Chương 2: Chúng tôi triển khai phân tích nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của ca dao tại địa bàn nghiên cứu và thấy được rằng ca dao Vĩnh Long cũng như ca dao của những tỉnh khác đều đư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
CHƯƠNG 1 11
1.1 Vài nét về vùng đất và con người Vĩnh Long 11
1.2 Một số thuật ngữ liên quan đến đề tài 12
1.3 Khái quát về diện mạo của đồng dao ở địa bàn nghiên cứu 13
1.4 Khái quát diện mạo của ca dao ở địa bàn nghiên cứu 14
1.5 Khái quát về diện mạo của vè ở địa bàn nghiên cứu 16
CHƯƠNG 2 18
2.1 Những đặc điểm chủ yếu của ca dao ở địa bàn nghiên cứu 18
2.1.1 Ca dao về tình yêu quê hương đất nước và lao động sản xuất 18
2.1.2 Tình yêu nam nữ 24
2.1.3 Ca dao tình cảm gia đình 29
2.1.4 Ca dao về chủ đề khác 35
2.2 Những đặc điểm chủ yếu về nghệ thuật của ca dao ở địa bàn nghiên cứu 37
2.2.1 Ngôn ngữ, cách thức tổ chức ngôn ngữ 37
2.2.2 Thể thơ 40
2.2.3 Các thủ pháp nghệ thuật chủ yếu trong xây dựng hình tượng ca dao 43
2.2.4 Các biểu tượng trong ca dao ở địa bàn nghiên cứu 45
2.3 Tiểu kết 47
CHƯƠNG 3 49
3.1 Những đặc điểm chủ yếu về nội dung của vè ở địa bàn nghiên cứu 49
3.1.1 Vè kể vật, kể việc 49
3.1.2 Vè thế sự 55
3.2 Những đặc điểm chủ yếu về nghệ thuật của vè ở địa bàn nghiên cứu 60
3.2.1 Các phương thức nghệ thuật chủ yếu được thể hiện trong vè 60
3.2.2 Thể thơ và ngôn ngữ 61
3.3 Tiểu kết chương 3 63
KẾT LUẬN 64
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 67 PHỤ LỤC 70
Trang 4TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Công trình nghiên cứu khoa học của chúng tôi có tên gọi là CA DAO VÀ VÈ Ở
TỈNH VĨNH LONG (phân loại, chỉnh lý và giới thiệu tài liệu sưu tầm điền dã tại thành phố Vĩnh Long và ba huyện: Long Hồ, Tam Bình, Bình Minh) Mục đích
chính là nhằm đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu văn học dân gian tỉnh Vĩnh Long, nhằm giữ gìn vốn văn hóa truyền thống dân gian tại địa phương này
Bên cạnh việc phân loại, chỉnh lý bổ sung và giới thiệu tài liệu đã sưu tầm được trong quá trình điền dã, chúng tôi còn đưa ra cái nhìn khái quát về diện mạo của ca dao
và vè tại địa bàn nghiên cứu đồng thời cũng đưa ra cái nhìn khái quát về nội dung và nghệ thuật của hai thể loại này Nội dung của đề tài được thể hiện trong các chương chính như sau:
Chương 1: Giới thiệu sơ lược về điều kiện tự nhiên và con người tại tỉnh Vĩnh
Long, lý giải những thuật ngữ chính có liên quan đến đề tài trên cơ sở lý thuyết để có được nền tảng chắc chắn trong quá trình nhận diện và phân tích đối tượng nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi còn cung cấp một cái nhìn khái quát về diện mạo của ca dao và
vè tại địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Chúng tôi triển khai phân tích nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của ca
dao tại địa bàn nghiên cứu và thấy được rằng ca dao Vĩnh Long cũng như ca dao của những tỉnh khác đều được tác giả dân gian thể hiện xoay quanh các chủ đề như: tình yêu quê hương đất nước và lao động sản xuất, tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi và những chủ đề khác như các vấn đề về triết lý nhân sinh và mọi mặt sinh hoạt trong đời sống thường ngày của nhân dân lao động
Nghệ thuật của ca dao ở địa phương này được khai thác chủ yếu với thể thơ lục bát quen thuộc của dân tộc, giọng điệu tâm tình phối hợp với các thủ pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa cùng với các hình thức kết cấu và các biểu tượng truyền thống quen thuộc của văn học dân gian Việt Nam
Chương 3: Xoay quanh nội dung và nghệ thuật tiêu biểu của vè tại địa bàn nghiên
cứu, nội dung của vè phong phú, đa dạng với những chủ đề lớn là vè kể vật kể việc, vè thế sự và vè lịch sử Vè kể vật kể việc liệt kê các sản vật của vùng đất Vĩnh Long trù
Trang 5phú, vè thế sự phản ánh các sự kiện, hiện tượng có trong đời sống hàng ngày của nhân dân lao động và vè lịch sử ghi lại những sự kiện lịch sử mà nhân dân địa phương đã trải qua với thái độ ngợi ca hoặc phê phán Nghệ thuật trong vè nổi bật với thể vãn bốn cùng với một số bài được sáng tác với thể lục bát, vãn bảy hoặc những câu dài ngắn khác nhau Đặc trưng nghệ thuật của vè là thể hiện qua phương thức phản ánh và tự
sự, ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu
Cuối cùng, chúng tôi đưa ra kết luận chung cho toàn bài nghiên cứu Phần sưu tuyển là đóng góp quan trọng của đề tài vì cung cấp 18 đơn vị đồng dao, 527 đơn vị ca dao và 45 đơn vị vè đã được chỉnh lý, sắp xếp và phân loại tỉ mỉ Chúng tôi hy vọng rằng đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ đóng vai trò là một trong những tài liệu tham khảo về văn bản tác phẩm cho những nghiên cứu về văn học dân gian nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng sau này
Trang 6A PHẦN CHÍNH VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn học dân gian là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành nên nền văn học Việt Nam lâu đời, trong đó có văn học dân gian Nam Bộ nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng
Cuộc sống xã hội hiện đại ngày một văn minh, vốn văn hóa truyền thống của dân tộc mà cha ông ta bao thế hệ đã sáng tạo ra và giữ gìn ít ai quan tâm Do người Việt Nam có nhiều điều kiện để tiếp xúc với các nền văn hóa trên thế giới cùng với nhiều phương tiện giải trí hấp dẫn nên văn học dân gian dần bị xao lãng
Chúng tôi thấy rằng, Vĩnh Long cũng như các địa phương khác trong cả nước cần phải tiến hành ngay việc sưu tầm chỉnh lý văn học dân gian ở tỉnh nhà nhằm giữ gìn, lưu giữ giá trị văn hóa văn học truyền thống ở địa phương để tránh bị mai một
Trong chuyến thực tập thực tế vào tháng 3 năm 2013, tập thể giảng viên và sinh viên khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu thập được một khối lượng tài liệu hết sức phong phú của thành phố Vĩnh Long và ba huyện Long Hồ, Tam Bình, Bình Minh Trong số tài liệu nhận được thì ca dao chiếm số lượng khá nhiều, gần 1500 đơn vị, sau khi chỉnh lý xong thì còn 527 đơn vị Phần vè sưu tầm được khoảng trên 100 đơn vị nhưng sau khi chỉnh lý, chú giải thì còn khoảng 45 đơn vị Số lượng tác phẩm ca dao và vè này đã góp phần lưu lại những tài liệu đáng quý và phần nào cho thấy sự dồi dào của kho tàng văn học dân gian tỉnh Vĩnh Long
Để giữ gìn một cách có hệ thống nguồn tài liệu văn học dân gian Vĩnh Long nói riêng và của cả nước nói chung thì vấn đề cấp thiết là phải chỉnh lý và giới thiệu lại tất
cả các thể loại văn học dân gian đã thu thập được, trong đó có ca dao và vè nhằm đưa
ra cái nhìn khái quát về diện mạo của văn học dân gian tại địa bàn nghiên cứu Chúng tôi hy vọng rằng đề tài nghiên cứu sẽ phần nào đó có đóng góp trong quá trình giữ gìn
và lưu truyền hai thể loại văn học dân gian của tỉnh Vĩnh Long
Trang 72 Tình hình nghiên cứu
Có thể nói những công trình nghiên cứu về văn học dân gian nói chung đã được giới nghiên cứu quan tâm và đã được thực hiện khá nhiều từ trước đến nay Nhưng nói đến những công trình nghiên cứu về ca dao, vè tại Nam Bộ nói chung, Vĩnh Long nói riêng thì còn rất hạn chế Theo chúng tôi thấy là vì những nguyên nhân sau: diện tích Nam Bộ tương đối rộng và có nhiều tỉnh, vì có nhiều biến thể trong cách trình bày của các tác giả dân gian nên số lượng đơn vị đa phần tập trung giống nhau, chưa có tính địa phương cao, ngoài ra còn chưa có sự quan tâm đúng mức của các ban ngành chức năng, các nhà lãnh đạonên việc tìm hiểu, sưu tuyển và chỉnh lý vẫn chưa được thực hiện rộng rãi
Trước hết, cuốn sách mà chúng tôi cần phải nhắc đến là Văn học dân gian Việt Nam do GS Đinh Gia Khánh (chủ biên) Đây là tập sách được xem như một công cụ
tra cứu và tham khảo đáng tin cậy cho các công trình nghiên cứu về văn học dân gian sau này Các tác giả đã nghiên cứu về những đặc trưng của văn học dân gian Việt Nam, các loại hình và thể loại văn học dân gian qua các thời kì lịch sử khác nhau, đồng thời đi sâu vào phân tích từng thể loại Nhìn chung, công trình nghiên cứu đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết chung nhất về cơ sở lý luận, tiến trình, lịch sử vấn đề, cấu trúc thể loại cũng như nội dung, nghệ thuật của các thể loại văn học dân gian Việt Nam
Riêng ở Nam Bộ, do đặc điểm của lịch sử hình thành vùng đất nên văn học dân gian còn mới mẻ hơn nhiều so với miền Bắc và miền Trung, song cũng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tiêu biểu như công trình nghiên cứu của
Huỳnh Ngọc Trảng với Văn học dân gian Đồng Nai - Gia Định/ Vè Nam Bộ do nhà
xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh phát hành Cuốn sách này đã giúp chúng tôi có cái nhìn khái quát về diện mạo cũng như đặc điểm nội dung và hình thức của vè Nam Bộ
Bên cạnh đó, còn có các công trình khác như: Tìm hiểu ca dao dân ca Nam Bộ/ chuyên khảo của Lưu Nhất Vũ và Lê Giang Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ của Nguyễn Văn Hầu (2005) do nhà xuất bản Trẻ phát hành Ca dao dân ca Nam Bộ do các tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, Văn hóa dân gian Đồng bằng Sông Cửu Long của khoa Ngữ Văn trường Đại học Cần Thơ… Nhìn
Trang 8chung, những công trình này đều có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu và tìm hiểu văn học dân gian Nam Bộ
Tác phẩm Văn học Việt Nam – Văn học dân gian – Những công trình nghiên cứu
do Bùi Mạnh Nhị chủ biên cùng với Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã cung cấp cho chúng tôi thêm góc nhìn về tính thống nhất trong đặc điểm nội dung và nghệ thuật của ca dao ở Nam Bộ Trong tính thống nhất đó, các tác giả có nói đến tính chất
đặc trưng là tính địa phương của thể loại này: “Ca dao – Dân ca Nam Bộ luôn phát huy những đặc điểm riêng gắn với hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử xã hội, tâm
lý, tính cách con người ở địa phương.”
