1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện trạng sử dụng ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của sinh viên tại tp hồ chí minh

274 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 274
Dung lượng 9,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hương này cũng khái quát một số lưu ý khi viết tin, bài trên thiết bị di động dành cho phóng viên.6 Bằng việc đưa ra các thống kê về số lượng người Mỹ cập nhật thông tin địa phương và t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2014

Tên công trình:

HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ỨNG DỤNG ĐỌC

TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG CỦA

SINH VIÊN TẠI TP.HCM

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Thu Thảo MSSV: 1156030101 – PT Truyền thông điện tử

Thành viên: Nguyễn Thị Trường Thanh 1156030098 – PT Truyền thông điện tử

Lê Thị Thúy 1156030114 – PT Truyền thông điện tử Đoàn Thị Thủy Trúc 1156030130 – PT Truyền thông điện tử Nguyễn Thị Thanh Tuyền 1156030134 – Báo in

Người hướng dẫn: Thạc sĩ Ngô Thị Thanh Loan - Bộ môn báo in

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 3/2014

Trang 2

NỘI DUNG TIẾNG VIỆT

Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên“Hiện trạng sử dụng ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của sinh viên tại TP.HCM” tập trung trình bày về hiện trạng

của các ứng dụng đọc tin tức trên thế giới cũng như tại Việt Nam trong xu hướng phát triển của môi trường truyền thông mới Bên cạnh đó, đề tài cũng đề cập đến các vấn đề còn tồn tại về mặt pháp lý và kinh tế xung quanh nội dung thông tin cung cấp trên thiết bị di động và các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động Đồng thời, đề tài nghiên cứu cũng khảo sát hành vi sử dụng ứng dụng đọc tin tức của sinh viên tại một số trường đại học và cao đẳng trong địa bàn TP.HCM, từ đó

đề xuất hướng giải pháp phát triển hiệu quả kênh truyền thông mới này

NỘI DUNG TIẾNG ANH

The research study “The existing situation of using mobile news applications of the students in Ho Chi Minh city” focus on the current using of mobile news

applications in all over the world as well as in Viet Nam The research also point out some legislative and economy issues implicated by mobile news and mobile news applications In addition, mobile news consumer behaviour among college and university students in Ho Chi Minh city is conducted It attempts to set out some key solutions for efficient development of mobile news applications in Viet Nam

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BIỂU ĐỒ/ HÌNH ẢNH MINH HỌA I

DẪN LUẬN 1

CHƯƠNG 1: 10

1.1 QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA, TRUYỀN THÔNG HỘI TỤ VÀ SỰ XUẤT HIỆN CÁC LOẠI HÌNH TRUYỀN THÔNG MỚI 10

1.1.1 Q UÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA VÀ CUỘC CÁCH MẠNG KỸ THUẬT SỐ 10

1.1.1.1 Quá trình toàn cầu h a truy n th ng đại ch ng v sự phát triển của khoa học kỹ thuật truy n thông thông tin 10

1.1.2.2 Cuộc cách mạng kỹ thuật số 13

1.1.2 S Ự XUẤT HIỆN CỦA CÁC LOẠI HÌNH TRUYỀN THÔNG MỚI 17

1.1.2.1 Khái quát v truy n thông hội tụ 17

1.1.2.2 Sự xuất hiện các loại hình truy n thông mới 24

1.1.3 S Ự XUẤT ỆN Ủ T ẾT BỊ TRUYỀN T N MỚ 24

1.1.3.1 Nh ng ti n đ ch nh h nh th nh c c thiết bị truy n thông mới 24

1.1.3.2 Các thiết bị truy n thông kỹ thuật số 25

1.2 TỔNG QUAN VỀ TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG 32

1.2.1 K HÁI NIỆM TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 32

1.2.2 Đ Ặ TRƯN ỦA TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 35

1.2.2.1 Các cách thức tiếp cận tin tức trên thiết bị di động 37

1.2.2.2 Đặc trưng tin tức trên thiết bị di động 39

1.2.3 Đ Ố TƯỢNG CÔNG CHÚNG CỦA TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 42

1.3 TỔNG QUAN VỀ CÁC ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG 44

1.3.1 K HÁI NIỆM ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 44

1.3.2 Đ Ặ TRƯN ỦA ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 45

1.3.2.1 Phù hợp với đặc trưng của n n tảng di động 46

1.3.2.2 Phù hợp với h nh vi người dùng thiết bị di động 47

1.3.3 P HÂN LOẠI CÁC ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 50

1.4 TỔNG QUAN VỀ TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG VÀ CÁC ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG Ở VIỆT NAM 51

1.4.1 T IỀN ĐỀ CỦA SỰ PHÁT TRIỂN THÔNG TIN , TIN TỨC TRÊN CÁC THIẾT BỊ D ĐỘNG VÀ CÁC ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG Ở V IỆT N AM 51

1.4.1.1 Sự phát triển của Internet ở Việt Nam 51

1.4.1.2 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin – truy n thông 52

1.4.1.3 Đi u kiện kết nối Internet tại Việt Nam 54

1.4.2 T IẾP CẬN THÔNG TIN CỦA CÔNG CHÚNG V IỆT N AM TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG MỚI 57

Trang 4

1.4.2.1 Đặc điểm công chúng Việt Nam trong mối quan hệ với việc tiếp nhận tin tức 57

1.4.2.2 Nh ng nhu cầu mới trong tiếp nhận thông tin của công chúng Việt Nam 59

1.4.3 S Ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ỨNG DỤN ĐỌC BÁO TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG Ở V IỆT N AM 64

1.4.3.1 Xu hướng điện tử hóa báo chí ở Việt Nam 64

1.4.3.2 Thời kỳ ứng dụng đọc báo trên thiết bị di động tại Việt Nam 67

TIỂU KẾT 73

CHƯƠNG 2: 75

2.1 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN KHẢO SÁT CÁC ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG Ở VIỆT NAM 75

2.1.1 K HẢO SÁT TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THIẾT BỊ D ĐỘNG VÀ ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 75

2.1.2 Q UY TRÌNH KHẢO SÁT TRÊN CÁC ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨ ĐẶC THÙ CỦ Ơ QU N B O Í VÀ TR N T N T N ĐIỆN TỬ 77

2.2 CÁCH TIẾP CẬN/ PHƯƠNG THỨC TRUY CẬP TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG 84

2.2.1 D ÙNG TRÌNH DUYỆT WEB ( BROWSER ) 84

2.2.2 D ÙNG ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨ DO ÍN Ơ QUAN BÁO CHÍ VÀ CÁC KÊNH THÔNG TIN DÀNH CHO GIỚI TRẺ 87

2.2.2.1 Dùng ứng dụng của các báo in có phiên bản trực tuyến 87

2.2.2.2 Dùng ứng dụng của các báo trực tuyến 90

2.2.2.3 Dùng ứng dụng các kênh thông tin dành cho giới trẻ 93

2.2.3 D ÙNG ỨNG DỤNG TỔNG HỢP 95

2.3 KHẢO SÁT GIAO DIỆN CỦA CÁC ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG 96

2.3.1 K HÁI QUÁT VỀ GIAO DIỆN ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 96

2.3.2 Đ Ặ TRƯN O D ỆN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 98

2.3.2.1 Giao diện của các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động khi vào bằng trình duyệt 100

2.3.2.2 Giao diện của các ứng dụng đọc tin tức do cơ quan b o ch , trang th ng tin điện tử cung cấp 116

2.3.2.3 Giao diện ứng dụng đọc tin tức/ thông tin tổng hợp 132

2.4 NỘI DUNG, THÔNG ĐIỆP CỦA TIN TỨC TRÊN MỘT SỐ ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG TẠI VIỆT NAM 138

2.4.1 N ỘI DUNG TIN TỨC TRÊN CÁC ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC CỦA CÁC TỜ BÁO CÓ PHIÊN BẢN BÁO IN VÀ BÁO TRỰC TUYẾN 139

2.4.2 N ỘI DUNG TIN TỨC TRÊN CÁC ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG CỦA CÁC TRANG BÁO TRỰC TUYẾN 149

2.4.3 N ỘI DUNG TIN TỨC TRÊN CÁC ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG CỦA CÁC TRANG T N T N Đ ỆN TỬ DÀNH CHO GIỚI TRẺ 155

2.4.4 N ỘI DUNG TIN TỨC TRÊN CÁC ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG CỦA CÁC ỨNG DỤN ĐỌC BÁO TỔNG HỢP 159

2.5 CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHÁP LÝ VÀ KINH TẾ 166

2.5.1 T ỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI 167

Trang 5

2.5.2 V ẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ KINH TẾ CỦA CÁC DỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TẠI V IỆT N AM 172

TIỂU KẾT 174

CHƯƠNG 3: 177

3.1 QUY TRÌNH CHỌN MẪU ĐẠI DIỆN CHO KHẢO SÁT 177

3.2.CÁCH THỨC TIẾP CẬN TIN TỨC BẰNG ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM 182

3.1.1.T ÌNH HÌNH SỞ HỮU THIẾT BỊ D ĐỘNG CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM 182

3.1.2 T ÌNH HÌNH SỬ DỤNG ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM 183

3.3 THÓI QUEN SỬ DỤNG ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM 189

3.3.1 C ÁCH THỨC TRUY CẬP TIN TỨC BẰNG THIẾT BỊ D ĐỘNG CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM 189

3.3.2 M Ứ ĐỘ ĐỌC TIN TỨC BẰNG ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG CỦA SINH VIÊN TẠI TP.HCM 192

3.3.3 L Ý DO SINH VIÊN TẠI TP.HCM SỬ DỤNG ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ D ĐỘNG 196

3.3.3.1 Sự tiện dụng của ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động 196

3.3.3.2 Nh ng ưu điểm khác của ứng dụng 199

3.4 KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NHỮNG ỨNG DỤNG ĐỌC BÁO CỦA CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ, TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ MÀ SINH VIÊN QUAN TÂM HIỆN NAY 204

