1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nhiễm hiv đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị arv miễn phí

169 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp Dụng Công Tác Xã Hội Nhóm Trong Việc Hỗ Trợ Người Nhiễm Hiv Đối Mặt Với Nguy Cơ Bị Cắt Giảm Nguồn Tài Trợ Và Có Khả Năng Không Được Điều Trị Arv Miễn Phí
Tác giả Phạm Thị Ngọc Thiện, Nguyễn Thị Nhàn, Phạm Thị Thu Thủy
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (8)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (12)
    • 2.1. Mục tiêu tổng quát (12)
    • 2.2. Mục tiêu cụ thể (12)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu, công cụ thu thập và kỹ thuật xử lý thông tin (13)
    • 3.1. Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 3.2. Công cụ thu thập và kỹ thuật xử lý thông tin (13)
      • 3.2.1. Công cụ thu thập thông tin (13)
      • 3.2.2. Kỹ thuật xử lý thông tin (14)
  • 4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu (15)
    • 4.1. Đối tượng nghiên cứu (15)
    • 4.2. Khách thể nghiên cứu (16)
    • 4.3. Phạm vi nghiên cứu (16)
      • 4.3.1. Phạm vi thời gian (16)
      • 4.3.2. Phạm vi không gian (16)
      • 4.3.3. Phạm vi nội dung (16)
    • 4.4. Thời gian thực hiện (16)
  • 5. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn (0)
    • 5.1. Về mặt ý nghĩa lý luận (16)
    • 5.2. Về mặt ý nghĩa thực tiễn (17)
  • 6. Kết cấu của đề tài (17)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT (18)
    • 1.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài (18)
    • 1.2. Phương pháp luận và hướng tiếp cận (29)
      • 1.2.1. Phương pháp luận (29)
      • 1.2.2. Hướng tiếp cận Công tác xã hội nhóm (31)
      • 1.2.3. Các mô hình hỗ trợ người nhiễm HIV hiện nay và đánh giá từng mô hình (35)
      • 1.2.4. Lý thuyết ứng dụng trong đề tài (42)
    • 1.3. Các khái niệm có liên quan (45)
    • 1.4. Câu hỏi nghiên cứu (47)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÀI TRỢ CHO CHIẾN LƯỢC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS Ở VIỆT NAM VÀ NGUY CƠ MÀ NGƯỜI NHIỄM HIV CHUẨN BỊ PHẢI ĐỐI MẶT (48)
    • 2.1. Tình hình người nhiễm HIV ở Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh (48)
      • 2.1.1. Tình hình người nhiễm HIV ở Việt Nam (48)
      • 2.1.2. Tình hình người nhiễm HIV ở Thành phố Hồ Chí Minh (51)
    • 2.2. Tổng quan về Chi hội phòng, chống HIV/AIDS Nắng Mai (54)
      • 2.2.1. Thời gian thành lập (54)
      • 2.2.2. Mục tiêu hoạt động của nhóm (55)
      • 2.2.3. Đối tượng của nhóm hướng đến (55)
      • 2.2.4. Lĩnh vực hoạt động chính (55)
    • 2.3. Thực trạng của việc người nhiễm HIV đang đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí (56)
    • 2.4. Việc tài trợ cho người nhiễm HIV từ năm 1994 đến nay (59)
  • CHƯƠNG 3: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM (63)
    • 3.1. Mô hình áp dụng Công tác xã hội nhóm vào việc hỗ trợ người nhiễm HIV chuẩn bị đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị (63)
    • 3.2. Ưu và nhược điểm của mô hình áp dụng Công tác xã hội nhóm (109)
  • KẾT LUẬN (114)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (129)
  • PHỤ LỤC (130)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG NĂM 2016 Tên công trình: “ÁP

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Đề tài nhằm tìm hiểu những khó khăn, lo lắng của người nhiễm HIV trước nguy cơ nguồn tài trợ bị cắt giảm, từ đó áp dụng phương pháp Công tác xã hội với nhóm để chuẩn bị tinh thần và hỗ trợ các thành viên trong nhóm tìm cách giải quyết vấn đề mà cả nhóm đang quan tâm

Mục tiêu cụ thể

 Thứ nhất, nghiên cứu tài liệu để đánh giá được nguy cơ Việt Nam bị cắt giảm nguồn tài trợ quốc tế trong công tác phòng, chống HIV/AIDS và người nhiễm HIV/AIDS không được điều trị ARV miễn phí

 Thứ hai, đưa ra dự báo về những khó khăn mà người nhiễm HIV phải đối mặt khi bị cắt giảm nguồn tài trợ và không được điều trị ARV miễn phí

 Thứ ba, thực hiện thí điểm và đánh giá tính hiệu quả của mô hình Công tác xã hội nhóm vào việc hỗ trợ người nhiễm HIV chuẩn bị đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và không được điều trị ARV miễn phí, so với các mô hình hỗ trợ hiện nay.

Phương pháp nghiên cứu, công cụ thu thập và kỹ thuật xử lý thông tin

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài là phương pháp nghiên cứu định tính, việc sử dụng phương pháp này vì tính chất nhạy cảm của khách thể và vấn đề nghiên cứu đó là người nhiễm HIV/AIDS và những khó khăn của họ trước nguy cơ không được sử dụng ARV miễn phí do nguồn tài trợ bị cắt giảm Với phương pháp nghiên cứu định tính, đề tài không chỉ khái quát được vấn đề nghiên cứu mà còn đi sâu phân tích những khía cạnh bên trong liên quan đến yếu tố tâm lý, tình cảm và những diễn biến hành vi của khách thể nghiên cứu (thành viên nhóm) trong quá trình áp dụng mô hình thực nghiệm Công tác xã hội với nhóm.