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu bao quát về văn học dân gian tại vùng đất Nam Bộ nói chung chứ chưa có những nhận định cũng như nghiên cứu về ca dao và vè tại một địa phương cụ thể nào
Khi tìm hiểu những công trình nghiên cứu văn học dân gian này tại các tỉnh cụ thể của vùng Nam Bộ, chúng tôi may mắn được tiếp xúc với nguồn tài liệu sưu tầm điền
dã được in thành sách từ nhiều năm qua của tập thể giảng viên, sinh viên khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí
Minh sau mỗi chuyến thực tập, sưu tầm văn học dân gian các tỉnh Nam Bộ như: Văn học dân gian Bạc Liêu, Văn học dân gian Sóc Trăng Bên cạnh đó còn có các khóa
luận tốt nghiệp đại học được thực hiện với đề tài về văn học dân gian ở các tỉnh Nam
Bộ như: Văn học dân gian Bình Phước, Văn học dân gian Bến Tre, Văn học dân gian
An Giang,… của các anh chị sinh viên đi trước đã giúp ích chúng tôi rất nhiều trong việc học tập cách thức triển khai đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng, chúng tôi đã được tiếp xúc với không ít những công trình nghiên cứu
về ca dao dân ca và vè Nam Bộ, cụ thể là một số tỉnh tại khu vực này nhưng đề tài nghiên cứu riêng về ca dao và vè Vĩnh Long thì chúng tôi chưa thấy được thực hiện từ trước đến nay Trên tinh thần kế thừa và học hỏi những người đi trước, chúng tôi hy vọng có thể góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu ca dao, vè tại tỉnh Vĩnh Long với mục đích chính là chỉnh lý, sắp xếp và phân loại nguồn tài liệu văn học dân gian đã được sưu tầm điền dã của tỉnh Vĩnh Long trong hai chuyến thực tập mà chúng tôi đã nhắc đến
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Văn học dân gian là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam, là nền tảng để đưa đến sự phát triển của văn học giai đoạn sau này Văn học dân gian hình thành từ rất sớm, gắn liền với tiếng nói của nhân dân ta khi bắt đầu có chữ viết
Đó là sự kết tinh của trí tuệ, tư duy lao động và tâm tư tình cảm của con người Ngoài
ra, văn học dân gian còn gắn liền với bản sắc văn hóa của dân tộc
Văn học dân gian Việt Nam tồn tại cùng với lịch sử phát triển của dân tộc Hay nói cách khác, văn học dân gian Việt Nam gắn liền với nhân dân, từ đó diễn đạt những tâm
tư tình cảm con người, ca ngợi lao động sản xuất, tình yêu quê hương đất nước hay tình cảm gia đình,
Chính vì sự gắn kết giữa văn học dân gian với xã hội, bản sắc văn hóa và lịch sử dân tộc nên việc nghiên cứu nó là điều tất yếu và cần thiết Trước đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, từ những công trình nghiên cứu về văn học dân gian chung của cả nước cho đến những công trình của từng địa phương Cho nên việc nghiên cứu văn học dân gian trên địa bàn thành phố Vĩnh Long và các huyện Tam Bình, Long Hồ, Bình Minh của tỉnh Vĩnh Long là cần thiết, đáp ứng việc bổ sung thêm những tác phẩm vào kho tàng văn học Việt Nam Đồng thời, trong đề tài này, chúng tôi cũng cung cấp một cái nhìn sơ lược về vùng đất và con người Vĩnh Long, những nét văn hóa truyền thống trong sinh hoạt của người dân các xã… thông qua các bài ca dao và
vè Nhìn chung, mục đích chính của đề tài này vẫn là góp phần bổ sung thêm nguồn tài liệu sưu tầm điền dã vào kho tàng văn học dân gian Việt Nam
Văn học dân gian có rất nhiều thể loại, nhưng ở đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vào những bộ phận quan trọng, chiếm dung lượng lớn là ca dao, vè và giới thiệu phần sưu tuyển đã được chỉnh lí Chính vì thế, nhiệm vụ của chúng tôi là tổng hợp tư liệu dưới dạng văn bản thô từ kho tư liệu của Khoa Văn học và Ngôn ngữ (Tư liệu được sưu tầm điền dã do Khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn tổ chức hàng năm) Do phần lớn các văn bản này ở dạng thô, nhiều thể loại, nên chúng tôi phải xử lý, chỉnh sửa và phân loại Sau đó, chúng tôi mới tiến hành phân tích và đưa ra bản sưu tuyển hoàn chỉnh
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Trước khi đi vào những phương pháp nghiên cứu chính mà chúng tôi áp dụng, chúng tôi xin điểm qua những phương pháp mà các nhóm sưu tầm điền dã đi vào năm 2013: phương pháp quan sát, tham dự và phương pháp phỏng vấn dân tộc học Hai phương pháp này đã giúp sinh viên có thể tiếp cận trực tiếp các nghệ nhân tại địa bàn nghiên cứu để sưu tầm văn bản tác phẩm văn học dân gian được lưu truyền ở địa phương từ xưa đến nay Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn dân tộc học còn giúp chúng tôi có được thông tin đầy đủ về nguyên quán, năm sinh, nghề nghiệp của cộng
tác viên, nguồn gốc xuất xứ và nội dung của tác phẩm
Khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã áp dụng các phương pháp của ngành khoa học xã hội nói chung, bao gồm: phương pháp tổng hợp, chỉnh lý, phân loại và phương pháp phân tích, miêu tả
4.1 Phương pháp tổng hợp,chỉnh lý và phân loại văn bản
Sau khi có được tài liệu là những văn bản thô, chúng tôi tiếp tục phân loại và chọn những tác phẩm ca dao, vè tại địa bàn cần nghiên cứu Sau đó, chúng tôi tiến hành chỉnh lý, xử lý dị bản và loại bỏ những tác phẩm không cần thiết Cuối cùng, chúng tôi sắp xếp các tác phẩm theo hệ thống sẵn có dựa vào nội dung, chủ đề của tác phẩm để tiện cho việc phân tích
Từ nguồn tài liệu đã chỉnh lý và phân loại theo nội dung đề tài chúng tôi tiến hành phân tích, đưa ra những nhận định của mình về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của
ca dao và vè Vĩnh Long
5 Giới hạn của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sưu tầm, chỉnh lý và giới thiệu về ca dao, vè của Vĩnh Long trong chuyến đi thực tập điền dã tại thành phố Vĩnh Long và ba huyện: Long Hồ, Tam Bình, Bình Minh.Với số lượng hơn 18 đơn vị đồng dao, 527 đơn vị ca dao và khoảng 45 đơn vị vè đã qua chỉnh lý và lược bỏ, từ đó chúng tôi tiến hành phân
Trang 11loại, đánh giá và phân tích sơ bộ nội dung và nghệ thuật về đồng dao, ca dao, vè của Vĩnh Long
Đối tượng chúng tôi nghiên cứu trong đề tài này là các thể loại văn học dân gian bao gồm ca dao, vè của tỉnh Vĩnh Long Chúng tôi bước đầu nghiên cứu nhằm đưa ra cái nhìn khái quát về diện mạo văn học dân gian tỉnh Vĩnh Long Nhằm giúp người đọc phần nào nhận thấy được những điểm tương đồng hoặc khác biệt về ca dao, vè của tỉnh Vĩnh Long so với các tỉnh khác ở Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung
Trong địa bàn nghiên cứu, đa số cư dân là người Việt cùng một số người Hoa, Khmer nhưng do tài liệu chúng tôi thu thập về ca dao của người Hoa, Khmer quá ít ỏi nên không thể tổng hợp và phân tích được.Chúng tôi chỉ tiến hành phân tích tài liệu được cung cấp từ người Việt mà thôi
6 Đóng góp mới của đề tài
Khi thực hiên đề tài này, chúng tôi có mong muốn đóng góp một cái nhìn bao quát
về tình hình tư liệu và diện mạo của hai thể loại văn học dân gian là ca dao và vè ở tỉnh Vĩnh Long Đồng thời giúp người đọc hình dung ra được một cách khái quát những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của ca dao và vè tại Vĩnh Long mà từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về hai thể loại văn
học dân gian này của tỉnh nhà
Và đóng góp quan trọng nhất của đề tài nghiên cứu của chúng tôi là việc chỉnh lý