3.4.1 N HỮNG ỨNG DỤNG TIÊU BIỂU ĐƯỢC SINH VIÊN SỬ DỤNG 204

3.4.2 Đ ÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN VỚI CÁC ỨNG DỤN ĐỌC TIN TỨC HIỆN NAY 206

3.4.2.1 Ứng dụng đọc tin tức của các tờ báo có phiên bản báo in và báo trực tuyến 206

3.4.2.2 Các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của các trang báo trực tuyến 211

3.4.2.3 Nội dung tin tức trên các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của các trang thông tin điện tử dành cho giới trẻ 215

3.3.2.4 Nội dung tin tức trên các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của các ứng dụng đọc báo tổng hợp 221

3.5 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC TRƯỜNG VỚI VIỆC SỬ DỤNG ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG 225

3.6 GIẢI PHÁP, HƯỚNG PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG TRONG TƯƠNG LAI 230

3.6.1 V Ề P Í Ơ QU N B O Í , NHỮN TR N T N T N ĐIỆN TỬ 230

3.6.2 V Ề P Í Ơ QU N , TỔ CHỨC QUẢN LÍ BÁO CHÍ 237

TIỂU KẾT 240

KẾT LUẬN 240

PHỤ LỤC 221

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 245

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ/ HÌNH ẢNH MINH HỌA

Hình 1: Mô hình truyền thông hội tụ theo Nicholas Negroponte 19

Hình 2: Mô hình truyền thông hội tụ theo Jean Gabszewicz và Nathalie Sonnac 20

Hình 3: Mô hình hội tụ truyền thông của McCrudden 21

Hình 4: Mô hình phát sóng so với mô hình Internet 26

Hình 5: ơ cấu phân chia các thiết bị truyền thông, viễn thông, theo Francis Balle (2011) 31

Hình 6: Mô hình báo chí dựa trên sự thiết lập các nhu cầu và mục đích trong mối tương quan giữa con người và công nghệ, theo Oscar Westlund 36

Hình 7: Top 10 nước Châu Á dẫn đầu về người dùng Internet (tính đến 30/6/2012) 52

Hình 8: DP bình quân theo đầu người của Việt Nam từ 2005-2012 58

Hình 9: 10 xu hướng nổi bật của người dùng di động 2014, theo Ecricsson Report (2011) 63

Hình 10: Số lượng điện thoại di động và thuê bao điện thoại di động/100 dân 68

Hình 11: Kết quả tìm kiếm ứng dụng đọc tin tức báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên trên Ứng dụng Store của hệ điều hành iOS (iPhone) 80

Hình 12: Kết quả tìm kiếm một số các ứng dụng đọc tin tức, thông tin trên Google Play của hệ điều hành Android 81

Hình 13: Kết quả tìm kiếm một số các ứng dụng đọc tin tức, thông tin trên hệ điều hành Windows Phone 82

Hình 14: 10 ứng dụng được chọn để khảo sát trong phạm vi nghiên cứu 83

Hình 15: Phiên bản của 10 ứng dụng đọc thông tin, tin tức trong phạm vi khảo sát 84

Hình 16: Một số các trình duyệt truy cập Internet 85

Hình 17: Giao diện trang chủ và trang tin báo Tuổi Trẻ mobile khi truy cập bằng trình duyệt 102

Hình 18: Giao diện trang chủ và trang tin báo Thanh Niên 104

Hình 19: Giao diện trang chủ và trang tin báo Dân Trí 106

Hình 20: Giao diện trang chủ và trang tin báo VnExpress 108

Hình 21: Giao diện trang chủ và trang tin của YAN News 112

Hình 22: Giao diện trang chủ và trang tin kênh thông tin cho giới trẻ Kenh14 114

Hình 23: Giao diện trang chủ và trang tin kênh thông tin cho giới trẻ Tiin 115

Trang 7

Hình 24: Giao diện Tuổi Trẻ Mobile khi truy cập bằng ứng dụng do chính cơ quan

Hình 30: Giao diện trang thông tin điện tử YAN News khi truy cập bằng ứng dụng

do Công ty CP Công nghệ và Tầm nhìn Yêu âm nhạc cung cấp 130

Hình 31: Giao diện trang thông tin điện tử Kênh 14 khi truy cập bằng ứng dụng do

VCCorp cung cấp 131

Hình 32: Giao diện ứng dụng tổng hợp tin tức Báo Net khi truy cập bằng ứng dụng

do Bao Net Mobile cung cấp 135

Hình 33: Giao diện ứng dụng tổng hợp tin tức khi truy cập bằng ứng dụng do 137 Hình 34: So sánh thứ tự các chuyên mục trên phiên bản Thanh Niên trực tuyến và

Thanh Niên di động 144

Hình 35: Nội dung bài viết “Trụ cầu treo bị sập c độn gạch” trên ứng dụng đọc

tin tức trên thiết bị di động của báo Thanh Niên 146

Hình 36: Nội dung bài viết “Trụ cầu treo bị sập có độn gạch” trên báo trực tuyến

Thanh Niên 147

Hình 37: Nội dung bài viết “Tuyên phạt bị cáo Trương Duy Nhất 2 năm tù” trên

ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động Thanh Niên 148

Hình 38: Nội dung bài viết “Tuyên phạt bị cáo Trương Duy Nhất 2 năm tù” trên

báo trực tuyến Thanh Niên 149

Hình 39: Lựa chọn Đọc Offline được đặt phía trên mục quảng cáo trò chơi và các

ứng dụng khác (ảnh trái) và lựa chọn đọc Offline sau khi nhấn vào (ảnh phải) 152

Hình 40: So sánh thứ tự các chuyên mục trên phiên bản trực tuyến VnExpress và

phiên bản di dộng 154

Hình 41: Các lựa chọn để người dùng cá nhân hóa ứng dụng đọc tin tức và chuyển

đổi giữa các ứng dụng đọc tin tức có liên kết với VnExpress 155

Hình 42: So sánh thứ tự các chuyên mục trên phiên bản trực tuyến Kênh 14 và

phiên bản di dộng 158

Trang 8

Hình 43: Nguồn tin trong các chủ đề Tổng hợp, Thời sự và Ô tô – Xe máy của ứng

dụng tổng hợp tin tức Báo Mới 160

Hình 44: Lựa chọn khu vực với chế độ tự động dò tìm trong ứng dụng Báo Mới

trên điện thoại di động dùng hệ điều hành iOS (ảnh trái) và Android (ảnh phải) 162

Hình 45: Trang chính ứng dụng Báo Mới hiển thị tin tức và thông tin thời tiết tại

hữu thiết bị di động nào 184

Hình 51: Mức độ mong muốn sở hữu thiết bị di động có khả năng đọc tin tức trong

tương lai của nhóm sinh viên không sở hữu thiết bị di động nào 185

Hình 52: Tình hình sử dụng ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của sinh viên

Hình 56: Sinh viên tại TP M đánh giá mức độ tiện dụng của việc sử dụng ứng

dụng đọc tin tức trên thiết bị di động so với sử dụng trình duyệt 198

Hình 57: Mức độ đồng tình với phát biểu “Ứng dụng tải th ng tin nhanh hơn

(chuyển trang nhanh hơn, h nh ảnh xuất hiện nhanh hơn, ) so với trình duyệt” 200

Hình 58: Mức độ đồng tình với phát biểu “Tốc độ cập nhật tin trên ứng dụng

nhanh” 201

Hình 59: Mức độ đồng tình với phát biểu “Nội dung các bài báo trên ứng dụng

ngắn gọn, nhi u hình ảnh, nhi u biểu đồ, dễ theo dõi hơn so với trình duyệt” 202

Hình 60: Mức độ đồng tình với phát biểu “C khả năng lưu tr , bảo quản thông

tin hiệu quả” 203

Hình 61: Tình hình sử dụng ứng dụng đọc tin tức của các bạn sinh viên 205

Trang 9

Hình 62: Đánh giá về giao diện, nội dung, yếu tố đồ họa của ứng dụng đọc tin tức

báo Tuổi Trẻ của sinh viên tại TP.HCM 207

Hình 63: Đánh giá về giao diện, nội dung, yếu tố đồ họa của ứng dụng đọc tin tức

báo Thanh Niên của SV một số trường Đ tại TP.HCM 209

Hình 64: Đánh giá về giao diện, nội dung, yếu tố đồ họa của ứng dụng đọc tin tức

báo VnExpress của sinh viên tại TP.HCM 211

Hình 65: Đánh giá về giao diện, nội dung, yếu tố đồ họa của ứng dụng đọc tin tức

báo Dân Trí của sinh viên tại TP.HCM 213

Hình 66: Đánh giá về giao diện, nội dung, yếu tố đồ họa của ứng dụng trang thông

tin giải trí Tiin của SV một số trường Đ tại TP.HCM 215

Hình 67: Đánh giá về giao diện, nội dung, yếu tố đồ họa của ứng dụng trang thông

tin giải trí Kênh 14 của sinh viên tại TP.HCM 217

Hình 68: Đánh giá về giao diện, nội dung, yếu tố đồ họa của ứng dụng trang thông

tin giải trí Yan News của sinh viên tại TP.HCM 219

Hình 69: Đánh giá về giao diện, nội dung, yếu tố đồ họa của ứng dụng tổng hợp tin

tức Báo Mới của sinh viên tại TP.HCM 222

Hình 70: Đánh giá về giao diện, nội dung, yếu tố đồ họa của ứng dụng tổng hợp tin

