Tóm tắt đề tài ĐỊNH KIẾN XÃ HỘI VÀ NHỮNG CHIẾN LƯỢC ỨNG XỬ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN CÁC TỈNH THANH HÓA, NGHỆ AN VÀ HÀ TĨNH TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG Nghiên cứu trường hợp tại Thị xã Thuận An, Bình D
Mục tiêu nghiên cứu
Có thể nói rằng định kiến vùng miền trong lĩnh vực lao động là một hiện tƣợng khá mới diễn ra ở Việt Nam; vậy nên để có cái nhìn nhận đúng đắn và khách quan về vấn đề này, tác giả đặt ra mục tiêu cho đề tài này là: (1) Trình bày đƣợc những cách thức, nguyên nhân của định kiến đó; (2) tìm hiểu đƣợc những cách thức ứng phóvới những cách thức định kiến trên của công nhân Thanh – Nghệ - Tĩnh Mục tiêu chính yếu của đề tài này là tìm hiểu được vai trò, ảnh hưởng của văn hóa vùng miền trong sự hình thành nên định kiến và những cách thức ứng phó của công nhân khi gặp định kiến trong cuộc sống di cư ở Bình Dương.
Tổng luận các công trình nghiên cứu liên quan
Trong nước
Cho đến nay, công nhân là đối tƣợng nhận đƣợc nhiều quan tâm từ những nhà nghiên cứu xã hội, có nhiều tác phẩm và đề tài nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau về công nhân nhƣ: đề tài “Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” của nhóm tác giảNguyễn Thị Quế, Nguyễn Thị Tú Hoa, Viện Quan Hệ Quốc tế - Học viện chính trị - hành chính Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; “Tác động xã hội vùng của các khu công nghiệp ở Việt Nam” của Nguyễn Bình Giang, Viện Khoa Học Xã hội Việt Nam, Viện
Kinh Tế và Chính Trị Thế Giới; đề tài nghiên cứu: “Từ nông thôn ra thành phố: tác động kinh tế - xã hội của di cư ở Việt Nam” của nhóm tác giả Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm, Viện Nghiên cứu phát triển xã hội Đây đều là những tác phẩm đƣợc nghiên cứu cách tỉ mỉ, sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu của Xã hội học, phân tích nhiều vấn đề liên quan tới công nhân hiện nay của Việt Nam như: việc làm, môi trường sống, tay nghề, trình độ công nhân…vvđặc biệt các tác phẩm này chỉ ra những thay đổi của người công nhân khi họ di cư tới sinh sống và làm việc tại những khu đô thị vànhững khu công nghiệp; họ không chỉ thay đổi cách làm việc mà còn thay đổi cả cách sống, cách sinh hoạt để hòa nhập vào cuộc sống mới nơi họ di cƣ tới Tuy nhiên các tác phẩm này đều chƣa đề cập tới sự xung đột, định kiến vùng miền đối với công nhân di cƣ, đây là vấn đề chính mà đề tài hướng tới
Liên quan tới vấn đề công nhân ở Bình Dương, có nhiều đề tài nghiên cứu với nhiều khía cạnh vấn đề khác nhau nhƣ: báo cáo nghiên cứu chính sách VNCI, số 5 về:
“Thực hiện chính sách về lao động và phát triển nguồn nhân lực cho chính quyền cấp tỉnh – kinh nghiệm tại Đà Nẵng, Bình Dương và Vĩnh Phúc” của tác giả Lê Duy Bình; đề tài “ Hiện trạng tiếp cận phúc lợi xã hội của công nhân Bình Dương và đề xuất mô hình hợp lý ” và “Vấn đề di dân và kiểm soát rủi ro của người công nhân tại các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương (tạp chí phát triển nhân lực số 3(29) – 2012)” của Nguyễn Đức
Lộc, đây là những nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu trong Nhân học như: điền dã dân tộc học, quan sát tham dự, phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA)… những nghiên cứu này có nhiều thông tin cả về định lƣợng và định tính, nhiều luận cứ khoa học cho thấy đƣợc thực trạng của công nhân đang sinh sống và làm việc tại Bình Dương về: nhà ở, việc làm, mạng lưới xã hội….Công trình nghiên
6 cứu cũng đề cập tới việc cố kết cộng đồng của công nhân người Thanh – Nghệ - Tĩnh biểu hiện qua việc hình thành nên nhiều khu trọ đa số của người ba tỉnh trên; sử dụng mạng lưới xã hội trong việc giải quyết những khó khăn diễn ra trong đời sống như: Giáo dục, Y tế, Việc làm….Tuy nhiên những công trình nghiên cứu này vẫn chƣa đề cập tới vấn đề định kiến mà đề tài này hướng tới; song đây là những nguồn tài liệu quan trọng cung cấp nhiều thông tin về cả địa bàn và nhóm công nhân Thanh – Nghệ - Tĩnh cho đề tài nghiên cứu này
Một số tài liệu liên quan trực tiếp tới vấn đề định kiến này nhƣ: bài viết “Vì sao lao động Nghệ An bị từ chối?” (chuyên san KHXH&NV Nghệ An, Số 4/2013) bài viết này là một cuộc thảo luận với sự tham gia của đại diện các ban nghành khác nhau nhằm chỉ ra những nguyên nhân, hệ quả, và thực trạng của vấn đề định kiến này từ nhiều cách nhìn nhận khác nha, đó là: cánh nhìn nhận từ văn hóa ứng xử của Hà Văn Đối, từ góc độ kinh tế của Nguyễn Đăng Bằng, từ xung đột quyền lợi giữa lao động và giới chủ của ông Nguyễn Chí Công; và bài viết: “Phân biệt vùng miền – từ định kiến tới văn hóa ứng xử” (Tạp chí Chủ Nhật 15/3/2013) đây là bài viết thuật lại cuộc nói chuyện giữa phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam với nhà nghiên cứu Hoàng Văn Sánh, bài viết phân tích thực trạng tẩy chay lao động Thanh – Nghệ - Tĩnh tại Bình Dương dưới góc độ văn hóa từ đó chỉ ra nguyên nhân bắt nguồn từ sự khác biệt về văn hóa; tuy nhiên những bài viết này mới chỉ đề cập tới một khía cạnh nhỏ của vấn đề mà chƣa cho thấy đƣợctổng quát về những định kiến xã hội đối với người công nhân Thanh – Nghệ - Tĩnh, chưa chỉ ra được cách ứng xử của công nhân ba tỉnh này khi gặp định kiến Song đây cũng là những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho đề tài này.
