1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress

148 30 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những tiền đề hết sức cơ bản đó, đề tài nghiên cứu Đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress có ý nghĩa vô cùng cấp thiết không chỉ về mặt lý luận mà còn mang

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN TÂM LÍ HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2014

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LIỆU PHÁP NGHỆ THUẬT

TRÊN NGƯỜI BỊ STRESS

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Phan Tường Yên, Lớp Tâm lí học K03

Giảng viên bộ môn Tâm lí học ĐHKHXH&NV – ĐHQG TP.HCM

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3/2014

Trang 2

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Liệu pháp nghệ thuật là một liệu pháp tương đối mới mẻ trong lĩnh vực sức khoẻ tâm thần Tại Việt Nam, mặc dù ngành tham vấn-trị liệu tâm lý đã có những bước tiến nhất định, lý thuyết của những liệu pháp như phân tâm, nhận thức-hành vi, nhân văn, hiện sinh… đã trở nên quen thuộc và phổ biến nhưng cụm từ ―liệu pháp nghệ thuật‖ vẫn còn khá mới lạ Đến nay, vẫn chưa có công trình hoàn thiện nào nghiên cứu tổng hợp liệu pháp nghệ thuật như một phương thức trị liệu cùng các ứng dụng thực tiễn của nó

Công trình ―Đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress‖

được thực hiện từ 9/2013 đến tháng 3/2014 với mục tiêu tìm hiểu hướng ứng dụng thực tiễn của liệu pháp cho chuyên ngành tâm lý trị liệu qua việc đánh giá tác động của của liệu pháp trên người bị stress Thông qua một số phương pháp nghiên cứu, đan xen giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu trường hợp, đề tài làm rõ các mối tương quan để bước đầu đưa ra nhận định khái quát về tác động thực tiễn của liệu pháp nghệ thuật đối với dấu hiệu cảnh báo stress cũng như ảnh hưởng tiêu cực của stress ở cá nhân

Trang 3

QUY ƢỚC VIẾT TẮT

TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài: 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài: 6

4 Phương pháp nghiên cứu: 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài: 8

6 Đóng góp mới của đề tài: 8

7 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn: 8

8 Kết cấu của đề tài: 9

CHƯƠNG I 11

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11

1.1.1 Các nghiên cứu quốc tế 11

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 15

1.2 Cơ sở lý luận của liệu pháp nghệ thuật 18

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của liệu pháp nghệ thuật 18

1.2.2 Các đối tượng mà liệu pháp nghệ thuật hướng đến 23

1.2.3 Nghệ thuật như một “liệu pháp” tự thân 24

1.2.3.1 Từ góc nhìn lịch sử 24

1.2.3.2 Đến các học thuyết về nghệ thuật và con người 25

1.2.4 Các lý thuyết và cách thức tiếp cận của liệu pháp nghệ thuật: 30

1.2.4.1 Hướng tiếp cận tâm động học 30

1.2.4.2 Hướng tiếp cận nhân văn 31

1.2.4.3 Hướng tiếp cận nhận thức – hành vi 32

1.2.4.4 Hướng tiếp cận tập trung vào giải pháp 34

1.2.4.5 Các hướng tiếp cận khác 35

1.2.5 Liệu pháp nghệ thuật trong trị liệu lâm sàng: 36

1.2.5.1 Tính linh động về ngôn ngữ 36

1.2.5.2 Ý nghĩa của biểu tượng trung gian 37

Trang 5

1.2.5.3 Đánh giá/lượng giá dựa trên nghệ thuật 38

1.2.5.4 Một số kỹ thuật tiêu biểu của liệu pháp nghệ thuật 43

1.3 Tổng quan về stress 46

1.3.1 Dấu hiệu cảnh báo và triệu chứng của stress 46

1.3.2.2 Stress cấp từng đợt (Episodic Accute stress): 54

1.3.2.3 Stress mãn tính (Chronic stress): 54

1.3.2.4 Cách phân loại khác 55

1.3.3 Nguyên nhân, tác nhân gây stress 56

1.4 Các khái niệm liên quan đến đề tài 59

1.4.1 Khái niệm ―liệu pháp nghệ thuật‖ 59

1.4.2 Khái niệm ―stress‖ 60

CHƯƠNG II 61

2.1 Về mẫu nghiên cứu 61

2.1.1 Tiêu chí chọn mẫu 61

2.1.2 Qui trình sàng lọc mẫu 61

2.2 Phương pháp tiến hành 62

2.2.1 Công cụ đo lường stress 62

2.2.2 Các kĩ thuật liệu pháp nghệ thuật được sử dụng 64

2.2.3 Qui trình thực hiện nghiên cứu 65

2.3 Giả thuyết nghiên cứu 66

CHƯƠNG III 67

3.1 Sơ lược khách thể nghiên cứu 67

3.1.1 Nhóm thực nghiệm (7 trường hợp): 67

3.1.2 Nhóm đối chứng (6 trường hợp) 70

3.2 Tiến trình can thiệp trên khách thể nghiên cứu 72

3.3.2 Đánh giá tác động theo các biến của công cụ SMQ 95

3.4.2.1 Tác động của liệu pháp nghệ thuật lên 7 dấu hiệu cảnh báo stress: 95

3.3.2.2 Tác động của liệu pháp nghệ thuật lên mức độ stress tổng thể đối với cá nhân 103

Trang 6

3.3.3 Đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên các dấu hiệu quan sát: 107

3.3.3.1 Về nhận thức 107

3.3.3.2 Về cảm xúc 108

3.3.3.3 Về hành vi 109

3.3.4 Tiểu kết: 110

CHƯƠNG IV 112

4.1 Về mặt lý luận 112

4.2 Về mặt thực tiễn 112

4.3 Đối với các nghiên cứu sau: 113

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 18585

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Liệu pháp nghệ thuật đã sớm được sử dụng một cách chuyên nghiệp và rộng rãi tại các quốc gia trên thế giới, nhất là châu Âu và châu Mỹ Ở nhiều nước, liệu pháp nghệ thuật đã tách riêng ra thành một phân nhánh độc lập với Tâm lý học mà người hành nghề được gọi bằng một tên gọi riêng: Art therapist (nhà trị liệu nghệ thuật) Hiệp hội những nhà trị liệu nghệ thuật tại Anh đã được thành lập cách đây hơn 50 năm 1, tại Đức là hơn

30 năm2 còn ở Pháp3 và Úc4 là hơn 25 năm… tất cả đến nay vẫn liên tục được mở rộng, phát triển không ngừng Một số quốc gia châu Á đều đã có những nghiên cứu cũng như

sự phát triển nhất định ở lĩnh vực này Điển hình như tại Đài Loan5 và Hongkong 6 , Hiệp hội những nhà trị liệu nghệ thuật được thành lập hơn 10 năm, ở Hàn Quốc là 9 năm Ngoài ra tác giả Siu Mei Chan7 của Đài Loan cùng cộng sự đã xuất bản tác phẩm Art Therapy in Asia-To the bone or wrapped in silk được giới chuyên môn đánh giá cao

Trong khi đó tại Việt Nam, các cơ sở đào tạo về Tâm lý học chính thống trong nước vẫn chưa có chuyên gia về liệu pháp nghệ thuật và chuyên môn này vẫn còn bị bỏ ngỏ trong chương trình đào tạo Cùng với đó, đến nay vẫn chưa có công trình hoàn thiện nào đặt liệu pháp nghệ thuật làm khách thể nghiên cứu, cũng như thực thi đánh giá tác động của nó lên các trường hợp rối nhiễu tâm lý cụ thể Tỉ lệ áp dụng các phương pháp trị liệu sử dụng lời nói vẫn chiếm đa số Tuy vậy, nhiều nghiên cứu và khảo sát về văn hóa

đã cho thấy người Việt có ―văn hóa âm tính‖ 8

, thụ động và ít biểu lộ cảm xúc cũng như nói lên suy nghĩ thật… Chính vì thế, việc trị liệu sử dụng các liệu pháp ngôn từ này có

1 British Association Art Therapist (BAAT) http://www.baat.org/aboutbaat.html

2 Germany Association of Art Therapy http://www.dgkt.de/frameset.htm

3

French Federation of Art Therapists (FFAT) http://www.ffat-federation.org/

4 Australian and New Zealand Arts Therapy Association(AZABTA) http://anzata.org/aboutanzata/

5 Taiwan Art Therapy Association http://www.arttherapy.org.tw/about_en.php

6

Hong Kong Association of Art Therapists http://hkaat.com/home/

7 Elisabeth Burgoyne (2013), The Art Therapy In Asia _ An Invitation And Seriously Encouragement For Asian Therapist

8 Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam

Trang 8

những hạn chế nhất định, và liệu pháp nghệ thuật có thể được xem là một phương thức khả dĩ để giải quyết vấn đề này

Song song với những điều trên, hơn 5 năm trở lại đây đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng stress ở người Việt Nam Các nghiên cứu này trải rộng ở nhiều độ tuổi và mảng đối tượng: từ trẻ em đến người trưởng thành, từ học sinh - sinh viên các cấp lớp đến người lao động ở các ngành nghề đặc thù Có thể kể đến các công trình như ―Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở Hà Nội‖ của tác giả Vũ Thu Hà 9,đề tài đã đưa ra tỉ lệ học sinh bị stress tương ứng với các mức độ khác nhau và tương quan với cách ứng phó với stress của trẻ; hai tác giả Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành 10