Công cụ thu thập và kỹ thuật xử lý thông tin

3.2.1 Công cụ thu thập thông tin

Khi thu thập thông tin định tính, nhóm sử dụng công cụ phỏng vấn sâu bán cấu trúc đối với các khách thể là người nhiễm HIV và một số người làm việc trong lĩnh vực HIV/AIDS Bao gồm: 5 người nhiễm HIV (độ tuổi từ 25 – 55 tuổi) đã sinh hoạt nhóm với nhau, 3 người làm việc trong lĩnh vực HIV/AIDS

Bên cạnh đó, đề tài còn thu thập thông tin thông qua việc tham khảo các tư liệu sẵn có như một số công trình nghiên cứu, trang web trên mạng internet, sách báo, các công cụ kỹ thuật trong Công tác xã hội nhóm, … liên quan đến những người công nhân bị nhiễm HIV, những thông tin liên quan đến vấn đề người nhiễm HIV chuẩn bị phải đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ trong, ngoài nước và có khả năng không được điểu trị miễn phí thuốc ARV Đây là những khó khăn người nhiễm HIV đang gặp phải

Ngoài ra, để thu thập thông tin, đề tài còn kết hợp với công cụ quan sát Nhóm chúng tôi quan sát các thành viên thông qua các buổi sinh hoạt nhóm cùng nhau để xem xét việc áp dụng Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nhiễm HIV đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí đem lại hiệu quả như thế nào Thông qua việc quan sát, có thể thấy được sự tiến bộ trong cách suy nghĩ của các thành viên theo chiều hướng tích cực Bên cạnh đó, còn nhận thấy được sự tương tác giữa các thành viên trong quá trình làm việc nhóm cùng nhau

Về biên bản quan sát: Tiến hành quan sát các thành viên thông qua những biểu hiện, thái độ tích cực hay tiêu cực trong các buổi sinh hoạt nhóm để có thể nhận biết được sự thay đổi của họ Bao gồm: 5 buổi sinh hoạt nhóm cùng nhau Từ đó, có thể đánh giá được hiệu quả của việc áp dụng Công tác xã hội nhóm này trong thực tế

Một trong những điểm mới và mang tính đặc thù ở đề tài là nhóm còn thu thập thông tin thông qua một số công cụ được sử dụng trong phương pháp Công tác xã hội nhóm Dưới đây là một số công cụ kỹ thuật đã sử dụng trong các buổi sinh hoạt nhóm với nhau:

 Thực hiện các hoạt động vận động thể chất

 Sử dụng ngôn ngữ viết

 Vẽ sơ đồ tương tác

Từ đó, nhóm chúng tôi có thể nhận thấy và đánh giá được hiệu quả mang lại từ mô hình áp dụng Công tác xã hội nhóm này

3.2.2 Kỹ thuật xử lý thông tin

Sau khi thu thập được các thông tin, nhóm chúng tôi sử dụng kỹ thuật này để xử lý và phân tích các thông tin đã thu thập được qua quá trình làm việc chung và tiếp xúc với nhóm Chúng tôi dựa vào những biên bản phỏng vấn sâu người nhiễm HIV (độ tuổi từ 25 – 55 tuổi) và một số người làm trong lĩnh vực HIV/AIDS, biên bản quan sát trong các buổi sinh hoạt, các công cụ kỹ thuật trong Công tác xã hội nhóm để làm dẫn chứng trong đề tài nghiên cứu

Về các biên bản phỏng vấn sâu: Nhóm tiến hành thu thập các thông tin bằng phương pháp nghiên cứu định tính Chúng tôi phỏng vấn những thành viên đã tham gia trong tiến trình Công tác xã hội nhóm và một số người làm việc trong lĩnh vực

HIV/AIDS Sau khi kết thúc quá trình phỏng vấn, nhóm tiến hành gỡ băng, viết biên bản phỏng vấn sâu, qua đó đưa vào bài nghiên cứu để làm dẫn chứng Trong biên bản phỏng vấn sâu, nhóm đưa ra các câu hỏi liên quan và đi sâu vào trọng tâm của đề tài Biên bản phỏng vấn sâu sẽ cung cấp những thông tin thiết thực về việc áp dụng Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nhiễm HIV đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí

Nhóm chúng tôi tham khảo một số tư liệu sẵn có và chọn lọc những tư liệu liên quan đến đề tài Chúng tôi có trích nguồn ở phía dưới rất rõ ràng khi đưa vào bài nghiên cứu này Bên cạnh đó, thông qua việc quan sát, chúng tôi xây dựng biên bản các buổi sinh hoạt nhóm Biên bản quan sát các buổi sinh hoạt nhóm này nhằm giúp chúng tôi thấy được hiệu quả của việc áp dụng tiến trình Công tác xã hội nhóm đối với các thành viên (người nhiễm HIV ở độ tuổi từ 25 – 55 tuổi) Đối với các công cụ kỹ thuật trong Công tác xã hội nhóm, nhóm chúng tôi sử dụng để tìm hiểu khó khăn, lo lắng, lợi ích của việc điều trị ARV, những giải pháp cụ thể mà người nhiễm HIV (các thành viên trong nhóm) đưa ra sau khi bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí Nhóm chúng tôi chỉ là người đưa ra các công cụ, các thành viên sẽ thực hiện các công cụ đó theo sự hỗ trợ và hướng dẫn Từ đó, chúng tôi tổng hợp những ý kiến và tìm cách giải quyết cho vấn đề đang gặp phải Đồng thời, các công cụ này còn giúp các thành viên thư giãn, giảm bớt căng thẳng khi làm việc cùng nhau Qua các buổi sinh hoạt, nhóm chúng tôi còn nhận thấy được sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm để hỗ trợ hay điều chỉnh kịp thời.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Áp dụng Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nhiễm HIV đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí.

Khách thể nghiên cứu

Khách thể bao gồm: người nhiễm HIV ở độ tuổi từ 25 – 55 tuổi (là những người trong Chi hội phòng, chống HIV/AIDS Nắng Mai), người làm việc trong lĩnh vực HIV/AIDS.

Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này trong thời điểm hiện nay

4.3.2 Phạm vi không gian Đề tài nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại Chi hội phòng, chống HIV/AIDS Nắng Mai

4.3.3 Phạm vi nội dung Áp dụng Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nhiễm HIV đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí.

Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Về mặt ý nghĩa lý luận

Đề tài cung cấp những lý luận về việc áp dụng Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nhiễm HIV đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí Từ đó, đề tài góp phần làm phong phú thêm về mặt lý luận cho các nghiên cứu có liên quan, đồng thời nâng cao ý thức và sự hiểu biết của những người nhiễm HIV nói riêng và mọi người xung quanh không bị nhiễm nói chung Đề tài sử dụng một số lý thuyết như thuyết nhận thức, thuyết hệ thống, thuyết thực nghiệm để giúp nhóm tìm ra cách giải quyết nhanh và đem lại hiệu quả cao Qua đề tài nghiên cứu này đã làm rõ việc áp dụng Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nhiễm HIV đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy được người nhiễm HIV, đặc biệt là những người công nhân bị nhiễm HIV đang ngày càng được quan tâm, chú trọng nhiều ở nước ta.