Nước ngoài
Nhƣ đã nói, thực trạng trên hầu như là một lĩnh vực mới diễn ra trong môi trường lao động ở Việt Nam, nhưng nó đã diễn ra khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc 10 … Những nghiên cứu về lĩnh vực này đa số cho
10 Sung-Ho Chung (1997), Văn hóa xã hội ảnh hưởng của người lao động trên Inmigrant Chuyển đổi Xã hội Hàn
Quốc Trung tâm nghiên cứuđa sắc tộc và xuyên quốc gia
Jian Guan (2010), Sự kỳ thị đối với người di cư nông thôn ra thành thị ở Trung Quốc: Một nghiên cứu định tính
7 rằng việc “tác động văn hóa xã hội” 11 của người lao động đối với nơi họ di cư tới, tức là những khác biệt về mặt văn hóa là nguyên nhân của những định kiến đối với người nhập cƣ Có thể điểm qua một số nghiên cứu sau:
Trong nghiên cứu về công nhân nước ngoài nhập cư vào Hàn Quốc 12 , Sung-Ho Chung cho rằng định kiến và “các vấn đề lao động nước ngoài phải được xem xét một cách cẩn thận và phải hiểu từ quan điểm văn hóa xã hội chứ không phải là từ góc độ kinh tế” Với việc tìm ra những tác động đến nền văn hóa xã hội Hàn Quốc do những khác biệt bởi văn hóa của người công nhân nước ngoài khi di cư đến như việc: làm gia tăng sự thù địch, định kiến của người dân Hàn Quốc với lao động nhập cư theo số lượng lao động nhập cƣ tăng lên, nghiên cứu của Sung-Ho Chung cho thấy đƣợc những định kiến xuất phát từ người dân bản địa bởi “một thái độ không lành mạnh phát sinh khi một người không được đánh giá bởi bản thân của mình mà thay vào đó bằng công việc của mình”, cụ thể là những công việc 3D (dirty, dangerous and difficult) mà người nhập cư nước ngoài đang làm tại Hàn Quốc Những định kiến tuy chƣa gây ra những vụ việc nào nghiêm trọng, song Sung-Ho Chung cũng đã dự đoán những hậu quả từ những định kiến nhƣ việc: xung đột văn hóa, “sốc nhẹ văn hóa”, căng thẳng mối quan hệ giữa công nhân bản địa với công nhân nhập cƣ… Từ đó, Sung-Ho Chung đã chỉ ra những cách giảm thiểu định kiến đối với người công nhân nhập cư đối với chính phủ, các tổ chức xã hội và người dân Hàn Quốc Tuy nhiên, nghiên cứu của Sung-Ho Chung chưa cho thấy tự bản thân người công nhân bị định kiến sẽ phải ứng phó như thế nào trước những định kiến Bên cạnh đó, nghiên cứu của Sung-Ho Chung dựa trên sự di cƣ xuyên quốc gia chứ chƣa đề cập tới những định kiến về công nhân nhập cƣ trong nội bộ quốc gia
Bên cạnh những nghiên cứu nhƣ của Sung-Ho Chung, thì có những nghiên cứu về định kiến với người lao động di cư diễn ra trong nội bộ quốc gia, như nghiên cứu của Jian
Xem thêm tại: http://agnaldogarcia.files.wordpress.com/2010/12/02_stigma-toward-the-rural.pdf
Lei Wang, Qingguo Ma, Zhaofeng Sông, Yisi Shi , Yi Wang, Lydia Pfotenhauer (2011) N400 và kích hoạt thành kiến đối với người di cư nông thôncông nhân ở Trung Quốc
11 Sung-Ho Chung (1997), Văn hóa xã hội ảnh hưởng của người lao động trên Inmigrant Chuyển đổi Xã hội Hàn
Quốc Trung tâm nghiên cứuđa sắc tộc và xuyên quốc gia
12 Sung-Ho Chung (1997), Văn hóa xã hội ảnh hưởng của người lao động trên Inmigrant Chuyển đổi Xã hội Hàn
Quốc Trung tâm nghiên cứu đa sắc tộc và xuyên quốc gia
Guan vềsự kỳ thị đối với người di cư từ nông thôn ra thành thị ở Trung Quốc Bằng cách tiếp cận từ chính người trong cuộc, Jian Guan tìm hiểu được định kiến đối với lao động di cƣ tồn tại “dưới hình thức của một đại diện xã hội”, tồn tại ngay trong tiềm thức của xã hội, trở thành một bộ phận của xã hội Jian Guan cho rằng hành vi kì thị phụ thuộc vào mức độ về kì thị tồn tại trong tiềm thức của người kì thị đối với người công dân di cư, mà người di cư được coi là đối tượng để: thực hiện cái gọi là: 3D jobs _ công việc nguy hiểm, dơ bẩn và hạ thấp phẩm giá Họ đƣợc coi là một mối đe dọa cho sự ổn định xã hội, và thường được liên kết với tỷ lệ tăng tội phạm trong thành phố Họ cũng được coi là thành phần cạnh tranh với lao động thất nghiệp của cư dân đô thị là những người đã bị sa thải từ các doanh nghiệp nhà nước (Wongetal.,2007; 2008) Bên cạnh đó, dựa trên nền tảng lý thuyết chức năng, một nghiên cứu khác của nhóm tác giả người Trung Quốc cũng đề cập tới việc định kiến đối với công nhân nhập cƣ ở Trung Quốc Nhóm tác giả 13 này cho thấy những định kiến bắt nguồn từ sự phân loại nông thôn – thành thị trong xã hội Trung Quốc Người công nhân cư là những người xuất thân từ nông thôn nơi được xem là có nền văn hóa thấp, họ mặc nhiên được xem là người “thiếu văn minh”, làm những công viêc khó khăn, bẩn thỉu, nguy hiểm mà “các cƣ dân thành phố không muốn làm” Tuy nhiên cả nghiên cứu của Jian Guan và nhóm tác giả Trung Quốc đều giống nhƣ nghiên cứu của Sung-Ho Chung là chƣa cho thấy đƣợc cách ứng phó với định kiến của chính người công nhân nhập cư Đồng thời, những nghiên cứu này chỉ mới đề cập tới định kiến người nhập cư một cách chung chung, chứ không riêng với một nhóm công nhân nhập cư cụ thể nào Tuy nhiên những nghiên cứu chƣa đề cập sâu tới thực trạng định kiến đang xảy ra tại Bình Dương Song cũng đã cung cấp nhiều thông tin về bối cảnh, đối tượng nghiên cứu cho nghiên cứu của tôi.
