổ hợp phụ âm từ 2 đến 3 phụ âm đảm nhận Âm chính trong các ngôn ngữ Nam Bahnar là các nguyên âm có thêm nét siêu đoạn về trường độ: /-i-, -ɯ-, -u-, -i-, - ɯɤ-, -uo-, -e-, -ɤ-, -o-, -ɛ-, -a-, -ɔ-/ Âm cuối gồm 2 bán nguyên âm /-w, -j/, các tổ hợp

Trang 8

5

phụ âm /-jh/ (Stiêng), /-wh, -jh/ (Kơho), /-wɁ, -jɁ/ (Mạ) và các phụ âm sau: /-p, -t, -c, -

k, -Ɂ, -m, -n, -ɲ, -ŋ, -w, -r, -l, -y, -s, -h/ Các tổ hợp phụ âm /-wɁ, -jɁ/ đang được thay đổi nhanh chóng và bù đắp vào đấy là sự hình thành thanh điệu trong tiếng Mạ

Trong Đối chiếu hệ thống ngữ âm các ngôn ngữ Nam Bahnar với tiếng Việt [8;

103-107], Lê Khắc Cường đã khái quát về cấu trúc âm tiết của các ngôn ngữ Nam Bahnar Theo đó, có 2 dạng: dạng từ ngữ âm đơn tiết có cấu trúc CVC và dạng từ ngữ

âm song tiết có cấu trúc C1V(C2)C3VC4 có ranh giới C1V (C2) – C3VC4, với C1V(C2) được xem là tiền âm tiết (hay một số tài liệu cho rằng đó là âm tiết phụ), được phát âm lướt, không mang trọng âm; C3VC4 là âm tiết chính mang trọng âm Các

âm vị âm đầu, âm chính và âm cuối đều giống với những nghiên cứu trước đó của mình, riêng có thêm phần âm đệm Âm đệm trong các ngôn ngữ Nam Bahnar chỉ có một là /-w-/ Âm đệm /-w-/ có vai trò làm trầm hóa âm sắc của âm tiết

Thanh điệu trong tiếng Mạ cũng được nhiều người quan tâm Nguyễn Văn Huệ

khẳng định tiếng Mạ là ngôn ngữ có thanh điệu, đồng thời, số lượng thanh điệu có thể thay đổi từ 2 đến 5 tùy theo thổ ngữ Đối với thổ ngữ có 2 thanh (thanh cao và thanh thấp), thanh cao sẽ phân bố ở tất cả các âm tiết, riêng thanh thấp sẽ không phân bố ở các âm tiết mở và các âm tiết có nguyên âm ngắn Cả 2 thanh đều có khả năng phân bố đều trong âm tiết khi phụ âm đầu xát, hữu thanh, vô thanh hay tiền thanh hầu hóa Đối với thổ ngữ có 5 thanh, ngoài 2 thanh kể trên còn có thêm các thanh được xem là gần giống với thanh sắc (´), nặng (.) và hỏi ( ) trong tiếng Việt

Một số công trình có liên quan khác: Tô Đình Nghĩa, Hiện tượng đơn tiết hóa

trong tiếng Bahnar, Tạp chí Khoa học số 15, 1993 ; Phan Xuân Biên – Chu Thái Sơn, Dân tộc Mạ, trong Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), NXB Khoa

học xã hội, Hà Nội ; Nguyễn Văn Diệu – Phan Ngọc Chiến, Người Kơho trong Vấn đề

dân tộc ở Lâm Đồng, Sở văn hóa thông tin Lâm Đồng ; Phan Ngọc – Phạm Đức

Trang 9

Dương, Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, tái bản lần thứ nhất, NXB Từ điển Bách

khoa, 2011

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả cấu trúc kết hợp với phương pháp đối chiếu đồng đại và phương pháp thực nghiệm bằng máy tính

- Phương pháp miêu tả cấu trúc: được dùng để miêu tả cơ cấu ngữ âm tiếng Mạ;

- Phương pháp đối chiếu đồng đại: dùng để so sánh tiếng Mạ ở Đắc Nông với tiếng Mạ ở Lâm Đồng và với các ngôn ngữ Nam Bahnar khác trên bình diện ngữ âm;

- Phương pháp điền dã ngôn ngữ học: để có tư liệu cho đề tài này, chúng tôi đã trực tiếp đi đến địa phương có người Mạ để khảo sát một cách chính xác nhất những thông tin cần thiết cho quá trình nghiên cứu Chúng tôi chọn những cộng tác viên ở những độ tuổi khác nhau với trình độ học vấn khác nhau;

- Phương pháp phỏng vấn (ghi âm trực tiếp);

- Phương pháp tổng hợp: dựa vào các tài liệu tham khảo về ngôn ngữ Nam Bahnar như tiếng Mạ, tiếng Kơho, tiếng Mnông,… của các nhà ngôn ngữ học đi trước, chúng tôi dùng phương pháp tổng hợp để đưa đến kết luận về hệ thống ngữ âm tiếng Mạ;