tức Báo Net của sinh viên tại TP.HCM 224

Hình 71: Nhu cầu về sở hữu thiết bị di động có ứng dụng đọc báo trên thiết bị di

động thông minh của sinh viên TP.HCM 226

Hình 72: Đánh giá về mức độ phù hợp của ứng dụng đọc tin tức và thông tin với

nhu cầu sử dụng của SV tại TP.HCM 231

Hình 73: Những đề xuất của sinh viên đối với các ứng dụng đọc tin tức và thông

tin để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng 234

Trang 10

động… Như iner đã viết trong 1 ấn bản trực tuyến của The Ideas, tập san của Tổ chức Quảng bá Báo chí Thế giới (INMA) rằng: “Sự đa dạng h a phương tiện truy n th ng đã l qu khứ Sự hợp nhất kỹ thuật số là hiện tại Sự thống nhất truy n th ng đa phương tiện l tương lai” 1 ác phương tiện truyền thông truyền

thống và cả những phương tiện truyền thông mới sẽ tương tác và hỗ trợ cho nhau, lồng ghép vào nhau thành những lớp thông tin, bổ trợ cho nhau trong một không gian thông tin mở, đầy đủ, trực quan và sinh động, mở ra kỷ nguyên mới của truyền thông đa phương tiện Trong Kỷ nguyên thông tin này, độc giả không chỉ tiếp cận thông tin qua các loại hình và phương tiện truyền thông truyền thống như báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, báo trực tuyến mà còn có thể tiếp nhận tin tức qua các thiết bị di động cá nhân có hỗ trợ cập nhật tin tức

Theo bài viết “World to have more cell phone accounts than people by 2014”

của Silicon India, sự gia tăng sử dụng điện thoại di động đang lan rộng ra toàn cầu:

“Theo một báo cáo mới đây của Hiệp hội Viễn thông Quốc tế (International Telecommunications Union - ITU) tại Hội nghị Điện thoại toàn cầu (Mobile World Congress), với tốc độ phát triển hiện tại, v o năm 2014, tổng số thuê bao điện thoại di động sẽ nhi u hơn số người trên thế giới Hiệp hội Viễn thông Quốc tế dự

đo n số lượng thuê bao điện thoại di động sẽ tăng từ 6 triệu hiện nay lên 7.3 triệu

1

Stephen Quinn & Vincent F.Filak (2005) Convergent Journalism: An Introduction, Taylor & Francis, trang 12

Trang 11

Trang 2

trong năm 2014, nhi u hơn dân số 7 triệu của cả thế giới”2

Theo dự đoán của

Statista, số người sử dụng điện thoại trên toàn thế giới sẽ đạt mức 5,1 tỷ người vào năm 2017 (khoảng 50% dân số thế giới) Châu Á là khu vực có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất, từ khoảng 2,4 tỷ người hiện đang sử dụng điện thoại di động đến năm

2017 dự báo con số sẽ đạt mức 2,9 tỷ người.3 Bên cạnh điện thoại di động, máy tính bảng cũng ngày càng phổ biến trên khắp thế giới

Bên cạnh đó, theo một báo cáo mới đây của Trung tâm nghiên cứu Pew Research Center (Mỹ), gần 75% người dùng điện thoại di động ở Mỹ sử dụng thiết

bị của họ để truy cập mạng Con số này đã tăng gấp đôi so với năm 2009 Như vậy,

đa số công chúng hiện nay đều có sử dụng thiết bị di động Điều này đã góp phần tăng thói quen truy xuất mạng, tìm kiếm thông tin và cập nhật thông tin của công chúng Tiềm năng phát triển các nền tảng ứng dụng trên điện thoại di động phục vụ cho quá trình truyền thông là vô cùng lớn

Trước tình hình đó, các nhà nghiên cứu và giới truyền thông thế giới nhận định: cung cấp tin tức trên các thiết bị di động sẽ là bước đi mới của các cơ quan báo chí trong tương lai Fiona Spruill, biên tập viên phụ trách các phương tiện truyền thông mới của New York Times, cho rằng các cơ quan báo chí sẽ không còn dám coi nền tảng di động chỉ là một nguồn thu phụ nữa, mà thay vào đó, họ sẽ theo

đuổi triết lý đơn giản: "Nơi đâu c độc giả, nơi đ c mặt bạn” Bởi: “Trong vòng

12 - 18 tháng tới, nhi u cơ quan b o ch sẽ vượt qua cột mốc c hơn 50 phần trăm lượng người dùng truy cập tin tức bằng điện thoại và máy tính bảng hơn l m y

t nh x ch tay v m y t nh để b n”, Fiona viết.4

Trên thực tế, nhiều cơ quan báo chí

lớn trên thế giới như Reuters, AP, CNN, BBC, Time, Forbes, The Economist, The

2

World to have more cell phone accounts than people by 2014, đăng tải ngày 02/01/2013, tại địa chỉ

http://www.siliconindia.com/magazine_articles/World_to_have_more_cell_phone_accounts_than_people _by_2014-DASD767476836.html , tham khảo ngày 11/11/2013

3

Sẽ có 5 tỷ người dùng điện thoại di động v o năm 2017, đăng tải ngày 4/10/2013, tại địa chỉ

t http://www.baomoi.com/Se-co-5-ty-nguoi-dung-dien-thoai-di-dong-vao-nam-2017/136/12095007.epi , tham khảo ngày 11/11/2013

4

Ngọc Huyền (2013), bài lược thuật B o ch năm 2013: Ứng dụng di động lên ngôi, Tạp chí Nghề Báo

Trang 12

Trang 3

Guardian… đều đã phát triển ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của mình

bên cạnh hàng loạt các ứng dụng tổng hợp tin tức từ các nguồn tin chính thống như

Flipboard, Fluent News Reader, Fast News, Google Currents…

Tại Việt Nam, việc cung cấp thông tin của các cơ quan báo chí trên thiết bị di động đã diễn ra được một thời gian và được các bạn trẻ quan tâm sử dụng Nhiều

cơ quan báo chí lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, VnExpress, Dân trí…, các trang thông tin điện tử như YAN News, Kênh 14… đã phát triển ứng dụng đọc tin tức

dành riêng cho thiết bị di động của mình từ năm 2011 đến nay Cùng với đó, các

ứng dụng tổng hợp tin tức như Báo Mới, Báo Net cũng ra đời Điều này cho thấy,

các cơ quan báo chí và các nhà phát triển/ quản lý ứng dụng di động đã nhận thức được nhu cầu của độc giả trong xu hướng phát triển chung của thế giới Vì thế, cần

có một nghiên cứu khảo sát các ứng dụng đọc báo/ tin tức trên thị trường Việt Nam hiện tại và thống kê, phân tích các số liệu về người dùng - cụ thể là giới trẻ - cho việc phát triển một phương tiện truyền thông mới Xa hơn nữa là cung cấp các thông tin cơ sở để các nhà truyền thông và cơ quan báo chí hướng đến xây dựng một tòa soạn chuyên cung cấp tin tức trên thiết bị di động và hình thành một loại hình báo chí mới Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam chưa có thống kê chính thức nào về vấn đề này Nắm bắt được nhu cầu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài “Hiện trạng sử dụng ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của sinh viên tại TP.HCM”

của nhóm nghiên cứu gồm: Amy Mitchell, Tom

Rosenstiel, Laura Houston Santhanam (Trung tâm PEJ) và Leah Christian (Trung

5

Amy Mitchell, Tom Rosenstiel, Laura Houston Santhanam (2011) Future of Mobile News, Trung tâm

PEJ phối hợp với Pew Research Center Tham khảo toán văn báo cáo tại địa chỉ:

http://www.journalism.org/analysis_report/future_mobile_news

Trang 13

Trang 4

tâm nghiên cứu PEW), đã khái quát tương lai phát triển loại hình tin tức trên các thiết bị di động Các dữ liệu cho thấy, ở Mỹ có hơn một nửa số dân sử dụng điện thoại di động hoặc máy tính bảng để kết nối với các website đọc tin tức, họ mong muốn có thể nhận được tin tức nhiều lần trong ngày để đáp ứng nhu cầu giải trí cũng như phục vụ cho công việc kinh doanh Điều đó cho thấy nhu cầu cập nhật tin tức trên các thiết bị di động trong xã hội hiện nay là vô cùng cần thiết

Cuốn “JournalismNEXT” của Mark Briggs (2013) có chương 5: “Going Mobile” đề cập đến báo chí di động và những sự khác biệt của báo chí di động so

với các loại hình báo chí khác hương này cũng khái quát một số lưu ý khi viết tin, bài trên thiết bị di động dành cho phóng viên.6

Bằng việc đưa ra các thống kê về số lượng người Mỹ cập nhật thông tin địa

phương và tin tức hằng ngày qua các thiết bị di động, khảo sát “How mobile devices are changing community information environments” của Kristen Purcell,

Lee Rainie, Tom Rosienstiel và Amy Mitchell thuộc PEW Research Center đã chỉ

ra rằng một trong những hình thức tiêu thụ thông tin mới nhất là thông qua các ứng dụng trên thiết bị di động Khảo sát cũng so sánh số lượng người truy cập tin tức trên thiết bị di động bằng cách sử dùng trình duyệt và ứng dụng.7

Bài viết “Sự ra đời của c c phương tiện truy n thông” trên Tạp ch điện tử của

Bộ Ngoại giao Hoa Kì, tháng 3/20068, tập trung khai thác vấn đề về sự tìm kiếm các công nghệ mới cho việc truyền thông tin, trong đó có điện thoại di động Sự bùng nổ của đường truyền băng thông rộng kết hợp với các công nghệ điện thoại mới đã đem lại cho chúng ta những chiếc điện thoại di động có khả năng chụp, truyền tải hình ảnh và đang trở thành một “trò chơi” cũng như trở thành “những nhân tố làm thay đổi thế giới” Truyền hình qua điện thoại di động chính là bước