tư liệu văn học dân gian Vĩnh Long nhằm gìn giữ và lưu truyền những giá trị tinh thần của con người và vùng đất Vĩnh Long, bổ sung vào kho tàng văn học dân gian phong phú của dân tộc
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học của đề tài là đưa ra một cái nhìn khái quát về diện mạo của hai thể loại ca dao và vè ở tỉnh Vĩnh Long Đồng thời đưa ra cái nhìn tổng thể, nhận xét sơ lược về đặc điểm nội dung lẫn nghệ thuật của hai thể loại này Bên cạnh đó là những đóng góp cho việc thúc đẩy quá trình nghiên cứu văn học dân gian tại địa bàn tỉnh
Trang 12Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là chúng tôi hy vọng có thể cung cấp được một số tài liệu tham khảo cần thiết về ca dao và vè ở vùng đất này
Chương 2: Những đặc điểm chủ yếu về nội dung và nghệ thuật của ca dao ở địa bàn nghiên cứu
Trong chương 2 chúng tôi sẽ nêu lên những đặc điểm chủ yếu về nội dung và nghệ thuật của ca dao ở địa bàn nghiên cứu với những chủ đề được đề cập đến như: tình yêu quê hương đất nước và lao động sản xuất, tình yêu nam nữ, tình cảm gia đình hay những chủ đề khác về tình làng nghĩa xóm, triết lý, đạo lý thường ngày Bên cạnh nội dung, chúng tôi còn dựa trên những tài liệu sưu tầm phân tích nghệ thuật của ca dao tại địa bàn nghiên cứu về ngôn ngữ, cách thức tổ chức, những thể thơ, những thủ pháp nghệ thuật hay những biểu tượng điển hình trong ca dao,…
Chương 3: Những đặc điểm chủ yếu về nội dung và nghệ thuật của vè ở địa bàn nghiên cứu
Trong chương 3, chúng tôi đi sâu vào phân tích các đặc điểm về nội dung và nghệ thuật có trong vè sưu tầm được tại địa bàn nghiên cứu, chủ yếu là vè kể vật, kể việc và
vè thế sự
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
Trang 13Trong phần phụ lục, chúng tôi giới thiệu toàn bộ tƣ liệu thu thập đã qua phân loại chỉnh lý và bổ sung, nhằm góp phần làm tƣ liệu cho công trình nghiên cứu này đồng thời bổ sung vào kho tàng văn học dân gian của dân tộc
I Đồng dao
II Ca dao
III Vè
Trang 14CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ DIỆN MẠO CA DAO VÀ VÈ Ở THÀNH PHỐ VĨNH LONG VÀ BA HUYỆN: TAM BÌNH, LONG HỒ VÀ BÌNH MINH TỈNH
VĨNH LONG 1.1 Vài nét về vùng đất và con người Vĩnh Long
Vĩnh Long là khu vực nằm ở đồng bằng Sông Cửu Long, nằm giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu Có vị trí tiếp giáp Tiền Giang, Đồng Tháp về phía Bắc, Bến Tre về phía Đông, phía Đông Nam giáp với Trà Vinh, phía Tây và phía Nam giáp Hậu Giang, Sóc Trăng và Cần Thơ
Theo tài liệu sưu tầm được, trong sách Vĩnh Long xưa của Huỳnh Minh đã viết:
“Đến đời Chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Chu (1725 – 1738) mới có thêm đất Vĩnh Long (1732) Vùng Vĩnh Long bấy giờ rất rộng lớn bao gồm một phần Bến Tre ở mạn trên và Trà Vinh ở mạn dưới mang tên châu Định Viễn, thuộc Long Hồ Dinh
có quan Trấn Thủ, quan Cai Bạ, quan Ký Lục để trông coi việc cai trị” [9; 9]
Đến năm 1976, Vĩnh Long cùng với Trà Vinh đã sát nhập thành tỉnh Cửu Long,
vì thế mà vùng đất này còn có tên gọi là vùng đất “chín rồng” Năm 1991 thì chia lại thành hai tỉnh như cũ Đến đây, vùng đất Vĩnh Long đã hoàn toàn có diện mạo mới với diện tích 1.496,8 km2 bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện, 107 xã phường, thị trấn và 846 ấp, khóm
Trong vòng vài năm trở lại đây, Vĩnh Long luôn khẳng định vị thế của mình so với các tỉnh trong khu vực trong việc giao lưu và phát triển kinh tế, nhất là về thương mại và du lịch
Với vị trí tự nhiên thuận lợi, vùng đất này là cầu nối giữa các vùng kinh tế cộng với sông ngòi chằng chịt, cù lao nhiều, đất phù sa màu mỡ Đây là cơ sở để Vĩnh Long khai thác, phát huy thế mạnh về nuôi, trồng và tiềm năng du lịch của mình Đặc biệt, tỉnh Vĩnh Long nằm giữa hai con sông Tiền và sông Hậu hàng năm luôn được hàng vạn ha đất phù sa bồi đắp, rất phì phiêu và màu mỡ, thuận lợi cho việc trồng hai vụ lúa trở lên Khí hậu ôn hòa rất thích hợp để Vĩnh Long phát triển nhiều loại cây trồng đặc sản như bưởi Năm roi, quýt, nhãn, xoài… và các loại thủy
Trang 15sản có kinh tế cao như tôm càng xanh, cá tra Bên cạnh đó, Vĩnh Long còn nổi tiếng với nhiều ngành nghề truyền thống như sản xuất gạch, ngói, gốm, thiêu
Do điều kiện thuận lợi cộng với sự cố gắng không mệt mỏi của người dân, vùng đất này ngày nay luôn tươi đẹp Cư dân sinh sống an cư lạc nghiệp, tính tình ôn hòa, phóng khoáng, luôn tươi cười hiếu khách đón bạn gần xa:
Đất Vĩnh Long trắng trong tình nghĩa Người Vĩnh Long tình nghĩa trắng trong
Không dừng lại ở đó, vùng đất này còn là nơi hội tụ của khá nhiều danh nhân Tiêu biểu như: Trương Vĩnh Ký, Phan Công Thần, Phan Liêm, Trần Đại Nghĩa, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt Nói về nhân vật lịch sử của vùng đất này, ca dao còn có câu:
Vĩnh Long có cặp rồng vàng Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Công Thần
Những yếu tố về vùng đất và con người Vĩnh Long tuy chỉ mang tính khái quát chung nhưng phần nào thể hiện rõ được nhiều khía cạnh mà chúng tôi muốn đề cập Những yếu tố ấy ít nhiều đã ảnh hưởng đến những sáng tác văn học dân gian, trong
đó bao gồm cả ca dao và vè Và khi chúng tôi nghiên cứu về ca dao và vè của Vĩnh Long, những yếu tố này góp một phần không nhỏ sẽ được nhắc đến
1.2 Một số thuật ngữ liên quan đến đề tài
Trước hết là khái niệm về thuật ngữ đồng dao, trong cuốn Dân ca Việt Nam- những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp của tác giả Lê Văn Chưởng có đề cập đến khái niệm: “Đồng dao là những bài hát dân gian trẻ con, không có nhạc đệm, hàm chứa những nội dung ngây ngô được diễn xướng dưới nhiều hình thức, thường gắn với những trò chơi”[2] Đồng dao là một thể loại phổ biến gắn bó với biết bao thế
hệ tuổi thơ trên khắp mọi miền Đồng dao thường có nhạc điệu vui tai, khi đọc hay hát thường kết hợp với gắn với một trò chơi, trò chơi chỉ ở dạng quây quần hay chạy nhảy.Từ đó, đồng dao như một loại trò chơi phổ biến và không thể thiếu của trẻ thơ
Về thuật ngữ ca dao, có rất nhiều công trình từng đề cập đến như trong cuốn
Lịch sử Văn học Việt Nam của Bùi Văn Nguyên thì:“Ca dao là những bài có hoặc
Trang 16không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát), để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm”.[12]
Trong công trình nghiên cứu về Văn học dân gian Việt Nam của học giả Đinh Gia Khánh, khái niệm ca dao được định nghĩa là: “lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca” [7]
Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con hoặc
ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của ca dao như tình yêu quê hương, đất nước, quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội Ca dao thường là những sáng tác tập thể, là sự hội tụ và kết tinh từ tình yêu của các tác giả trong dân gian Thể loại này được lưu giữ bằng cách truyền miệng trong dân gian từ người này sang người khác, và từ thế hệ này sang thế hệ khác
Cùng với đồng dao, ca dao thì thuật ngữ vè trong công trình nghiên cứu Văn học dân gian Việt Nam cũng được định nghĩa ngắn gọn và súc tích: “Vè là thể loại
tự sự dân gian bằng văn vần phát triển nhất trong thời kì cận đại” hay “Vè là một dạng báo nói do dân gian sáng tác và truyền tụng rất rộng rãi nhằm phản ánh kịp thời các sự kiện trong cuộc sống hàng ngày trong xóm, ấp, địa phương, dân tộc Nó cũng là tri thức dân gian về tự nhiên, về địa lí được bắt vần để đưa ra các khuôn dạng ổn định, dễ thuộc”.[7]