Đối tƣợng, Phạm vi và chủ thể nghiên cứu
- Công trình nghiên cứu “Định kiến xã hội và những chiến lƣợc ứng xử đối với công nhân Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh ở tỉnh Bình Dương” đề cập tới thực
13 Bao gồm Lei Wang, Qingguo Ma, Zhaofeng Sông, Yisi Shi , Yi Wang, Lydia Pfotenhauer (2011), N400 và kích hoạt thành kiến đối với người di cư nông thôncông nhân ở Trung Quốc
9 trạng định kiến đối với một nhóm lao động nhập cƣ Thanh – Nghệ - Tĩnh ở tại Bình Dương Nghiên cứu này đi tìmnguyên nhân của thực trạng định kiến và những cách ứng phó của người công nhân ba tỉnh trên khi gặp định kiến dưới góc độ nhìn nhận của chính cộng đồng người bị định kiến trong bối cảnh đô thị hóa đang diễn ra ở Bình Dương
- Đề tài thực hiện trong phạm vi của một cộng đồng công nhân Thanh – Nghệ - Tĩnh đang sinh sống, làm việc tại Khu dân cư 434 phường Bình Đáng, và phường Bình Chuẩn thị xã Thuận An, nhằm tìm hiểu đƣợc những định kiến đã và đang xảy ra đối với họ trong cuộc sống cũng nhƣ công việc và những cách thức mà bản thân họ ứng xử với những định kiến đó Bên cạnh đó, với việc phỏng vấn tác giả chú trọng khai thác thông tin mà người trả lời biết thông qua bạn bè, người thân, đồng nghiệp…
- Chủ thể nghiên cứu của đề tài là công nhân có quê là Thanh – Nghệ - Tĩnh ở Khu dân cư 434 phường Bình Đáng, và phường Bình Chuẩn ở thị xã Thuận An Chủ thể nghiên cứu đƣợc chọn theo hai cách tùy theo cách lấy thông tin, cụ thể: về thông tin khảo sát qua bảng hỏi, tác giả đã chọn mẫu theo mẫu xác suất; còn mẫu thông tin phỏng vấn sâu tác giả chọn mẫu mầm(mẫu phát triển).
Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận
Đề tài chọn cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội và nhân văn, trong đó những cách tiếp cận Nhân học và Xã hội học là chính yếu.
Về địa bàn khảo sát
Do hạn chế về thời gian, nên tác giả đã chọn Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương là địa bàn khảo sát nghiên cứu, cụ thể tác giả chọn hai khu nghiên cứu là: (1) khu dân cƣ
434 phường Bình Đáng , lý do chọn địa bàn này là vì đây được xem là khu “tự trị” của người ba tỉnh trên, “tập trung chủ yếu Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa (đồng hương) và có sự tự vệ cao với sự thâm nhập, tác động từ bên ngoài ” 14 ( Nhật kí điền dã tháng 12/2013); bên cạnh đó, đây là khu dân cƣ đƣợc bao bọc xung quanh là các khu công
14 Anh Vinh Phó chủ tịch thị xã Thuận An Trích Nhật kí điền dã tháng 5/2014
10 nghiệp: phía Đông thì có khu công nghiệp Đồng An, phía Nam có khu công nghiệp Việt Nam – Singapor (VISIP1), phía Tây có khu công nghiệp Việt Hương và phía Bắc có khu công nghiệp Sóng Thần , công ty giày da Thái Bình nên công nhân ở đây sẽ có nhiều thông tin đáp ứng cho đề tài Và (2) phường Bình Chuẩn, nơi đây cũng được xem là nơi tập trung nhiều người công nhân Thanh – Nghệ - Tĩnh, nhưng tính “tự trị” không nổi bật điều này dễ cho việc tạo ra tính khách quan trong nghiên cứu.
Về phương pháp nghiên cứu và công cụ đo lường
- Quan sát tham dự: Tác giả thực hiện việc thu thập thông tin bằng việc tham dự vào cuộc sống của cộng đồng nghiên cứu, tuy nhiên vì bó hẹp về thời gian nên tác giả chỉ nghiên cứu trong thời gian một tuần ở khu dân cư 434 ở phường Bình Đáng, còn ở phường Bình Chuẩn tác giả thực hiện nghiên cứu vào thứ 7 và chủ nhật kéo dài từ giữa tháng 11 năm 2014 tới nửa tháng 1 năm 2015 Tác giả vừa là nhà nghiên cứu, vừa là một thành viên trong cộng đồng (tác giả là người Nghệ An) nên thuận lợi cho việc khai thác thông tin từ cộng đồng nghiên cứu, công việc chính của phương pháp này là: quan sát ghi chép, ghi nhật kí điền dã, ghi lại các cuộc phỏng vấn không chính thức, chụp hình…vv
- Khảo sát bằng bảng hỏi: để có đƣợc những thông tin cụ thế hóa về mặt số liệu, tác giả đã xây dựng một bảng hỏi chủ yếu thu thập thông tin về những cách thức định kiến và những chiến lược ứng xử của bản thân người công nhân Tác giả chọn mẫu khảo sát theo danh sách phòng trọ do nhà trọ cung cấp, dưới sự cho phép của chính quyền tại đó; những đối tƣợng đƣợc khảo sát có quê quán là Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh Có tất cả 112 phiếu khảo sát, trong đó có 60 phiếu đƣợc khảo sát ở 5 khu trọ ở khu dân cƣ
434, phường Bình Đáng, và 52 phiếu từ 7 khu nhà trọ ở phường Bình Chuẩn thị xã Thuận An
- Phỏng vấn sâu: tác giả đã thực hiện tất cả 19 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó có 15 cuộc chính thức và 4 cuộc phi chính thức; có 17 cuộc phỏng vấn công nhân, 1 cuộc của chủ trọ (phi chính thức, đƣợc ghi chép trong nhật kí điền dã) và 1 cuộc từ an ninh phường Tất cả các mẫu phỏng vấn sâu của công nhân đều được chọn theo cách lấy mẫu mầm, dựa vào mối quan hệ của người công nhân với nhau họ là người giới thiệu mẫu
11 phỏng vấn cho tác giả nhằm thu đƣợc những thông tin chính xác, phù hợp với đề tài nghiên cứu
- Nghiên cứu thư tịch: đây là một phương pháp nghiên cứu không thể thiếu trong đề tài nhằm tìm hiểu đƣợc những thông tin mang tính hàn lâm nhƣ: định kiến xã hội, văn hóa cùng miền, địa bàn nghiên cứu, cách tiếp cận… nhằm tìm ra những đóng góp mang tính khoa học từ thƣ tịch cho đề tài.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Với những kết quả mà đề tài mong muốn đạt đƣợc, sẽ góp phần lý giải yếu tố văn hóa vùng miền trong việc hình thành nên định kiến xã hội trong môi trường lao động, và những chiến lược ứng xử của những người công nhân là nạn nhân của định kiến xã hội đó, trong bối cảnh đô thị hóa đã và đang diễn ra ở Bình Dương nói riêng và Việt Nam nói chung.
Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần chỉ ra những hình thức định kiến xã hội và những khó khăn từ định kiến trên đối với công nhân ba tỉnh Thanh – Nghệ - Tĩnh, từ đó giúp có cái nhìn khách quan, đúng đắn hơn về vấn đề này và làm giảm thiểu tình trạng định kiến Hơn nữa, đề tài cũng góp phần giúp người công nhân Thanh – Nghệ - Tĩnh có những cách chọn lựa đúng đắn hơn trong việc ứng xử của họ đối với định kiến.
Bố cục của đề tài
Bố cục đề tài ngoài phần Dẫn luận, kết luận, phụ lục, được chia làm ba chương, tóm tắt nội dung các chương như sau:
- Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan mẫu –địa bàn nghiên cứu:
Chương này nhằm cung cấp những khái niệm sẽ sử dụng trong đề tài; cung cấp
12 cái nhìn tổng quan về địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu nghiên cứu của đề tài Bên cạnh đó đây cũng là phần tác giả trình bày những cách tiếp cận về lý thuyết sẽ sử dụng trong việc phân tích, lý giải những nội dung trong đề tài
- Chương 2 trình bày những hình thức định kiến xã hội đối với công nhân Thanh
–Nghệ -Tĩnh tại Bình Dương: Chương này tác giả trình bày lại những hình thức định kiến xã hội mà công nhân Thanh – Nghệ - Tĩnh gặp phải; quan trọng nhất là lý giải những nguyên nhân khác nhau tạo nên sự định kiến, đặc biệt là những nguyên nhân văn hóa vùng miền, nguyên nhân xã hội trong bối cảnh đô thị hóa Bên cạnh đó, chương này cũng chỉ ra những khó khăn và hệ lụy từ những định kiến tới đời sống vật chất và tinh thần của người công nhân ba tỉnh trên
- Chương 3 trình bày Chiến lược ứng xử của công nhân Thanh - Nghệ -Tĩnh trước những định kiến: Chương này trình bày lại những cách ứng xử của người công nhân Thanh – Nghệ - Tĩnh khi gặp định kiến xã hội, phân tích xu hướng chọn cách ứng xử của công nhân Trong chương này, tác giả cũng nêu ra một số kiến nghị, nhận xét và góp ývề vấn đề định kiến xã hội đối với công nhân Thanh – Nghệ - Tĩnh
CÁC KHÁI NIỆM LÀM CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Định kiến là một thực trạng tâm lý luôn xảy ra trong bất kì một xã hội nào Sự tồn tại của định kiến, một mặt: đơn giản hóa mọi thứ chút ít giúp chúng ta nắm đƣợc mọi sự phức tạp của xã hội (C Georgy Boeree ), mặt khác nó đƣợc xem là: xu thế tâm lý (tâm thế) tiêu cực (Từ điển bách khoa Việt Nam: 2002), “là quan niệm đơn giản, máy móc, thường không đúng sự thật” (Từ điển Tâm lí học Nguyễn Khắc Viện chủ biên),“là niềm tin hoặc cách nhìn thường là không thiện cảm” (Theo Từ điển Tâm lí học của
J.P.Chaplin)…vv Vậy cụ thể định kiến là gì?
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về định kiến, xin trích dẫn một số khái niệm này từ tài liệu trong nước như:
Theo từ điển Bách khoa Toàn thƣ Việt Nam thì định kiến là: “xu thế tâm lí (tâm thế) tiêu cực đối với một nhóm xã hội, một cá nhân hay một sự vật, là hiện tượng nhất định có tính chất định hình, khó thay đổi bằng những thông tin, nhận thức duy lí”; “định kiến được hiểu là quan niệm đơn giản, máy móc, thường không đúng sự thật thể hiện trong lĩnh vực nhận thức hàng ngày về một nghiệm thể nào đó (một nhóm, một con người thuộc cộng đồng xã hội… (Từ điển Tâm lí học Nguyễn Khắc Viện chủ biên),
“Định kiến là ý kiến thiên vị, không khách quan, đã có sẵn từ trước” (Xuân Huy, Đồng Công Hữu 2007, Tr.344)….Từ những khái niệm trên thấy rằng định kiến đƣợchình thành trên những khuôn mẫu xã hội [U.Lipman 1972: 2] nhằm để nhận định, đánh giá
14 một con người, một nhóm xã hội một cách rập khuôn Có các loại định kiến xã hội như:
“các loại định kiến về chính trị, triết học, tôn giáo, văn hóa, xã hội, quan hệ cá nhân ” (Từ điển Bách khoa Toàn thƣ Việt Nam)
1.1.1 Khái niệm định kiến xã hội
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về định kiến, song cho tới nay vẫn chƣa có một khái niệm cụ thể và rõ ràng nào về định kiến nói chung và định kiến xã hội nói riêng; nhiều lúc còn có sự nhầm lẫn khi gọi định kiến xã hội là định kiến
Vậy định kiến xã hội là gì?