6

Mark Briggs, JournalismNEXT, SAGE Publications Ltd., trang 115

7

Kristen Purcell, Lee Rainie, Tom Rosienstiel và Amy Mitchell (2011.) How mobile devices are changing

community information environments, PEW Research Center, thực hiện ngày 14/03/2013

8

Jeff Gralnick Sự ra đời c c phương tiện truy n thông, Tạp chí điện tử của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, tháng

3/2006, tham khảo toàn văn tại địa chỉ: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0306_x.html

Trang 14

Trang 5

đột phá mới nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin và trong tương lai nó có thể làm đảo lộn cả xã hội

Tại Việt Nam, xuất phát từ yêu cầu xác định hướng đi mới cho sự phát triển

của nền báo chí Việt Nam, đã có nhiều nhà khoa học, giảng viên, học viên nghiên cứu các đề tài liên quan đến xu hướng phát triển của báo chí và truyền thông như:

Trong hội thảo “T c động của truy n thông xã hội lên tác nghiệp báo chí”,

được tổ chức ngày 24/12, tại Hà Nội do Trung tâm nghiên cứu Truyền thông phát triển (Liên Hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) cùng với Đại sứ quán Anh tại Hà Nội, các nhà báo, các chuyên gia thông tin và truyền thông, các chuyên gia pháp luật, đại diện các ban, ngành liên quan đã cùng nhau trao đổi, chia sẻ tập trung vào hai chủ đề chính là tác động của truyền thông xã hội lên hoạt động báo chí, nhà báo và truyền thông xã hội Theo đó, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, truyền thông xã hội là hiện tượng với những đặc trưng cực nhanh, cực rộng và phạm vi tương tác đa chiều với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt thời gian và không gian Truyền thông xã hội có tác động tích cực đối với báo chí như tạo sự đa dạng về nguồn thông tin tham khảo cho báo chí, giúp báo chí nắm bắt thị hiếu bạn đọc, tìm hiểu những vấn đề dư luận quan tâm bên cạnh đó, truyền thông xã hội cũng tác động tiêu cực lên báo chí trong việc làm giảm doanh thu quảng cáo của báo chí truyền thống và hướng báo chí vào những vấn đề nhạy cảm hoặc xâm phạm đời tư cá nhân 9

Luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu xu hướng phát triển của truy n hình từ g c độ kinh tế học truy n thông” của tác giả Bùi Chí Trung đã chỉ ra những xu hướng quan

trọng nhất trong sự phát triển truyền hình thời gian tới Tác giả đã lựa chọn cách đánh giá thông qua những nhóm lĩnh vực, vấn đề chính: xu hướng phát triển công nghệ, xu hướng phát triển nội dung, dự báo về chiến lược phát triển và những thách thức đối với truyền hình Việt Nam

9

Đỗ Thoa Hội thảo của truy n thông xã hội lên tác nghiệp báo chí, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt

Nam, ngày 24/12/2012, tham khảo ngày -

http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=10008&cn_id=561876

Trang 15

Trang 6

Có thể thấy, các đề tài nghiên cứu, bài viết, thảo luận tại Việt Nam ở trên chỉ mới tập trung khai thác xu hướng phát triển của lĩnh vực báo chí truyền thông nói chung, cũng như các loại hình báo điện tử, phát thanh, truyền hình nói riêng mà ít

đề cập đến vấn đề ứng dụng đọc tin tức trên các thiết bị di động và thói quen của người dùng chúng Hầu hết trong các bài nghiên cứu đều nhìn nhận trong xã hội ngày càng phát triển hiện nay thì các loại hình báo chí cần tích hợp các thiết bị đa phương tiện để phù hợp với nhu cầu cập nhật tin tức nhanh chóng và sinh động của độc giả Tuy nhiên, ứng dụng tin tức trên các thiết bị di động là một loại hình còn rất mới, do đó chưa có nghiên cứu nào tập trung khai thác và đào sâu vấn đề này

Vì vậy, đề tài “Hiện trạng sử dụng ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của

sinh viên tại TP.HCM” được nghiên cứu nhằm góp phần giúp mọi người có cái

nhìn toàn cảnh về các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động hiện nay tại Việt Nam và thực tế sử dụng các ứng dụng này của sinh viên tại một số trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM

3 Giới hạn đề tài

a Đối tượng: Sinh viên tại một số trường đại học, cao đẳng ở TP M (độ tuổi

từ 18 đến 22)

b Phạm vi nghiên cứu:

Thời gian: trong vòng 3 năm trở lại đây (2010 – 2013)

Không gian: tại một số trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

a Ý nghĩa lý luận:

Thông qua các số liệu khảo sát, những nhận định đánh giá, mô tả cụ thể về

“Hiện trạng sử dụng các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của sinh viên tại TP.HCM”, chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn đóng góp vào kho dữ

liệu các công trình nghiên cứu về lĩnh vực truyền thông đại chúng Từ đó, hỗ trợ về mặt lý thuyết và những vấn đề có liên quan để các cá nhân hoặc tổ chức quan tâm

có thêm cơ sở phát triển những công trình nghiên cứu hữu ích khác trong tương lai

Trang 16

Trang 7

b Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài sẽ là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho các cá nhân, tổ chức, đặc biệt

là các cơ quan báo chí có định hướng phát triển trong thời gian tới Việc nhận thức được nhu cầu và thực trạng sử dụng các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của giới trẻ TP.HCM, rộng ra là giới trẻ Việt Nam, sẽ là tiền đề để các cơ quan báo chí nắm bắt được xu thế chung của truyền thông hiện đại, từ đó nghiên cứu những cách thức truyền tải thông tin hiệu quả đến với công chúng, có bước đi đúng đắn và

phù hợp trong quá trình đổi mới

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ sử dụng kết hợp những phương

pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: chúng tôi tiến hành chọn mẫu và lập bảng câu hỏi để khảo sát sinh viên tại một số trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM

về thực trạng sử dụng các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động gồm điện thoại

di động thông minh và máy tính bảng

Phương pháp tổng hợp: tổng hợp thông tin có liên quan đến đề tài thông qua sách báo, tạp chí, nguồn tài liệu trên mạng… để chúng tôi có cái nhìn tổng quan về

đề tài và xác định được hướng khai thác đề tài

Phương pháp phân tích: Phân tích các số liệu đã thu thập được trong quá

trình khảo sát, các vấn đề được nêu ra trong nghiên cứu, các ý kiến chuyên gia

Phương pháp quan sát thực tiễn: quan sát thói quen sử dụng thiết bị di động của sinh viên tại một số trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM; khảo sát các ứng dụng đọc tin tức trên điện thoại di động của các cơ quan báo chí/ kênh thông tin điện tử và các nhà phát triển/ quản lý ứng dụng; quan sát cách tiếp nhận thông tin

trên thiết bị di động của sinh viên tại một số trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM

6 Kết cấu của đề tài

Trang 17

Chương 2: Khảo sát các ứng dụng trên thiết bị di động của một số cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử tại Việt Nam

Ở chương này, chúng tôi trình bày các cách tiếp cận tin tức trên thiết bị di động phổ biến nhất và khảo sát chi tiết 10 ứng dụng được lựa chọn trên phương diện nội dung và giao diện Qua đó, trình bày các vấn đề kinh tế và pháp lý tồn tại xung quanh tin tức trên thiết bị di động và ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động

Chương 3: Khảo sát hiện trạng sử dụng các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của sinh viên tại TP.HCM

hương này tìm hiểu hành vi sử dụng tin tức của sinh viên và đánh giá của sinh viên một số trường đại học và cao đẳng tại TP.HCM về giao diện và nội dung thông tin của các ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di động của nước ta hiện nay

Từ đó đề xuất giải pháp phát triển việc sử dụng ứng dụng đọc tin tức trên thiết bị di

động tại Việt Nam

Trang 18

Trang 9

Trang 19

Trang 10

Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI

ĐỘNG, ỨNG DỤNG ĐỌC TIN TỨC TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.1 Quá trình toàn cầu hóa, truyền thông hội tụ và sự xuất hiện các loại hình truyền thông mới

1.1.1 Quá trình toàn cầu hóa và cuộc cách mạng kỹ thuật số

1.1.1.1 Quá trình toàn cầu h a tru ền thông đại ch ng và sự phát triển của khoa học kỹ thuật truyền thông thông tin

Từ những năm cuối thế kỷ X X, đầu thế kỷ XX, toàn cầu hóa trở thành một hiện tượng tất yếu và bắt đầu bùng nổ mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực trong đời sống con người Dưới tác động của những tiến bộ trong lĩnh vực tin học và viễn thông, cùng với sự thay đổi về kinh tế và chính trị, tất cả các quốc gia trên thế giới bắt đầu tham

gia vào việc xây dựng một ngôi làng toàn cầu Sau Plato10, Marshall McLuhan -

nhà triết học về truyền thông người Canada, trong cuốn The Global Village:

10

Toàn cầu hóa là một khái niệm hiện đại và đồng thời cũng là một hiện tượng xã hội khá cổ Ở thời Hy Lạp cô đại, Plato đã viết về một dạng của toàn cầu hóa trong cuốn Nền cộng hòa (The Republic) Trong suốt thời gian người Hy Lạp vẫn nghĩ rằng toàn bộ thế giới chỉ bao gồm các vùng gần biển Địa Trung Hải, Plato đã tiên liệu rằng một quốc gia dân tộc (nation-state) lý tưởng bao gồm một cộng đồng quan trọng thực hiện nhiệm vụ chính giữa các quốc gia dân tộc