đã nghiên cứu ―Thực trạng stress lo âu và những liên quan đến lo âu ở học sinh cấp 3 trường THPT Phan Bội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận‖, kết quả thống kê thể hiện 38% học sinh được khảo sát có biểu hiện stress lo âu Công trình cũng cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa stress lo âu với giới tính và học lực, giữa stress lo âu với sức khỏe người thân và với những áp lực, kỳ vọng học tập từ gia đình, giữa stress lo âu với những áp lực học tập và áp lực thi cử, giữa stress lo âu với những cạnh tranh trong học tập, với ngoại hình bản thân, với những bệnh lý liên quan đến học tập và với việc không đều đặn tập thể dục thể thao, giữa stress lo âu với việc không có bạn bè thân và với những lo lắng về an ninh nơi ở Cùng nghiên cứu về mảng đối tượng vị thành niên, công trình ―Các tác nhân gây Stress và cách ứng phó với stress của trẻ vị thành niên‖ của tác giả Đỗ Thị Lệ Hằng 11 đã thống kê được 3 nguồn gây stress chính yếu ở trẻ và cho thấy

xu hướng ứng phó thiên về hành động của nhóm đối tượng này khi gặp stress Công trình

―Nghiên cứu mức độ biểu hiện về Stress ở người trưởng thành‖ của tác giả Nguyễn Thị Hải 12 thực hiện vào tháng 8/2008 trên 115 người ở độ tuổi từ 20 đến 40 trên địa bàn Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 91% mẫu khảo sát luôn ở trong tình trạng stress với mức độ ―căng thẳng cao‖, đồng thời nghiên cứu chứng minh được giả thuyết stress có liên quan mật thiết đến nghệ nghiệp của cá thể Tập trung vào nhóm đối tượng người lao

9 Vũ Thu Hà (2012) ―Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở Hà Nội‖

10

Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành (2009), Thực trạng stress lo âu và những liên quan đến lo âu ở học sinh cấp III trường THPT Phan Bội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận 5/2009

11 Đỗ Thị Lệ Hằng (2009), ―Các tác nhân gây Stress và cách ứng phó với stress của trẻ vị thành niên‖

12 Nguyễn Thị Hải (2008), Nghiên cứu mức độ biểu hiện về Stress ở người trưởng thành

Trang 9

động, Đào Thị Duy Duyên13 đã có công trình nghiên cứu ―Vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh‖ tập trung làm rõ thực trạng hiểu biết về stress, thực trạng biểu hiện stress, mức độ stress và cách ứng phó với stress của công nhân tại các khu chế xuất-khu công nghiệp này Nghiên cứu stress ở các đối tượng ngành nghề đặc thù khác có thể kể đến tác giả Ngô Thị Kim Dung14 với với công trình nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý và Đỗ Duy Môn15 với nghiên cứu các biện pháp giảm stress đối với đối tượng chiến sĩ ở đơn vị quân đội

Có thể nói, kết quả của các nghiên cứu trên tựu trung lại đều cho thấy một tỉ lệ dân

số đáng kể đang phải chịu áp lực, căng thẳng trong cuộc sống Đặc biệt, việc Bộ Giáo dục

và Đào tạo đã ban hành công văn số 9971/BGD&ĐT-HSSV về Triển khai công tác tư

vấn cho học sinh, sinh viên (năm 2005) và tiếp đó Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM đã ra quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-Thân chủ về Ban hành Quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động công tác tư vấn trường học (năm 2012) dựa trên những báo cáo số liệu về mức

độ stress và trầm cảm học đường tại các thành phố lớn đã cho thấy, thực trạng về stress

và nhu cầu cần được tham vấn-trị liệu của các đối tượng trên là một vấn đề hết sức bức

thiết của xã hội

TVTL là một trong những nhiệm vụ lâm sàng cốt lõi của Tâm lý học Việc ứng dụng và sử dụng những lý thuyết, phương pháp trị liệu phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình làm việc của nhà trị liệu Trong bối cảnh chung về sự gia tăng đáng kể tình trạng stress trong xã hội, việc nghiên cứu đơn thuần về thực trạng stress và hiểu biết cũng như cách ứng phó của các cá thể với stress có thể xem là một cách tiếp cận đã cũ và khá thụ động Cần có những cách tiếp cận mới hơn, thực tiễn hơn về vấn đề này, cụ thể là những nghiên cứu về các phương thức can thiệp khả dĩ, đi vào đánh giá được hiệu quả tác động cuả nó đối với tình trạng stress nhằm có những chiến lược ứng phó thiết thực, phù

13 Đào Thị Duy Duyên (2010), ―Vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh‖

14 Ngô Thị Kim Dung (2010), ―Stress và những giải pháp giảm stress ở cán bộ quản lý‖

15 Đỗ Duy Môn (2008) với nghiên cứu ―Một số biện pháp nhằm giảm hiện tượng stress đối với các chiến sĩ ở đơn vị

cơ sở quân đội‖

Trang 10

hợp Chính vì vậy, nghiên cứu tác động của liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress càng

có ý nghĩa hơn bao giờ, bởi cơ hội mở ra hướng đi mới trong trị liệu stress của nó

Với những tiền đề hết sức cơ bản đó, đề tài nghiên cứu Đánh giá tác động của

liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress có ý nghĩa vô cùng cấp thiết không chỉ về mặt

lý luận mà còn mang tính thực tiễn, gắn liền với sự phát triển của mảng tâm lý lâm sàng

và các vấn đề xã hội trong thời gian gần đây

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Liệu pháp nghệ thuật là một liệu pháp tương đối mới mẻ và non trẻ trong lĩnh vực sức khoẻ tâm thần Liệu pháp này được chính thức công nhận trên thế giới vào khoảng nửa đầu thế kỉ 20, sau đó nhanh chóng phát triển mạnh tại Anh, Mỹ và các nước châu Âu Chính vì vậy, đến nay, hàng loạt các công trình nghiên cứu, tham luận, bài viết khoa học

về liệu pháp nghệ thuật có thể tiếp cận được đa phần đều là những tài liệu ngoại văn Các tài liệu khoa học trong nước rất khan hiếm, chủ yếu là biên dịch và phần lớn chỉ tập trung vào một vài khía cạnh đặc thù của liệu pháp nghệ thuật

Bốn tác giả mở đường được biết đến trên toàn cầu vì những đóng góp cho sự phát triển của liệu pháp nghệ thuật từ những ngày đầu là Margaret Naumburg, Edith Kramer, Hanna Kwiatkowska, và Elinor Ulman16

Các nghiên cứu của họ trải rộng trên các bệnh

lý như tâm thần phân liệt, rối loạn thích nghi, trầm cảm và rối loạn stress sau sang chấn (PTSD), riêng Margaret Naumburg đã đưa ra những nền tảng lý luận đầu tiên của liệu pháp nghệ thuật dựa trên cơ sở phân tâm học Tuy vậy, ở thời điểm này, các nghiên cứu của 4 tác giả trên chủ yếu tập trung vào các nghiên cứu trường hợp (case study) nhỏ lẻ,

dù có ý nghĩa quan trọng về mặt kĩ thuật thực hành song chưa mang tính hệ thống

Trong một thời gian ngắn, các nghiên cứu về liệu pháp nghệ thuật ở Châu Mỹ và Châu Âu đã khái quát được phần lớn hệ thống lý thuyết của liệu pháp này kèm theo cơ sở thực hành của nó Những nghiên cứu hiện đại về liệu pháp nghệ thuật trên thế giới đã đi sâu vào mối tương quan giữa các hướng tiếp cận của liệu pháp với các vấn đề tâm bệnh

16 Cathy A Malchiodi (2003) Handbook of Psychology

Trang 11

lý cụ thể như nghiên cứu về đáp ứng của stress cấp tính với liệu pháp nghệ thuật như các tác giả Erin Brazill 17, Mathaba 18 hay rối loạn stress sau sang chấn, tâm thần phân liệt như công trình của Elaine Moore 19

, mức độ phát triển trí tuệ, rối loạn thích nghi, các rối loạn học tập của tác giả Joan Phillips 20, Elizabeth Scott 21 Nhiều nghiên cứu trường hợp

có giá trị đã được ghi nhận như của J.A.Rubin22 _ nghiên cứu sâu nhiều trường hợp trị liệu bằng liệu pháp nghệ thuật trên trẻ em và người trưởng thành bị lạm dụng, bạo hành

và gặp khó khăn trong thích nghi; Debbie Michaels 23_nghiên cứu các trường hợp trị liệu cho cá nhân bị sang chấn tâm lý, sau đột quỵ và phục hồi chức năng bằng liệu pháp nghệ thuật; Abha Singh (2001)24 nghiên cứu trên các trường hợp trẻ bị bạo hành, rối loạn cảm xúc v…v Tại Việt Nam, mặc dù ngành tham vấn-trị liệu tâm lý đã có những bước tiến nhất định, việc ứng dụng và thực hành các phương thức trị liệu tâm lý đã có những công trình nghiên cứu khoa học giá trị, song vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp liệu pháp nghệ thuật như một phương thức trị liệu cùng các ứng dụng thực tiễn của nó Hầu hết những đề tài nghiên cứu có liên quan đến liệu pháp nghệ thuật là về các ―phương pháp có tính nghệ thuật‖ trong tâm lý học, tức các công trình tập trung vào một (hay một vài) góc độ dạng ―bài tập‖ tương đối phổ biến của liệu pháp nghệ thuật như ―tranh vẽ‖,

―âm nhạc‖ Những nghiên cứu này thực tế còn khá riêng lẻ và thiếu hệ thống, một số tài liệu khoa học biên dịch tập trung vào việc chẩn đoán bằng tranh vẽ có hướng khai thác khá sâu như của các tác giả Trần Thị Cẩm, Văn Hòa, Trung tâm N-T, Lê Khanh, Nguyễn Minh Anh

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước, công trình nghiên cứu này sẽ tiến hành đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên các trường