“Định kiến xã hội là một quan niệm đơn giản, máy móc thường không đúng sự thật thể hiện trong lĩnh vực nhận thức hằng ngày về một khách thể nào đó Định kiến xã hội tìm kiếm những đặc tính không đặc trưng của khách thể dù chúng có thẻ có tính bền vững tương đối Những hiện tượng xuất hiện trong lĩnh vực giao tiếp giữa các cá nhân và trong tri giác xã hội như tâm thế xã hội, ấn tượng của vinh quang, những biểu hiện lần đầu mới tạo điều kiện cho tồn tại và mở rộng định kiến xã hội” [Vũ Dũng Từ điển Tâm
Nói về vấn đề này không thể không kể đến một nghiên cứu đáng chú ý gần đây nhất của Link và Phelan (2001) Theo hai học giả này, định kiến xã hội là quá trình phân biệt đối xử thiếu công bằng , dẫn đến chống lại và bài trừ của một nhóm xã hội đối với những người có thuộc tính không giống họ qua trình kì thị này diễn ra qua 5 giai đoạn:
(1) Dán nhãn; (2) Mặc định nhóm bị định kiến với một giá trị; (3) Cộng đồng hóa bằng việc tạo ra một đường “ranh giới” riêng biệt giữa “chúng ta” và “họ”; (4) Phân biệt đối xử và phân chia vị thế xã hội; rồi tiến tới (5) tạo ra cán cân không công bằng 5 giai đoạn này cũng đƣợc coi là 5 thành tố tạo nên sự kì thị của nhóm xã hội này đối với nhóm xã hội khác Link và PheLan cũng chỉ ra một số đặc điểm của định kiến xã hội bao gồm:
(i) Định kiến được hình thành dưới góc độ văn hóa, là mối quan hệ mang tính bối cảnh Các nền văn hóa có cơ chế định kiến hóa với những thuộc tính, trải nghiệm và thế ứng xử khác nhau
(ii) Cơ sở cho việc hình thành định kiến là sự khác biệt về quyền lực kinh tế, chính trị và xã hội
(iii) Mục đích của định kiến là sử dụng ƣu thế về quyền lực kinh tế để định kiến một cách tiêu cực với một nhóm xã hội cụ thể, tiến tới hạn chế khả năng tiếp cận của họ đến các lĩnh vực căn bản của đời sống nhƣ giáo dục, việc làm và chăm sóc sức khỏe
(iv) Định kiến luôn tồn tại giữa các nhóm xã hội, khó có thể triệt tiêu nhƣng có thể tác động để thay đổi
(v) Quá trình can thiệp, giảm thiểu định kiến có thể thành công nếu ít nhất một trong hai điều kiện sau đƣợc tiến hành:
- Thay đổi căn bản, niềm tin và hành vi của nhóm mang định kiến
- Thay đổi quan hệ quyền lực giữa nhóm mang định kiến và nhóm bị định kiến theo xu hướng bình đẳng hơn về quyền lực.” [dẫn lại từ Nguyễn Công Thảo (2010) Tr 5,
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng định kiến xã hội là những định kiến tiêu cực của một nhóm xã hội này với nhóm xã hội khác dựa trên những điểm khác biệt (có thể phổ biến hoặc không phổ biến; đặc trƣng hoặc không đặc trƣng) của từng nhóm xã hội thể hiện qua: văn hóa, kinh tế, quan hệ xã hội, cách ứng xử… và những điểm khác biệt khác của từng nhóm xã hội
1.1.2 Định kiến về văn hóa
Cho tới nayđịnh kiến về văn hóa vẫn đƣợc nhắc tới nhiều song chƣa có một nghiên cứu nào đƣa ra định nghĩa, khái niệm cụ thể nào cả Trong phần này, tác giả sẽ cố gắng khái quát một cách cụ thể nhất về định kiến văn hóa nhằm làm nền tảng cho bài nghiên cứu Trước tiên để có thể hiểu được định kiến về văn hóa, chúng ta phải năm rõ về khái niệm văn hóa
Tùy thuộc vào mỗi nghành nghiên cứu khác nhau lại có những định nghĩa về văn hóa khác nhau, trong bài viết này tác giả xin sử dụng khái niệm văn hóa của UNESCO đƣa ra vào năm 1994 nhƣ sau: “Văn hóa là một phức hê – tổng hợp các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng
16 đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá rị, truyền thống, tín ngưỡng” Nhƣ vậy có thể thấy rằng văn hóa là “đặc trưng”
“bản sắc” của con người gần gũi với nhau về không gian nhất định như: làng xã, vùng miền… thể hiện qua “lối sống” “cách ứng xử” của họ
Với định nghĩa trên có thể thấy văn hóa của những vùng miền, quốc gia khác nhau là khác nhau, hay ít nhất là tồn tại những nét khác nhau về tinh thần, vật chất và cả con người trong những nền văn hóa đó, chính những nét khác biệt ấy là yếu tố nhằm phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác Định kiến về văn hóadựa trên những khác biệt đó biến chúng thành những “khuôn mẫu” [C George Boeree 2006.65) của chính cộng đồng đó, nhằm đánh giá cách “rập khuôn” về những con người trong cùng một cộng đồng đó là giống nhau về hành vi, suy nghĩ, cách ứng xử và những định kiến về văn hóa, cách đánh giá rập khuôn đƣợc nhận định là rất khó thay đổi Định kiến thường là những nhận định tiêu cực, nên đối với người định kiến thìnhững người có thuộc tính (văn hóa) không giống họ [Link và Phelan 2001] bị xem là có nền văn hóa thấp, man rợ, ngu muội, không văn minh….Từ cách nhìn nhận theo một
NHỮNG CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
Để có cái nhìn khách quan, đúng đắn và đầy đủ về hiện tƣợng; việc chọn cách tiếp cận về mặt lý thuyết cho một nghiên cứu là rất quan trọng Đề tài này chọn cách tiếp cận nhìn từ Kinh tế: thuyết duy lý kinh tế; và cách tiếp cận từ Văn hóa – Xã hội: Công nhân nhập cư: Mạng lưới xã hội và Tính cố kết cộng đồng
1.1.3 Sự lựa chọn duy lý kinh tế
Sự duy lý kinh tế là một hướng tiếp cận nhỏ trong lý thuyết sự chọn lựa duy lý, gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà nghiên cứu nhƣ Max Weber; George Simmel; George Homans, James C.Scott…