Trang 20

Trang 11

Transformation in World Life and Media in the 21 st Century (1992)11 đã đưa ra khái

niệm “ng i l ng to n cầu” Ông cho rằng “ng i l ng to n cầu” này được tạo ra từ

sự tiến bộ khoa học truyền thông đại chúng, nơi mà con người trên khắp mọi nơi trên thế giới đều kết nối với nhau như thể học đang sống trong một cộng đồng địa phương Khi đó, một sự kiện, hiện tượng xảy ra ở vùng miền này, cộng đồng này sẽ

có ảnh hưởng, tác động đến các vùng miền, cộng đồng khác Thế giới được trải

“phẳng” và con người dần hướng đến những mục tiêu chung

Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, các nhà khoa học nghiên cứu về toàn cầu hóa đã tìm hiểu về vai trò của khoa học kỹ thuật truyền thông trong cả hai mặt: tạo điều kiện cho toàn cầu hóa và được toàn cầu hóa tạo điều kiện Terry Flew (2007)12 lập luận rằng phương tiện truyền thông có một vị trí trung tâm trong toàn cầu hóa do ba lý do: thứ nhất, các tập đoàn phương tiện truyền thông ngày càng toàn cầu hóa hoạt động của mình; thứ hai, cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc toàn cầu tạo điều kiện cho các dòng chảy thông tin toàn cầu; và cuối cùng là phương tiện truyền thông toàn cầu đóng một vai trò quan trọng trong cách chúng ta xem các sự kiện trên toàn thế giới và trong việc phát triển các hệ thống chia sẻ ý nghĩ, quan

điểm cá nhân Trong khi đó, David Croteau và William Hoynes (2003) cho rằng các loại hình truyền thông mới “ph vỡ khoảng c ch v mặt địa lý v xã hội, l m cho sự c ch trở v địa lý t ảnh hưởng tới c c mối quan hệ xã hội của ch ng ta hơn”.13

Theo hai nhà nghiên cứu, truyền hình cáp, vệ tinh, công nghệ cáp quang, đặc biệt là máy vi tính và mạng lưới Internet đã giúp tạo ra một sự bùng nổ về truyền thông đại chúng ở các dạng sản phẩm và loại hình ông nghệ tương tác hứa hẹn mang đến những sự thay đổi cho các loại hình truyền thông mới Robert McKenzie (2006)14 cũng nhất mạnh vai trò của công nghệ truyền thông đối với quá

11

Marshall McLuhan và Bruce Powers (1992) The Global Village: Transformation in World Life and

Media in the 21 st Century Oxford: Oxford University Press

12

Terry Flew (2007) Understanding Global Media London: Palgrave Macmillan

13

David Croteau và William Hoynes (2003) Media Society: Industries, Images, and Audiences London:

Sage Publications, trang 12

14

Robert McKenzie (2006) Comparing media from around the world Pearson, trang 18

Trang 21

Trang 12

trình toàn cầu hóa truyền thông đại chúng ng cho rằng các công nghệ truyền

thông cá nhân, đặc biệt là thư điện tử, và các chương trình trò chuyện tương tác

dựa trên nền tảng web15

, ví dụ như nstant Messenger, Q và Windown

Messenger, cộng với điện thoại di động, PD s và máy fax đã là cho truyền thông vượt qua biên giới giữa các quốc gia một cách dễ dàng hơn, rẻ hơn và nhanh chóng hơn

Ở Việt Nam, S.TS Tạ Ngọc Tấn, trong bài viết “To n cầu h a truy n

th ng v nh ng hậu quả của n ”, cũng đưa ra nhận định về các yếu tố điều kiện của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng: “Nh ng th nh tựu, tiến bộ to lớn của

c ch mạng khoa học, kỹ thuật v c ng nghệ lần thứ ba (cuộc c ch mạng tin học) –

l một trong nh ng nhân tố c vai trò quyết định đối với tiến tr nh to n cầu h a truy n th ng đại ch ng”.16

Theo ông, sự phát triển của công nghệ thông tin và cùng với nó là những tiến bộ to lớn trong kỹ thuật truyền thông, những giải pháp công nghệ tiên tiến, nhu mạng cáp quang, hệ thống vệ tinh nhân tạo, kỹ thuật số (digital), truyền hình độ nét cao (HD), công nghệ 3G, công nghệ in hiện đại, v.v đã thúc đẩy

sự đổi mới và không ngừng nâng cao chất luợng, dung lượng, năng lực, sự hấp dẫn

và sự thuận tiện trong sử dụng của truyền thông đại chúng

Như vậy, hiểu một cách đơn giản, toàn cầu hóa truyền thông đại chúng là quá trình quy chuẩn hóa và mở rộng quy mô ra toàn cầu về phạm vi ảnh hưởng, nguồn tin, công chúng, loại hình truyền thông đại chúng mới cũng như các phương thức tiếp cận thông tin của con người qua sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật truyền thông dựa trên nền tảng của mạng lưới Internet

Sáu mươi năm sau khái niệm “ng i l ng toàn cầu”, một thế giới đang tiếp

tục thay đổi và xích lại gần với sự nhân rộng các trao đổi quốc tế Các loại hình

%E1%BA%A0I%20CH%C3%9ANG.pdf

Trang 22

hái niệ cuộc cách mạng kỹ thuật số

Manuel astells (1996) đưa ra dự báo về một xã hội thông tin mới trong

cuốn The rise of the Network society: “C ng nghệ thông tin mới đang t ch hợp thế giới trong nh ng mạng lưới toàn cầu được tạo thành từ nh ng t nh năng h u hiệu của các công cụ Giao tiếp máy tính qua trung gian sản sinh ra một cộng đồng ảo rộng lớn” 17 Thật vậy, kể từ năm 2000, những mạng lưới thông tin được nhân rộng dưới sự phát triển mạnh mẽ của Internet Các mạng lưới này đã mở ra rất nhiều các

loại hình truyền thông đại chúng cùng với các thiết bị truyền thông mới “Tất cả đã mang đến một sự vận động mang tên sự t c động qua lại và ngôn ng đa phương tiện”18, trong một tổng thể của một cuộc các mạng kỹ thuật số

Gérard Berry, nhà nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, Trưởng khoa Khoa học máy tính và kỹ thuật số của Đại học Pháp năm 2009 – 2010, đưa ra

nhận định: “Cuộc cách mạng kỹ thuật số là cuộc cách mạng không thể tránh khỏi,

được so sánh với việc ph t minh ra động cơ hơi nước v đ nh dấu sự bắt đầu của một thời đại công nghiệp” Ông cho biết thêm: “Ch ng ta đang bước vào thời đại

kỹ thuật số, và các ngành công nghiệp truy n thống như viễn thông và giáo dục văn

ho đang trải qua nh ng biến đổi mạnh mẽ Nh ng ng nh kh c như c ng nghệ thông tin và các dịch vụ liên quan đang ph t triển với tốc độ chóng mặt Đặc biệt, Internet đã c ch mạng hoá thông tin liên lạc bởi nó loại bỏ được các hạn chế v khoảng cách, thời gian và khối lượng” 19

Minh Tâm Cách mạng kỹ thuật số, Trung tâm Tin học và Tính toán (Centre for Informatics and

Computing), Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,tham khảo tại địa chỉ:

Trang 23

Trang 14

Theo thư viện nguồn mở Wikipedia, cuộc cách mạng kỹ thuật số là sự thay

đổi từ cơ kh tương tự (sử dụng tín hiệu analog) và kỹ thuật điện tử sang công nghệ

kỹ thuật số với sự xuất hiện và phổ biến của m y t nh v lưu tr kỹ thuật số, bắt đầu từ cuối nh ng năm 1950 đến cuối nh ng năm 1970 Thuật ng cũng đ cập đến nh ng thay đổi sâu rộng m điện toán kỹ thuật số và công nghệ truy n thông mang lại trong nh ng năm cuối thế kỷ 20 Tương tự như c c cuộc Cách mạng Nông nghiệp (Cách mạng thời kỳ đồ đ mới) và Cách mạng công nghiệp, Cách mạng kỹ thuật số đ nh dấu sự mở đầu của thời đại mới: Kỷ nguyên thông tin.20 [1]

Tương tự, theo Techopedia, từ điển trực tuyến về kỹ thuật, cách mạng kỹ

thuật số là sự tiến bộ của công nghệ từ các thiết bị điện tử và analog sang công

nghệ kỹ thuật số hiện nay Kỷ nguyên này bắt đầu từ nh ng năm 1980 v tiếp tục đến hiện nay Cuộc cách mạng kỹ thuật số còn được gọi là cách mạng công nghiệp lần thứ 3 v đ nh dấu sự mở đầu của Kỷ nguyên thông tin.21 [2] Trước cuộc cách mạng kỹ thuật số là hai cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra từ cuối thế kỷ 18 đến năm 1914 uộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới được bắt đầu ở nước Anh nửa cuối thế kỷ 18 (nối tiếp đến nửa đầu thế kỷ 19) với sự cơ giới hóa ngành dệt may Cách mạng công nghiệp lần thứ hai tiếp tục ngay sau đó từ năm 1871 đến năm 1914 với sự phát triển của các ngành công nghiệp hóa chất, dầu mỏ, thép và

điện lực “Hai cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đã sản sinh ra nh ng công dân gi u c hơn v nhi u thành thị hơn trên thế giới Giờ đây, cuộc cách mạng công nghiệp thứ 3 cũng đang rậm rịch với ngành công nghiệp chế tạo ngày càng được số hóa”, bài phân tích “Cuộc cách mạng công nghiệp lần ba” trên tờ Economist số ra ngày 21/04/2012 nhận định “Cuộc cách mạng công nghiệp lần

so&catid=13&Itemid=104

http://ciid.vast.ac.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=13:cuoc-cach-mang-ky-thuat-20