Về mặt ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, những người quan tâm đến lĩnh vực HIV/AIDS và công tác phòng chống HIV/AIDS ở nước ta Kết quả nghiên cứu có thể cho ta thấy rõ hơn hiệu quả của việc áp dụng Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nhiễm HIV chuẩn bị đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí

Việc hỗ trợ đó sẽ làm giảm đi sự lo lắng, căng thẳng về mặt tinh thần cho người nhiễm HIV và có thể đem lại nhiều hiệu quả tích cực hơn để người nhiễm HIV có được một cuộc sống vui vẻ, tốt đẹp trong hiện tại và cả trong tương lai Đề tài cũng đưa ra một số kiến nghị phù hợp trong việc áp dụng Công tác xã hội nhóm để hỗ trợ người nhiễm HIV Từ đó, mô hình này có thể được mở rộng hơn nữa, được nhiều người biết và sử dụng đến Bên cạnh đó, chúng tôi đưa ra đề xuất xây dựng một tiến trình mới dựa trên nhóm trị liệu trước đó, nhóm này sẽ trở thành nhóm phát triển.

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề xuất và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương

Ch ươ ng 1: Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết

Ch ươ ng 2: Thực trạng tài trợ cho chiến lược phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam và nguy cơ mà người nhiễm HIV chuẩn bị phải đối mặt

Ch ươ ng 3 : Tiến trình Công tác xã hội nhóm

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT

Sơ lược tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài

“ Báo cáo công tác phòng, ch ố ng HIV/AIDS n ă m 2009” Báo cáo này tập trung phân tích công tác phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam năm 2009 nói chung và phương hướng cho công tác phòng chống HIV/AIDS những năm tới 6 Theo thống kê của báo cáo này thì tính đến 2009, cả nước có 156.802 người nhiễm HIV đang còn sống được báo cáo Trong đó có 34.391 bệnh nhân AIDS còn sống và đã có 44.232 người chết do AIDS

Theo phân bố giới, số lượng người nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở đối tượng nam giới (79%), tuy nhiên theo dự đoán của báo cáo này thì đối tượng nữ ngày một tăng và có xu hướng vượt xa hơn con số hiện tại (2005 là 15% đến 2009 là 23%) Ngoài ra, đối tượng này còn có sự chuyển dịch về nghề nghiệp, đa dạng trong thành phần hơn, người nhiễm HIV có thể lao động tự do, công nhân, nông dân, bộ đội, công an, học sinh, sinh viên, nhân viên hành chính, phạm nhân và trẻ em thay vì chỉ tập trung ở nhóm có nguy cơ cao như nghiện ma túy hay mại dâm Điều này hoàn toàn phù hợp với hình thái lây truyền, khi lây qua quan hệ tình dục gia tăng thì đối tượng của HIV ngày một đa dạng hơn Cá nhân bị nhiễm do sự không chung thủy của bạn đời, bạn tình cùng với việc quan hệ tình dục không an toàn ngày càng nhiều làm ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ này Đánh giá chung về tình hình dịch trong vòng một năm, năm 2009 với 2008 cho thấy HIV/AIDS đã có xu hướng giảm và chậm lại Để có những thay đổi mang tính tích cực này là kết quả của rất nhiều chương trình hoạt động trong công tác phòng chống HIV/AIDS của nhà nước Theo đó, chúng ta chọn cách đi sâu hơn vào chức năng phòng ngừa nhằm hạn chế số ca nhiễm mới là một thành công lớn đánh vào đúng nút thắt của vấn đề thay vì chú tâm vào “chữa cháy” mà bỏ quên đi các hoạt động giảm thiểu nguy cơ

6 Trích: http://text.123doc.org/document/288965-cong-tac-phong-chong-hiv-aids.htm lây nhiễm Tuy nhiên, hiệu quả thực sự đơn thuần đến từ phía nỗ lực của nhà nước hay là sự chung tay và phần công sức lớn của các tổ chức xã hội phi chính phủ là điều cần phải thống kê lại Thực tế, lợi ích các tổ chức này đem đến cho công tác phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của Việt Nam là vô cùng lớn

Cùng với các kết quả tích cực nêu trên, báo cáo còn nhìn thẳng vào các khó khăn và tồn tại làm hạn chế hiệu quả của việc phòng chống HIV/AIDS Cần thừa nhận rằng chúng ta chưa khống chế được dịch HIV ở Việt Nam, HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn các yếu tố nguy hiểm lan tràn nếu chúng ta không có những biện pháp can thiệp mạnh mẽ và hiệu quả Hiện nay, phần lớn các Trung tâm còn gặp khó khăn về cơ sở làm việc, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu về chuyên môn, kỹ thuật, chế độ còn quá thấp Về can thiệp giảm tác hại dự phòng nhiễm HIV lại thiếu nguồn đầu tư Thừa nhận một thực tế rằng các chương trình can thiệp hiện nay dựa chủ yếu vào các nguồn viện trợ và hầu như không có ngân sách địa phương đầu tư cho công tác này Công tác quản lý và thống kế số liệu người nghiện ma tuý trên nhiều địa bàn còn thấp hơn nhiều so với số thực tế Khó khăn tiếp cận các dịch vụ can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV đối với những nhóm đối tượng có hành vi nguy cơ cao Chế độ, chính sách dành cho các tuyên truyền viên đồng đẳng và cộng tác viên trực tiếp tham gia chương trình hầu như chưa có ngoài phụ cấp của các dự án Điều đáng nhấn mạnh là ở công tác điều trị và chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS, số bệnh nhân HIV/AIDS tiếp cận điều trị thuốc ARV tại những tỉnh trọng điểm ngày càng tăng nhanh dẫn đến tình trạng quá tải cho các cơ sở điều trị ngoại trú, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay, nguồn tiền của Quốc gia chỉ đảm bảo cung cấp thuốc cho khoảng 2.800 bệnh nhân trên tổng số 35.000 bệnh nhân được điều trị (nghĩa là chỉ có thể cung cấp cho 8% người nhiễm HIV sử dụng ARV bằng nguồn của Nhà nước) Việc điều trị phụ thuộc các nguồn tài trợ sẽ khó khăn khi các chương trình dự án kết thúc; công tác giám sát HIV/AIDS, theo dõi và đánh giá: các tỉnh chưa có khả năng đánh giá và dự báo về tình hình dịch Công tác giám sát bệnh nhân AIDS tại các tuyến không thực sự được coi trọng dẫn tới số lượng bệnh nhân AIDS chưa được thống kê đầy đủ; Công tác quản lý, theo dõi, giám sát tình trạng nhiễm HIV của những đứa trẻ được sinh ra từ những bà mẹ bị nhiễm HIV không đầy đủ do mất dấu sau khi sinh Đặt ra một câu hỏi lớn là với nguồn ngân sách còn quá hạn chế và kinh phí dành cho công tác phòng, chống HIV/AIDS chủ yếu do các dự án bên ngoài đảm đương Cơ cấu tổ chức, giám sát còn lỏng lẻo liệu có đảm đương nổi trong khi việc rút đi của các tổ chức hay dự án đã, đang và sẽ được thực hiện trong thời gian tới? Đây là một trong những lý do mà nhóm sinh viên lựa chọn nghiên cứu về vấn đề này tác động ra sao đến đời sống người có HIV/AIDS