- Phương pháp ngữ âm học thực nghiệm: được sử dụng để minh họa cho những kết luận có tính lý thuyết Chúng tôi tiến hành xử lý file ghi âm thực nghiệm bằng phần mềm Pratt do Hội Ngữ học mùa hè Hoa Kỳ soạn thảo

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: góp phần bổ sung tài liệu nghiên cứu, cung cấp những hiểu biết

về hệ thống ngữ âm tiếng Mạ Đồng thời, việc so sánh, đối chiếu tiếng Mạ ở hai địa phương Lâm Đồng và Đắc Nông còn khái quát những vấn đề về sự vận động, biến đổi của tiếng Mạ

Trang 10

7

- Ý nghĩa thực tiễn: nghiên cứu ngữ âm tiếng Mạ góp phần xây dựng hoàn chỉnh

hệ thống chữ cái Mạ, từ đó giúp cho công tác giáo dục song ngữ trở nên hiệu quả

6 Danh sách cộng tác viên

- Cộng tác viên là người Mạ:

STT Họ tên Tuổi Giới

tính Nghề nghiệp Nơi cư trú

Nam (Già làng)

Nông dân

Bon Bu Sop, xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc

Nông

2 K.Rưng 54 Nam Nông dân

Bon Bu Sop, xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc

Nông

3 K.Kam Atô 54 Nam Giáo viên

Bon Ting Wel Đơm, xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông

4 K.Ting 38 Nam Nông dân

Bon Ting Wel Đơm, xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông

5 Y.Vinh 45 Nam Giáo viên

Bon Ting Wel Đơm, xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông

6 K.Măng 75

Nam (Gìa làng)

Nông dân

Bon N’Jiên, xã Đắc Nia – thi xã Gia Nghĩa – tỉnh Đắc Nông

7 H Giang 43 Nữ Giáo viên

Thôn 3, xã Đắc Nia – thị xã

Trang 11

Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông

8 H Rum 49 Nữ Chủ tịch Hội

Phụ nữ

Bon Bu Sop, xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông

9 H Lan 22 Nữ Sinh viên

Bon N’Jiên, xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông

10 H.Grum 48 Nữ Cán bộ xã

Bon Bu Sop, xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc

Nông

- Cộng tác viên là người Mnông:

1 H Xuân 50 Nữ Giáo viên

Bon Đắc Blau, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắc R’Lấp, tỉnh Đắc Nông

Trường 49 Nam Làm rẫy

Bon Đắc Blau, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắc R’Lấp, tỉnh Đắc Nông

3 Điểu Son 48 Nam Làm rẫy

Bon Đắc Blau, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắc R’Lấp, tỉnh Đắc Nông

Bon Đắc Blau, thị trấn Kiến Đức, huyện Đắc R’Lấp, tỉnh Đắc Nông

5 Thị Jrai 25 Nữ Làm rẫy Bon Đắc Blau, thị trấn

Trang 12

9

Kiến Đức, huyện Đắc R’Lấp, tỉnh Đắc Nông

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn: nêu những cơ sở lí luận và thực tiễn,

cung cấp thông tin về người Mạ, tiếng Mạ

Chương 2: Hệ thống ngữ âm tiếng Mạ: trình bày hệ thống ngữ âm tiếng Mạ Chương 3: Ngữ âm tiếng Mạ trong sự so sánh, đối chiếu phương ngữ và một vài ngôn ngữ nhóm Nam Bahnar: so sánh đặc điểm ngữ âm tiếng Mạ ở Đắc Nông

với tiếng Mạ ở Lâm Đồng và tiếng Mnông - một ngôn ngữ khác trong nhóm Nam Bahnar để nêu bật những điểm tương đồng và dị biệt giữa chúng

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Vài nét về dân tộc Mạ ở xã Đắc Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắc Nông

Người Mạ thuộc loại hình nhân chủng Indonesian, là một trong những dân tộc thiểu số ở miền Nam Tây Nguyên Theo thống kê năm 2009, hiện có khoảng 41.405 người Mạ Họ sinh sống tập trung tại các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Nông, Đồng Nai, Bình Phước… Riêng ở tỉnh Đắc Nông, dân tộc Mạ chủ yếu cư trú tại thị xã Gia Nghĩa, huyện Đắc Song, huyện Đắc Glong…

- Về tên gọi:

Tộc danh “Mạ” thực sự có ý nghĩa gì là điều cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn Tuy nhiên, theo đa số người Mạ và phần lớn dân tộc láng giềng cùng nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer thì tộc danh “Mạ” được hiểu là đồng nhất với tên gọi phương thức sinh hoạt kinh tế của những người làm rẫy (mir) Mạ có nghĩa là những người làm rẫy

- Về kinh tế:

Phương thức kinh tế chủ yếu của người Mạ là phát rừng làm rẫy Họ trồng trọt quanh năm Đó là lúa, sắn, ngô, bầu, bí, thuốc lá, bông, đặc biệt tiêu, cà phê là loại