Wikipedia, http://en.wikipedia.org/wiki/Digital_Revolution

21

Techopedia, http://en.wikipedia.org/wiki/Digital_Revolution

Trang 24

Trang 15

thứ 3 không chỉ thay đổi bộ mặt ngành kinh doanh, mà còn nhi u hơn thế n a”.22

[3]

Trong một bài báo khác của tờ The Economist, Carly Fiorina – iám đốc

điều hành Hewlett-Packard cho rằng: “Ch ng ta đang bước vào một kỷ nguyên mà mọi thứ đ u đang được số h a v đây sẽ là quá trình chính trong một vài thập kỷ tới […] Thời đại kỹ thuật số đang đem đến sự dân chủ hóa trong thông tin, xóa mọi rào cản v thời gian, khoảng c ch địa lý và tài chính Chẳng hạn hiện nay, to n bộ thông tin của c ng ty t i đ u có trên website và cả thế giới có thể truy cập được

Đi u đ thật sự tiện lợi”.23

Vào năm 1975, các loại hình truyền thông viết bắt đầu kết hợp với truyền thông hình ảnh và âm thanh Ở đây không có loại hình nào thắng hay bại Đó là một bước phát triển tất yếu của khoa học về thông tin và hệ thống viễn thông Máy

vi tính và điện thoại đã làm thay đổi bối cảnh truyền thông đại chúng Ở các nước phát triển, máy vi tính được bán khắp nơi và có mặt tại khắp các nhà riêng, trường học, công ty Trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2000, khoa học về thông tin và

hệ thống viễn thông phát triển mạnh mẽ cả về nội hàm lẫn ngoại viên khi có sự liên kết chặt chẽ với các loại hình truyền thông đại chúng, nhất là trong lĩnh vực hình ảnh và âm thanh

22

The Economist The Third Industrial Revolution, đăng ngày 21/4/2012 tại địa chỉ

http://www.economist.com/node/21553017 , tham khảo ngày 21/2/2014

23

The Economist Totally Digital, đăng ngày ra ngày 17 tháng 11 năm 2004, tại địa chỉ

http://www.economist.com/node/3372202, tham khảo ngày 21/2/2014, tham khảo ngày 21/2/2014

Trang 25

Trang 16

Sang đến thập niên 90, dãy thiên hà truyền thông đa phương tiện mang

tính tương tác24

được sinh ra với sự cộng hưởng của ba lĩnh vực, vốn dĩ không có

sự liên quan từ khi chúng ra đời: truyền thông đại chúng, khoa học về tin học và hệ thống viễn thông Năm 1991, Tim Berners Lee của Trung tâm nghiên cứu nguyên

tử châu Âu ( ern) phát minh ra World Wide Web (WWW) Đây là một cuộc cách mạng trên Internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng Với Internet và Web, một môi trường truyền thông đại chúng mới được vẽ ra giữa năm 1992 và 1998 Sau đó, việc sử dụng Internet trở nên phổ biến với rất nhiều

tiềm năng và tiện ích dành cho người dùng “Nó thể hiện như l một sự kế thừa hay một chất xúc tác: thâu tóm tất cả các loại hình truy n th ng đã ph t triển từ hơn một trăm năm mươi năm trước, đồng thời đem đến cho mỗi loại hình truy n thông một viễn cảnh mới.”25

Những năm 2000, điện thoại di động trở thành thiết bị không thể thiếu như máy vi tính và hiện đại hơn hẳn những chiếc điện thoại chỉ có chức năng gọi và chơi một số trò chơi đơn giản vào những năm 1990 ũng trong những năm này, tin nhắn trên điện thoại di động được sử dụng rộng rãi và bắt đầu trở thành một hiện tượng văn hóa uộc cách mạng kỹ thuật số lan rộng ra toàn cầu vào thời điểm này Đến cuối thập niên 2000, nhiều quốc gia trên thế giới đã có chuẩn DTV khi phát sóng trên truyền hình

Nói tóm lại, sự phát triển kỹ thuật số trên tất cả các lĩnh vực: số hóa nội dung

và cách thức truyền tải thông tin một cách dễ dàng, rộng khắp nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các thiết bị phát – truyền dẫn và thu thập thông tin Kể từ năm 2010,

chúng ta đang bước vào một “kỷ ngu ên 6 màn hình”26

: màn hình lớn trong các rạp chiếu phim, màn hình truyền hình, màn hình máy vi tính cố định hoặc máy vi tính cá nhân, màn hình của các trò chơi điện tử, màn hình điện thoại di động và

Trang 26

Trang 17

cuối cùng, từ mùa xuân năm 2010 cùng với sự xuất hiện của Ipad, một “màn hình mới” xuất hiện với tên gọi: máy tính bảng điện tử (tablet multimedia)

1.1.2 Sự xuất hiện của các loại hình truyền thông mới

Quá trình toàn cầu hóa truyền thông đại chúng cùng với công cuộc cải cách

số hóa, đặc biệt là sự ra đời của Internet, đã làm thay đổi diện mạo của đời sống báo chí Thế giới không chỉ “phẳng” mà còn đồng nhất, thông tin không những đa dạng mà còn truyền đi rất nhanh và hoạt động truyền thông diễn ra sôi nổi hơn bao

giờ hết Trong bối cảnh đó, truyền thông hội tụ (convergent journalism) ra đời là

một yếu tố tất yếu

1.1.2.1 Khái quát về truyền thông hội tụ

1.1.2.1.1 Khái niệm truyền thông hội tụ

Năm 1978, Nicholas Negroponte – Viện trưởng Viện Công nghệ Massachusetts Media Lab, đã đưa ra khái niệm “hội tụ”, nhưng phải đến năm 1983, giáo sư thiel de Sola Pool của Học viện Công nghệ Hoa Kỳ (MIT) mới chính thức đưa ra khái niệm truyền thông hội tụ và dự đoán rằng, với sự phát triển của công cuộc cải cách số hóa, các loại hình truyền thông vốn được phân chia rạch ròi sẽ hội

tụ với nhau.27

Đúng với dự đoán, Internet ra đời và phát triển đã khiến cho môi trường

truyền thông thay đổi mạnh mẽ, nó “kh ng chỉ là tác nhân tạo ra c c phương tiện truy n thông mới, nó còn là cả một thế giới khác tồn tại bên cạnh thế giới thực, thông qua thế giới này, công chúng báo chí có thể tiến hành mọi hoạt động như bên ngo i đời sống thực”.28

27

Nguyễn Thành Lợi Tòa soạn hội tụ - từ lý luận đến thực tiễn, đăng tải ngày 26/11/2013 tại địa chỉ

http://ictpress.vn/nghe-bao/toa-soan-hoi-tu-tu-ly-luan-den-thuc-tien, tham khảo ngày 21/2/2014

28

Nguyễn Thành Lợi Sự vận động và phát triển của báo chí hiện đại trong m i trường hội tụ truy n

thông, đăng tải ngày 16/10/2013 tại địa chỉ dong-va-phat-trien-cua-bao-chi-hien-dai-trong-moi-truong-hoi-tu-truyen-thong.html , tham khảo ngày 21/2/2014

Trang 27

http://nguoilambao.vn/nghien-cuu-trao-doi/50829-su-van-Trang 18

Về khái niệm truyền thông hội tụ, Henry Jenkins, trong cuốn Convergence Culture: Where Old and New Media Collide (2006), giải thích rõ hơn về hội tụ truyền thông: “l dòng chảy của nội dung thông tin trên nhi u n n tảng phương tiện truy n thông, sự hợp tác gi a các ngành công nghiệp truy n thông và hành vi dịch chuyển của công chúng sử dụng phương tiện truy n thông Hội tụ là từ để mô

tả sự thay đổi mang tính công nghệ, công nghiệp văn h a v xã hội ” 29 [5]

Trong bản thảo cuốn The Convergence Journalist Handbook: News Writing for Print, Broadcast & Online của arrie riado đăng ngày 4/4/2004 để trình bày

tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội giáo dục Báo chí và Truyền thông tại thành

phố Kansas, Missouri, có đoạn: “hội tụ thường c nghĩa l tất cả các n n tảng thành phần có sẵn được giao cho một hệ đi u hành dựa trên web để đ ng g p cho sản phẩm thông tin tổng thể N cũng c nghĩa l chia sẻ thông tin và nâng cao trên đường đi” (Killebrew, 2002).30

Đúng vậy, công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đang ở một điểm mà chúng có thể dễ dàng tích hợp nhiều thành phần vào một thiết bị Nicholas Negroponte đã mô tả tình hình như một loạt các vòng tròn chồng chéo lên nhau Ông cho rằng để điều hành quy trình cấp cao trong các ngành công nghiệp truyền thông, các kế hoạch chiến lược cho tương lai nên đưa vào khoản sự hội tụ của công nghệ Sản phẩm của họ sẽ ngày càng có thể hoán đổi cho nhau và được tiêu thụ trên các thiết bị khác nhau

Trang 28

Trang 19

Hình 1: Mô hình truyền thông hội tụ theo Nicholas Negroponte 31

Đứng về góc độ rộng hơn, Jean Gabszewicz và Nathalie Sonnac (2010) cho rằng sự hội tụ diễn ra ở ba lĩnh vực truyền thông đại chúng, viễn thông và công nghệ thông tin dẫn đến một sự chuyển đổi hình thể của lĩnh vực kinh tế số hóa với các thách thức mới Hội tụ sẽ thúc đẩy sự đổi mới và xuất hiện của những mô hình dịch vụ và phương thức sử dụng mới.32