“Báo cáo t ổ ng k ế t công tác phòng, ch ố ng HIV/AIDS n ă m 2013 và đị nh h ướ ng k ế ho ạ ch n ă m 2014” của Bộ Y tế 7 Theo báo cáo vào tháng 11 năm 2013 có 216.254 trường hợp nhiễm HIV, số bệnh nhân AIDS là 66.533 và đã có 68.977 truờng hợp tử vong do AIDS Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo báo cáo là 248 người trên 100.000 dân

So với năm 2012 số trường hợp nhiễm HIV năm 2013 đã giảm 15%, số bệnh nhân AIDS giảm 16%, tỉ lệ tử vong giảm 2%

Vào năm 2013, số người nhiễm HIV là nam giới chiếm 67,5%, nữ giới chiếm 32,5%, chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi từ 20 – 39 tuổi chiếm từ 79%, giảm còn 32,9%

Tỷ lệ nguời nhiễm HIV ở nhóm 30 – 39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,6% Người nhiễm HIV trong nhóm 40 – 49 tuổi từ là 12,2% năm 2012 và 13,7% năm 2013

HIV lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng, lây truyền qua đường máu có xu hướng giảm Báo cáo trong năm 2013 cho thấy số người lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất 45%, tiếp đến số người nhiễm HIV lây truyền qua đường máu chiếm 42,4%, tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,4% và có 10,1% tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền Số lượng người nhiễm HIV trong nhóm người tiêm chích ma túy có số lượng giảm và trong số này có sự khác nhau về khu vực

Kết quả giám sát trọng điểm năm 2012 cho thấy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM là 2,3% (thấp hơn so với nam 2011) Cao nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh 7,3%, tiếp đến là Hà Nội 6,5%, Sóc Trăng 2% Năm 2013 thực hiện giám sát đến nhóm MSM trong 16 tỉnh thì tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này tăng lên 3,9% Như vậy thấy rằng số

7 Trích:http://www.vaac.gov.vn/Desktop.aspx/Van-ban-phap-quy/Van-ban-phap- quy/557B9F557E0641949F5805C1F22F1EF4/ lượng người nhiễm HIV tuy có giảm nhưng địa bàn phân bố rộng hơn và con đường lây nhiễm ngày càng đa dạng hơn

“ H ỗ tr ợ tâm lý cho ng ườ i nhi ễ m HIV” 8 , điều này có thể thấy người nhiễm HIV/AIDS bao giờ cũng được nhà nước quan tâm hỗ trợ điều trị Tuy nhiên, ngoài việc hỗ trợ về vật chất thì họ rất cần sự hỗ trợ về mặt tinh thần Đó cũng là một biện pháp giúp cho người nhiễm HIV/AIDS có khả năng tự vượt qua khủng hoảng để đương đầu với cuộc sống Chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS là quá trình theo dõi dịch bệnh từ khi phát hiện nhằm duy trì, điều chỉnh các khả năng bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần cho họ, hạn chế sự phát triển của HIV để kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân Điều trị người nhiễm HIV/AIDS cần kết hợp các phương pháp điều trị, sử dụng tổng hợp các phương tiện thuốc, vật lý, thể dục, tâm lý vừa điều trị bệnh lý, vừa tác động tâm lý nhằm góp phần ổn định sức khỏe

Bài viết này giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể về việc nhà nước ta đã quan tâm và chú trọng đến vấn đề này thế nào Bên cạnh đó, còn đề cập khá nhiều đến việc giúp đỡ người nhiễm HIV về mặt tinh thần, không chỉ quan tâm đến vật chất mà sao lãng, quên đi việc ổn định tinh thần cho họ Ban đầu, khi biết mình bị nhiễm HIV ai không sốc, suy kiệt cơ thể và không chán nản với cuộc sống này Bởi tâm lý tốt hay không sẽ góp phần đến chất lượng cuộc sống, ảnh hưởng rõ nét đến sức khỏe của họ Nếu người nhiễm được người thân trong gia đình quan tâm, được hàng xóm giúp đỡ, cảm thông, điều này góp phần hỗ trợ rất lớn về mặt tinh thần Chính vì thế, việc hỗ trợ về mặt tinh thần giúp người nhiễm HIV lạc quan, tự tin hòa nhập với xã hội, có thay đổi nhiều ý nghĩ tiêu cực, hướng đến những ý nghĩ tích cực

Cuốn “Chi ế n l ượ c qu ố c gia phòng, ch ố ng HIV/AIDS đế n n ă m 2020 và t ầ m nhìn

2030” (Hà Nội - 2012) của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm là tài liệu tập hợp khá đầy đủ những quan điểm và đường lối mà nhà nước ta vạch ra trong công tác phòng chống HIV/AIDS ở nước ta thời gian tới đây Cuốn sách đề cập đến quyết định số 608/QĐ-TTG ngày 25 tháng 5 năm 2012, số 4548/QĐ- UBQG61 ngày 20 tháng 11 năm 2012 với các đề án cụ thể trong lộ trình thực hiện chiến