Luận điểm chung của thuyết sự lựa chọn duy lý cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, tức là trước khi quyết định mộthành động nào đó con người luôn luôn đặt lên bàn để cân đo đong đếm giữa chi phí và lợi nhuận mang lại, nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi nhuận thì sẽ thực hiện hành động và nếu chi phí lớn hơn lợi nhuận đạt đƣợc thì sẽ không hành động [Peter Blau
Trong nghiên cứu về kinh tế, sự duy lý kinh tế quan tâm tới các yếu tố nhƣ chi phí, giá cả, lợi nhuận, ích lợi sẽ giải thích cho hành vi kinh tế [Bodou 1982 – dẫn lại từ Milan Zafirovski 2003] Cũng giống nhƣ thuyết sự lựa chọn duy lý nói chung, sự lựa chọn duy lý trong kinh tế hướng con người đến cách chọn lựa có lợi cho mình, cách chọn lựa thu đƣợc nhiều lợi ích nhất Bằng việc cân đo, đong đếm những giá trị của việc làm, đối tác mà họ cho là có lý do tốt hay lý do hợp lý để thực hiện và tin tưởng [Boudou 1989
- dẫn lại từ Milan Zafirovski 2003]
Sự duy lý trong kinh tế dựa trên việc nhận xét việc chọn lựa mang tính phỏng đoán, suy luận hoặc qua một người trung gian… chứ không nhất thiết phải trải qua việc xem xét, làm trước việc mình đã làm Hành vi duy lý kinh tế, được nhận thức hay được trải nghiệm bởi những người tham gia không nhất thiết phải là những gì quan sát được, hay đặc trƣng bởi đối tác khác và ngƣợc lại [Boudou Simon 1982] Nhƣ vậy, có thể dễ
18 dàng nhận định một hành vi mang tính duy lý dựa vào những đặc điểm chọn lựa: chi phí, giá cả, lợi nhuận, ích lợi trong hành vi chính đối tƣợng duy lý kinh tế thực hiện Những lựa chọn đó dựa vào kinh nghiệm của bản thân người có hành động duy lý kinh tế, kinh nghiệm của bản thân khiến họ có những chọn lựa đúng đắn để đạt đƣợc lợi ích kinh tế cao nhất cho bản thân
Nhưng không phải lúc nào sự lựa chọn duy lý cũng hướng tới yếu tố đạt được kinh tế cao nhất, bởi vì sự chọn lựa duy lý kinh tế còn hướng tới việc đảm bảo sự “an toàn trước hết” [ S Popkin 1979] về sự sinh tồn [James C.Scott 1976] tức là sự lựa chọn đó phụ thuộc vào khả năng “đảm bảo sản xuất cho sinh tồn” [Wolf.- dẫn lại từ S.Popkin] 15 của cá nhân, tập thể (thường là đối với cá nhân, tập thể có mức sống thấp ở ngƣỡng sinh tồn) có mối ác cảm với rủi ro có thể xảy ra khá mạnh mẽ bởi vì những lợi nhuận vợt quá giá trị mong đợi có thể không bù đắp nổi những tình thế cực kì bất lợi nếu nhƣ lợi nhuận thấp hơn giá trị mong đợi [Jere R BehrMan] 16 , chứ không phải chỉ đơn thuần là cân đo, đong đếm để mang lại lợi ích kinh tế cao nhất Điều này cũng giống nhƣ việc chọn lựa duy lý thường dựa vào kinh nghiệm bản thân, việc lựa chọn này còn phụ thuộc vào bản thân người đó có đảm bảo nguồn lực để thực hiện mà không quá “mạo hiểm” để gây thiệt hại nặng nề cho kinh tế ở mức thấp nhất của họ
Nói tóm lại, sự chọn lựa suy lý trong kinh tế là việc xem xét những yếu tố thiệt – hại, đƣợc – mất trong việc làm, hành vi nhằm tối ƣu hóa nguồn lợi kinh tế thu đƣợc từ việc làm, hành vi của mình Nhƣng sự lựa chọn duy lý luôn phải dựa trên sự trải nghiệm cá nhân vàluôn phải đảm bảo mức sinh tồn, sản xuất cho cá nhân, tập thể, tránh sự mạo hiểm gây tổn hại tới sự sinh tồn của họ
1.1.4 Mạng lưới xã hội và Tính cố kết cộng đồng: trường hợp công nhân nhập cư
15 S Popkin 1979 Người nông dân hợp lý (nguyên văn: Chapter one: The Ration Peasant trong The Rational
16 James C.Scott Kinh tế học và xã hội học về đạo đức sinh tồn.(nguyên văn: Chapter one: The Economics and Sociology of the Subsistence Ethnic)
Cách tiếp cận về mặt lý thuyết này, tác giả hướng tới việc duy trì và phát huy những yếu tố văn hóa vùng quê của người công nhân di cư trong bối cảnh đô thị hóa_ nơi mà họ di cư tới, qua một số nghiên cứu đi trước về vấn đề này như: Mạng lưới xã hội và tính cố kết cộng đồng
Công nhân di cư nói riêng và người di cư nói chung, luôn duy trì cho mình những mối quan hệ xã hội dựa trên tính đồng hương và tính cộng đồng ở quê hương của họ tại nơi đến Hiện trạng này diễn ra mạng mẽ ở những làng quê miền Bắc và Trung nhƣ Lương Văn Hy đã nhận định vốn xã hội (khả năng quen biết trong xã hội) ở miền Bắc và miền Trung cao hơn ở miền Nam do tỷ lệ cùng một dòng tộc trong xã cao hơn và tính phổ biến của các tổ chức phi chính phủ, điều này góp phần hình thành các mạng lưới di cƣ mạnh mẽ đặc biệt là từ miền Bắc và miền Trung 17 , là yếu tố tạo ra lực đẩy cho việc di cư của người công nhân Bên cạnh đó, mạng lưới xã hội cùng quê và tính cộng đồng còn là lực hút để người công nhân quyết định di cư Bởi ở thành phố người công nhân di cư cùng quê (đã di cư trước) tạo thành mạng lưới cùng quê giúp đỡ nhau trong tìm kiếm công việc, hỗ trợ nhau trong lúc khó khăn, bảo vệ nhau trước quản lý [James Ferguson