Trang 14

11

cây trồng mang đến nhiều nguồn lợi kinh tế Mặc dù hoạt động theo phương thức nông nghiệp nhưng công cụ sản xuất của người Mạ vẫn còn thô sơ Công cụ đơn giản được

sử dụng như dao, rìu, gậy chọc lỗ,…

Khác với trồng trọt, việc chăn nuôi của người Mạ kém phát triển hơn Vật nuôi chính là các loại gia súc, gia cầm như trâu, bò, gà, vịt, ngan, theo phương thức thả rong là chính

- Về văn hóa:

Mạ là tộc người có ý thức dân tộc sâu sắc Trong lịch sử, lãnh thổ Mạ tương đối

ổn định, vì vậy, một số tài liệu xưa gọi nó là tiểu vương quốc Mạ hoặc xứ Mạ Người

Mạ sống thành từng bon (làng), mỗi bon có từ 5 đến 10 nhà sàn dài (nhà dài là nơi ở của các thế hệ có chung huyết thống) Đứng đầu bon là wăng bon (già làng)

Trong hôn nhân gia đình: bộ tộc Mạ xác lập dựa trên chế độ phụ hệ vững chắc Đây là điều khác biệt giữa người Mạ với người Kơho, Chil, Lạt và Mnông

Trong các phong tục lễ hội: lễ nghi cúng các vị thần nông nghiệp của người Mạ được tiến hành theo chu kỳ canh tác hàng năm, quan trọng nhất là lễ cúng vào thời kỳ bắt đầu gieo hạt gọi là lễ cúng lúa, lễ cúng cơm mới, cúng vào lúc kết thúc mùa thu hoạch Bên cạnh đó, người Mạ còn có tục “cà răng, căng tai”, đeo nhiều vòng trang sức như đôi vòng hoặc bông tai cỡ lớn bằng đồng, kền, ngà voi hoặc bằng gỗ hay những khoanh rứa (kar) vàng Nam nữ đều thích mang nhiều vòng đồng ở cổ tay có những ngấn khắc chìm, đó là ký hiệu ghi nhận của các lễ hiến sinh tế thần linh mong cầu may cho chính mình Mặc dù hiện nay, tục này không còn nữa, song trong cộng đồng vẫn còn nhiều người già có những vành tai rất rộng bởi đã từng đeo những vòng to bằng gỗ hay ngà voi này

Trang 15

Trong văn hóa, nghệ thuật: kho tàng văn học-nghệ thuật dân gian của người Mạ

vô cùng phong phú và đa dạng: truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại,…Ngoài ra, người Mạ còn nhiều truyền thuyết và truyện cổ tích gắn liền với đất đai, núi sông và những mối quan hệ giữa các dân tộc Một thể loại độc đáo khác chính là tình ca hát theo lối giao duyên giữa trai thanh, gái tú cũng bộc lộ được nét đặc trưng trong văn hóa tinh thần của tộc người Mạ

Về y phục: hiện nay trang phục của người Mạ giống với người Kinh Tuy nhiên,

họ vẫn còn lưu giữ lại nét văn hóa đặc trưng của mình Trang phục cổ truyền của phụ

nữ Mạ là váy quần dài quá bắp chân, áo chui đầu vừa sát thân, dài tới thắt lưng và kín

tà Trong khi đó, nam đóng khố, áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước, về mùa hè nhiều người ở trần hơn Tại địa bàn khảo sát, người Mạ chỉ mặc trang phục dân tộc vào lễ cưới hỏi và đồng phục khi đi lễ

- Về khí hậu:

Theo số liệu trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Đắc Nông, xã Đắc Nia mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình năm của khu vực: 2.502 mm Độ

ẩm tương đối trung bình năm là 85% Nhiệt độ không khí trung bình năm: 22,2 0C

- Về địa hình:

Địa hình tương đối phức tạp, độ dốc lớn, thoải dần theo hướng Bắc Nam, bị chia cắt bởi suối, hồ và hệ thống giao thông Xung quanh các ngọn đồi là các con suối hẹp, uốn khúc Về mùa mưa, nước từ thượng lưu chảy về rất mạnh và gây ra lũ quét rất nguy hiểm Về mùa khô, nước chảy nhỏ Diện tích đất tự nhiên chủ yếu là đất lâm nghiệp của lâm trường phòng hộ Đắc Nia

Trang 16

13

- Về hệ thống sông, suối:

Trên địa bàn có hệ thống sông, suối khá phong phú và được phân bố tương đối đồng đều Trong đó có sông Đồng Nai (chạy dọc theo ranh giới phía Nam khoảng 12km); suối Đắc Rtih (chạy dọc theo ranh giới phía Tây 10km) Đó là những sông, suối

có lưu lượng nước lớn quanh năm và có tiềm năng xây dựng, phát triển các công trình thủy điện, thủy lợi lớn Ngoài ra, trên địa bàn còn nhiều suối khác như: Đắc Muông, Đắc Noh, Đắc Nia, Đắc Riah…