Bàn về hội tụ truyền thông, PGS.TS Nguyễn Đức Dũng cũng đưa ra khái

niệm: “Hội tụ truy n th ng l để chỉ sự tích hợp c c phương tiện báo chí khác nhau vào trong một phương thức hoạt động”.33 Nó bao gồm sự kết hợp tất cả các phương tiện truyền thông, không chỉ về loại hình truyền thông, mà còn là sự hội tụ

cả về chức năng, phương thức đưa tin, sở hữu nguồn tin, cơ cấu tổ chức của các cơ quan báo chí, v.v Nói cách khác, hội tụ truyền thông là quá trình phát triển tịnh tiến từ thấp đến cao của báo chí hiện đại

Nguyễn Thành Lợi Sự vận động và phát triển của báo chí hiện đại trong m i trường truy n thông hội

tụ, đăng tải ngày 16/10/2013, tại địa chỉ va-phat-trien-cua-bao-chi-hien-dai-trong-moi-truong-hoi-tu-truyen-thong.html , tham khảo ngày

http://nguoilambao.vn/nghien-cuu-trao-doi/50829-su-van-dong-21/2/2014

Trang 29

truyền thông hội tụ lấy mạng Internet làm hạt nhân và Internet là phương tiện truyền thông mạnh mẽ nhất từng được tạo ra, bởi vì nó có thể bắt chước tất cả phương tiện truyền thông khác, còn các phương tiện khác không thể bắt chước Internet Qua đó có thể thấy, các loại hình truyền thông mới và truyền thống có thể tương tác theo sự phát triển của công nghệ số hóa Điều đó đã khiến báo chí, phát thanh và truyền hình từng bước bị Internet “tấn công” mạnh mẽ, và trong môi trường hội tụ truyền thông đó, công chúng có thể tự do tìm kiếm thông tin một cách nhanh nhất trên các phương tiện truyền thông mà họ ưa thích.34

34

Nguyễn Thành Lợi Nguồn đã dẫn, tại địa chỉ: den-thuc-tien

Trang 30

http://ictpress.vn/nghe-bao/toa-soan-hoi-tu-tu-ly-luan-Trang 21

Hình 3: Mô hình hội tụ truyền thông của McCrudden

Sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật đã cung cấp cho ngành báo chí truyền thông những công cụ và phương thức hoạt động hiệu quả hơn, tạo điều kiện cho quá trình tích hợp, tạo ra một không gian rộng rãi cho cuộc cách mạng báo chí truyền thông hiện đại ác phương tiện truyền thông truyền thống và cả những phương tiện truyền thông mới sẽ tương tác và hỗ trợ cho nhau, lồng ghép vào nhau thành những lớp thông tin, bổ trợ cho nhau trong một không gian thông tin mở, đầy

đủ, trực quan và sinh động, mở ra kỷ nguyên mới của truyền thông đa phương tiện

1.1.2.1.2 Những tiền đề chính

Sự tan vỡ của không gian và thời gian, mang lại bởi phương tiện truyền thông điện tử, đã dẫn đến các cá nhân có khả năng tương tác với nhau trong khuôn khổ của sự tương tác qua trung gian, bất kể sự khác biệt Điều này đã thay đổi phương pháp hiện đại của thông tin liên lạc, dẫn đến hiện tượng mới như báo chí có

sự tham gia của cộng đồng trực tuyến và các tổ chức hoạt động xuyên quốc gia thông qua mạng trực tuyến Cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã chuyển đổi

Trang 31

Trang 22

môi trường truyền thông và dẫn đến sự gia tăng của loại hình truyền thông mới, chẳng hạn như công nghệ kỹ thuật số và môi trường mạng Và điều cũng ảnh hưởng đến cách thức truyền tải và bản chất nội dung thông tin của chính các loại hình truyền thông truyền thống Sự chuyển đổi về cách thức trình bày nội dung cộng với sự ứng dụng các kỹ thuật và công nghệ truyền thông hiện đại, do đó, là một bước đi tất yếu

Leah Lievrouw và Sonia Livingstone (2005)35 lập luận rằng các loại hình truyền thông mới mở rộng những mối quan tâm về truyền thông đại chúng và nghiên cứu về truyền thông thông tin bằng cách thay đổi trọng tâm sản xuất từ các

sản phẩm truyền thông đại chúng để thu hút khán giả sang “c c đồ tạo tác và các thiết bị sử dụng để giao tiếp, […] cùng với các hoạt động và thực tiễn, trong đ con người tham gia vào quá trình truy n thông hoặc chia sẻ thông tin; và tạo ra sự sắp xếp xã hội hoặc các hình thức tổ chức phát triển xung quanh các thiết bị và các ứng dụng” [7]

Như đã nói ở trên, việc mở rộng dòng chảy thông tin liên lạc và mạng lưới trực tuyến toàn cầu nâng cao khả năng của một chiều hướng mới của toàn cầu hóa,

và các hình thức mới của toàn cầu/ địa phương các dòng phương tiện truyền thông Công nghệ truyền thông mới cho phép nội dung truyền thông lưu thông dễ dàng qua biên giới và cho phép người dùng trở thành nhà sản xuất, do đó dẫn đến các hình thức truyền thông lai Một ví dụ cụ thể, đi cùng với sự hội tụ của công nghệ truyền thông riêng biệt trước đó, là sự xuất hiện của một sự hội tụ trong báo chí về

vai trò của các nhà báo và khán giả, dẫn đến khái niệm “báo chí tham gia”.36 Công nghệ mới và sự phân phối toàn cầu của Internet cho phép mọi người tạo ra hoặc

Karin Wahl-Jorgensen và Thomas Hanitzsch (2008) Convergence and Cross Platform Content

Production London: Routledge

Trang 32

có quá nhiều sự lựa chọn và cạnh tranh thông tin, “kết quả là một thế hệ tiêu thụ nhi u th ng tin hơn trong khoảng thời gian t hơn xuất hiện, thời gian là loại hàng hóa quý giá nhất.” Nhà xuất bản Tampa Tribune il Thelen cũng nhận định rằng

hành vi tìm kiếm thông tin của con người đang dần thay đổi và những tổ chức truyền thông cần thích nghi với sự thay đổi đó Trong khi đó, oward Tyner, người từng là chủ biên của The Chicago Tribune và Phó chủ tịch Công ty Tribune, giữ lập trường rằng ngành báo chí giống như cái nhãn cầu - cố gắng lôi cuốn nhiều người nhất có thể nhìn vào những sản phẩm truyền thông, và sự tích hợp làm tăng cơ hội cho những tổ chức truyền thông đạt đến lượng nhãn cầu lớn nhất.37 Cùng quan điểm với những ý kiến trên, Paul Horrocks – chủ biên của tờ báo Manchester Evening News (Anh) – cho rằng: chúng ta phải sửa đổi sản phẩm mang tính cạnh tranh hơn và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, sự tích hợp chính là đáp án bởi vì

nó đạt đến sự khao khát tiếp nhận thông tin của khán thính giả ở vô số dạng khác nhau.38

Bên cạnh sự thay đổi về nhu cầu của độc giả, những thay đổi về công nghệ cũng tạo điều kiện để hội tụ truyền thông ra đời Theo báo cáo của một cuộc điều tra của Nielsen/NetRatingsvào tháng 3/2004, gần 75% dân số có đường mạng và thiết bị kết nối điện thoại tại nhà Đường truyền nhanh và mạng băng thông rộng

Trang 33

Trang 24

thúc đẩy sự tích hợp vì mọi người có thể nhanh chóng tải một lượng lớn nội dung như truyền thông đa phương tiện.39

1.1.2.2 Sự xuất hiện các loại hình truyền thông mới

iner đã viết trong 1 ấn bản trực tuyến của The deas, tập san của Tổ chức

Quảng bá Báo chí Thế giới ( NM ) rằng: “Sự đa dạng h a phương tiện truy n

th ng đã l qu khứ Sự hợp nhất kỹ thuật số l hiện tại Sự thống nhất truy n

th ng đa phương tiện l tương lai”.40

húng ta vốn đã quen thuộc với loại hình truyền thông truyền thống gồm: báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình Đây là những loại hình tồn tại đơn lẻ Xét từ góc độ kỹ thuật, sự tương tác, hội tụ giữa báo

in và mạng Internet đã “sản sinh” ra báo mạng điện tử; sự hội tụ giữa truyền hình

và Internet cho “ra đời” truyền hình giao thức ( PTV); và sự hội tụ giữa phát thanh

và Internet tạo ra phát thanh trên mạng Internet (Podcasting) ó thể thấy rằng, báo chí nói chung, trong đó có phát thanh, truyền hình ngày càng được thay thế bằng Internet Nó cho phép người tiêu dùng khắp nơi trên thế giới được tự do truy cập nội dung phương tiện truyền thông ưa thích của họ dễ dàng hơn và với tốc độ ngày càng nhanh hơn

1.1.3 Sự uất hiện của các thiết bị tru ền thông mới

1.1.3.1 Những tiền đề chính hình thành các thiết bị truyền thông mới

Như đã trình bày ở các phần trước, cuộc cách mạng kỹ thuật số trong lĩnh vực truyền thông thông tin đã tạo điều kiện cho truyền thông hội tụ, làm xuất hiện

nhiều loại hình truyền thông mới Như Manovich, L (2001) đã viết trong cuốn The Language of New Media về ảnh hưởng của cuộc cách mạng kỹ thuật số lên các phương tiện truyền thông đại chúng: “Cuộc cách mạng kỹ thuật số để lại nh ng ảnh hưởng sâu sắc hơn c c cuộc cách mạng trước đ Nó ảnh hưởng đến toàn bộ giai đoạn truy n thông (thu thập, lưu tr , xử lý và truy n tin tức) và tất cả yếu tố