8 Trích: http://xoaxamhaiphong.com/ho-tro-tam-ly-cho-nguoi-nhiem-hiv-aids-6312.html lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS bao gồm: đề án dự phòng lây nhiễm HIV; đề án chăm sóc, hỗ trợ, điều trị toàn diện HIV/AIDS; đề án tăng cường năng lực hệ thống phòng, chống HIV/AIDS; đề án giám sát dịch tễ học HIV/AIDS, theo dõi và đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS 9 Điểm nổi bật mà nhóm chúng tôi áp dụng trong đề tài chính là việc cuốn sách đề cập khá toàn diện đến vấn đề chăm sóc, hỗ trợ, điều trị toàn diện HIV/AIDS với nhận định: “Nguồn lực quốc tế hỗ trợ cho điều trị và chăm sóc HIV/AIDS giảm mạnh, đặc biệt là cắt giảm hỗ trợ thuốc ARV ngay từ năm 2014”, đây là một điều tất yếu khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình vào năm 2009 theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới (WB) Hơn hết, cuốn sách đã đưa ra những biện pháp ban đầu tác động khá đồng bộ đến nhiều mặt (ý thức cộng đồng, nội lực trong nước, đội ngũ nhân viên…) nhằm hạn chế tác động xấu của việc cắt giảm tài trợ đến việc chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS, đây được xem là điểm tích cực trong cách nhìn nhận của nhà nước ta về vấn đề này Như đã thấy trong đề án thì nhà nước có sự chú trọng, quan tâm đến vật chất cho người nhiễm HIV Tuy nhiên, cuốn sách vẫn chưa có sự đề cập đến vai trò của nhân viên xã hội, cũng như chưa quan tâm đúng mức đến nhu cầu tinh thần cho đối tượng người nhiễm HIV trong bối cảnh nguồn viện trợ bị cắt giảm, đây được xem là một hạn chế khá lớn trong việc hoạch định chính sách và chiến lược của nước ta

Theo “Các đ i ể m m ớ i v ề h ướ ng d ẫ n m ớ i v ề đ i ề u tr ị ARV cho ng ườ i nhi ễ m HIV/AIDS” của Tổ chức Y tế Thế giới, dựa vào nguồn lực của nước nhà Việc điều trị ARV là một phần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ y tế, tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV/AIDS; Bộ Y tế đã đưa ra các hướng dẫn mới nhất về điều trị ARV cho người nhiễm HIV/AIDS theo công văn số 3655/BYT – AIDS ngày 29/5/2015 10 Nội dung chủ yếu nói về việc áp dụng tiêu chuẩn điều trị mới HIV/AIDS Điểm mới của tiêu chuẩn điều trị ARV là việc nâng tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV ở người lớn và trẻ trên 5 tuổi theo chỉ số CD4 từ dưới hoặc bằng 350 tế bào/mm 3 thành dưới hoặc bằng 500 tế bào/mm 3 Đây được xem là một bước tiến quan trọng, nhằm tạo điều kiện cho nhiều bệnh

9 Trích:http://www.vaac.gov.vn/Desktop.aspx/Noi-dung/Bao-cao-nghien-cuu-an- pham/Sach_Chien_luoc_Quoc_gia_phong_chong_HIVAIDS_den_nam_2020_va_tam_nhin_2030/v

10 Trích: http://hiv.thuathienhue.gov.vn/?gd=1&cn3&tc20 nhân được điều trị ARV Tiêu chuẩn cũng đặt ra là tất cả phụ nữ nhiễm HIV mang thai hoặc cho con bú sẽ được điều trị ARV sớm hơn để không có trẻ nào sinh ra nhiễm HIV

Ngoài ra, việc điều trị ARV cũng áp dụng cho các đối tượng người có bạn tình hay vợ chồng không bị nhiễm HIV, bệnh nhân đồng nhiễm virus viêm gan B, C, bệnh nhân nằm trong các nhóm nguy cơ cao, chẳng hạn những người tiêm chích ma túy, mại dâm, người HIV trên 50 tuổi… được điều trị ARV khi xét nghiệm và biết mình bị nhiễm HIV Tất cả trẻ em dưới 5 tuổi sẽ được điều trị ARV mà không phụ thuộc vào giai đoạn lâm sàn cũng như có virus HIV Đồng thời, trẻ em dưới 18 tháng tuổi được điều trị ARV miễn phí Những thay đổi này, nhằm làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em và đóng vai trò quan trọng giúp người bệnh sớm tiếp cận được điều trị ARV Nâng cao hiệu quả điều trị và cuộc sống của người bệnh, đồng thời góp phần khống chế tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng

Phương pháp luận và hướng tiếp cận

Trong đề tài nghiên cứu, nhóm chúng tôi chủ yếu tập trung phân tích phương pháp luận ngành Công tác xã hội

Khi xác định đối tượng nghiên cứu của bất cứ một môn khoa học nào đều phải xuất phát từ hai căn cứ: (1) nội dung tri thức cơ bản của môn khoa học đó và (2) giới hạn phạm vi nghiên cứu của khoa học đó với các khoa học liên quan khác Chỉ khi xác định được đối tượng nghiên cứu, chúng ta mới có thể xác định được chức năng, phương pháp nghiên cứu của khoa học đó Với tư cách là một ngành khoa học, Công tác xã hội nghiên cứu các quy luật xã hội nảy sinh từ tương tác của các cá nhân và cộng đồng với hệ thống xã hội trong quá trình phát triển

Trong hoạt động sống của mình, con người có hai mối quan hệ song trùng, quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người Những quan hệ này của con người tạo lập nên hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội, thiết chế xã hội và quy luật xã hội Khác với quy luật tự nhiên, quy luật xã hội chỉ có thể hình thành và hoạt động thông qua sự tương tác giữa con người với nhau và với môi trường xung quanh Sau khi hình thành, đến lượt nó lại tác động mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội Công tác xã hội nghiên cứu hệ quả của các quy luật xã hội này 15