1999 – dẫn lại từ Nghiêm Liên Hương] được xem là chiến lược phòng vệ để tồn tại ở thành phố 18 ; những người thân, cùng quê, đồng hương ở trên thành phố trước thường giới thiệu bạn bè, họ hàng từ cùng làng đến làm việc trong xưởng [Phạm Thanh Thôi 2013] họ như những người trung gian tạo ra việc làm cho những người ở quê mới lên.Chính yếu tố này khiến cho những người nông dân ở quê cảm thấy an toàn khi rời quê lên thành phố lập nghiệp, tạo lên lực hút để quan trọng để người nông dân người nông dân có“quyết định mạnh mẽ khi di cƣ” 19
Mối quan hệ trong việc cô kết cộng đồng, mạng lưới xã hội luôn dựa trên những mối quan hệ gần gũi về thân tộc, đồng hương bởi: người cùng địa phương dễ sống cùng nhau và trở thành bạn thân hơn vì có cùng phong tục tập quán là điều dễ hiểu [Nghiêm
17 Lương Văn Hy 2003, Sự giàu có Tr 81 - 106
18 Nghiêm Liên Hương (2010), Tính liên tục của nông thôn - thành thị: Cuộc sống của công nhân may di cư tại Hà
Nội, tr 289-306, trong Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học, Quyển
1, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
19 Phạm Thanh Thôi (2013)Đời sống xã hội của công nhân nhập cư tại tp Hồ Chí Minh Tạp chí Giáo dục – Văn hóa – Xã hội
Liên Hương 2010] Đồng thời, những mối quan hệ này cũng hình thành từ ở quê hương của người di cư, trở thành một yếu tố văn hóa không thể thiếu trong đời sống của họ Tuy nhiên nhìn từ góc độ khác, cũng lý luận rằng tính địa phương bắt nguồn từ những nhu cầu giúp đỡ lẫn nhau của những người có cùng hoàn cảnh ở một nơi xa lạ, như đã trình bày ở lực hút từ mối quan hệ này
Việc giúp đỡ nhau từ mạng lưới xã hội, tính cố kết cộng đồng diễn ra trong nhiều mặt của đời sống người di cư: việc làm, học tập, y tế, kinh tế yếu tố này không chỉ “ ngăn ngừa và giảm thiểu những khó khăn, rủi ro” [Nguyễn Đức Lộc 2013] trong cuộc sống di cư của người công nhân; mà còn là yếu tố bảo tồn văn hóa nơi những làng quê mà người công nhân sinh sống bằng việc duy trì những mối quan hệ thân tộc, đồng hương trong bối cảnh đô thị hóa ở các thành phố nơi mà yếu tố về liên kết kinh tế trong mạng lưới xã hội phát triển Bên cạnh đó, người công nhân không chỉ duy trì mối quan hệ thân tộc, đồng hương ở nơi họ di cư tới mà họ còn duy trì, liên kết, “ràng buộc chặt chẽ với quê hương của họ” [Lê Bạch Dương 2011]; minh chứng là sự giúp đỡ nhau về mặt vật chất giữa những người di cư và người ở lại quê qua việc “gửi tiền và hiện vật từ thành phố về nông thôn và từ nông thôn gửi lên thành phố” 20 , về mặt tinh thần là “chia sẻ thông tin trực tiếp qua điện thoại về các chủ đề đƣợc quan tâm nhất là chăm sóc sức khỏe, công việc kinh doanh sản xuất, các vấn đề văn hóa xã hội ” 21 Nhƣ vậy có thể nói, việc duy trì mạng lưới xã hội và tính cố kết cộng đồng được thực hiện trong bối cảnh giữa những người di cư với nhau và giữa người di cư với quê hương của họ
Tuy nhiên, việc duy trì mạng lưới xã hội, tính cộng đồng đôi khi cũng tạo ra những xung đột giữa những nhóm người di cư khác nhau Việc hình thành tính địa phương một cách cục bộ có thể dẫn tới sự chia rẽ trong công nhân từ những vùng quê khác nhau và những vụ xung đột (của cả cộng đồng hay của riêng cá nhân) xảy ra luôn đƣợc giải quyết bằng cả cộng đồng bởi: công nhân không ứng kháng hay phản kháng lại
20 Lê Bạch Dương, Nguyễn Thanh Liêm 2011,Từ nông thôn ra thành phố: tác động kinh tế - xã hội của di cư ở Việt
21 Lê Bạch Dương, Nguyễn Thanh Liêm 2011,Từ nông thôn ra thành phố: tác động kinh tế - xã hội của di cư ở Việt
TỔNG QUAN ĐỊA BÀN VÀ ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Nhƣ đã trình bày một đề tài nghiên cứu về công nhân luôn đƣợc thực hiện trong một địa bàn nhất địnhvàđặc điểm đối tƣợng khảo sát luôn đƣợc làm rõ, đây là hai yếu tố cơ bản chi phối đến kết quả và quá trình thực hiện nghiên cứu của đề tài Qua quá trình tìm hiểu thƣ tịch và điền dã nghiên cứu tác giả xin nêu một số vấn đề tổng quan về địa bàn nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu của đề tài này nhƣ sau:
1.1.5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Bình Dương là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, đƣợc tách ra từ tỉnh sông Bé vào ngày 01 -01 -1997 23 Tỉnh Bình Dương có nhiều đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, con người… thuận lợi cho việc phát triển về mọi mặt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh nói riêng và của đất nước nói chung
22 Nghiêm Liên Hương (2010), Tính liên tục của nông thôn - thành thị: Cuộc sống của công nhân may di cư tại Hà
Nội, tr 289-306, trong Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận Nhân học, Quyển
1, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
23 ChuViết Luân (2003), Bình Dương thế và lực mới trong thế kỉ XXI, NXB Chính trị Quốc gia
Về vị trí địa lý: Bình Dương nằm trong vùng vị trí rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, cụ thể: phía nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây giáp tỉnh Tây Ninh Tỉnh nằm trên những trục giao thông huyết mạch chạy qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 13, quốc lộ 14, có đường sắt Nam – Bắc và tuyến đường xuyên Á chạy qua; mạng lưới giao thông thủy rất thuận tiện với bốn con sông lớn chảy qua tỉnh là: sông Sài Gòn, sông Bé, sông Đồng Nai và sông Thị Tính 24