Đồng thời, chúng tôi cũng xin dùng thuật ngữ“địa bàn nghiên cứu” hay “vùng
đất này” để quy ước cho tên gọi của thành phố Vĩnh Long và ba huyện Tam Bình,
Long Hồ, Bình Minh
1.3 Khái quát về diện mạo của đồng dao ở địa bàn nghiên cứu
Đồng dao là thơ ca truyền miệng của trẻ em Việt Nam, mỗi khi hát lên thường
có thể kết hợp với trò chơi hoặc không có trò chơi Do tỉnh Vĩnh Long có điều kiện
tự nhiên sông nước hữu tình, thơ mộng đã phần nào giúp cho đồng dao phát triển, trẻ con được sống, học tập và vui chơi chan hòa với thiên nhiên
Đồng dao chứa đựng cả một kho tàng hình ảnh về các loại cây cỏ, động vật mang đến cho trẻ con có những bài học sinh động về cuộc sống muôn màu xung
Trang 17quanh.Từ đó, có thể giúp trẻ nảy sinh nhiều tình yêu thương đối với cuộc sống và thiên nhiên
Dung dăng dung dẻ Dắt trẻ đi chơi Đến ngõ nhà trời Lạy cậu lạy mợ Cho cháu về quê Cho dê đi học Cho cóc ở nhà Cho gà bới bếp
Xì xà xì xụp Ngồi thụp xuống đây
Ngôn ngữ đồng dao thường đơn giản, dễ hiểu, gần gũi với cuộc sống hằng ngày nên rất dễ thuộc, dễ nhớ Tuy chỉ mang nội dung đơn giản nhưng lại chứa đựng bao bài học đầu đời cho trẻ thơ về cỏ cây, muôn thú, về thế giới tự nhiên xung quanh Đồng dao kết hợp cùng với trò chơi chính là chất keo gắn kết bao đứa trẻ để chúng biết đoàn kết, yêu thương bạn bè
1.4 Khái quát diện mạo của ca dao ở địa bàn nghiên cứu
Qua chuyến thực tập điền dã để sưu tầm văn học dân gian tỉnh Vĩnh Long, chúng tôi phần nào hiểu về vùng đất và con người, cũng như những nét văn hóa đặc trưng nơi đây.Trong chuyến sưu tầm đó, chúng tôi thu thập được khoảng 1500 đơn
vị ca dao thể hiện nhiều nội dung phong phú
Vĩnh Long vốn nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử, nhiều anh hùng và danh nhân văn hóa Tình yêu quê hương, đất nước cùng những tâm tư, tình cảm của người dân luôn được gửi gắm trong những câu ca dao và được lưu truyền trong các thế hệ từ xưa đến nay
Bằng ngôn ngữ thơ trữ tình, mộc mạc cộng với sự kết hợp nhuần nhuyễn các thủ pháp tư từ, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa… trong quá trình sáng tác ca dao, các tác giả dân gian đã khiến ca dao Vĩnh Long có được một vẻ đẹp hình thức đa nét bên ngoài và chứa đựng một nội dung phong phú bên trong
Trang 18Hình thức của ca dao tại địa bàn nghiên cứu mang đậm tính dân tộc, vì ngoài thể thơ lục bát quen thuộc, còn có song thất lục bát, thể vãn, thể hỗn hợp Chính vì thế, ca dao đã được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhằm diễn đạt mọi vấn đề tình cảm con người
Người dân đất Vĩnh Long luôn hiền hòa chất phát và chính vì tình yêu sâu đậm với vùng đất của mình mà những câu ca dao của họ luôn mang đậm tình yêu thiết tha:
Sông Long Hồ chảy ngang chợ Vãng Vàm Long Hồ nối ngọn Cổ Chiên
Hay:
Sông Mang Thít có dòng nước xoáy Rạch Bà Soi nước chảy vàng cung
Những câu ca dao mang tính chất giới thiệu về vùng đất cây sai, trái ngọt luôn
là ngọn lửa thôi thúc người dân chăm chỉ trồng trọt, cũng như níu chân du khách gần xa:
An Bình đất mẹ cù lao Thơm hương hoa bưởi, ngọt ngào nhãn long
Khách về nhớ mãi trong lòng
Cù lao nho nhỏ bên dòng Tiền Giang
Không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của vùng đất mình, người dân nơi đây còn miêu tả một cách khéo léo về quá trình lao động sản xuất trong cuộc sống thường ngày Với tinh thần chịu thương, chịu khó, cần cù trong lao động và sản xuất của người dân
mà vùng đất nơi ngày càng giàu đẹp, trù phú
Trong cuộc sống hàng ngày, tình yêu chính là chiếc cầu nối hữu hiệu gắn kết mọi người lại với nhau Ca dao Vĩnh Long cũng mang nhiều đặc trưng đó, ngoài ra
nó còn thể hiện những cung bật cảm xúc khác nhau: vui, buồn, hờn, tủi,…
Anh có thương em thì thương cho trót Bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn Đừng như con thỏ nọ đứng đầu truông
Trang 19Khi vui giỡn bóng khi buồn giỡn trăng
Ca dao về tình cảm giữa cha mẹ với con cái hay tình cảm giữa vợ chồng, anh
em luôn là những bài học hữu ích cho bao thế hệ noi theo Ca dao chứa đựng những lời khuyên răn, những bài học đạo lý về lẽ sống, về cách yêu thương, giúp đỡ giữa những thành viên trong gia đình:
Đêm đêm đốt ngọn đèn dầu Cầu cho cha mẹ sống đời với con Đêm đêm đốt ngọn đèn trời Mong cho chồng vợ cả đời bên nhau
1.5 Khái quát về diện mạo của vè ở địa bàn nghiên cứu
“Vè được sáng tác bằng văn vần, sử dụng nhiều hình thức khác nhau: câu bốn chữ, năm chữ, lục bát, hát giặm, nói lối Có vè thế sự, về người thật việc thật, phản ánh, bình luận những câu chuyện thời sự địa phương, những truyện đồi phong bại tục, những chuyện áp bức bóc lột của cường hào địa chủ và đời sống khổ cực của dân nghèo trong làng xóm Những người đặt vè, bẻ vè, nói vè phần nhiều thuộc tầng
lớp dưới trong xã hội”.[17; 56]
Vè có nét giống với phóng sự, ký sự, bút ký Vè thường thể hiện nhiều khía cạnh và về khía cạnh báo chí, theo nhà nghiên cứu Lê Giang và Lưu Nhất Vũ có
nhắc: “Vè như một tờ báo truyền miệng những tin tức thời sự nóng hổi, những giai thoại hoặc một sự việc gì xảy ra có hại với thuần phong mỹ tục Vè cũng là vũ khí nhạy bén kịp thời vạch mặt, đả kích, phê phán bọn thực dân thống trị”.[17; 136]
Hình thức của vè thường là thể thơ chủ yếu là vãn bốn, nhịp độ khẩn trương, nhanh nhạy đáp ứng việc truyền nhanh tin tức Vè trở thành một loại báo chí địa phương gắn bó với người dân, đặc biệt là người dân lao động
Tại tỉnh Vĩnh Long, số lượng vè thu thập được và sau khi chỉnh lý còn khoảng
45 đơn vị Thông qua quá trình sắp xếp, chỉnh lý chúng tôi phân loại vè thành 3 loại chủ yếu: vè kể vật kể việc, vè thế sự và vè lịch sử Tuy nhiên, do số lượng vè lịch sử chỉ có một đơn vị nên chúng tôi không đưa vào phân tích
Trang 20Vè kể vật là những bài kể về những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống thường ngày Bằng cái nhìn tinh tế, nhạy bén, người đặt vè miêu tả những sự vật, sự việc ấy nổi bật với những đặc tính, đặc điểm riêng biệt
Ăn không kiêng cử
Là cá trê leo
Ăn cám ăn bèo
Là con cá sặc Gai chông mà sắc
Là con cá rô Bóng bọt ra vô
Cá lia thia trống
(Vè các loài cá)
Vè thế sự là thể loại được sáng tác để miêu tả những hoạt động đáng nhớ gắn liền với con người, gây chú ý đối với cộng đồng Hoặc cũng có khi vè thế sự để kể lại những hoạt động sản xuất, sinh hoạt hằng ngày Vè thế sự có xu hướng chung là trào phúng, dùng để chế giễu tệ nạn, thói lười nhác, khoác lác, căm ghét thói đục khoét của bọn quan lại…
Nghe vẻ nghe ve nghe vè con gái Cái hay, cái phải, thì học thì làm Cái xấu cái tàn thì dang thì trách
Trên đây là những khái quát về diện mạo của vè tại địa bàn nghiên cứu để người đọc có cái nhìn bao quát Phần nội dung dưới đây chúng tôi sẽ triển khai một cách cụ thể, chi tiết hơn
Trang 21CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU VỀ NỘI DUNG
VÀ NGHỆ THUẬT CỦA CA DAO Ở ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1 Những đặc điểm chủ yếu của ca dao ở địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Ca dao về tình yêu quê hương đất nước và lao động sản xuất
a Ca dao về tình yêu quê hương đất nước