17

Erin Brazill (2007), The Power of Art Therapy

18 Mathaba(2009), Stress Relief via Art Therapy

19 Elaine Moore (2007), Art Therapy For Chronic Diseases

20 Phillips, J (2010) Poetry as Self-Supervision for Mental Health Professionals: The Use of Poetry to Process and Understand Clinical Work Journal of Poetry Therapy

21 Elizabeth Scott (2012), Art Therapy: Relieve Stress By Being Creative

22 Rubin, J A (1978/1984) Child art therapy: Understanding and helping children through art New York: Van Nostrand Reinhold/Wiley

23 Debbie Michaels (2007), A space for linking: Art therapy and stroke rehabilitation

24 Abha Singh (2001), art therapy and children : a case study on domestic violence

Trang 12

hợp cụ thể của thân chủ bị stress, từ đó đưa ra các đề xuất phù hợp cho các nghiên cho và thực nghiệm trên người bị stress

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

- Mục đích của đề tài:

Đề tài ―Đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress‖ được thực hiện dựa trên triết thuyết nền tảng của liệu pháp nghệ thuật nhằm hướng đến mục đích (1) đánh giá được hiệu quả và những phương diện của stress mà liệu pháp tác động lên và (2) đưa ra những đề xuất cho việc mở rộng, phát triển nghiên cứu về liệu pháp nghệ thuật nói chung cũng như các ứng dụng thực tiễn trên cá thể bị stress nói riêng

- Nhiệm vụ của đề tài:

+ Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (Mixed methods research)

trong thu thập và đánh giá thông tin xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu Các kỹ thuật

và phương pháp của cả hai trường phái nghiên cứu định tính và định lượng cùng được sử

Trang 13

dụng để xử lí những dữ liệu hỗn hợp (dữ liệu số và dữ liệu văn bản) trong các trường hợp nghiên cứu

- Phương pháp cụ thể:

+ Phương pháp phân tích tư liệu: Bằng phương pháp phân tích tư liệu, đề tài đi

vào phân tích, so sánh và tổng hợp tài liệu từ sách chuyên ngành, luận văn, đề tài nghiên cứu đi trước, các bài báo khoa học,… để rút ra các thông tin cần thiết, nhằm đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu của đề tài

+ Phương pháp quan sát: Phương pháp này được sử dụng để tìm các dấu hiệu đặc

trưng hay quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu Phương pháp quan sát cũng được

sử dụng để kiểm tra và ghi nhận bổ sung vào đánh giá cuối cùng của đề tài do đặc trưng của hoạt động tham vấn-trị liệu và tính chất trực quan sẵn có của liệu pháp nghệ thuật

+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Đề tài dựa trên phân tích các đặc điểm ở

từng mẫu nghiên cứu và xem xét tương quan của các mẫu với nhau để tìm ra những đặc trưng và điểm tương đồng, dị biệt nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu

+ Phương pháp chuyên gia: Đề tài sử dụng phương pháp chuyên gia nhằm thu

thập thêm ý kiến của một số chuyên gia trong lĩnh vực trị liệu nghệ thuật nhằm mang lại những thông tin định tính, đi vào chiều sâu của vấn đề cần nghiên cứu

+ Phương pháp thống kê toán học: Đề tài sử dụng công thức tính T-test so sánh 2 giá trị trung bình với dữ liệu cặp (Paired Two Sample for Means)

Đồng thời, số liệu thô trong đề tài được thống hóa thành điểm T-score nhằm thuận tiện trong so sánh đối chiếu

Trang 14

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài:

Đề tài nghiên cứu đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật lên người bị stress theo quan điểm biện chứng, xem xét mối tương quan và sự thay đổi của khách thể qua quá trình thực nghiệm, từ đó đưa ra một số kết luận cùng đề xuất về liệu trình và những điểm cần lưu ý trong ứng dụng Đối tượng được tác động bởi liệu pháp nghệ thuật trong nghiên cứu là 7 cá thể bị stress mãn tính mức độ nặng, đặt trong tương quan so sánh với nhóm đối chứng gồm 6 cá thể bị stress mãn tính mức độ nặng không qua tác động của liệu pháp nghệ thuật Ngoài ra, đề tài còn khảo sát một số ý kiến của các nhà chuyên môn

để tìm hiểu các ý kiến đóng góp, đề xuất trong ứng dụng liệu pháp nghệ thuật của họ tại Việt Nam

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2012 đến tháng 3/2013

6 Đóng góp mới của đề tài:

- Do chưa từng có nghiên cứu nào trước đây về tác động của liệu pháp nghệ thuật đối với cá nhân bị stress tại Việt Nam, đề tài là công trình đầu tiên về vấn đề này, là một đóng góp mới cho nền tâm lý học trong nước

- Đề tài mong muốn cung cấp cho các nhà tâm lý lâm sàng những nghiên cứu trường hợp có giá trị nhằm làm rõ tính khả thi của liệu pháp nghệ thuật đối với trị liệu cho thân chủ bị stress, đồng thời trở thành một cứ liệu hữu ích cho các đơn vị đào tạo tâm

lý nói chung có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan về tác động của liệu pháp nghệ thuật đối với đối tượng này Đề tài cũng hướng đến việc đề xuất các kiến nghị giúp xây dựng

hệ thống hoạt động trị liệu stress bằng liệu pháp nghệ thuật ngày càng hiệu quả hơn để những ứng dụng của liệu pháp nghệ thuật trở nên phổ biến rộng rãi hơn

7 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn:

- Về lí luận:

+ Đề tài góp phần tìm hiểu, làm sáng tỏ cơ sở lí luận của liệu pháp nghệ thuật và stress, đồng thời làm rõ hơn mối tương quan giữa 2 lĩnh vực này

- Về thực tiễn:

Trang 15

+ Đề tài giúp đưa ra cái nhìn rõ nét, khách quan về tác động của liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress trên phương diện lâm sàng và thực hành, làm cơ sở cho những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn về liệu pháp nghệ thuật và các ứng dụng của nó về sau

+ Từ bước đầu đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress, đề tài bước đầu làm rõ hơn tiềm năng phát triển của liệu pháp này với đặc thù tính cách người Việt Nam, làm chất liệu để các đơn vị đào tạo và các nhà tâm lý lâm sàng nắm bắt được tình hình và có định hướng phát triển phù hợp

+ Đề xuất liệu trình thực hành phù hợp với người bị stress

8 Kết cấu của đề tài:

Đề tài sẽ đi vào tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của liệu pháp nghệ thuật Tiếp đến, đề tài nghiên cứu những vấn đề liên quan đến stress và tiến hành đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên người bị stress (trường hợp cụ thể) Trên cơ sở đó, mối tương quan giữa liệu pháp nghệ thuật và stress sẽ được phân tích để bước đầu đưa ra nhận định khái quát về đặc trưng tiếp nhận liệu pháp nghệ thuật ở người Việt Nam và từ

đó đưa ra kiến nghị về một liệu trình sử dụng liệu pháp nghệ thuật khả dĩ trong thực hành liệu pháp nghệ thuật hoặc trị liệu stress

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ trình bày các nội dung sau đây:

2.4 Các khái niệm liên quan đến đề tài

3 Xây dựng và tổ chức nghiên cứu

3.1 Về mẫu nghiên cứu

3.2 Phương pháp tiến hành

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Sơ lược khách thể nghiên cứu

Trang 16

4.2 Tiến trình can thiệp trên khách thể nghiên cứu 4.3 Đánh giá kết quả

5 Đề xuất và khuyến nghị

Kết luận

Trang 17

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LIỆU PHÁP NGHỆ THUẬT

VÀ TỔNG QUAN VỀ STRESS

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu quốc tế

Sự phát triển của bất cứ chuyên môn nào thể hiện rõ nhất ở hệ thống tài liệu ở lĩnh vực đó Qua các giai đoạn phát triển mạnh mẽ, hệ thống tài liệu quốc tế về liệu pháp nghệ thuật đã không ngừng được bồi đắp chỉ trong một thời gian ngắn Điều đáng nói là, các nghiên cứu càng về sau càng có tính tương hỗ, làm rõ những vấn đề có liên quan xung quanh liệu pháp nghệ thuật, song lại không làm lu mờ các đóng góp quan trọng của những nghiên cứu tiên phong Nói cách khác, trong lĩnh vực này, các nghiên cứu thời kì đầu vẫn luôn giữ nguyên vị thế kinh điển của nó, nhất là các nghiên cứu trường hợp (case study)

Những nghiên cứu trường hợp tiêu biểu có thể kể đến Carmen Zammit 25 - một nghiên cứu trường hợp sử dụng liệu pháp nghệ thuật như một phương tiện tạo điều kiện cho cuộc hành trình tự giác ngộ, tha thứ và xoa dịu nỗi đau một cách tự nhiên và bền vững của bệnh nhân ung thư Bà mô tả một quá trình mà ở đó người trưởng thành có thể

sử dụng quá trình sáng tạo để đạt được cái nhìn sâu sắc từ nội tâm mình Một nghiên cứu trường hợp đầy đủ khác của Flynn và Stirtzinger 26

đã khám phá ra nhiều biểu hiện cũng như chủ đề về gây hấn và thù địch có thể xuất hiện trong tác phẩm nghệ thuật của tuổi dậy thì trên một thanh niên có biểu hiện thoái lui Người ta cũng ghi nhận những khám phá thú vị của Weinrib 27 về các hoạt động chơi với cát của liệu pháp nghệ thuật Trong nghiên cứu trường hợp này, Weinrib đã đi sâu vào khả năng tái lập và truy nhập vào các

25

Carmen Zammit MA (2001), The Art of Healing: A Journey Through Cancer: Implications for Art Therapy