Về diện tích tự nhiên, địa hình: 2.681,01 Km 2 (chiếm 0,83% diện tích cả nước), địa hình tương đối bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc Từ phía nam trở lên phía bắc, theo độ cao có các vùng địa hình thung lũng, bãi bồi, vùng địa hình bằng phẳng và vùng địa hình đồi thấp 25
Về dân số và lao động: Theo niên giám thống kê dân số, tỉnh Bình Dương có 1.691.413 người (31/12/2011) mật độ dân số khoảng 649 người/Km 2 Cơ cấu dân số và phân bố dân cƣ trên địa bàn tỉnh không đồng đều, dân cƣ tập trung chủ yếu ở thị xã Thủ Dầu Một, Thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An, huyện Tân Uyên, huyện Bến Cát Đây cũng là tỉnh có số dân nhập cư khá đông (năm 2012 có khoảng 800.000 nghìn người) 26
Về cơ cấu, phát triển kinh tế: Là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nghành công nghiệp là nghành kinh tế chủ yếu Năm 2012, cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, cụ thể tỷ lệ công nghiệp- xây dựng chiếm 63%, dịch vụ chiếm 34,2% và nông lâm nghiệp chiếm 3,8% 27
Với một số đặc điểm nêu trên, có thể thấy rằng đây là một tỉnh có sức chuyển biến lớn trong kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp hóa, nên đã thu hút lớn sự đầu tƣ của nước ngoài, được xếp trong 5 tỉnh có đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước Hiện nay, tỉnh có 28 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích là 8.925,13 ha Các khu công nghiệp đƣợc phân bố trên địa bàn bốn huyện, trong đó huyện Dĩ An có sáu KCN với diện tích
24 ChuViết Luân (2003), Bình Dương thế và lực mới trong thế kỉ XXI, NXB Chính trị Quốc gia
25 ChuViết Luân (2003), Bình Dương thế và lực mới trong thế kỉ XXI, NXB Chính trị Quốc gia
26 Báo cáo 10 năm thực hiện pháp lệnh dân số giai đoạn 2003 – 2013 (6/2013) UBND tỉnh Bình Dương
27 Báo cáo 10 năm thực hiện pháp lệnh dân số giai đoạn 2003 – 2013 (6/2013) UBND tỉnh Bình Dương
716,6 ha, Thuận An có ba KCN với diện tích 654,6 ha, Bến Cát có chín KCN với diện tích 4.114,4 ha và huyện Tân Uyên có ba KCN với diện tích 1.751,8 ha
Chính những yếu tố về cơ hội việc làm, mức sống cao đã thu hút một lƣợng lớn lao động trên khắp cả nước tới sinh sống, làm việc tại Bình Dương Trong số những người đến Bình Dương làm việc, phần lớn công nhân xuất thân từ Bắc Trung Bộ(32%) và Tây Nam Bộ(42%) 28 , trong số đó công nhân xuất thân từ các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung
Bộ có xu hướng di cư đến thị xã Dĩ An (16,4%) và thị xã Thuận An (18,8%) nhiều hơn là các công nhân xuất thân từ vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long 29
Tuy nhiên, do giới hạn về khả năng và thời gian nên tác giả chỉ chọn nghiên cứu trường hợp tại Thuận An, bởi đây là thị xã biểu hiện rõ nhất những đặc trưng cơ bản của tỉnh Bình Dương Trước hết đó là sự tập trung các doanh nghiệp, khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể là khu công nghiệp VISIP 1, Đồng An 30 ; thứ đến đây là thị xã đƣợc xem là trung tâm của tỉnh, là nơi biểu hiện rõ nhất quá trình đô thị hóa ở Bình Dương, tiêu biểu nhất là thành phố Thủ Dầu Một được xem là cửa ngõ đón gió của Bình Dương 31 ; một lý do quan trọng nữa đây là một trong hai vùng tập trung đông nhất người Thanh – Nghệ - Tĩnh (cùng với Dĩ An) 32 Cụ thể,ở thị xã Thuận An tác giả đã tiến hành khảo sát tại ở phường Bình Đáng (cụ thể là khu dân cư 434), và phường Bình Chuẩn Lý do chọn hai địa bàn khảo sát này là:
Khu dân cư 434 phường Bình Đáng: đây là khu đất của nhà nước cấp cho những người hoạt động trong quân đội, cụ thể là sư đoàn 434 đang đóng quân tại đây, chính vì thế mà khu dân cƣ này mang tên là 434 Khu dân cƣ này giống nhƣ một bàn cờ vua, những con đường chia khu này thành những ô đất nhỏ được nhà nước phân cho những người trong quân đội, nên khi đi vào khu dân cư này rất dễ đi lạc đường và nhầm lẫn giữa các khu nhà (Nhật kí điền dã 2014).Khu dân cƣ này đƣợc bao quanh bởi các khu công
28 Nguyễn Đức Lộc (2013), Hiện trạng tiếp cận mức độ phúc lợi xã hội của công nhân tỉnh Bình Dương và đề xuất mô hình hợp lý
29 Nguyễn Đức Lộc (2012) Vấn đề di dân và kiểm soát rủi ro của người công nhân tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương Tạp chí Phát triển Nhân lực số 3(29)
30 ChuViết Luân (2003),Bình Dương thế và lực mới trong thế kỉ XXI, NXB Chính trị Quốc gia
31 ChuViết Luân( 2003), Bình Dương thế và lực mới trong thế kỉ XXI, NXB Chính trị Quốc gia
32 Nguyễn Đức Lộc (2012) Vấn đề di dân và kiểm soát rủi ro của người công nhân tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương Tạp chí Phát triển Nhân lực số 3(29)
24 nghiệp phía Đông thì có khu công nghiệp Đồng An, phía Nam có khu công nghiệp Việt Nam – Singapor (VISIP1), phía Tây có khu công nghiệp Việt Hương và phía Bắc có khu công nghiệp Sóng Thần, công ty giày da Thái Bình (Nhật kí điền dã 2014) Tác giả chọn khu dân cƣ này bởi đây: “tập trung chủ yếu Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa (đồng hương) và có sự tự vệ cao với sự thâm nhập, tác động từ bên ngoài” (anh Vinh _phó chủ tịch