Trang 34

1.1.3.2 Các thiết bị truyền thông kỹ thuật số

1.1.3.2.1 Tính chất của các thiết b truyền thông kỹ thuật số

Có thể nói, thiết bị truyền thông kỹ thuật số mới tiến bộ hơn so với các thiết

bị truyền thông cũ Dưới đây trình bày một số tính chất vượt trội tiêu biểu của các thiết bị truyền thông mới so với các phương tiện truyền thông cũ

Trước hết, theo Manovich (2001), các thiết bị truyền thông kỹ thuật số sử dụng quá trình tái hiện số: tất cả các thông tin được trình bày dưới dạng nhị phân 0-

1 Nhờ đó, thông tin kỹ thuật số có thể được lập trình, dễ dàng thay đổi; các thiết bị truyền thông mới có khả năng thực hiện các thuật toán để nén và giải nén thông tin, lưu trữ lượng thông tin lớn, sao chép và chuyển thông tin từ các nguồn hoặc các thiết bị kỹ thuật khác.42 Thứ hai, các thiết bị truyền thông mới kết nối mạng (sản xuất, phân bổ và tiêu thụ thông qua hệ thống mạng hai chiều) qua nhiều con đường khác nhau như Internet, điện thoại di động hoặc mạng lưới WiFi; trong khi đó, các thiết bị truyền thông cũ tiêu thụ thông tin qua mạng hệ thống analog một chiều

Vì thế, các thiết bị truyền thông mới, theo Poster (1995) viết trong cuốn The Second Media Age, có khuynh hướng là một cấu trúc phân tán với nhiều người sản

xuất và nhiều người tiêu thụ cùng một nội dung thông tin với nhau, ngược lại với

41

Manovich, L (2001) The Language of New Media Cambridge/London: M T Press được trích dẫn

trong Vincent Miller (2011) Understanding Digital Culture, SAGE Publications Ltd, trang 12

42

Manovich, L (2001) S ch đã dẫn được trích dẫn trong Vincent Miller (2011) S ch đã dẫn, trang 15

Trang 35

Trang 26

mô hình tháp của các phương tiện truyền thông cũ nơi mà người sản xuất truyền đạt thông tin một chiều đến nhiều người nhận.43

Hình 4: Mô hình phát sóng so với mô hình Internet 44

Cùng với đó, thiết bị truyền thông đại chúng mới cũng có khả năng tương tác, tức là “có khả năng phản hồi” để phù hợp với các sở thích, nhu cầu và hoạt

động của người dủng Theo Lister et al (2009) viết trong cuốn New Media: A Critical Introduction: “Khả năng tương t c c thể được coi là một trong nh ng tính chất có giá trị của phương tiện truy n thông kỹ thuật số mới m qua đ , c c nh kinh doanh và các ngành công nghiệp có thể dùng vào mục đ ch marketing nhằm hiểu sản phẩm của họ đang được người tiêu dùng đ n nhận như thế nào và sẽ được cải tiến ra sao Khả năng tương t c gi p c c nh kinh doanh đo đạc lại hiệu quả sản phẩm của họ cho phù hợp với nhu cầu của người dùng, làm cho sản phẩm hấp

Trang 36

Trang 27

dẫn hơn.” 45 [9] Hai tính chất này tạo nên trang Wikipedia – Bách khoa toàn thư online hay Google Translate – công cụ phiên dịch các ngôn ngữ khác nhau Đây là những nguồn mở cho phép tất cả mọi người dễ dàng cùng tìm hiểu thông tin bên cạnh việc bổ sung, cập nhật, cải tiến và mở rộng nội dung thông tin có sẵn trên đó

Tương tự, Manovich (2001) cũng cho rằng “tự động hóa” là một trong những yếu tố chính của các phương tiện truyền thông kỹ thuật số Nói một cách ngắn gọn,

đa số những gì chúng ta cho là những đối tượng thông tin trong thời đại kỹ thuật số được sáng tạo dựa trên cơ sở dữ liệu, không phải là kết quả của sự nỗ lực của con người.46

ác phương tiện truyền thông kỹ thuật số thu thập thông tin nhằm xác định nhu cầu người dùng và hướng họ đến quảng cáo mục tiêu hiệu quả hơn thông qua quá trình tự động cá nhân hóa và định hình Khi sử dụng Google, các quảng cáo được tự động hiển thị trên màn hình chúng ta dựa trên trang web mà ta đang tìm kiếm MyYahoo News tự động điều chỉnh trang tin tức của khách hàng hiển thị thông tin dựa trên sở thích và ưu tiên của họ Các mạng xã hội, đơn cử là Facebook, cài đặt trang chủ của người dùng hiển thị trạng thái, hình ảnh, video vừa được cập nhật của những người họ thường xuyên trò chuyện thông qua tin nhắn, thường

xuyên vào Dòng thời gian hoặc những người họ đăng ký theo dõi “Tự động h a”

h u ích cho sự định hướng thông tin của chúng ta gi a khối lượng thông tin lớn trên mạng hiện nay.”47 Cùng với tự động hóa, “siêu văn bản đa phương tiện” cũng

là một trong những tiến bộ của các phương tiện truyền thông mới so với các phương tiện truyền thông cũ Siêu văn bản đa phương tiện, theo Vincent Miller là: một hệ thống gồm các liên kết và cơ sở dữ liệu giúp chúng ta điều hướng từ nội dung trên trang web này đến nội dung trong trang web khác trên World Wide Web.48 Khi một người nhấp vào các liên kết khác nhau, các đường dẫn khác nhau

Trang 37

Trang 28

được hình thành giữa những nốt mạng Vì quyết định chọn đường dẫn nào phụ thuộc vào người đọc nên siêu văn bản đa phương tiện về bản chất là một dạng văn bản không có tuyến, nó làm mờ ranh giới giữa “người đọc” và “người viết” Như

vậy, theo Conklin, J (1987) trong cuốn Hypertext: an introduction and survey:

“siên văn bản đa phương tiện bao gồm văn bản đơn thuần v c c nh nh tương t c

để tạo nên một văn bản không có tuyến, đi u mà các trang báo giấy không làm được.”49

Theo Francis Balle (2011)50, các yếu tố trên cho phép hình thành một bảng phân loại các thiết bị truyền thông vừa hoàn thiện, vừa thích đáng oàn thiện ở chỗ nó không xây dựng bất kỳ sự phân biệt về giữa kỹ thuật giữa các thiết bị cũ hay mới xuất hiện Thích đáng ở chỗ mục tiêu của nó tính đến sự đa dạng về thể thức trao đổi giữa người với người Theo đó, các thiết bị truyền thông được phân chia

thành ba nhóm chính: nhóm thiết bị truyền thông tự chủ; thiết bị truyền thông

phát sóng và thiết bị truyền thông giao tiếp

Trang 38

Trang 29

Nh m đầu tiên là các thiết bị truyền thông tự chủ: bao gồm tất cả các

thiết bị ghi nhận thông điệp và không đòi hỏi sự kết nối với bất kỳ mạng lưới đặc biệt nào: ví dụ như sách, báo, tạp chí, đĩa D, DVD, băng video… Để đọc thông điệp ở các công cụ thuộc nhóm này luôn cần có một nhóm thiết bị giải mã khác như: đầu đĩa, máy cassette, máy vi tính, máy chơi game

Nhóm thứ hai là các thiết bị truyền thông phát sóng: việc phát sóng sẽ

rộng khắp và được thắt chặt Từ sau Marconi vào năm 1896, những nhà cung cấp sóng và những điểm thu mặt đất được phép truyền thông tin thông qua con đường của sóng điện từ Những chương trình phát thanh được truyền phát đi và mức độ thu nhận sóng phụ thuộc vào công suất của thiết bị phát sóng và tính khả dụng của các đầu thu Từ những năm 1930, những chương trình truyền hình cũng được phát

đi theo phương thức tương tự Kể từ 1975, cách thức phát sóng bắt đầu đa dạng hơn: qua cáp, vệ tinh, truyền hình kỹ thuật số mặt đất, Internet

Nhóm thứ ba và là nhóm cuối cùng: các thiết bị truyền thông giao tiếp bao

gồm các thiết bị viễn thông lưỡng cực hoặc đa cực Các thiết bị thuộc nhóm này bao gồm các phương tiện viễn thông cho phép thiết lập, từ xa hoặc theo hai hướng, một mối liên lạc về mặt giao tiếp giữa hai người hoặc một nhóm người, hay một mối liên hệ giữa cá nhân/ nhóm người với một thiết bị được thiết lập chương trình

Được phát minh vào năm 1876 bởi raham Bell, điện thoại được xem như là

“tổ tiên” của những kỹ thuật mang tính “tương tác” tức thời và trực tiếp giữa các đầu mối khác nhau để trao đổi thông tin Sự đa dạng các thiết bị xuất hiện trong giai đoạn 1978-1980 cho phép mỗi người sử dụng sở hữu những chương trình hoặc dịch vụ theo sự lựa chọn của họ với chỉ một bước điều khiển cá nhân Giữa các thiết bị truy cập bao gồm kỹ thuật thu hình, trong phiên bản phát sóng hay mang tính tương tác, hay kỹ thuật truyền hình tại nhà và từ 1993-1995 là những dịch vụ Internet Những thiết bị hình thành một môi trường trao đổi những văn bản, đồ họa,

Trang 39

Trang 30 hình ảnh cố định hoặc động liên kết với âm thanh chứ không chỉ là sự trao đổi một

Trang 40

Trang 31

Hình 5: Cơ cấu phân chia các thiết bị truyền thông, viễn thông, theo Francis Balle (2011)

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w