26 Flynn, C., & Stirtzinger, R (2001), Understanding a regressed adolescent boy through story writing and

Winnicott‘s intermediate area The Arts in Psychotherapy, 28(5), 299–309

27 Weinrib, E (1983) Images of the self Boston: Sigo Press

Trang 18

yếu tố nữ tính trong tâm lý của cả nam và nữ giới 28 Nghiên cứu chứng minh các khía cạnh nữ tính trong hoạt động nuôi dưỡng và khả năng sinh sản, đồng thời thể hiện một quá trình truy nguyên và lột xác của thân chủ trong trường hợp nghiên cứu Trong vô số cách tiếp cận với hoạt động chơi cát, thân chủ Sheila đã sử dụng những gò cát, một con đường xoắn ốc, và dấu bàn tay (hay bàn tay Hamsas 29

) để làm ―nghi lễ ―chôn cất một thiên thần – là mặt nạ biểu trưng cho chính cô_vùi trong cát Hình dạng của các khối cát được Weinrib diễn giải như một sự phản ánh theo bản năng những mục tiêu của thân chủ,

và những hình tượng thu nhỏ phản ánh những phẩm chất phải được chấm dứt để mang lại cuộc sống mới cho chính thân chủ Nghiên cứu này đã cho thấy việc chơi cát là phương tiện cho toàn bộ quá trình biến chuyển nội tâm đầy sóng gió đó

Các nghiên cứu về liệu pháp nghệ thuật đến nay rất phong phú do có sự đa dạng từ khách thể nghiên cứu, cách thức tiếp cận đến phương thức can thiệp Những nhà nghiên cứu đương đại về liệu pháp nghệ thuật và khoa học tâm lý vẫn đang tiếp tục khai phá và tìm hiểu các quan niệm về việc ứng dụng nghệ thuật vào mục đích phát triển và khám phá bản thân, điển hình như Allen hay Cameron và Bryan 30, cũng như để đánh giá lại ranh giới truyền thống giữa nghệ thuật cá nhân và nghệ thuật công chúng như C Moon 31, Lachman-Chapin et al 32 Allen, Cameron và Bryan đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả ứng dụng của nghệ thuật trong việc nâng cao khả năng tự nhận thức của các cá nhân, nâng cao khả năng ứng phó với thay đổi cũng như đối diện với biến cố C.Moon và Lachman đã tiếp nối những thành tựu này và đối chiếu với tác động của các hình thức nghệ thuật đại chúng để đề xuất ra những chương trình huấn luyện phát triển cá nhân có

sử dụng các hình thức trị liệu nghệ thuật bổ trợ và đạt được những thành tựu nhất định Trong thập niên 90 và những năm đầu thế kỷ 20, các nghiên cứu quốc tế càng được phát

28 Cathy A Malchiodi (2003) Handbook of Psychology

29 Bàn tay Hamsa là một trong những bùa hộ mệnh từ Hồi giáo và Do Thái giáo cổ xưa nhất, có những ý nghĩa trong việc thu hút năng lượng nam tính và nữ tính, đức tin và sự khoan dung – theo Alex Kuskowski (2012) ―Super Simple African Art: Fun and Easy Art from Around the World‖

30 Cameron, J., & Bryan, M (1992) The artist‘s way: A spiritual path to higher creativity New York: Putnam

31 Moon, C H (2002) Studio art therapy: Cultivating the artist identity in the art therapist London: Jessica

Kingsley

32 Lachman-Chapin, M., Jones, D., Sweig, T L., Cohen, B M., Semekoski, S S., & Fleming, M M (1999)

Connecting with the art world: Expanding beyond the mental health world Art Therapy: Journal of the American Art Therapy Association, 15, 233–244

Trang 19

triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trong đó các công trình của 3 tác giả Sigler 33, Spaniol 34 đã đề cập đến những nội dung đáng lưu ý Được truyền cảm hứng từ công trình xây dựng gallery ảnh nghệ thuật vào mục đích can thiệp cho bệnh nhân có vấn đề tâm thần của nhà tâm lý Spaniol, lần đầu tiên một tập hợp công trình nghiên cứu trường hợp thể hiện ở dạng kí về việc sử dụng phương thức tổ chức không gian hình ảnh trong trị liệu nghệ thuật để làm việc với người có rối nhiễu đã được H Sigler xuất bản, với đối tượng can thiệp cụ thể là bệnh nhân ung thư Nghiên cứu này đã mở đường cho hàng loạt những nghiên cứu áp dụng không gian hình ảnh của trị liệu nghệ thuật cho các đối tượng gặp vấn đề y khoa về sau

Hầu hết các tác giả lớn của lĩnh vực trị liệu nghệ thuật đều có ý thức ―nâng cấp‖,

―cải tiến‖ các phương thức lượng giá của riêng họ, trong đó bao gồm việc thiết lập hàng chuỗi thao tác nghệ thuật nhằm mục đích can thiệp ở nhiều mức cấu trúc khác nhau có thể ứng dụng rộng rãi và hiệu quả cho nhiều đối tượng đặc thù, trong đó có stress Đại diện tiêu biểu cho việc xây dựng và không ngừng sáng tạo các kĩ thuật, bài tập, hoạt động nghệ thuật trị liệu sử dụng trong liệu pháp nghệ thuật là Rubin 35, Kramer và Schehr 36với hệ thống các bài tập đặc thù cho trị liệu nghệ thuật với trẻ em, nhà tâm lý Kwiatkowska 37 với nhóm hoạt động dùng trong trị liệu hệ thống-gia đình; Ulman và Dachinger38 với các kĩ thuật tương tác và bài tập sử dụng trong trị liệu nhóm cũng như nhóm thực hành chuyên môn nhằm phát triển bản thân

Tiến sĩ Ernest Harms _ người đã có nhiều công trình hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng và thao tác kĩ thuật của liệu pháp nghệ thuật_ trong những tuyên ngôn ở các công trình cuối cùng của mình đã kêu gọi các nhà trị liệu nghệ thuật "thiết kế các hoạt

37 Kwiatkowska, H Y (1978) Family therapy and evaluation through art Springfield, IL: Charles C Thomas

38 Ulman, E., & Dachinger, P (1975/1996) Art therapy in theory and practice New York: Schocken Books/Chicago: Magnolia Street

Trang 20

động can thiệp bằng nghệ thuật cụ thể để giải quyết các rối nhiễu tâm lý cụ thể‖ 39 Theo lời kêu gọi đó, tác giả Aina Nucho 40 đã xuất bản một nghiên cứu vô cùng quan trọng, tạo nên một cuộc thảo luận sôi nổi trong những nhà thực nghiệm về những gì một nhà trị liệu nghệ thuật có thể làm trong mỗi giai đoạn của quá trình điều trị Những vấn đề được đưa

ra cũng vô cùng thiết thực và hữu ích như: hoạt động xây dựng tương quan trị liệu, tiến hành bài tập, đối thoại, kết thúc, và tích hợp các nội dung trong khung trị liệu Tiến sĩ Nucho đã tổng hợp và gợi dẫn cách thức làm thế nào để đề ra quyết định, xem xét về việc

sẽ cung cấp cho thân chủ công cụ gì, thông tin gì, làm thế nào để cung cấp sự hỗ trợ hiệu quả cho thân chủ, và cuối cùng làm thế nào để hành xử trong mỗi giai đoạn của phiên trị liệu hay cả một liệu trình điều trị nghệ thuật

Trong hệ thống các nghiên cứu của liệu pháp nghệ thuật và stress, khá nhiều nhà khoa học tiếp cận theo hướng xem xét liệu pháp nghệ thuật như là một công cụ hiệu quả

trong quản lý căng thẳng (stress management), điển hình như Rappaport L.41, Richard Carr & Noah Hass-Cohen42 Các nhà nghiên cứu này tiếp cận liệu pháp ở góc độ hoạt động, tức tập trung xem xét hiệu quả của liệu pháp nghệ thuật qua các bài tập riêng rẽ và xem đó là một công cụ giải tỏa hơn là phân tích theo từng liệu trình và vấn đề can thiệp

Nói về tác động của liệu pháp nghệ thuật đến stress ở các đối tượng đặc thù có các nghiên cứu của Anne Trueman 43– nghiên cứu trên stress ở bệnh nhân ung thư ; Gretchen Graves 44– nghiên cứu trên stress ở các ca bệnh tại bệnh viện Richmond, hay tập ca bệnh với đối tượng bị mất trí của Ninoslav Mimica & Dubravka Kalinić 45 Bên cạnh đó, cũng

có nhiều nghiên cứu về stress theo các hướng tiếp cận khác nhau trong trị liệu của liệu pháp nghệ thuật như công trình của Vick46_nghiên cứu tương quan của hoạt động sáng

39 Harms, E (1973) ―Editorial: Provinces and Boundaries of Art Psychotherapy.‖ Art Psychotherapy, Vol 1, No 2

40 Nucho, A O (2003) Psychocybernetic model of art therapy (2nd ed.) Springfield, IL: Thomas

41 Rappaport, L (1993) Focusing with art and creative movement: a method for stress management , The Focusing Connection

42

Art Therapy and Clinical Neuroscience

43 Anne Trueman (2012), Art Therapy and Meditation May Control Stress in Cancer Patients

44 Gretchen Graves (2008), Art Therapy at the Richmond Hospital Education Program

Trang 21

tạo với sự sẻ chia của thân chủ trong tiến trình trị liệu nghệ thuật; các công trình của