Mỗi con người Việt Nam nói chung đều mang trong mình tấm lòng yêu quê hương đất nước mãnh liệt và con người Vĩnh Long cũng vậy, đó là truyền thống quý báu của nhân dân ta từ thời xa xưa đến ngày hôm nay
Đối với Vĩnh Long nói riêng, các tỉnh Nam bộ nói chung, việc hình thành nên những địa danh, những nét văn hóa bắt nguồn từ công cuộc khai hoang mở mang
bờ cõi thời chúa Nguyễn Từ việc mở mang bờ cõi, đất lành chim đậu, dân tứ xứ tập trung về ngày càng đông, từ đó hình thành nên những nét văn hóa, phong tục, tập quán, nếp sống sinh hoạt riêng của vùng sông nước Chính những đặc tính tiêu biểu đó đã tạo dựng nên tình yêu quê hương trong mỗi con người Vĩnh Long, không gì khác hơn, tình yêu đó được gửi gắm vào những vần ca dao mộc mạc, bình dị mà đậm sắc thái riêng của vùng Tây Nam Bộ
Ca dao nói về tình yêu quê hương, đất nước được thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau, từ việc mô tả những địa danh đặc trưng, lịch sử đấu tranh dân tộc, những anh hùng… cho đến tình yêu thương, đùm bọc nhau của nhân dân mang đậm tình làng nghĩa xóm
Nhắc đến Vĩnh Long là nhắc đến vùng đất phì nhiêu màu mỡ, mang vẻ đẹp thanh tao, hiền hòa, níu chân biết bao du khách gần xa Đó chính là vẻ đẹp của cảnh vật hữu tình và vẻ đẹp của lòng người:
Vĩnh Long cảnh đẹp người xinh Quyện lòng du khách, gợi tình nước non
Về mặt địa lý, Vĩnh Long nằm giữa hai con sông Tiền và sông Hậu, tạo ra hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt Trên những con sông ấy đã hình thành nên chợ nổi, nét đặc trưng của Tây Nam Bộ:
Sông Long Hồ chảy ngang chợ Vãng
Trang 22Vàm Long Hồ nối ngọn Cổ Chiên Như con bên cạnh mẹ hiền Uống dòng sữa ngọt, tuổi tên gắn liền
Sông gắn liền với chợ, vàm gắn liền với ngọn trong thế so sánh tương quan với hình ảnh mẹ hiền – con thảo trong ca dao, đã thể hiện tình yêu của nhân dân đối với vùng đất Vĩnh Long Tình yêu ấy được nuôi dưỡng trong dòng “sữa” ngọt phù sa
mà chẳng bao giờ họ quên đi, luôn muốn gắn liền đời đời chẳng phai Tình yêu ấy còn được ví như sự gắn bó sống còn của thân cây bần và chùm rễ của nó, chẳng thể nào tách rời chúng ra khỏi nhau được:
Uống nguồn nước trong nhớ dòng sông Cổ
Ăn chén cơm đầy nhớ thưở Cù Lao Quanh năm sóng gió ba đào Như bần xanh chắc rễ, chẳng khi nào cách xa
Ngoài việc được bồi đắp phù sa, Vĩnh Long còn mang hình dáng như rồng uốn khúc, một vẻ đẹp vừa mạnh mẽ vừa nên thơ Vẻ đẹp ấy đã được thể hiện lại trong những câu hò đêm trăng trên dòng sông thơ mộng:
Sông Vĩnh Long như rồng uốn khúc Đất Vĩnh Long ngoạn mục như mơ Giàu lòng đất sử tình thơ Dòng sông man mác câu hò đêm trăng
Những câu hò ấy như là một món ăn tinh thần của người dân Nam Bộ Hoạt động hát hò trên thuyền mang nét văn hóa riêng, là những phút giây giải trí hay những phút ngẫu hứng cho quên đi những mệt nhọc hàng ngày Và khi những điệu
hò ấy đã ăn sâu vào tâm khảm con người thì dù đi đâu chăng nữa họ cũng luôn nhớ về:
Bâng khuâng điệu lý câu hò Vang lên trầm bổng dưới đò khách qua Người xa vẫn nhớ quê nhà Thương dòng Măng Thít đậm đà tình chung
Tình yêu của người dân ở Vĩnh Long dành cho quê hương xứ sở của mình qua từng câu ca dao ca ngợi về đặc trưng của từng vùng đất trong tỉnh cho ta thấy được
Trang 23lòng tự hào của con người ở đây với quê cha đất mẹ trù phú của mình Chẳng hạn nói về sự phong phú về các loại cây ăn trái như nhãn long của huyện Long Hồ, bưởi của huyện Bình Minh, vú sữa của huyện Mang Thít, cam quýt của huyện Tam Bình hay lúa gạo của huyện Vũng Liêm,…
Vĩnh Long có bưởi Bình Minh Cam quýt Tam Bình, đồng ruộng Vũng Liêm
Vĩnh Long cảnh lịch, người xinh Ruộng vườn tươi tốt dân tình hiền lương
Hay:
Đất Vĩnh Long cò bay thẳng cánh Người Vĩnh Long thẳng tánh, thật thà
Ca dao Việt Nam thường ca ngợi người phụ nữ với vẻ đẹp dịu dàng, trong sáng trong từng lời ăn, tiếng nói Và, người con gái Vĩnh Long cũng như thế:
Vĩnh Long gái đẹp thật thà Nói năng nhỏ nhẹ, mặn mà có duyên
Niềm tự hào của Vĩnh Long không chỉ dừng lại ở những con người bình dị, mà còn có những bậc nhân tài như: Bùi Hữu Nghĩa, Phan Thanh Giản… Nhân dân tôn kính ví họ như rồng vàng bởi vì họ là những người tài cao học rộng, yêu quê hương đất nước, dùng bút lông thay gươm đao chống Pháp
Vĩnh Long có cặp rồng vàng Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Công Thần
Chùa chiền, đình miếu cũng là những công trình lịch sử được nhắc đến nhiều trong ca dao Vĩnh Long Nổi tiếng có Văn Thánh Miếu, Văn Xương Các hay Đình Khao, chùa Phước Hậu, miếu Ông Điều Bát,…
Đình Khao ơi hỡi Đình Khao
Trang 24Nhớ em đứt ruột, tính sao bây giờ
Bao giờ cạn rạch Thầy Cai Nát chùa Phước Hậu em mới sai lời nguyền
Lịch thay địa phận Trà Ôn Miếu Ông Điều Bát lưu tồn đến nay…
Ca dao Vĩnh Long còn thể hiện tình yêu quê hương đất nước qua việc ca ngợi
và tự hào khi nhắc đến tên vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc:
Cụ Hồ thật rất vinh quang
Lo cho đất nước vinh quang muôn đời…
Không ít câu ca dao miêu tả lòng căm thù bọn Nhật – Pháp đã vơ vét của cải
của dân tộc, hay bọn đế quốc Mỹ câu kết cùng Ngô Đình Diệm giày xéo quê hương
Sự căm thù đó phát xuất từ những uất ức mà nhân dân phải chịu, đẩy lên thành nỗi căm phẫn tột độ:
Gió đẩy đưa giọt mưa uốn éo Mỹ- Diệm bạo tàn giày xéo quê hương
Đất này đất tổ đất tiên, Đất này chồng vợ bỏ tiền ra mua Bây giờ Nhật, Pháp kéo hùa Chiếm trồng đay lạc, ức chưa hở trời?
Và tất yếu, sự căm phẫn sẽ hình thành nên tinh thần đấu tranh bảo vệ quê hương, dân tộc Trong lúc nơi nơi như Sài Gòn còn mơ màng danh lợi thì Vĩnh Long đã tìm cách đấu tranh:
Chợ Sài Gòn còn đương buôn bán Chợ Vĩnh Long lập quán cầu hiền
Trải qua bao nhiêu năm, từ thời chúa Nguyễn vào Nam mở mang bờ cõi, năm tháng đấu tranh cho đến giai đoạn độc lập, tình yêu của nhân dân không ngừng được viết tiếp:
Bây giờ sự thật như mơ Vĩnh Long từng phút từng giờ đổi thay
Trang 25Họ viết về sự đổi thay từng phút, từng giờ của vùng đất Vĩnh Long như một sự
tự hào, hay đó cũng chính là ước mơ, niềm tin vào một ngày mai giàu đẹp
b Ca dao về tình yêu lao động sản xuất
Lao động sản xuất là hoạt động không thể thiếu đối với con người, nhằm tạo ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu vật chất trong đời sống con người.C ác hình thức lao động sản xuất ở Vĩnh Long do quy định của điều kiện địa lý, thổ nhưỡng… nên
đã hình thành nên những nét đặc trưng như nông nghiệp lúa nước, trồng cây ăn quả… Những nét đặc trưng ấy luôn gắn liền với đồng ruộng, vườn tược, cái cày, con trâu, gắn liền với đức tính chịu thương chịu khó của người nông dân
Chính nhờ sự chịu thương, chịu khó, cần cù của mỗi con người nơi đây đã làm tiêu tan đi những mệt nhọc trong lao động, mà đối với họ, đó còn là cả niềm say mê,
là tình yêu thấm sâu vào mỗi con người, gắn chặt cuộc sống với lao động sản xuất Hoạt động lao động sản xuất của nhân dân xưa chủ yếu xoay quanh các hoạt động nông nghiệp Bên cạnh những cánh đồng lúa bao la, bát ngát góp phần vào vựa lúa lớn của cả nước, Tây Nam Bộ hay Vĩnh Long nói riêng còn là vựa nông sản lớn với đủ giống loài:
Rau thơm, rau húng, rau mùi Thì là, cải cúc, nhúc mùi hành hoa
Mồng tơi, mướp đắng, ớt, cà
Bí đao, đậu ván, vốn nhà trồng nên
Ca dao về tình yêu lao động sản xuất đề cập đến kinh nghiệm của nhân dân từ thuở xa xưa, đó là kinh nghiệm gieo trồng, đánh bắt dựa vào mùa vụ, thời tiết… Chẳng hạn như:
Mùng chín tháng chín có mưa Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn
Mùng chín tháng chín không mưa Thì con bán cả cày bừa đi buôn
Hay:
Trời đà lác đác mưa sa
Em ơi nhổ mạ đem ra cấy đồng Nhổ xong đem tẻ ra trồng
Trang 26Cấy thì cắm xuống lún chừng gốc cây
Ngoài kinh nghiệm về mùa vụ, thời tiết trong sản xuất, nhân dân còn có những kinh nghiệm đúc kết từ lao động hàng ngày Từ việc thả mồi câu cá phải dựa vào nước trong hay nước đục:
Nước đục cá chẳng ăn mồi Đừng câu mà mệt đừng ngồi mà trưa
Hoạt động lao động, sản xuất còn đề cập đến những khó khăn trong cuộc sống mưu sinh, đặc biệt là việc buôn bán:
Chèo ghe đi bán cá dồ Nước chảy ồ ồ chẳng thấy ai mua
Do hệ thống kênh rạch của Vĩnh Long thuộc loại dày đặc bật nhất đồng bằng sông Cửu Long nên hoạt động buôn bán từ thuở xa xưa thường diễn ra trên các chợ nổi, bằng ghe chèo chứ không tân tiến như bây giờ Vì vậy, hoạt động buôn bán rất nguy hiểm, nhưng dù nguy hiểm thế nào thì người dân vẫn cố gắng để lo gánh nặng
cơm, áo, gạo, tiền cho cả gia đình
Thương thay hình ảnh người dân chèo ghe đi bán buôn mà chẳng ai mua Thế nhưng, bên cạnh những khó khăn, hiểm nguy đó vẫn là tinh thần lạc quan của con người, họ vẫn thả chài, thả lưới, không màn tới cá, tôm được gì:
Chiều chiều ông Lữ đi đăng
Cá tôm không có, nhăn răng cười hoài
Bên cạnh việc đề cao những con người chịu thương, chịu khó, ca dao còn phê phán những người biếng nhát, sợ phải lao động mà viện đủ cớ bề:
Chèo ghe sợ sấu cắn chân Xuống bưng sợ vắt, vô rừng sợ ma
Nhưng dù sao đi nữa, trong suy nghĩ của mỗi người dân luôn là niềm hân hoan, tinh thần lạc quan trong lao động hàng ngày Họ luôn mong muốn cho mùa màng tốt tươi, ruộng vườn được xanh tốt, mà ca dao đã phản ánh lên điều đó là:
Mưa về cho lúa trổ bông Chanh dây oằn trái, cam sành đơm hoa
Trang 27Như vậy, qua những phân tích trên đã cho thấy tình yêu của nhân dân đối với lao động sản xuất được truyền tải khéo léo qua những vần ca dao với đủ sắc thái và khía cạnh của hoạt động sản xuất và lao động hàng ngày
2.1.2 Tình yêu nam nữ
Tình yêu là đề tài muôn thuở của văn chương và trong ca dao Vĩnh Long cũng vậy, tình yêu nam nữ nó hiện lên thật sinh động, đầy màu sắc và những điều đó đã làm nên một diện mạo ca dao có nội dung phong phú, mới mẻ, chiếm số lượng lớn nhất so với những đề tài khác
Buổi gặp gỡ đầu tiên đã khiến cho biết bao đôi trai gái nảy sinh tình cảm Lời nói yêu thương đầu tiên của trai gái miệt vườn luôn xuất phát từ trái tim chân thành, đầy khát khao hạnh phúc lứa đôi:
Chàng về thiếp cũng xin theo Cầu trời cho nắng, đừng mưa trơn đường
Sông Cửu Long con rồng chín khúc Tính con người lúc đục lúc trong Thương em, thương gái má hồng Thương người nề nếp, thủy chung một lòng
Hay tình yêu dành cho người con gái Miền Tây quyện với tình yêu xứ sở:
Miền Tây gạo trắng nước trong Gặp em dưới đó lòng không muốn về
Đôi má hồng và cái nết na dịu dàng của cô gái hay cái “gạo trắng nước trong” cùng vùng đất đã khiến chàng trai buông lời hứa hẹn
Anh về nói má xuống thăm Cau trầu đủ bộ rước mình về dinh
Trang 28Kèm theo đó là lời thế sắt son “như đinh đóng cột”:
Thương nhau chẳng quản xa gần Cầu không tay vịn cũng lần mà đi
Và rồi người con gái cũng cảm động trước lòng thành của người con trai hết dạ yêu mình nhưng đâu đó là là một chút lo âu, bối rối không biết ý mẹ cha ra sao nên
đã khuyên chàng trai để “thủng thẳng em ừ”, vì phận làm con đâu được quyền quyết định chuyện hôn nhân cả đời mình:
Ngó lên chữ ử, ngó xuống chữ ư Thương em thủng thẳng em ừ Chứ đừng thương vội, mẫu từ em la
Do truyền thống hôn nhân người Việt từ xưa đến nay bao giờ cũng là “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Thế nên dù đã rung động trước lòng yêu tha thiết của chàng trai cô gái cũng chưa dám buông lời hẹn ước, vì một nỗi:
Bông ngâu rụng xuống bụi ngâu
Em còn phụ mẫu dám đâu cãi lời
Hay:
Phụ mẫu sở sanh
Để cho phụ mẫu định
Em đâu dám tư tình Cãi lịnh mẹ cha
Và thời gian đợi “lịnh mẹ cha” là cả những chuỗi ngày phập phồng lo âu trong
xa cách nhớ nhung Đôi trai gái chỉ biết chờ đợi và gửi nỗi nhớ thương nhau vào những câu hò sông nước Bâng khuâng lắng nghe từng điệu hò hát của trai gái đối đáp với nhau mà thấu nỗi ưu sầu:
Ai về Giồng Dứa qua truông Gió đưa bông sậy dạ buồn nhớ ai!
Để cô gái hát đối lại với nỗi thất vọng não nùng:
Nước ngã ba chảy ra Giồng Dứa Nghe giọng anh hò em ứa giọt châu
Trang 29Từ những ấn tượng buổi ban đầu gặp gỡ, họ trao duyên cho nhau qua ánh mắt nhìn, qua từng điệu dân ca để rồi từ đó nảy nở những tình yêu trong sáng, chân
thành
Để khẳng định tình yêu chân thành, chung thủy của mình thì kỷ vật kèm theo những lời hẹn ước là điều không thể thiếu trong tình yêu đôi lứa Có thể là những món kỉ vật bình thường không sang trọng, cầu kỳ nhưng nó vẫn chứa đựng được tình yêu chân thật của chàng trai dành cho cô gái hay ngược lại như cái áo, chiếc khăn,…
Anh muốn tặng em khăn trắng dán chữ tình Mai sau anh trở lại đặng nhìn người xưa
Ca dao Vĩnh Long ngợi ca tình yêu trong sáng và mãnh liệt Tình yêu là động lực thôi thúc những chàng trai cô gái yêu nhau phải cùng nhau vượt qua mọi rào cản
để đến được với nhau:
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ Đèn Mỹ Tho ngọn đỏ ngọn lu Anh về học lấy chữ nhu Chín trăng em cũng đợi Mười thu em cũng chờ
Do ảnh hưởng của lễ giáo, người con gái phải tuân thủ tam tòng tứ đức, họ không thể chủ động trong việc tình cảm nhưng đôi khi họ lại vô cùng mạnh mẽ, kiên quyết tìm đến hạnh phúc và ước mơ của đời mình dù cho có đau khổ để khẳng định một tấm lòng sắc son, hẹn ước khi xưa Có không ít những câu ca dao nơi đây
đã nói lên điều đó:
Con chim nho nhỏ
Bộ lông màu đỏ Cái mỏ màu vàng Hỡi anh bạn làng Chớ có mà mê con Bảy mà phụ rẫy con Ba Dao phay năm bảy ngọn em lãnh trọn vào mình Chết thời em chịu chết, chứ xa nghĩa tình em hổng xa
Trang 30Hay về phía chàng trai cũng vậy, cái chết đôi khi trong tình yêu được họ xem nhẹ như lông hồng, khi đường cùng họ buộc phải chia xa:
Anh thương em dầu cổ mang gông, cẳng lại đeo kiềng Chết thời chịu chết, buông bạn tình anh không buông
Khi đã yêu nhau, những con người chân chất ấy luôn sẵn sàng hi sinh vì nhau,
dù cho có xảy ra đau khổ họ vẫn quyết tìm nhau, quyết không xa rời Câu ca dao dưới đây vừa thể hiện lòng quyết tâm son sắt, vừa như một lời thề của đôi lứa:
Chừng nào trống mõ xa đình Hạc xa hương án ta mình mới xa
Hay:
Chừng nào chim nọ lìa nhành
Cá kia lìa biển anh mới đành lìa em
Tuy nhiên, việc hạnh phúc đâu phải bao giờ cũng dành hết cho những đôi lứa yêu nhau như cái diễm phúc mà họ hằng mong ước Có thứ tình yêu chóng vánh, mau tan như bọt bèo mây nước Có thể do nhiều lí do, cha mẹ không ưng hay nhà nghèo xơ xác:
Tiền tài như phấn thổ Nhơn nghĩa tợ thiên kim Bởi đứt dây nên gỗ mới chìm Tại em ở bạc, anh phải tìm nơi xa!
Đa số hoàn cảnh chia xa được nhắc đến trong những câu ca dao là người con gái sang ngang bỏ lại chàng trai buồn thiu thỉu một mình với nỗi nhớ nhung, tự trách mình nhưng đâu đó người con gái cũng đau khổ không kém:
Đi ngang cầu sắt hỏi gắt chung tình Bướm xa bông tại nhị, hai đứa mình xa cách tại ai?