1.2 Sơ lƣợc về tiếng Mạ

Theo danh sách chính thức, hiện nay có 25 ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thuộc nhánh Môn - Khmer, họ Nam Á Địa bàn cư trú của cư dân sử dụng các ngôn ngữ này trải từ Nam ra Bắc trên khắp lãnh thổ Việt Nam Chính vì vậy, có thể coi

họ ngôn ngữ Nam Á (cụ thể hơn là nhánh Môn - Khmer) là một họ ngôn ngữ quan trọng hiện diện ở địa bàn nước ta

Tiếng nói của người Mạ là ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, thuộc ngữ hệ Nam

Á (Austroasiatic), chi Môn - Khmer, nhóm Bahnar, tiểu nhóm Nam Bahnar (bao gồm Mnông, Kơho, Mạ, Stiêng, Chrau) Trong từ vựng của ngôn ngữ Mạ, yếu tố Môn - Khơme trội hơn hẳn so với các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ này cư trú ở Bắc Tây Nguyên như Bahnar, Xơ Đăng,

Trước đây, do ít có điều kiện tiếp xúc với người Kinh, nên người Mạ ít biết đến tiếng phổ thông Tuy nhiên, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, quê hương của người Mạ phần lớn là vùng căn cứ địa cách mạng, một số nơi khác là vùng

bị tạm chiếm nên việc tiếp xúc với người Kinh trở nên thường xuyên hơn Qua hơn 40 năm sau ngày giải phóng, nhiều người Mạ đã sử dụng chữ Quốc ngữ một cách thuần thục, nhất là những người ở lứa tuổi thanh thiếu niên

Trang 17

TIỂU KẾT

Người Mạ là tộc người thuộc nhóm nhân chủng Indonesian Họ sinh sống tập trung ở phía Nam Tây Nguyên và rải rác ở một số địa phương và khu vực lân cận như Đồng Nai, Bình Phước,…Cư dân Mạ cư trú theo hình thức tự phát thành từng bon Vì vậy, dân cư phân bố thiếu tập trung, không đồng đều Tuy nhiên, từ lâu, người Mạ luôn

có ý thức tinh thần dân tộc sâu sắc, luôn khẳng định đặc trưng sắc tộc của mình bằng phong tục, tập quán và các phương thức sinh hoạt văn hóa tiêu biểu khác như: văn học, nghệ thuật,…

Tiếng Mạ là ngôn ngữ thuộc họ Nam Á, chi Môn - Khmer, nhóm Bahnar, tiểu nhóm Nam Bahnar Cũng như các ngôn ngữ thuộc cùng ngữ hệ, tiếng Mạ chịu ảnh hưởng của hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ, đang trong quá trình đơn tiết hóa và có những biến đổi về mặt ngữ âm Nghiên cứu tiếng Mạ nhằm xây dựng hệ thống ngữ âm hoàn chỉnh Từ đó xác lập mô hình chữ viết Mạ, phục vụ hiệu quả công tác giáo dục song ngữ

Những đặc sắc về văn hóa, con người Mạ không những làm nên bản sắc riêng của

họ mà còn trở trành ranh giới khu biệt Mạ với các dân tộc anh em sinh sống trên cùng phạm vi lãnh thổ Một trong số đó, tiêu chí cần nhắc đến chính là ngôn ngữ Để làm rõ vấn đề này, việc nghiên cứu tiếng Mạ được chúng tôi thực hiện ở các chương tiếp theo

Trang 18

15

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TIẾNG MẠ Ở ĐẮC NÔNG

2.1 Cấu trúc âm tiết

Mang đặc điểm của loại hình ngôn ngữ Môn - Khmer, hình thức ngữ âm của từ đơn trong tiếng Mạ có hai dạng:

- Từ đơn đơn tiết;

- Từ đơn song tiết: bao gồm tiền âm tiết và âm tiết chính Tiền âm tiết trong cấu trúc song tiết là đơn vị đứng trước âm tiết chính và chỉ được phát âm nhẹ, lướt qua nên không mang trọng âm

2.1.1 Cấu trúc tiền âm tiết

Trong tiếng Mạ, cấu trúc tiền âm tiết ở hai dạng: Cp1Vp và Cp1VpCp2 (Cp1 là phụ

âm đầu của tiền âm tiết, Vp là nguyên âm của tiền âm tiết, Cp2 là phụ âm cuối của tiền

Trang 19

2 /ra/ trong [rapͻj] - nghĩ

Trang 20

17

2 /xun/ trong [xunxim] - bướm

[xunxim] - bướm

2.1.1.1 Âm đầu của tiền âm tiết (Cp 1 )

Trong tiếng Mạ, đảm nhận chức năng âm đầu là một âm tắc, âm xát hay âm mũi

- Âm tắc: /p, t, c, k, b, d, ɣ/

VD: [pəkaw] - hoa, [kataŋ] - đầu gối, [bəsrăm] - học

[pəkaw] - hoa

Trang 22

19

[mbaw] - bắp

[nɐtol] - rèn

2.1.1.2 Âm chính của tiền âm tiết (Vp)

Nguyên âm của tiền âm tiết bị đồng hóa do ảnh hưởng của nguyên âm ở âm tiết chính Trên cơ sở đó, nguyên âm của tiền âm tiết có 3 biến thể:

- Nếu nguyên âm của âm tiết chính là một nguyên âm hẹp thì nguyên âm của tiền

âm tiết cũng là một nguyên âm hẹp và được phát âm như [i]

VD: [hirit] - nhện, [sir p] - đâm,…

- Nếu nguyên âm của âm tiết chính là nguyên âm vừa thì nguyên âm của tiền âm tiết cũng là nguyên âm vừa và được phát âm như [ə]

VD: [səre] - xạ, [təţon] - dầu,…

Trang 23

- Nếu nguyên âm của âm tiết chính là nguyên âm rộng thì nguyên âm của tiền âm tiết cũng là nguyên âm rộng và được phát âm như [ɐ]

VD: [sɐr p] - đâm, [sɐr h] - sách,…

2.1.1.3 Âm cuối của tiền âm tiết (Cp 2 )

Đảm nhận âm cuối của tiền âm tiết là các âm mũi /m/, /n/, /ŋ/ hay zero

VD: [temtoj] - khuyên bảo, [pəkaw] - hoa

2.1.2 Cấu trúc âm tiết chính

Khác tiền âm tiết, âm tiết chính là âm tiết mang trọng âm Một âm tiết chính trong tiếng Mạ gồm tối đa bốn thành phần: âm đầu do một phụ âm hay một tổ hợp phụ âm đảm nhiệm; âm đệm do một trong hai bán nguyên âm đảm nhiệm; âm chính do một nguyên âm đơn hay do một nguyên âm đôi đảm nhiệm; âm cuối do một bán nguyên

âm, một phụ âm hay một tổ hợp phụ âm gồm một bán nguyên âm và một phụ âm đảm nhiệm

Mô hình tổng quát của âm tiết chính là: Cm(1,2)WVmCf (Cm là phụ âm đầu, W là

âm đệm, Vm là nguyên âm, v là bán nguyên âm, Cf là phụ âm cuối) Trong đó, một số dạng cơ bản của âm tiết chính được nêu như sau:

- Cm 1 Vm: [to] - sâu , [s ] - răng,…

- Cm 1 VmC f : [sem] - chim, [gar] - hột,…

- Cm 1 Vmv: [taw] - mía, [daj] - chuột,…

- Cm 1 VmvC f : [hujh] - uống, [ŋujh] - ngồi,…

- Cm (1,2) Vm: [rlu] - chén, [rl ] - xoa,…

- Cm (1,2) VmCf: [rmaɲ] - sao, [klu ot] - câm,…

- Cm 1 wVmC f : [ŋwăŋ] - quàng(khăn), [kwăŋ bͻn] - trưởng họ,…

2.1.2.1 Phụ âm đầu của âm tiết chính (Cm)

- Phụ âm đầu (Cm1)

Trang 25

3 /p/: [prăŋ] - chạy, [plăk] - chẻ

Trang 27

2.1.2.2 Âm đệm của âm tiết chính (W)

Âm đệm giữ vai trò âm lướt, do bán nguyên âm /-w-/ đảm nhận

VD: [hwi] - rộng, [kwăn] - níu,…

2.1.2.3 Âm chính của âm tiết chính (Vm)

Đảm nhận thành phần âm chính này là các nguyên âm ( xem mục 2.3.1)

Trang 28

25

2.1.2.4 Phụ âm cuối của âm tiết chính (C f )

Cf đảm nhận vai trò phụ âm cuối của âm tiết chính Âm vị này có thể là một phụ

âm, một bán nguyên âm hoặc một tổ hợp phụ âm gồm một phụ âm và một bán nguyên

âm

VD: [mbaw] - bắp, [tuk] - mây, [hujh] - uống,…

Một số mô hình ngữ âm của từ đa tiết trong tiếng Mạ:

- Cm 1 Vm: [to] - sâu , [s ] - răng,…

- Cm 1 VmC f : [sem] - chim, [gar] - hột,…

- Cm 1 Vmv: [taw] - mía, [daj] - chuột,…

- Cm 1 VmvC f : [hujh] - uống, [ŋujh] - ngồi,…

- Cm (1,2) Vm: [rpu] - trâu, [ŋr ] - hầm,…

- Cm (1,2) VmC f : [rmaɲ] - sao, [prăŋ] - chạy,…

- Cm 1 wVmC f : [ŋwăŋ] (quàng(khăn)), [kwăn] - níu,…

Hệ thống phụ âm đầu đơn đảm nhận chức năng mở đầu âm tiết chính trong tiếng

Mạ Phụ âm này gồm 25 phụ âm: /p-, b-, ʔb-, t-, ţ-, d-, ʔd-, c-, j-, ʔj-, k-, ɣ-, ť-, x-, ʔ-, w-, s-, y-, h-, m-, n-, ŋ-, ɲ-, l-, r-/

- Tiêu chí khu biệt :

+ Phương thức cấu âm :

Trang 29

VD: [paj] - ba, [pu] - đầu, …

 Âm vị /b-/ là phụ âm tắc, môi – môi, hữu thanh, có thể được phát âm như một phụ âm tắc xát /b-/ phân bố trước các nguyên âm sau:/-i-, -ɛ-, -e-, - ie-, -ɤ-, -ɤ -, -a-,