McNiff S., nổi bật là tác phẩm ―Art as medicine‖ 47 xuất bản năm 1992 _tiếp cận liệu pháp nghệ thuật theo hướng tâm lý y học, nghiên cứu tính ―dược lý‖ của nghệ thuật trong trị liệu stress; Riley S & Malchiodi C.48 với nghiên cứu về cách thức tiếp cận của liệu pháp nghệ thuật trong trị liệu gia đình, nhóm tác giả Freeman J.Epston D và Combs G 49với công trình nghiên cứu cách tiếp cận dựa trên tính ―trò chơi‖ của liệu pháp nghệ thuật đối với những vấn đề nghiêm trọng phức tạp của thân chủ; Selekman M D 50 với nghiên cứu về hướng tiếp cận giải pháp trọng tâm trong trị liệu stress, Rubin J.51 nghiên cứu tổng hợp các cách tiếp cận phổ biến nhất đối với liệu pháp nghệ thuật và Lachman-Chapin M

52 với công trình nghiên cứu hướng tiếp cận tâm lý học cá nhân đối với liệu pháp nghệ thuật

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nghiên cứu hoàn chỉnh về liệu pháp nghệ thuật gần như chưa có,

mà đa phần chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tác động, hiệu quả của một số loại hình nghệ thuật lên tiến trình trị liệu Các nghiên cứu thực tế còn khá riêng lẻ và thiếu hệ thống, đơn

cử như của GS Nguyễn Văn Thành53 với nghiên cứu về ―Hình vẽ người của trẻ bình thường và trẻ chậm phát triển trí tuệ‖; Viện nhi Hà Nội 54

_ tiến hành nghiên cứu việc trẻ

vẽ hình người theo Goodenough tại một số trường phổ thông cơ sở ở Hà Nội, hai bác sĩ Quách Thúy Minh và Nguyễn Hồng Thúy thuộc bệnh viện nhi trung ương đã có công trình nghiên cứu về tranh vẽ như một công cụ chẩn đoán và trị liệu tâm lý 55 Kết quả của các nghiên cứu này đều cho thấy có sự tương ứng giữa điểm vẽ hình người với điểm học tập & hình vẽ phản ánh trí khôn theo tuổi ( rõ rệt nhất từ 7 đến 10 tuổi ), đồng thời giới

Selekman, M D (1997) Solution-focused therapy with children New York: Guilford Press

51 Rubin, J (2001) Approaches to art therapy New York: Brunner-Routledge

52

Lachman-Chapin, M (2001) Self-psychology and art therapy New York: Brunner-Routledge

53 Nguyễn Văn Thành (1973), Hình vẽ người của trẻ bình thường và trẻ chậm phát triển trí tuệ

Trang 22

tính của trẻ cũng tạo nên những khác biệt đặc thù trong tranh vẽ Riêng nghiên cứu của Quách Thúy Minh và Nguyễn Hồng Thúy được trình bày theo trục phát triển lứa tuổi của trẻ có phần chi tiết hơn, với những tổng hợp, đúc kết từ quá trình nghiên cứu trường hợp dày dạn như những lưu ý về phản ứng của trẻ, các hoạt động phụ trợ kết hợp với vẽ tranh (mang tính chất nghệ thuật liệu pháp cao) và ý nghĩa của màu sắc trong tranh vẽ Hai tác giả Nguyễn Minh Hằng 56 và Trần Thị Minh Đức 57 dù có cách thức tiếp cận khác nhau, sao tựu trung lại đều nghiên cứu tập trung vào việc chẩn đoán tâm lý trẻ em qua tranh vẽ Các nghiên cứu này chủ yếu nhắc đến nghệ thuật như một công cụ hỗ trợ thứ cấp trong làm việc với một số đối tượng, đặc biệt là trẻ em Mặt khác các nghiên cứu chỉ tập trung

về một mảng đặc thù của liệu pháp nghệ thuật là tranh vẽ, hoặc mô tả ―nghệ thuật‖ được

sử dụng trong trị liệu đơn thuần là các hoạt động liên quan đến âm nhạc, hoặc vẽ tranh Tại bệnh viên tâm thần TW 2, PGS.TS Nguyễn Văn Thọ tiến hành một số nghiên cứu trường hợp về liệu pháp âm nhạc đối với các bệnh nhân tâm thần và đạt được một số kết quả nhất định về mặt lâm sàng

Một số tài liệu khoa học biên dịch tập trung vào việc chẩn đoán bằng tranh vẽ có hướng khai thác khá sâu như công trình biên dịch bộ tài liệu " Sổ tay chẩn đoán tâm lý trẻ

em " của tác giả Trần Thị Cẩm 58, tập hợp các công trình nghiên cứu tranh vẽ trẻ em của

Trung tâm N-T 59 hay các công trình biên dịch mới của TS Lê Khanh60

Các nghiên cứu gần đây nhất có thể kể đến 2 nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Anh 61: một khai thác tranh vẽ như một công cụ chẩn đoán trí tuệ, cảm xúc và quan hệ gia đình của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, một tiếp cận tập trung vào tác động của tranh vẽ người, giới thiệu một số kết quả nghiên cứu đặc điểm trí tuệ và cảm xúc của trẻ khiếm thính đang theo học tại 6 trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh 62 Nghiên cứu khẳng

56 Nguyễn Minh Hằng Nghiên cứu tâm lý trẻ em có bố mẹ ly hôn bằng trắc nghiệm vẽ tranh gia đình Tạp chí Tâm

lý học Số 11 2007

57 Trần Thị Minh Đức Nhận biết trẻ em qua tranh vẽ NXB Khoa học và Kỹ thuật 2009

58

Trần Thị Cẩm (1987), Sổ tay chẩn đoán tâm lý trẻ em (Biên dịch) NXB Ngoại văn Hà Nội 1987

59 Marvin Klepsh và Laura Logie (1989) Trẻ em vẽ và bộc lộ Lưu Duy Khánh dịch Tài liệu lưu hành nội bộ của trung tâm nghiên cứu trẻ em N-T

60

Lê Khanh Khám phá trẻ em qua nét vẽ NXB Phụ Nữ 2007

61 Nguyễn, Minh Anh (2011) Sử dụng tranh vẽ người như công cụ chẩn đoán đặc điểm trí tuệ và cảm xúc của trẻ 5

– 6 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh

62 Nguyễn, Minh Anh (2012) Sử dụng tranh vẽ người để chẩn đoán đặc điểm trí tuệ và cảm xúc của trẻ khiếm thính

Trang 23

định vị thế và hiệu quả của test tranh vẽ trong việc chẩn đoán các rối nhiễu tâm lý, đặc biệt là đối với những đối tượng không thể diễn đạt nhiều bằng lời nói như trẻ khiếm thính Bên cạnh đó, cử nhân tâm lý Nguyễn Thị Thu Trúc đã có bài viết về khái niệm

―nghệ thuật trị liệu‖ (Art therapy) mang tính chất tổng lược những khái niệm cơ bản nhất

của liệu pháp nghệ thuật, BS Nguyễn Minh Tiến với các nghiên cứu, công trình tổng hợp-biên dịch tài liệu về trị liệu tâm lý bằng đất nặn 63, liệu pháp chơi không hướng dẫn

(non-directive play therapy), liệu pháp chơi cát (sandplay therapy), liệu pháp khay cát

(sandtray therapy)…

Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào được tiến hành về mối tương quan giữa liệu pháp nghệ thuật và stress Đối với mảng nghiên cứu về stress, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc khảo sát thực trạng hoặc đo lường mức độ stress ở học sinh – sinh viên thuộc các trường Trung học cơ sở, trung học phổ thông và Đại học, như các nghiên cứu của tác giả Lại Thế Luyện (2007), tìm hiểu về biểu hiện stress trong sinh viên trường Đại học sư phạm Kỹ Thuật TPHCM, tác giả Phạm Thanh Bình nghiên cứu về Stress trong học tập của học sinh THPT 64, Trần Thị Nhân 65tìm hiểu thực trạng stress của sinh viên Đại học Quy Nhơn, Nguyễn Thị Mỹ Anh 66 nghiên cứu biểu hiện stress của sinh viên Đại học Đà Nẵng, Lê Thị Thanh Thủy 67 nghiên cứu về Stress trong học tập và cách ứng phó của học sinh cuối cấp, khảo sát stress trên 200 học sinh THPT của Trung tâm Nghiên cứu phụ nữ - Đại học quốc gia Hà Nội 68… Nghiên cứu stress trong tương quan đối chiếu với các vấn đề khác có công trình tìm hiểu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh THPT của Nguyễn Viết Hưng69, GS.BS Đặng Phương Kiệt nghiên cứu các tương quan của Stress trong đời sống và sức khỏe, hai tác giả Phạm Ngọc Giao và Nguyễn Hữu Nghiêm nghiên cứu về stress với tương quan đời sống hiện đại

63 BS.Nguyễn Minh Tiến (2013), chuyên mục Tâm lý trị liệu tại http://trangnonclb.blogspot.com

64 Phạm Thanh Bình (2010), Từ stress trong học tập của học sinh THPT đến nhu cầu tham vấn tâm lí học đường, Kỉ

yếu hội thảo Quốc tế ―Thúc đẩy nghiên cứu và thực hành Tâm lí học đường tại Việt Nam‖, Huế