Trang 31Lương duyên gì nữa mà mong
Ai về cưới vợ cho xong cuộc đời
Nhưng nói là nói vậy chứ tình yêu thì khó mà phai mờ được, bao kỉ niệm vui buồn, bao ký ức khó phai và người ở lại luôn luôn một mối tình chờ:
Cá sầu ai cá chẳng quạt đuôi Như lan sầu huệ như tui sầu mình
Tử sanh sanh tử tận tình Dầu ai ngăn đón, tôi cứ mình tôi thương
Rồi liên tưởng, rồi nhớ thương hình bóng người xưa, ước mơ hóa thành những
sự vật rất đỗi bình thường như sông, như rạch… để được bên nhau bền chặt mãi mãi:
Sông Mang Thít có dòng nước xoáy Rạch Bà Soi nước chảy vàng cung Người đi mang nỗi nhớ nhung Sông này vẫn giữ thủy chung với người
Có thể nói, yêu nhau mà không đến được với nhau cũng là cảnh khổ Nỗi nhớ nhung, da diết về mối tình đầu dang dở còn hoài trong tâm trí.Tuy nhiên, trong ca dao của vùng đất này cũng có không ít những câu nói đến hạnh phúc vẹn tròn của nam nữ khi thuyền tình được cập bến hôn nhân
Hôn nhân được xem là chặng đường cuối cùng của một tình yêu vĩnh cửu Đôi lứa yêu nhau cùng xây dựng hạnh phúc gia đình trên nền tảng tự nguyện, yêu thương chung thủy và không vụ lợi cá nhân hay có lý do nào khác Tuy nhiên, trong hôn nhân có nhiều vấn đề nảy sinh, yêu là một chuyện nhưng khi xây dựng gia đình thì vấn đề cơm áo gạo tiền, vẹn đạo nghĩa vợ chồng cũng là điều không kém khó khăn
Yêu nhau rồi đến hôn nhân và tất nhiên ngày cưới của họ là ngày hạnh phúc nhất Ca dao Vĩnh Long cũng đã phản ảnh sự kiện trọng đại ấy bằng những hình ảnh đặc trưng quen thuộc, có thể nói đây cũng là văn hóa hôn nhân của cả một vùng châu thổ sông Mê Kông mang nhiều sắc thái văn hóa sông nước miệt vườn đậm đà Người nông dân chân lấm tay bùn cũng lo cho ngày cưới của họ được trọn vẹn, dù
Trang 32chỉ là nải chuối, đôi vịt hay “áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê” – thiếu thốn đủ bề nhưng vẫn mang dáng vẻ trọng đại Lời hẹn ước được thổ lộ như sau:
Người ta giàu, người ta đầu heo nong thịt Hai đứa mình nghèo thời cặp vịt với đôi bông Chớ anh đừng biểu theo không người ta cười
Và được cha mẹ chấp thuận dựng vợ gả chồng là điều vui gấp bội trong tình yêu đôi lứa hạnh phúc ấy:
Rượu lưu ly chưn quì tay rót Cha mẹ uống rồi dời gót theoanh
Và đối với những người làm cha làm mẹ, ngày con thành đôi cũng là ngày vui nhất của đời mình:
Ngày vui trọng đại nhất là Thành gia lập thất hiệp hòa duyên con
Nhận sính lễ của người ta là đã thuộc về người ta rồi, cô dâu theo chồng về làm tròn bổn phận người vợ với nỗi nhớ mong về một gia đình hạnh phúc, về một mái
ấm thuận hòa khi vợ chồng đồng lòng cùng nhau sẻ chia gian khó:
Kiềng vàng đeo cổ cô dâu Chồng đâu vợ đó về lâu mặn nồng
Vợ chồng thuận thảo một lòng Biển đông tát cạn, non bồng cũng lên Trăm năm hạnh phúc vững bền Giàu sang con cháu lại nên cửa nhà
Dầu cho trên quãng đường đời còn gặp nhiều trở ngại chông gai nhưng đôi vợ chồng son không rơi vào bế tắc mà luôn luôn động viên nhau tìm cách vượt qua bởi
họ đã cùng nhau nguyện một lòng son sắt:
Thương nhau bất luận giàu nghèo
Dù cho lên ải xuống đèo cũng cam
2.1.3 Ca dao tình cảm gia đình
Tình cảm gia đình là đề tài cũng không kém phần quan trọng trong ca dao tại tỉnh Vĩnh Long Song song với tình yêu đôi lứa, những tình cảm đan xen giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh chị em hay mẹ chồng – nàng dâu…cũng đều được khai
Trang 33thác một cách tổng thể, điều này cũng đã góp phần tạo nên một diện mạo cho ca dao tại đây
Đời sống vợ chồng êm ấm, thuận hòa cùng nhau sẻ chia mọi khó khăn, ưu phiền trong cuộc sống… chiếm số lượng lớn trong nhóm ca dao viết về đề tài này ở Vĩnh Long
Hình ảnh vợ chồng kề vai sát cánh cùng nhau trong lao động sản xuất hiện lên trong ca dao thật mộc mạc, giản dị nhưng cũng vô cùng trữ tình như một bức tranh đẹp và bình yên, trong bức tranh ấy có đồng lúa chín vàng, có chồng, có vợ:
Ơn trời cho lúa trổ vàng Cho anh đi gặt cho nàng đem cơm
Tình cảm vợ chồng thuận hòa bao giờ cũng đáng trân trọng, vượt qua nghịch cảnh, họ hạnh phúc với những điều bình thường dẫu đôi khi còn nghèo khổ vất vả
lo lắng từng cái ăn, cái mặc:
Lấy chồng giàu đời em thong thả Lấy chồng nghèo vất vả gian nan Sớm mai lên núi đốt than Chiều về xuống biển đào hang bắt còng
Người vợ trong câu ca dao dưới đây không may mắn lấy được người chồng giàu sang như người ta nhưng tình yêu của cô dành cho người chồng mình cũng đã được thể hiện rất mộc mạc, đơn sơ nhưng đầy ắp yêu thương trong bữa cơm chỉ có
“hủ dưa chua” do chính tay cô chuẩn bị cho chồng:
Cô Năm tay xách nách mang Hỏi đi đâu đó vội vàng hỡi cô!
Năm cười Năm nói thiệt là
Đi chợ mua mắm dìa nhà mần dưa Mần dưa ba bữa nó chua
Bỏ vô trong hủ đưa cơm cho chồng
Trong thời kì kháng chiến gian khổ, người đàn ông lên đường vì lý tưởng bỏ lại
mẹ già và người vợ chốn phòng không, đó cũng là một vấn đề được phản ánh trong
Trang 34ca dao dân ca Vĩnh Long, nhằm khẳng định tấm lòng sắt son của người phụ nữ đối với chồng dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào:
Anh đi em ở lại nhà Vườn rau em bón mẹ già em trông
Hoặc:
Phải chi em vác nổi cây súng đồng
Em ra đi lính thế cho chồng đôi năm
Bông điên điển vàng Bông bằng lăng tím Tìm chồng tìm ở đâu xa Chọn anh du kích xã nhà trao duyên
Hay anh bộ đội kia đi đâu cũng nhớ về quê cũ, cũng nhớ về người mẹ già, nhớ đình, nhớ cả liếp cải, nhớ cây cầu tre và hơn hết là nhớ người vợ - người mình thương yêu:
Đi xa nhớ mẹ nhớ đình Nhớ cái giếng nhỏ nhớ tình của ai Nhớ liếp cải, nhờ vồng khoai Nhớ cây cầu tre lắt lẻo ngày ngày lại qua
Tình cảm vợ chồng thể hiện qua từng cử chỉ, hành động lời nói nhưng quan trọng hơn hết là những yêu thương sâu nặng dành cho nhau, có người là vợ hiền, có người là chồng tốt Thật đáng quý khi những điều nhỏ nhoi nhất lại là hạnh phúc nhất, giấc ngủ đầu nôi, mái ấm yêu thương trọn vẹn
Đôi khi vợ chồng có những mâu thuẫn, hiểu lầm gây gỗ với nhau, nhưng vì cái tình, họ bỏ qua tất cả để vun đắp cho mái ấm gia đình Và sau mỗi lần hiểu lầm nhau, họ nhận ra chính mình và người bạn đời, giận thì giận mà thương là thương:
Trang 35Có thương thì mới có ghen Không thương ai ở bạc đen mặc tình
Tình cảm vợ chồng của người dân quê vùng đất này là thế, trong sáng giản dị nhưng đầy ấm áp, nồng nàn Ca dao Vĩnh Long càng thêm phong phú về nội dung bởi sự góp mặt của những tâm trạng, cảm xúc và tình yêu chung thủy sắt son của vợ chồng:
Vợ chồng là nghĩa tào khang Xuống sông bắt ốc lên ngàn hái rau
Và trong hôn nhân gia đình, tình cảm hoà thuận là điều đáng quý nhất, dù có gian lao khổ cực hay gặp hoàn cảnh như thế nào họ cũng đều vượt qua để xây đắp, vun vén cho mái ấm yêu thương thêm trọn vẹn dù đó là mưa gió tơi bời đi chăng nữa thì họ vẫn một lòng không phai
Mưa rơi gió tạt vô thành Đôi ta chồng vợ, ai dỗ dành đừng xiêu
b Tình cảm giữa cha mẹ với con cái và các anh chị em trong nhà
Trong mối quan hệ gia đình, con cái luôn vâng lời cha mẹ hay con hiếu thảo sớm hôm phụng dưỡng đúng với đạo làm con Nội dung ca dao Vĩnh Long cũng không nằm khỏi những điều ấy mà còn góp phần ca ngợi công ơn của hai đấng sinh thành:
Công cha cao lớn bằng non
Âm thầm lo lắng cho con tháng ngày
Mồ hôi vất vả tuôn rơi Nuôi đàn con dại quản gì nắng mưa
Không chỉ lo cho con đủ cái ăn, cái mặc mà cha mẹ còn dạy cho con những đức tính đáng quý để làm người lương thiện Bởi vì:
Thuyền không tay lái thuyền quay Con không cha mẹ ai bày con nên
Cha mẹ luôn dạy cho chúng ta những điều hay lẽ phải trong cuộc sống này, cho chúng ta thông suốt và có trách nhiệm với đời Nhưng vẫn còn đó là những người
con phạm phải lỗi lầm, sai trái để hai đấng sinh thành phải quặn đau, thắt ruột:
Con mê mờ bất nhân tàn bạo
Trang 36Cha mẹ thương tan nát cõi lòng
Trên giàn mướp nhỏ còn non Cắt mướp đứt ruột bỏ con sao đành
Nhưng ở đời là thế, cha mẹ thương con, con thương cha mẹ, lo cho cha mẹ khi bóng xế chiều tà là lẽ đương nhiên:
Ngó lên trời thấy cặp cu đương đá Ngó ra ngoài biển thấy cặp cá đương đua
Anh về lập miễu thờ vua Lập trang thờ mẹ lập chùa thờ cha
Hay:
Khôn ngoan nhờ phúc ấm cha ông Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ Đạo làm con chớ hững hờ Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm
Được con cái chăm sóc sớm hôm là điều vui nhất khi cha mẹ ở tuổi xế chiều Những khi nghĩ đến cảnh cha mẹ già đang gần đất xa trời là lòng con cái lại đau đáu xót thương:
Thương mẹ cha như kim châm vào dạ Nghĩ tới chừng nào lụy hạ tuôn rơi Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi Giã gạo cho trắng mà nuôi song đường
Đặc biệt là người con gái khi lấy chồng xa với nỗi lo canh cánh lúc cha yếu mẹ già, không ai quản dưỡng thuốc thang, bầu bạn Nói đến đây mỗi người trong chúng
ta lại đau đáu một nỗi nhớ thương:
Má ở đừng gả con xa
Trang 37Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu
Hay:
Giờ này mẹ đã ngủ chưa?