-u-, -ɔ-, -o-, -u o-/

VD: [bit] - bóp, [b iep] - rau,…

 Âm vị /ʔb-/ là phụ âm tắc, hữu thanh rút vào, môi – môi, không bật hơi, tiền thanh hầu hóa /ʔb-/ phân bố trước một số nguyên âm sau: /-i-, -ɛ-, -e-, -ɤ-, -a-, -u-, -ɔ-, -o-/

VD: [ʔbăŋ] - măng, [ʔbuj] - bắp chân,…

Trang 30

27

 Âm vị /t-/ là phụ âm tắc, đầu lưỡi lợi, vô thanh, không bật hơi /t-/ phân

bố trước hầu hết các nguyên âm

VD : [taw] - mía, [to] - sâu,…

 Âm vị /ţ-/ là phụ âm tắc, đầu lưỡi lợi, quặt lưỡi, không bật hơi /ţ-/ phân

bố trước các nguyên âm /-o-, -a-, -ɔ-/

VD: [ţom] - khóe (mắt) , [ţok] - trời,…

 Âm vị /d-/ là phụ âm tắc, đầu lưỡi răng, hữu thanh, không bật hơi, khi phát âm có hiện tượng tiền yết hầu hóa /d-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-i-, -ɛ-, -ɤ-, -a-, -ă-, -u-, -ɤ -, -ɔ-, -o-/

VD: [dăk] - nước, [d ŋ guŋ] - sân,…

 Âm vị /ʔd-/ là phụ âm tắc, hữu thanh rút vào, đầu lưỡi lợi, không bật hơi, tiền thanh hầu hóa /ʔd-/ phân bố trước một số nguyên âm sau: /-i-, -ɛ-, -ɤ-, -a-, -ă-, -u-, -ɔ-, -o-, - ie-, -u o-/

VD: [Ɂd s] - nói, [Ɂdɔj] - eo,…

 Âm vị /c-/ là phụ âm tắc, mặt lưỡi, không bật hơi, vô thanh /c-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-i-, -ɛ-, -ɤ-, -a-, -u-, -ɔ-, -o-, -ɤ -/

VD: [cal] - gió, [caj] - cát,…

 Âm vị /j-/ là phụ âm tắc, mặt lưỡi, hữu thanh /j-/ phân bố trước hầu hết các nguyên âm trừ /-ă-, - ie-, -u o-/

VD: [je kop] - bệnh, [jut] - lau,…

giữa

 Âm vị /ʔj-/ là phụ âm tắc, hữu thanh rút vào, tiền thanh hầu hóa, âm lưỡi

Trang 31

VD: [ʔj t] - mười,…

 Âm vị /k-/ là phụ âm tắc, lưỡi sau /k-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-i-, -ɛ-, -ɤ-, -a-, -u-, -ɔ-, -o-, -ɤ -/

VD: [kͻn] - con, [kit] - biết,…

 Âm vị /ɣ-/ là phụ âm tắc, hữu thanh, lưỡi sau /ɣ-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-a-, -e-, -u-/

VD: [ɣar] - hột, [ɣur] - tím, [ɣuŋ] - đường,…

tiếng Mạ

 Âm vị/ ť-/ là phụ âm tắc, bật hơi, lưỡi trước /ť-/ xuất hiện hạn chế trong

VD: [t’lir] - xanh, [puk t’sur] - thịt heo,…

 Âm vị /ʔ-/ là phụ âm tắc thanh hầu, thanh hầu /ʔ-/ đứng trước các nguyên âm sau: /-i-, -ɛ-, -ɤ-, -a-, -u-, -ɔ-, -o-, - ie- , -u o-/

VD: [ʔur] - bà, [ʔil] - hươu, [ʔ k] - phân,…

 Âm vị /x-/ là phụ âm tắc, gốc lưỡi, bật hơi, vô thanh /x-/ phân bố trước một số nguyên âm sau: /-a-, -ă-, -ɔ-, -u-, -e-, -ie-,- ɤ -/

VD: [xai] - mùa, [ka xɔn] - cá lóc,…

+ Các â m xát: /w-, s-, y-, h-/

 Âm vị /w-/ là phụ âm xát, môi – môi /w-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /- i-, -ɔ-, -a-/

VD: [wa] - bác, [wil] - tròn, [waj] - cái gùi,…

 Âm vị /s-/ là phụ âm xát, lưỡi trước /s-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-a-, -o-, -ɛ-, -ɤ-, -u-, -ɔ-/

Trang 32

29

VD: [sa] - ăn, [so] - chó, [sem] - chim,…

 Âm vị /y-/ là phụ âm xát, mặt lưỡi, hữu thanh /y-/ phân bố trước hầu hết các nguyên âm ngoại trừ /-i-,-e-, -ɛ-, -u-/

VD: [yaŋ] - chúa/ phật, [yar] - nứa, /yul/ - cái giỏ,…

 Âm vị /h-/ là phụ âm xát, thanh hầu /h-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-i-, -o-, -a-, -ɔ-, - ie-, -w-, -ɤ-, -e-/