65 Trần Thị Nhân (2008), Thực trạng stress của sinh viên Đại học Quy Nhơn

66

Nguyễn Thị Mỹ Anh (2009), Biểu hiện stress của sinh viên Đại học Đà Nẵng

67 Lê Thị Thanh Thủy (2009) nghiên cứu về Stress trong học tập và cách ứng phó của học sinh cuối cấp

68 Trung tâm Nghiên cứu phụ nữ - Đại học quốc gia Hà Nội (2008) khảo sát stress trên 200 học sinh THPT

69 Nguyễn Viết Hưng (2010) Tìm hiểu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh THPT

Trang 24

Qua tham khảo những công trình nghiên cứu trước ở trên, trên cơ sở kế thừa và

phát triển, công trình nghiên cứu Đánh giá tác động của liệu pháp nghệ thuật trên

người bị stress sẽ tiếp cận liệu pháp nghệ thuật như một phương thức trị liệu tâm lý, từ

cơ sở lý luận của nó tiến hành đánh giá tác động thực tế của liệu pháp trên đối tượng bị stress và đưa ra những đề xuất, ý kiến phù hợp nhằm tiến hành những nghiên cứu sâu hơn

về sau

1.2 Cơ sở lý luận của liệu pháp nghệ thuật

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của liệu pháp nghệ thuật

Suốt một thời gian dài trong lịch sử nhân loại, các rối nhiễu tâm thần bị con người

sợ hãi và định kiến sai lệch, xem nó như biểu hiện của các thế lực siêu nhiên, thần thánh, hay ma quỷ Những nhà tâm lý và y bác sĩ ở Mỹ và Pháp đã nỗ lực hết sức để có những bước tiến lớn trong việc tạo ra một môi trường nhân tính hơn cho các bệnh nhân Đến thế

kỉ 19, nhiều nhà khoa học _ trong đó tiêu biểu là Freud và E.Kris _ đã đóng góp cho quá trình tái lập nhân cách của bệnh nhân bằng cách đưa ra học thuyết rằng những sản phẩm

hư cấu, có phần kì quái của trí tưởng tượng thực sự hé lộ nhiều thông tin có ý nghĩa về thế giới quan độc đáo của chính chủ thể chứ không đơn thuần là những thứ bột phát tầm thường vô nghĩa70

Từ học thuyết này, nhiều học giả bắt đầu tìm hiểu cách thức một thành quả sáng tạo – tác phẩm nghệ thuật – có thể thể hiện cho ta biết về sức khỏe tâm thần hoặc những rối nhiễu của người tạo nên chúng 71 Nhiều nhà nghiên cứu khác sau đó cũng bắt đầu nhận thấy tiềm năng của nghệ thuật trong việc điều trị các bệnh lý tâm thần72 Không lâu sau, thuật ngữ ―liệu pháp nghệ thuật‖ bắt đầu được sử dụng để chỉ một loại hình tâm lý trị liệu áp dụng thực hành và can thiệp nghệ thuật song song với trò chuyện làm phương thức chính cho quá trình điều trị 73

70

MacGregor, J M (1989) The discovery of the art of the insane Princeton, NJ: Princeton University Press &

Rubin, J A (1999) Art therapy: An introduction Philadelphia: Brunner/Mazel

71 Anastasi & Foley(1941) Arnheim(1954); Kreitler & Kreitler(1972)

72

Winnicott, D W (1971) Therapeutic consultations in child psychiatry New York: Basic Books

73 Naumburg M (1950/1973), Introduction to art therapy: Studies of the ―free‖ art expression of behavior problem children and adolescents as a means of diagnosis and therapy New York: Teachers College Press/Chicago: Magnolia Street.

Trang 25

Có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử phát triển của liệu pháp nghệ thuật, tiêu biểu như tác phẩm ―Sự khám phá nghệ thuật của người loạn thần kinh‖ 74 của MacGregor

đã tái hiện lịch sử quá trình tương hỗ giữa nghệ thuật và tâm lý học trải dài suốt 300 năm Tập sử này đề cập đến những lý thuyết về thiên tài cùng sự ―điên‖của họ và nhiều nỗ lực

để thấu hiểu tiềm năng của nghệ thuật trong việc chẩn đoán và chữa trị thần kinh

Còn nhiều nghiên cứu khác về lịch sử của ngành này với quan điểm ngày càng được mở rộng như Waller D 75, Junge M.B & Asawa P.P 76 , Bush J 77, Hogan78… song ở phần này đề tài chọn cách tiếp cận lịch đại để miêu tả ngắn gọn ba chặng đường phát triển của liệu pháp nghệ thuật, dựa trên 3 tiêu chí: điểm mốc quan trọng, mức độ phát triển-thống nhất về hệ thống tài liệu và sự phát triển của các tổ chức, chương trình đào tạo chuyên nghiệp

- Giai đo n hình thành những n m 1940 đến những n m 1970 :

Điểm mốc của giai đoạn này là sự ra đời của thuật ngữ ―liệu pháp nghệ thuật‖ 79 Các tài liệu cho thấy có nhiều giả thuyết khác nhau về người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này Vào những năm 1940, tại Anh, người ta cho rằng nghệ sĩ Adrian Hill là người đầu tiên sử dụng từ ―liệu pháp nghệ thuật‖ để chỉ tính trị liệu mà tác phẩm nghệ thuật mang lại cho người sáng tạo (cảm giác thư giãn, giải tỏa năng lượng, vận động, hàn gắn nỗi đau) Trong khi đó ở Mỹ, nhà tâm lý học Margaret Naumberg được xem là mẹ đẻ của chuyên ngành này, cũng như là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ ―liệu pháp nghệ thuật‖

để mô tả cách thức làm việc của bà với thân chủ 80

Ở giai đoạn này, mặc dù chưa có sự thống nhất về ý nghĩa và cách sử dụng từ ―liệu pháp nghệ thuật‖, chưa có một định nghĩa cụ thể bao quát, song một bộ phận các nhà lâm sàng đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ ―liệu pháp nghệ thuật‖ trong các bài viết để mô tả công

Junge, M B., & Asawa, P P (1994) A history of art therapy in the United States Mundelein, IL:

American Art Therapy Association

77

Bush, J (1997) The handbook of school art therapy Springfield, IL: Charles C Thomas

78 Hogan, S (1997) Feminist approaches to art therapy London: Routledge

79 Edwards, D (2004), Art therapy, ISBN: 0761947515, Sage Publications

80 Waller D & Gilroy A (1978), Ideas in art therapy, London: BAAT

Trang 26

việc giữa họ với thân chủ (phương thức định ngữ của Naumberg) Qua đó, những cá nhân tiên phong này bắt đầu định hình một chuyên môn khác biệt với những chuyên ngành trước đó Nghệ thuật bắt đầu được đưa vào các phiên trị liệu một cách có chủ đích và những thực nghiệm được ghi chép lại cặn kẽ cùng với sản phẩm sáng tạo của các thân chủ Những ghi chép trường hợp và ấn phẩm xuất bản của Margaret Naumburg, Edith Kramer, Hanna Kwiatkowska, và Elinor Ulman trong thời kì này vẫn được sử dụng như nguồn tham khảo sơ cấp có giá trị trong các tài liệu về liệu pháp nghệ thuật đương đại đến ngày nay81

Giai đoạn này cũng không có bất kỳ khóa đào tạo chính quy nào cho môn liệu pháp nghệ thuật, các nhà nghiên cứu được đào tạo ở các lĩnh vực khác nhau bắt đầu thực hành những dạng thức trị liệu sơ khai bằng liệu pháp nghệ thuật dưới sự cố vấn của các bác sĩ tâm thần, các nhà phân tích và các chuyên gia về sức khỏe tâm thần 82

- Giai đo n định hình t những n m 1970 đến giữa thập niên 80 :

Thời điểm này các nhà tâm lý bắt đầu có sự thống nhất với nhau về nội hàm của khái niệm ―liệu pháp nghệ thuật‖ 83 Nhiều định nghĩa bắt đầu được xề xướng và thảo luận, và dù có sự khác biệt về cách thức diễn đạt, các định nghĩa đã có những điểm chung xoay quanh việc xem liệu pháp nghệ thuật là một phương thức trị liệu mới đầy tiềm năng Người ta bắt đầu nghiên cứu nền tảng, cơ sở lý luận của liệu pháp nghệ thuật với ý thức đặt nền móng cho sự phát triển của các nghiên cứu sau

Theo tổ chức liệu pháp nghệ thuật quốc tế (IATO), liệu pháp nghệ thuật là một hình thức trị liệu có tính biểu đạt, sử dụng các vật liệu nghệ thuật như sơn, phấn, màu vẽ, hình ảnh, chất liệu tạo hình v v làm công cụ chính trong tiến trình trị liệu.84,85 Liệu pháp nghệ thuật là sự kết hợp giữa lý thuyết và kĩ thuật tâm lý trị liệu truyền thống với sự hiểu biết về các khía cạnh tâm lý của quá trình sáng tạo, đặc biệt là đặc tính và khả năng kết

81 Klein, M (1964) Contributions to psychoanalysis New York: McGraw-Hill

82

Crosson, C (1976) Art therapy with geriatric patients: Problems of spontaneity American Journal of Art Therapy

83 Jones, P (2005) The arts therapies: A revolution in healthcare London: Routledge

84 Ravindran A V & Matheson K & Griffi J & Merali, Z & Anisman, H (2002) Stress, coping, uplifts, and quality of life in subtypes of depression: A conceptual framework and emerging data Journal of Affective

Disorders, tr.121–130

85 Jain, S., Mills, P J., & Von Känel, R (2007) Effects of perceived stress and uplifts on infl ammation and

coagulability Psychophysiology, tr.154–160

Trang 27

nối với cảm xúc của các vật liệu nghệ thuật khác nhau Liệu pháp nghệ thuật được sử dụng trong nhiều tình huống lâm sàng với đối tượng áp dụng đa dạng như trẻ em, thanh thiếu niên, người lớn…từ cá nhân đến các cặp vợ chồng, gia đình từ các nhóm nhỏ và đến

tổ chức cộng đồng 86

Hiệp hội liệu pháp nghệ thuật Mỹ định nghĩa liệu pháp nghệ thuật là một phương thức trị liệu dựa trên ý tưởng nền tảng rằng quá trình sáng tạo nghệ thuật có thể giúp hàn gắn nỗi đau, và là một hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ của suy nghĩ và cảm xúc87 Liệu pháp nghệ thuật khuyến khích phát triển bản thân, gia tăng sự tự nhận thức, phát triển cuộc sống cá nhân, chữa lành những tổn thương tâm lý và có thể áp dụng với trẻ em, người lớn, gia đình, và các nhóm