Chúng ta có thể nhận thấy, đối tượng nghiên cứu của Công tác xã hội là các vấn đề xã hội, những vấn đề này xảy ra trong đời sống hàng ngày thông qua sự tương tác qua lại lẫn nhau của con người, khó tránh khỏi và chưa có phương pháp nào giải quyết một cách triệt để Công tác xã hội hướng đến các đối tượng đa dạng về lứa tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, mức sống, tôn giáo cũng như có những năng lực cá nhân và xã hội khác nhau của từng người Công tác xã hội vận dụng các tài nguyên của cộng đồng để giúp đỡ những đối tượng đang cần sự hỗ trợ Nhiều người thường xuyên nhầm lẫn và cho rằng công tác từ thiện là Công tác xã hội Nhưng thực tế, Công tác xã hội dựa trên cơ sở khoa học nhằm hướng đến việc nâng cao cuộc sống, thay đổi cuộc sống của cá nhân, nhóm, cộng đồng, hỗ trợ thân chủ

Trước đây, các vấn đề xã hội như trẻ vị thành niên phạm pháp, nạn mại dâm, ma túy và cả HIV/AIDS được gọi là “tệ nạn xã hội” và được giải quyết bằng những lời kêu gọi đạo đức và tổ chức mít tinh hơn là bằng các phương pháp giải quyết vấn đề một cách khoa học Tuy nhiên, vào cuối những năm 80 khi các vấn đề xã hội phát triển nhanh, rộng khắp mọi nơi và một nhóm nhân viên xã hội chuyên nghiệp được đào tạo trước năm 1975 được thành lập không chính thức để đáp ứng tình hình

Những lĩnh vực luôn được các cấp, các ngành khá quan tâm và chú ý đến như chính sách xã hội, an sinh xã hội, khuyết tật, sức khỏe, gia đình và phụ nữ, trẻ em và thanh niên, người cao tuổi, lĩnh vực HIV/AIDS… Bởi, trong những lĩnh vực này còn tồn

15 Trích: Lê Hải Thanh (Chủ biên), “Công tác xã hội đại cương”, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, tr.44-45 tại nhiều vấn đề bất cập, khó giải quyết Nếu muốn xây dựng xã hội công bằng, lành mạnh và văn minh cần hạn chế tối đa các hành vi, hành động trái với pháp luật và kìm hãm sự phát triển, mọi người cần hợp tác, tương tác theo hướng tích cực, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn xây dựng cuộc sống ổn định và phát triển

Lĩnh vực HIV/AIDS ở nước ta đang ngày càng được nhiều người quan tâm đến Nước ta đang đứng trước nguy cơ bị cắt giảm dần nguồn tài trợ nước ngoài, người nhiễm HIV sẽ gặp nhiều khó khăn trong những năm sắp tới đây Chính vì thế, cần có những biện pháp hỗ trợ người nhiễm HIV vượt qua những khó khăn, thách thức

Trong đề tài, nhóm chúng tôi hướng đến nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với con người thể hiện ở sự tương tác qua lại lẫn nhau Như chúng ta được biết, bản chất của con người do các mối quan hệ xã hội quy định thể hiện ra, tồn tại và phát triển trong hoạt động thực tiễn Sự tương tác này giúp những người nhiễm HIV tìm ra những cách giải quyết sao cho phù hợp và đem lại hiệu quả khi bị cắt giảm nguồn tài trợ nước ngoài Những lo lắng, khó khăn trước nguy cơ cắt giảm và không được điều trị miễn phí ARV sắp xảy ra đối với họ trong những năm tới đây, cần có những biện pháp đẩy lùi kịp thời

Từ đó, sự giúp đỡ lẫn nhau vượt qua những khó khăn là điều cần thiết lúc này Người ta có câu “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Một người nhiễm HIV không thể tự mình giải quyết nhưng nhiều người chung sức sẽ có thể giải quyết được vấn đề trước mắt Người nhiễm HIV đang có chung một vấn đề gặp phải, vì thế hướng giải quyết đều xoay quanh vấn đề Như vậy, sự tương tác tìm ra cách giải quyết là điều cần thiết

1.2.2 Hướng tiếp cận Công tác xã hội nhóm

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm hỗ trợ người nhiễm HIV chuẩn bị trước tinh thần để đối mặt với nguy cơ bị cắt giảm nguồn tài trợ và có khả năng không được điều trị ARV miễn phí Nhóm người nhiễm HIV (độ tuổi từ 25 – 55 tuổi) này là một nhóm cần được trị liệu, hỗ trợ nhằm giúp họ sống tốt hơn, có suy nghĩ tích cực trong cuộc sống

Nhóm tr ị li ệ u: được xem là các nhóm hỗ trợ nhỏ, một phương pháp can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân của mỗi thành viên

Nhu cầu của nhóm trị liệu xuất phát từ thành viên đó có nhu cầu hay không, người ta có nhu cầu tham gia sinh hoạt với nhau hay không Vai trò của các thành viên có sự phân chia công việc rõ ràng Đồng thời, mô hình giao tiếp của nhóm trị liệu là mô hình giao tiếp mở, sự tương tác với nhau chặt chẽ Nhân viên xã hội khuyến khích sự tương tác với nhau để họ có thể bày tỏ được cảm nghĩ Từ đó, tìm cách giải quyết sao cho phù hợp và đem lại hiệu quả nhất định

 Nhóm trị liệu gồm có 6 loại, đó là hỗ trợ, giáo dục, phát triển, điều trị, xã hội hóa và tự giúp

 Mục tiêu: Giúp các thành viên đối phó với các sự kiện gây căng thẳng trong cuộc sống và khôi phục khả năng ứng phó mà họ đã có

 Lãnh đạo: Là người điều hành quá trình tương tác, giúp nhóm hiểu để thấu cảm và hỗ trợ lẫn nhau

 Trọng tâm: Khả năng của cá nhân khi đối phó với kinh nghiệm căng thẳng của cuộc sống, giao tiếp và hỗ trợ lẫn nhau

 Gắn bó với nhau: Kinh nghiệm căng thẳng, khó chịu được chia sẻ trong nhóm

 Thành phần của nhóm: Dựa vào kinh nghiệm sống được chia sẻ ra trong nhóm, thường là đa dạng