VD: [hiw] - nhà, [hwi] - rộng, [hɔn] - mọc,…

+ Các â m mũi: / m-, n-, ŋ-, ɲ-/

 Âm vị /m-/ là phụ âm mũi, môi – môi /m-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-i-, -ɛ-, -ɤ-, -a-,- u-, -ɔ-, -o-, -ă-/

VD: [mɔn] - cháu, [m ] - mẹ, [mi] - mày,…

 Âm vị /n-/ là phụ âm mũi, lưỡi trước /n-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-i-, -e-, - ie-, -ɤ-, -a-, -ă-, -u-, -ɔ-, -o-/

VD: [naj] - chớp, [nej] - vai, [nuj] - tim,…

 Âm vị /ŋ-/ là phụ âm mũi, âm lưỡi sau /ŋ-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-i-, -ɛ-, -ɤ -, -u-, -o-, -ɔ-, -a-, -ɤ-/

VD: [ŋaw bͻr] - hoàng hôn, [t m ŋ n] - sớm,…

 Âm vị /ɲ-/ là phụ âm vang, mũi, âm lưỡi giữa /ɲ-/ phân bố trước các nguyên âm sau: /-e-, -u-, -ɔ-, -i-, -o-, -u o-/

VD: [ɲɔk] - cười, [ɲim] - khóc,…

+ Â m bê n /l -/: âm vị /l-/ là phụ âm xát bên, đầu lưỡi lợi /l-/ phân bố trước hầu

hết các nguyên âm ngoại trừ nguyên âm đôi /- ie-/

Trang 33

VD: [luk] - đá, [lɔj] - sắt, /l / - bột,…

+ Â m r ung /r -/: âm vị /r-/ là phụ âm rung, âm lưỡi trước /r-/ phân bố trước hầu

hết các nguyên âm ngoại trừ /-ɯ-/

VD: [rɔ] - khô, [ra] - chợ, [rit] - đông,…

Tóm lại, hệ thống phụ âm đầu của âm tiết chính trong tiếng Mạ gồm 25 phụ âm Các âm vị được trình bày theo bảng sau:

Định vị

Lưỡi

Thanh hầu

Trước (quặt)

Trước (bẹt) Giữa Sau

Bảng hệ thống phụ âm đầu âm tiết chính trong tiếng Mạ

- Đối lập âm vị âm đầu của âm tiết chính:

+ /d-/ - /t-/

VD: [d ieh] - cây bông gòn - [t ieh] - đất

+ /d-/ - /l-/

Trang 35

VD : [driŋ] - xăng, [dliŋ] - biển, [klŏh] - sạch, [kreŋ] - nứa, [plaj] - trái, [prăp kop] - chữa bệnh,…

+ Nhóm lỏng : đây là nhóm mà yếu tố thứ hai trong tổ hợp phụ âm đôi không phải là các phụ âm lỏng /l-/, /r-/

VD : [rve] - nghĩ, [rhieŋ] - hàng trăm, [rmaɲ] - sao,…

Trang 36

33

Đây là nhóm liên kết giữa hai phụ âm được hình thành trong quá trình đơn tiết hóa tiền âm tiết Điều đó chứng minh rằng giữa các thành phần trong nhóm không có

sự chặt chẽ, vì vậy, trong một số tình huống phát âm có khi chúng tạo ấn tượng như là

sự xuất hiện của tiền âm tiết Hiện tượng này thường được ghi nhận khi phát âm nhanh

Nói chung, tổ hợp phụ âm là kết quả của quá trình đơn tiết hóa các từ ngữ song tiết Quá trình này diễn ra càng mạnh thì số lượng tổ hợp phụ âm đầu càng phong phú

2.3 Phần vần

2.3.1 Âm đệm

Đảm nhận chức năng âm đệm trong tiếng Mạ là bán nguyên âm /-w-/ Âm đệm /- w-/ có khả năng kết hợp với các nguyên âm dòng trước và dòng giữa /-i-/, /-e-/, /-ɛ-/, /- a-/, /- -/ Tính chất của âm đệm này giống với âm đệm /-w-/ trong tiếng Việt

VD: [kwăŋ bon] - trưởng làng, [xwe yaŋ] - cúng,…

2.3.2 Âm chính

Âm chính là âm vị mang âm sắc chủ yếu của âm tiết Trong tiếng Mạ, đảm nhận vai trò âm chính này là 16 nguyên âm đơn: /-ɛ-, -ɛ -, -a-, -ă-, -ͻ-, -ͻ -, -e-, - -, -ɤ-, -ɤ -,

-

o-, -i-, - -, -ɯ-, -u-, - -/ và 2 nguyên âm đôi: /- ie-, -u o-/

- Tiêu chí khu biệt

+ Về trường độ:

 Các nguyên âm dài: /-i-, -ɯ-, -u-, -e-, -ɤ-, -o-, -ɛ-, -a-, -ͻ-/;