Malchiodi 88 định nghĩa liệu pháp nghệ thuật là một phương thức dùng chức năng của nghệ thuật để định hướng, giúp các cá nhân ở mọi lứa tuổi tìm thấy ý nghĩa và có cái nhìn sâu sắc về cuộc sống, thấy lối thoát từ những cảm xúc tràn ngập hoặc sang chấn, có thể giải quyết xung đột, khó khăn và làm phong phú thêm cuộc sống hàng ngày

Theo từ điển tâm lý học Cambridge, liệu pháp nghệ thuật là một phương thức trị liệu, trong đó khách hàng tham gia trực tiếp vào các hoạt động nghệ thuật như hội họa, tạo hình bằng đất sét, hoặc đan rổ như một cách biểu đạt và làm việc với các xung đột và trở ngại tinh thần khi sự tránh né phòng vệ thường nằm ở trí tuệ và (hoặc) lời nói 89

Mặc dù phân tâm học vẫn còn những ảnh hưởng mang tính thống lĩnh nền tâm lý học nói chung, ở giai đoạn này liệu pháp nghệ thuật đã phát triển và nối kết với những phân ngành mới như nhận thức hành vi, trị liệu nhân văn v v 90 Hệ thống tài liệu của liệu pháp nghệ thuật được bồi dày lên rõ rệt trong giai đoạn này cho thấy một diện mạo đáng trông đợi của một chuyên ngành khoa học mới Sự xuất hiện của hai tạp chí chuyên

ngành: Liệu pháp tâm thần với Nghệ thuật (năm 1973) (sau đổi thành Nghệ thuật trong trị liệu tâm thần) và Liệu pháp Nghệ thuật_Tạp chí chuyên ngành Hiệp hội Liệu pháp

86 PhD.Cathy Malchiodi (2007), International Art Therapy Organization

87

Theo The American Art Therapy Association (AATA)

88Malchiodi, C A (1998) The art therapy sourcebook Los Angeles: Lowell House

89 David Matsumoto (2009), Cambridge Dictionary of Psychology, Cambridge University Press

90 Landgarten, H B (1981) Clinical art therapy New York: Brunner/Mazel

Trang 28

Nghệ thuật Mỹ vào năm 1983 91 là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển và lan tỏa mạnh mẽ của liệu pháp này, minh chứng và vai trò của nhà liệu pháp trong tương quan với các nhà chuyên môn từ các ngành liên quan 92

Giai đoạn này đã có những chương trình chính thống đào tạo kĩ thuật trị liệu nghệ thuật dành cho các nhà lâm sàng, dù chưa nhiều và thực sự phổ biến Những hiệp hội, liên hiệp các nhà trị liệu nghệ thuật bắt đầu manh nha hình thành nhằm xây dựng một cộng đồng chuyên môn có tính gắn kết cao 93

- Giai đo n ổn định và phát triển t giữa thập niên 80 đến na :

Ở giai đoạn này, các nhà tâm lý học và trị liệu nghệ thuật đã có những sự kết nối mạnh mẽ Các hội thảo chuyên đề quốc tế về liệu pháp nghệ thuật được tổ chức thu hút hàng trăm nhà lâm sàng quan tâm đến lĩnh vực này tham dự Nhiều công trình giá trị về nền tảng và hệ thống cơ sở lý luận của liệu pháp này được công nhận và xem như các tài liệu chuẩn mực dùng cho nghiên cứu trên toàn thế giới 94 Các nhà khoa học đã thôi không còn tranh cãi về định nghĩa của liệu pháp nghệ thuật nữa, mà thay vào đó họ tập trung vào các cách thức tiếp cận đa dạng nhằm mở rộng hướng ứng dụng của liệu pháp này trong thực tế trị liệu lâm sàng Năm mô hình làm việc kết hợp của liệu pháp nghệ thuật95 được ghi nhận trong cuộc khảo sát những nhà liệu pháp nghệ thuật thuật tại Mỹ là: tâm động học (10,1%), trường phái phân tích tâm lý theo Jung (5,4%), quan hệ đối tượng (4,6%), nghệ thuật như là một liệu pháp (4,5%) và phân tâm học (3,0%) đều nhấn mạnh

sự năng động nội tâm (intrapsychic dynamics)

Các tài liệu về liệu pháp nghệ thuật đến nay vẫn tiếp tục phát triển không ngừng và được mở rộng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau96 Một chủ đề nổi trội trong các tài liệu nghiên cứu là vai trò cá biệt của các hình thức nghệ thuật sáng tạo trong lượng giá và

91

Rubin, J A (1999), Art therapy: An introduction Philadelphia: Brunner/Mazel

92 Shoemaker, R H., Ulman, E., Anderson, F E., Wallace, E., Lachman-Chapin, M., Wolf, R., & Kramer, E (1976) Art therapy: An exploration of definitions In R Shoemaker & S Gonick- Barris (Eds.), Creativity and the art therapist‘s identity, Proceedings of the 7th Annual American Art Therapy Association Conference (pp 86–96) Baltimore: American Art Therapy Association

93 Wadeson, H (1980) Art psychotherapy New York: Wiley

94 Wadeson, H (1980) Art psychotherapy New York: Wiley

Trang 29

đánh giá thân chủ 97, Các nhà phát triển đương đại của lĩnh vực này đã từ bỏ cách tiếp cận theo lối phân tâm chính thống và thiên hơn về những phương pháp chú trọng vào tiềm năng biểu đạt của các thao tác lẫn chất liệu như các nghiên cứu của Cohen, Hammer

và Singer 98 với đối tượng nghiên cứu là chuỗi tranh vẽ; hay phương tiện can thiệp là chuỗi thẻ hình như trong nghiên cứu của Cox và Frame 99 Gantt và Tabone 100 nỗ lực không nhỏ trong việc đề đạt ra các thang lượng giá sử dụng trong liệu trình điều trị nghệ thuật, và cùng với đó, Landgarten 101 và Silver102 cũng đã tiếp nối bằng việc tìm cách đo lường và hệ thống hóa các phản ứng của thân chủ nhằm thiết lập các bộ qui chuẩn trong trị liệu nghệ thuật

Các hiệp hội liệu pháp nghệ thuật và nhà trị liệu nghệ thuật đã được thành lập trên khắp thế giới, các khóa học nhỏ lẻ về liệu pháp nghệ thuật nay đã phát triển thành những chuyên ngành được đông sinh viên theo hoc tại các trường đại học ở Anh, Mỹ, Úc, Pháp, Tây Ban Nha, Hongkong và Indonesia 103…v.v

1.2.2 Các đối tượng mà liệu pháp nghệ thuật hướng đến

Liệu pháp nghệ thuật dù là một chuyên ngành mới, song sự phát triển nhanh và mạnh mẽ của nó đã giúp hệ thống tài liệu và các ứng dụng của liệu pháp này trải ra cả về chiều sâu lẫn chiều rộng Đối tượng của liệu pháp nghệ thuật – cũng như những phương thức trị liệu khác – trước nhất là những người có rối nhiễu tâm lý Trong thời kì đầu, liệu pháp nghệ thuật tập trung vào việc nghiên cứu trên người bị loạn thần, tâm thần phân liệt, mất trí Tác phẩm xuất bản năm 1922 của bác sĩ tâm thần người Đức Hans Prinzhorn, đã khắc họa và miêu tả một cách xuất sắc những thành quả nghệ thuật của các bệnh nhân tại

Trang 30

những viện tâm thần ở khắp châu Âu Càng về sau, nhóm đối tượng này càng được mở rộng, từ phân khúc các nhà làm nghệ thuật, đến những người bình thường gặp khó khăn trong cuộc sống, từ người trưởng thành 104, đến trẻ em 105

, trẻ vị thành niên và người cao tuổi, từ trẻ em (hay người lớn) có khó khăn trong học tập, thích nghi, hòa nhập, hay trẻ tự

kỷ đến bị lạm dụng, bạo hành 106, người vừa trải qua thiên tai, mất mát Các bệnh lý được nghiên cứu áp dụng liệu pháp nghệ thuật lên điều trị có thể kể đến hưng cảm, trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, tăng động 107, rối loạn lo âu 108, rối loạn stress sau sang chấn 109, nghiện chất v v…

Bên cạnh những đối tượng có khó khăn đặc thù trên, liệu pháp nghệ thuật còn hướng đến những đối tượng bị stress, gặp khó khăn trong việc nhận diện bản thân và có nhiều dồn nén, ức chế nội tâm gây khó khăn trong đời sống thường nhật Ngày nay, bên cạnh ý nghĩa là một phương thức trị liệu, liệu pháp nghệ thuật đã phát triển thành một môn thực hành mà ở đó cá nhân hay nhóm thực hành có cùng mục tiêu phát triển bản thân hay giải quyết một vấn đề chung mang tính xã hội nào đó