 Giao tiếp của nhóm: Chia sẻ nhiều thông tin, kinh nghiệm

 Các chiến lược ứng phó; thường là tự bộc lộ những nhu cầu vật chất và tình cảm

 Mục tiêu: Giáo dục thông qua trình bày, thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm

 Lãnh đạo: Người lãnh đạo là người thầy và người hướng dẫn tổ chức cho thảo luận nhóm

 Trọng tâm: Việc tự học hỏi của cá nhân, xây dựng nhóm tự học hỏi

 Sự gắn bó với nhau: Sở thích chung liên quan đến việc học và phát triển các kỹ năng

 Thành phần của nhóm: Giống nhau về trình độ giáo dục và mức kỹ năng

 Giao tiếp trong nhóm: Thường giao tiếp giữa lãnh đạo – thành viên, mang tính hướng dẫn Thỉnh thoảng là giao tiếp giữa thành viên – thành viên qua thảo luận, mức độ tự bộc lộ thấp

 Mục tiêu: Phát huy tiềm năng, nhận thức và sự hiểu biết sâu sắc của các thành viên

 Lãnh đạo: Người lãnh đạo là người điều hành và thực hiện vai trò mẫu

 Trọng tâm: Tập trung vào thành viên hoặc nhóm tùy theo cách tiếp cận, sự phát triển của cá nhân thông qua kinh nghiệm hoạt động của nhóm

 Sự gắn bó với nhau: Mục tiêu chung giữa các thành viên, cùng thỏa thuận sử dụng nhóm để phát triển

 Thành phần của nhóm: Có thể đa dạng dựa vào khả năng của các thành viên để làm việc hướng đến sự phát triển

 Giao tiếp trong nhóm: Có sự tương tác cao, các thành viên thường có trách nhiệm giao tiếp trong nhóm, sự tự bộc lộ là khá cao

 Mục tiêu: Để thay đổi hành vi, điều chỉnh cho đúng, phục hồi, đối phó và giải quyết vấn đề thông qua giải pháp can thiệp

 Lãnh đạo: Người lãnh đạo là chuyên gia, nhân vật có thẩm quyền, hoặc người điều hành nhóm tùy thuộc vào cách tiếp cận

 Trọng tâm: Vấn đề, mối quan tâm, mục đích của cá nhân thành viên

 Sự gắn bó với nhau: Mục đích chung cùng với mục đích của riêng từng thành viên Mối quan hệ của thành viên với nhân viên xã hội, nhóm, hoặc các thành viên khác

 Thành phần của nhóm: Có thể đa dạng hoặc có thể bao gồm những người có cùng vấn đề quan tâm

 Giao tiếp trong nhóm: Mối quan hệ lãnh đạo – thành viên hay quan hệ thành viên – thành viên, tuỳ vào cách tiếp cận, sự tự bộc lộ là khá cao

 Mục tiêu: Cải thiện mối quan hệ giao tiếp và những kỹ năng xã hội

 Lãnh đạo: Người lãnh đạo là người dẫn dắt các hành động hoặc chương trình của nhóm

 Trọng tâm: Nhóm là phương tiện tạo ra các hoạt động, sự tham gia và sự gắn kết

 Sự gắn bó với nhau: Hoạt động, công việc, hay hoàn cảnh chung

 Thành phần của nhóm: Tùy thuộc vào vị trí và mục tiêu của nhóm, có thể khác biệt hoặc đồng nhất

 Giao tiếp trong nhóm: Thường thể hiện qua hành động hay hành vi không lời, sự tự bộc lộ thấp đến trung bình và thường là không lời

 Mục tiêu: Để giúp thành viên giải quyết vấn đề của họ

 Lãnh đạo: Người lãnh đạo thường là thành viên bình thường khi nghe các vấn đề do các thành viên khác trong nhóm chia sẻ, nhưng đôi lúc có thể là người có chuyên môn và chia sẻ vấn đề với nhóm

 Trọng tâm: Vấn đề, mối quan tâm, mục đích của cá nhân thành viên

 Sự gắn bó với nhau: Chấp nhận rằng tất cả mọi thành viên đều bình đẳng và có giá trị như nhau và có thể giúp đỡ lẫn nhau

 Thành phần của nhóm: Chỉ đơn thuần dựa vào những vấn đề hay mối quan tâm được chia sẻ với nhau

Các khái niệm có liên quan

 Khái niệm về Công tác xã hội

Khi bàn đến khái niệm Công tác xã hội, Hiệp hội quốc gia các nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW) đã định nghĩa: “Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ các cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy” 16

 Trong đề tài, nhóm chúng tôi sử dụng khái niệm của Hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên công tác xã hội (IFSW) tổ chức ở Montreal, Canada, tháng 7 năm 2000 các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa: “Công tác xã h ộ i chuyên nghi ệ p là thúc đẩ y s ự thay đổ i xã h ộ i, gi ả i quy ế t v ấ n đề trong các m ố i quan h ệ con ng ườ i, t ă ng quy ề n l ự c và gi ả i phóng ng ườ i dân nh ằ m giúp cho cu ộ c s ố ng c ủ a h ọ ngày càng tho ả i mái, d ễ ch ị u V ậ n d ụ ng các lý thuy ế t v ề hành vi con ng ườ i và h ệ th ố ng xã h ộ i, công tác xã h ộ i can thi ệ p vào các đ i ể m t ươ ng tác gi ữ a con ng ườ i và môi tr ườ ng c ủ a h ọ Nhân quy ề n và công b ằ ng là các nguyên t ắ c c ă n b ả n c ủ a ngh ề nghi ệ p công tác xã h ộ i” 17

Khái niệm đề cập đến mối quan hệ giữa mọi người với nhau Bởi đối tượng nghiên cứu của Công tác xã hội là các vấn đề xã hội diễn ra trong cuộc sống, mọi người tìm cách giải quyết các vấn đề gặp phải

 Khái niệm về Công tác xã hội nhóm

Công tác xã hội nhóm là một phương pháp can thiệp của Công tác xã hội Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi

16 Trích: Program of Conference of the National Association of social workers of USA, 1970

17 Trích: Lê Chí An (2006), Tài liệu hướng dẫn học tập Công tác xã hội nhập môn, Đại học Mở Bán công TP Hồ Chí Minh, trang 52 trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn Trong hoạt động Công tác xã hội nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của trưởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội và có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm) 18