Còn con nhớ mẹ nên chưa vào mùng
Mỗi lần như thế họ lại nhớ đến những điều răn dạy của song thân trước khi về bên nhà chồng là trao trọn cả cuộc đời cho người ta, cố gắng “học buôn học bán” để phụ giúp gia đình chớ đừng học cái thói đanh đá, chua ngoa để người ta ghét bỏ:
Con ơi mẹ bảo con này Học buôn học bán cho tày người ta Con đừng học thói chua ngoa
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười
Con gái lấy chồng là phải theo chồng, họ ít có cơ hội được về thăm lại cha mẹ già Đi xa, đến nỗi không nhớ đường về nhà đến khi cha mẹ sức yếu tuổi già mất đi mới được về lại thăm Lấy chồng xa xứ, đêm khuya vượn hú biết nhà má đâu?
Ngoài tình cảm cha mẹ còn có tình cảm giữa anh chị em trong gia đình, hòa thuận ấm êm Lấy nhường nhịn, thông cảm làm nền tảng để ứng xử trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày:
Anh em máu mủ ruột rà
Nỡ nào chia của rẽ nhà làm chi
Anh chị em trong gia đình phải luôn thuận hòa vui vẻ vì tình nghĩa máu mủ ruột thịt, họ thăm hỏi nhau thường xuyên, giúp đỡ nhau nhiều trong vật chất lẫn tinh thần Đạo lý ấy đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Nam Bộ nói chung trên nhiều phương diện văn hóa, lịch sử lâu đời
Mối quan hệ giữa mẹ chồng, nàng dâu cũng được nhắc đến nhiều trong ca dao ở địa bàn nghiên cứu Đôi khi những mâu thuẫn giúp mẹ chồng, nàng dâu hiểu nhau, thương nhau như tình mẹ con ruột thịt Vì thương chàng trai người con gái chấp nhận chịu thương chịu khó, phụng dưỡng mẹ già của chàng như:
Mẹ già anh ở nơi nao
Để em tìm vào hầu hạ thay anh
Trang 38“Làm dâu khó lắm người ơi!” đâu đó vẫn thường nghe như vậy Vất vả, khó khăn lo cho chồng cho con, lo cả cho cha mẹ chồng Trách nhiệm ấy không phải bất
cứ cô gái nào cũng có thể làm được:
Con về làm dâu ba với má Cực như giá nhận dưa Thức khuya dậy sớm đi thưa về trình
Một phần vì sự khắt khe của mẹ chồng, một nỗi vì công việc nhà với nàng dâu mới chưa thạo dẫn đến sự bất đồng quan điểm Đôi khi họ buông lời nặng nhẹ nhau,
để rồi chịu sự đè nén quá lâu, cô con dâu trở nên đanh đá:
Mẹ anh nghiệt lắm anh ơi!
Biết là có được ở đời với nhau?
Hay là vào trước ra sau Cho cực lòng thiếp, cho đau lòng chàng
Hay:
Cô kia đội nón đi đâu?
Tôi là phận gái làm dâu mới về
Mẹ chồng ác nghiệt gớm ghê Tôi ở chẳng được, tôi về nhà tôi
Tuy nhiên, không phải mẹ chồng nàng dâu nào cũng gặp nhiều trở ngại như thế! Nếu hiểu nhau, họ trở nên thân thiết và mái ấm gia đình ấy càng trở nên mỹ mãn hơn:
Mẹ chồng ở với nàng dâu Thương qua thương lại trước sau thiệt gì?
2.1.4 Ca dao về chủ đề khác
Ngoài những chủ đề lớn ra, ca dao Vĩnh Long còn xoay quanh những chủ đề khác trong cuộc sống thường nhật Đó là những triết lý của cha ông về cách sống ở đời, cách nhìn người nhìn đời, cách đối nhân xử thế… hay đơn giản đó chỉ là những lúc nông nhàn hoặc thì giờ rảnh rỗi, mọi người ngồi bên nhau hát hò đờn ca tài tử cùng giải bày tâm sự hoặc tận hưởng thú vui của đồng quê:
Mùa gặt chặn bắt cá hầm Nướng trui cá lóc mà ăn đã thèm
Trang 39Hay:
Chỉ cần cá lóc, cá trê Thịt chuột, thịt rắn, nhậu “mê” hơn nhiều
Và tình cảm bạn bè không chỉ có trên chén rượu mà còn có ở tình thâm giao Khi hoạn nạn luôn thấy mặt nhau, đó chính là phẩm chất đáng quý của những người nông dân chân lắm tay bùn nhưng đầy tình nghĩa
Bạn bè là nghĩa tương tri Sao cho sau trước một bề mới yên
Ca dao chủ đề này phần lớn chứa đựng những triết lý của cha ông về những chuẩn mực trong cuộc sống, các quan niệm nhân sinh về mối quan hệ của người và người trong xã hội Đồng thời còn nêu lên rất nhiều những kinh nghiệm đúc kết được của người đi trước về cách nhìn người, đánh giá con người, dẫu chỉ là qua dáng vẻ bên ngoài:
Chim khôn thì khôn cả lông Khôn cả cái lồng, người xách cũng khôn
Lọng che sương, dầu sờn cũng lọng Cái ô bịt vàng dù trọng cũng ô
Những triết lý về đạo đức, lối sống trong ca dao chủ đề này phần nhiều thể hiện
sự từng trải, “sống lâu” của cha ông ta ngày trước, từng lời khuyên răn con cháu hay những bài học giản dị mà sâu sắc hiện lên một cách nhẹ nhàng qua giai điệu ngọt ngào của ca dao, giáo dục nhiều điều về lối sống
Hơn ai hết, từ thời xa xưa, người nông dân đã ý thức được sức mạnh của đồng tiền:
Có tiền thì vạn người hầu
Có bếp, có dầu thì vạn người yêu
Nhưng không vì thế mà họ coi trọng sự giàu sang phú quý và làm mọi cách, mọi thủ đoạn để có được điều đó, mà cái ông cha ta mong muốn nhất vẫn là một cuộc sống yên bình và thanh thản dẫu có trong cảnh cơ hàn nắng mưa đi chăng nữa:
Ác gian thì cũng một đời Thà nghèo trong sạch thảnh thơi linh hồn
Trang 40Và dù có không may được sinh ra trong thân phận của một con người nghèo khổ, quanh năm vất vả lăn lộn ruộng đồng để kiếm kế sinh nhai thì đâu đó trong tinh thần của cha ông ngày trước vẫn hiện diện niềm tự hào về bản thân mình “Nghèo nhưng không hèn” là lời động viên của ca dao nhằm tiếp thêm cho con người niềm tin về giá trị bản thân, tăng thêm cho họ động lực để thay đổi cuộc đời cơ hàn nắng mưa của mình:
Ai ơi chớ nghĩ mình hèn Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong
2.2 Những đặc điểm chủ yếu về nghệ thuật của ca dao ở địa bàn nghiên cứu
2.2.1 Ngôn ngữ, cách thức tổ chức ngôn ngữ
Có thể nói ngôn ngữ trong ca dao Việt Nam nói chung và ca dao Nam Bộ nói riêng đã kế thừa những tinh hoa về đặc điểm nghệ thuật của Tiếng Việt một cách tuyệt vời nhất Nó có cả những đặc điểm ngôn ngữ văn học mà đặc biệt là ngôn ngữ thơ trữ tình, kết hợp với chất liệu ngôn ngữ chung - ngôn ngữ hội thoại và ngôn ngữ truyền miệng bằng thơ Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy được ngôn ngữ trong ca dao ở địa bàn nghiên cứu là sự kết hợp giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ hội thoại (phương ngữ, khẩu ngữ, hô ngữ), sự kết hợp nhuần nhuyễn này đã tạo cho ca dao sự gần gũi, thân quen như lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân,
chính vì vậy mà ca dao phổ biến rộng rãi:
Mù u bông trắng, lá quắn nhị quỳnh Thấy em đi cấy lấm sình anh thương
Khẩu ngữ là thứ ngôn ngữ được người dân sử dụng trong giao tiếp, tác giả dân gian đã tự sáng tạo và đem vào trong ca dao, khiến chúng trở nên sinh động, hấp dẫn, mang vẻ đẹp mộc mạc và chất phác như tính cách giản đơn của người dân Nam Bộ:
Tui muốn hun dẫu mình có la làng Thì tui la xóm hai đàng la chung Tui hun mình dẫu có làm hung Nhơn cùng tắc biến tui chun xuống sàn