 Các nguyên âm ngắn: /- -, - -, -ɤ -, - -, -ɛ -, - -, -ͻ -/

+ Về âm lượng:

 Các nguyên âm có âm lượng nhỏ: /-i-, - -, -ɯ-, -u-, - -/;

 Các nguyên âm có âm lượng trung bình: /-e-, - -, -ɤ-, -ɤ -, -o-/;

 Các nguyên âm có âm lượng lớn: /-ɛ-, -ɛ -, -ͻ-, -ͻ -/;

Trang 37

 Các nguyên âm có âm lượng rất lớn: /-a-, - -/

+ Về âm sắc:

 Các nguyên ầm trầm: /-ͻ-, -ͻ -, -o-, -u-, - -/;

 Các nguyên âm trung hòa: /-a-, - -, -ɤ-, -ɤ -, -ɯ-/;

 Các nguyên âm bổng: /-ɛ-, -ɛ -, -e-, - -, -i-, - -/;

 Các nguyên âm có âm sắc cố định: /-i-, - -, -e-, - -, -ɛ-, -ɛ -, -ɯ-, -ɤ-, -ɤ -, -a-, -ă-, -u-, - -, -o-, -ͻ-, -ͻ -/;

 Các nguyên âm có âm sắc không cố định: /- ie-, -u o-/

- Phân bố

+ Các ng uyê n â m dài : /-i-, -ɯ-, -u-, -e-, - -, -o-, - -, -a-, -ͻ-/

 Âm vị /-a-/: phân bố sau tất cả các phụ âm đầu trừ /ɲ-/

VD: [cal] - gió, [taw] - mía, [năŋ] - ngày,…

 Âm vị /-i-/: phân bố sau tất cả các phụ âm đầu trừ /ť-/, /y-/

VD: [li] - hái, [mi] - anh, [sin] - chín,…

 Âm vị /-ɯ-/: không phân bố sau các phụ âm đầu: / ť-, c-, x-, ɲ-, ŋ-, p-, t-, k-, b-, ɣ-, w-, s-, d-/

VD: [t h hɯm] - thở, [ɣɯh] - nó (ngôi thứ 3, số ít),…

 Âm vị /-u-/: phân bố sau tất cả các nguyên âm đôi trừ /w-/

VD : [nuj] - tím, [vuj] - bắp chân,…

ŋ-/

 Âm vị /-e-/: không phân bố sau các phụ âm đầu: /ť-, c-, x-, d-, w-, h-, ɲ-,

VD : [mer] - nương, [set] - nấm, [pet] - vài,…

 Âm vị /-ɤ-/: không phân bố sau các phụ âm đầu: /ť-, ɲ-/

VD : [k ŋ ] - buổi tối, [m nd n] - mẹ kế,…

Trang 38

35

 Âm vị /-o-/: không phân bố sau các phụ âm đầu: /d-, w-, m-, ɲ-/

VD : [no] - đùi, [toŋ] - kèn môi,…

 Âm vị /-ɛ-/: không phân bố sau các phụ âm đầu: /ť-, x-, y-, h-/

VD : [bn m] - núi, [r ŋ] - sân khấu,…

 Âm vị /- -/: phân bố sau các phụ âm đầu: /n-, l-/

VD : [n j] - vai, [l ŋ] - lượm,…

l-, r-, s-/

 Âm vị /-ɛ -/: phân bố sau các phụ âm đầu: /p-, t-, Ɂ-, b-, z-, ɣ-, m-, n-, w-,

VD : [Ɂ k] - phân, [t k] - bán,…

 Âm vị /-ă-/: phân bố sau tất cả các phụ âm đầu

VD : [dăk] - nước, [păl] - giặt,…

Trang 39

 Âm vị /-ɔ -/: phân bố sau tất cả các phụ âm đầu trừ /w-/

VD : [sɔ k] - tóc, [pɔ ] - cấy, /Ɂɔ h/ - em,…

+ Các nguyên âm đôi : /- ie-/, /-u o-/ : âm sắc của nguyên âm đôi chủ yếu do

yếu tố đầu quyết định Yếu tố thứ hai thể hiện như một nguyên âm trầm, độ mở trung bình

 Âm vị /- ie-/:

VD : [b iep] - rau, [t ieŋ] - đuôi, [t iep] - râu,…

 Âm vị /-u o-/:

VD : [plu on] - miệng, [klu ot] - câm, [kru ok] - cam,…

Hệ thống nguyên âm trong tiếng Mạ được thể hiện theo bảng sau :

Âm sắc

Âm lượng

định Bổng Trung hòa Trầm Bổng Trầm

Bảng hệ thống nguyên âm âm tiết chính trong tiếng Mạ

Đối lập âm vị nguyên âm của âm tiết chính:

+ /- -/ - /-i-/

VD: [d ] - rộng - [di] - đúng

+ /-u-/ - /-i-/

Trang 40

Âm cuối nằm ở vị trí cuối cùng của âm tiết, có chức năng kết thúc một âm tiết Do

vậy, khi có mặt âm cuối thì âm tiết không có khả năng kết hợp thêm với âm vị nào khác ở đằng sau nó nữa

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w