HIV (tên gọi tiếng anh là Human immunodeficiency virus infection) là virus gây suy giảm miễn dịch ở người, loại virus này có khả năng phá hủy các tế bào bạch cầu (tế bào T), vốn là một phần của hệ thống miễn dịch của cơ thể Khi xâm nhập vào cơ thể con người, HIV tìm cách tấn công vào bạch cầu gây tàn phá hệ miễn dịch Sau một thời gian, khi các bạch cầu bị tiêu diệt nhiều, khả năng chống đỡ với mầm bệnh bị giảm, cơ thể sẽ bị mầm bệnh tấn công sinh ra nhiều chứng bệnh nguy hiểm dẫn đến cái chết 19

AIDS (tên gọi tiếng anh là Acquired Immunodeficiency Syndrome) có nghĩa là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, là giai đoạn cuối của người bệnh khi nhiễm HIV Đó là khi khả năng chống bệnh suy yếu đến nỗi cơ thể bị các thứ bệnh hoành hành, điều trị không khỏi được Từ khi phát bệnh AIDS đến lúc chết chỉ vài tháng hoặc nhiều nhất là hai năm 20

ARV (viết tắt của Antiretrovaral) là một loại thuốc được chế ra nhằm làm giảm sự sinh sôi nảy nở của HIV trong cơ thể Thuốc ARV được khuyến khích sử dụng kết hợp để ngăn chặn hình thành kháng thuốc 21

18 Trích: Nguyễn Thị Thái Lan (Chủ biên), Giáo trình Công tác xã hội nhóm, khoa Công tác xã hội, Trường Đại học Lao động – Xã hội, NXB Lao động – Xã hội

19 Trích: http://www.womenshealthvn.com/hoa-lieu/hiv-aids-la-gi

20 Trích: http://www.womenshealthvn.com/hoa-lieu/hiv-aids-la-gi

21 Trích: http://www.cuasotinhyeu.vn/kien-thuc/benh-xa-hoi/hiv/arv-va-tac-dung-trong-dieu-tri-hiv-31759.html

 Khái niệm về điều trị ARV Điều trị ARV (liệu pháp điều trị kháng retrovirus) là thuốc điều trị dùng cho những người bị HIV/AIDS, có tác dụng làm giảm sự phát triển của virus HIV và làm chậm giai đoạn HIV sang AIDS, nhờ đó làm tăng số lượng tế bào T CD4, làm giảm nguy cơ mắc và tử vong do các nhiễm trùng cơ hội và các bệnh liên quan tới AIDS 22

 Khái niệm về nguồn viện trợ

Theo thông tư Quy định chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với viện trợ không hoàn lại của nước ngoài thuộc nguồn thu ngân sách nhà nước định nghĩa: “Viện trợ không hoàn lại của nước ngoài (gọi tắt là viện trợ) quy định tại Thông tư này là sự trợ giúp không hoàn trả dưới hình thức bằng tiền, bằng hiện vật của bên tài trợ nước ngoài, nhằm hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển, nhân đạo hoặc tài trợ cho hoạt động của khoa học và công nghệ, được cấp có thẩm quyền của Việt Nam phê duyệt theo quy định tại Nghị định số 131/2006/NĐ – CP ngày 9/11/2006 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và Nghị định số 93/2009/NĐ – CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài” 23

Câu hỏi nghiên cứu

1) Thực trạng các nguồn tài trợ cho công tác phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam hiện nay như thế nào?

2) Người nhiễm HIV sẽ gặp những khó khăn nào khi các nguồn tài trợ rút đi?

3) Mô hình Công tác xã hội nhóm có hiệu quả như thế nào trong điều trị cho nhóm người nhiễm HIV khắc phục khó khăn khi bị cắt giảm nguồn tài trợ về ARV?

22 Trích:http://www.baohoabinh.com.vn/219/93594/Diem_moi_tr111ng_dieu_tri_ARV_voi_benh_nhan_HIVAIDS.ht m

23 Trích: http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID&257

THỰC TRẠNG TÀI TRỢ CHO CHIẾN LƯỢC PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS Ở VIỆT NAM VÀ NGUY CƠ MÀ NGƯỜI NHIỄM HIV CHUẨN BỊ PHẢI ĐỐI MẶT

TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hải Thanh (Chủ biên), Công tác xã hội đại cương, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đại cương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
2. Nguyễn Ngọc Lâm (2006), Công tác xã hội nhóm, khoa Xã hội học, Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội nhóm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Năm: 2006
3. Nguyễn Thị Thái Lan (Chủ biên), Giáo trình Công tác xã hội nhóm, khoa Công tác xã hội, Trường Đại học Lao động – Xã hội, NXB Lao động – Xã hội. Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội nhóm
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội.  Website
4. Online báo Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh, đăng ngày 27/11/2014. Người nhiễm HIV: “Lơ” điều trị vì sợ bị kỳ thị. Được lấy từ: http://giaoduc.edu.vn/news/thoi-su-655/nguoi-nhiem-hiv-lo-dieu-tri-vi-so-bi-ky-thi-237959.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề:
1. Ban bác ái xã hội CARITAS Phú Cường, đăng ngày 07/7/2014. Caritas TGP Sài Gòn thăm các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại Tu hội gia đình NAZA. Được lấy từ:http://caritasphucuong.org/tin-caritas/caritas-khac/caritas-tgp-sai-gon-tham-cac-benh-nhan-nhiem-hivaids-tai-tu-hoi-gia-dinh-naza/ Link
2. Dieu tri. Tư vấn cho người nhiễm HIV. Được lấy từ: http://www.dieutri.vn/bgsanphukhoa/27-11-2014/S5590/Tu-van-cho-nguoi-nhiem-HIV.htm Link
3. Forum.minh ha.vn. ARV: Thuốc đặc hiệu trị HIV/AIDS. Được lấy từ: http://www.minhha.vn/forum/viewtopic.php?f=17&t=1736 Link
5. Viet Nam, đăng ngày 15/10/2014. Đối mặt với nguy cơ HIV/AIDS bùng phát mạnh trong cộng đồng. Được lấy từ: http://www.vietnamplus.vn/doi-mat-voi-nguy-co-hivaids-bung-phat-manh-trong-cong-dong/286196.vnp Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w