1.2.3 Nghệ thuật như một “liệu pháp” tự thân

Mặc dù liệu pháp nghệ thuật đương đại là một chuyên ngành khá mới, song nghệ thuật thì đã được sử dụng từ thuở ban đầu của lịch sử nhân loại như một phương tiện để giao tiếp, bộc lộ suy nghĩ và ý tưởng Để bàn về vấn đề này, cách tốt nhất là bắt đầu từ sự

ra đời nguyên thủy của nghệ thuật và quá trình lột xác của nó

106 Cathy A Malchiodi (2003) Handbook of Psychology

107 Safran, D (2002) Art therapy and AD/HD: Diagnostic and therapeutic approaches London: Jessica Kingsley

Trang 31

Các nhà khoa học đã phát hiện những hiện tượng nghệ thuật sơ khai trong các hang động có niên đại cách đây hơn 40.000_khi xã hội loài người bắt đầu hình thành110 _ được biết đến nhiều nhất là bức tranh hang động El Castillo ở Cantabria, Tây Ban Nha

Rõ ràng, nghệ thuật đã song hành cùng con người từ khởi điểm Điều này có ý nghĩa nhất định trong việc xây dựng các giả thuyết xung quanh ảnh hưởng của liệu pháp nghệ thuật đối với các cá thể Nhiều học giả cho rằng, sự ra đời của nghệ thuật bắt nguồn từ những nhu cầu thiết yếu của con người, như như cầu giao tiếp, nhu cầu lao động, nhu cầu thẩm mỹ v v Điều này không phải không có căn cứ Từ thời Cổ đại, người ta đã biết dùng nghệ thuật (văn chương, thơ phú, hình khắc) để kể chuyện _những câu chuyện của bản thân, câu chuyện của lịch sử, của thời đại Cũng trong thời kì này, nghệ thuật điêu khắc

đã đạt mức độ hoàn chỉnh về cái đẹp tổng hòa 111

tiêu biểu qua các tượng Lực sĩ ném đĩa

(Discus Thrower) của Myron, tượng Doryphoros của Polykleitos hay nổi bật là tượng Thần Vệ Nữ Mi-lô (Venus de Milo) của Alexandros 112, thể hiện quan điểm thẩm mỹ và những lý tưởng sâu xa của con người thời bấy giờ Trong những giai đoạn tăm tối nhất của lịch sử (đêm trường Trung cổ, chiến tranh thế giới, các quốc gia bị xâm lược…) nghệ thuật đã trở thành tiếng nói chung của con người, là ―lời phi ngôn‖ nhưng mạnh mẽ bậc nhất thể hiện khát vọng thời đại Đến nay, nghệ thuật đã phát triển đến tầng mức muôn hình vạn trạng, ứng dụng của nó đã vượt thoát ra khỏi những hình hài ban đầu để đi vào mọi ngóc ngách, ngành nghề đời sống Và, liệu pháp nghệ thuật chính là một trong những hình thái phát triển cao mang tính nhân văn và ứng dụng cao đó

1.2.3.2 Đến các học thuyết về nghệ thuật và con người

Có thể thấy, lịch sử văn học, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, kịch nghệ… đều cho thấy nghệ thuật đóng một vai trò quan trọng trong đời sống con người; và ở mỗi thời kì như Cổ đại, Trung cổ, Cận đại hay Hiện đại, nó đều đạt được những thành tựu rực

110

Lê Bá Hân,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điền thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, tr.217

111 Phạm Ngọc Mai (2009), Tính nhân văn trong nghệ thuật Phục Hưng

112 Các tác phẩm điêu khắc nổi tiếng thời kì Hy Lạp cổ đại – theo Phạm Ngọc Mai (2009), Tính nhân văn trong nghệ

thuật Phục Hưng

Trang 32

rỡ đỉnh cao113 Suốt những năm tháng phát triển của mình, nghệ thuật đã trải qua nhiều thăng trầm: từ được xem như ―công cụ giao tiếp‖ thông thường đến ―tiếng nói sâu thẳm vượt ra khỏi ngôn từ‖; từ được tôn vinh như một ngành hàn lâm đến phải chịu sự vùi dập, ghẻ lạnh; từ chân thực, sâu sắc, gần gũi đến kì quái, đơn điệu, xa lạ; từ tràn đầy sự tự do phóng khoáng đến co mình trong khuôn mẫu, lề luật; từ chịu dồn ép đến vùng lên và thăng hoa; rồi từ cái tôi đến cái ta, từ tự sự đến đối thoại… Trải qua tất cả những điều đó, nghệ thuật vẫn sống mãnh liệt và ngày càng gắn kết với nhân loại hơn bao giờ ―Vì sao nghệ thuật có mối liên hệ mật thiết đối với đời sống tinh thần của con người‖ và ―điều gì

đã khiến nghệ thuật không ngừng phát triển một cách mạnh mẽ (thậm chí nhân rộng và bành trướng vượt ra khỏi ranh giới các ngành nghệ thuật cơ bản) qua năm tháng như vậy‖… luôn là những câu hỏi lớn mà nhân loại và những nhà nghiên cứu quan tâm 114 Nhiều học thuyết đã được đề xướng để kiến giải cho vấn đề mang tính ―hiện tượng‖ trên Thực chất, giải đáp được câu hỏi về sức sống cũng như ý nghĩa của nghệ thuật đối với đời sống con người, cũng tức là ta đã đi được nửa chặng đường trong việc lý giải vì sao liệu pháp nghệ thuật ngày càng phát triển và có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực tâm lý lâm sàng của thế kỉ 21

a Quan điểm Marxist

Đi từ bản chất nguồn gốc của nghệ thuật, quan điểm Marxist cho rằng nguồn gốc nguyên thủy của nghệ thuật chính là lao động của con người 115 Nói cách khác, chủ thể của nghệ thuật là quá trình lao động của con người Lao động chính là động lực thúc đẩy

sự nảy sinh những ―tác phẩm‖ nghệ thuật đầu tiên Trải qua lao động, bàn tay phát triển, cảm giác về nhịp điệu và sự cân xứng bắt đầu hình thành Đến khi tìm ra (hay chế tác) được công cụ, con người tiến lên một bậc cao hơn với khối óc thêm sắc sảo, các giác quan phát triển đến độ tinh nhạy và ý thức thẩm mỹ được khơi nguồn 116 Bên cạnh đó, lý thuyết tâm lý học hoạt động 117 quan niệm rằng tâm lí người chỉ được hình thành trong hoạt động, bằng hoạt động và thông qua hoạt động Như vậy, trong trường hợp này, con

113 Viện Hàn lâm mỹ thuật Liên xô (1956/1960), Lịch sử mỹ thuật thế giới (7 tập)

114

Lancaso, Machie (1941), Lịch sử mỹ thuật phương Đông cổ đại

115 Lê Bá Hân,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điền thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục

116 Đỗ Đức Hiểu (2004), Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới

117 Lý thuyết được sáng lập và phát triển bởi các nhà tâm lí học người Nga, tiêu biểu như L.Vygotxky, A.Leontiev…

Trang 33

người tham gia vào các hoạt động sống, vừa sáng tạo ra sản phẩm cho thế giới, vừa kiến tạo nên tâm lí của chính mình Quá trình sáng tạo nghệ thuật là một quá trình lao động tạo nên sản phẩm, vì vậy việc đó cũng đồng thời là một quá trình tâm lí Điều này có ý nghĩa tương ứng trong tiến trình trị liệu, nghĩa là,thay vì đối thoại đơn thuần bằng lời nói, thân chủ sẽ tham gia vào tiến trình trị liệu 1 cách tích cực và chủ động hơn, họ phải hoạt động

và ý thức về hoạt động của mình Quá trình trị liệu vì thế diễn ra có sự tương tác mạnh và biến chuyển về mặt tâm lý không ngừng Nó vừa cho nhà trị liệu thêm chất liệu để làm việc, vừa giúp thân chủ tự nhận biết thêm về vấn đề của mình

b Lý thuyết trò chơi

Bên cạnh hệ tư tưởng Marxist về nghệ thuật, còn có một hệ tư tưởng khác của hai nhà triết học Đức E.Kant và Schiller, đại diện cho quan điểm xem nghệ thuật cũng giống như trò chơi (sau này được phát triển thành ―lý thuyết trò chơi‖)118 Ở hệ thống quan điểm này, con người với hoạt động chơi tượng trưng cho chủ thể và tính trò chơi trong nghệ thuật tương ứng là đối tượng (cụ thể hóa và khu biệt hóa từ ―lao động‖ trong quan điểm Marxist thành ―hoạt động chơi‖) Nối tiếp quan niệm của Plato phân biệt nội hàm hai khái niệm ―trò chơi‖ và ―sự chơi‖, Kant và Schiller có sự phân chia mang tính thứ bậc giữa sự chơi thuần túy (mere play) và sự chơi có sự điều khiển của lý trí Trò chơi lúc này được xác định vừa như một phương thức giải phóng nghệ thuật ra khỏi những mục đích thực dụng của đời sống vừa như một tiêu chí đặc trưng của nghệ thuật tách biệt với các hành vi mô phỏng mang tính chất tái hiện 119.Nghệ thuật như một trò chơi mang tính vừa thả trôi về bản năng, vừa lại có thể mở cửa cho sự tham dự một phần (hay toàn phần) của lý trí giống như trò chơi giữa ý thức và vô thức, giữa sự kiểm soát và không kiểm soát trong thân chủ Trong các hoạt động của liệu pháp nghệ thuật, có một số hoạt động trị liệu - hoạt động sáng tạo đặc thù mang tính chơi đơn thuần, được tiến hành với điều kiện thân chủ ở một tâm thế thoải mái nhất có thể để đứa trẻ bên trong (inner child) được

tự do làm điều mình thích 120 Như vậy, dưới góc độ của lý thuyết này, nghệ thuật đúng là

118

Trần Thị Ngọc Trâm (2003), Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hoá của trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi), LATS Viện khoa học GD

119 Hồng Sương (2013), Thơ hiện đại Việt Nam nhìn từ lý thuyết trò chơi, tr.11

120 Hans-Georg Gadamer, 2004, Truth and Method, Continuum Publishing Group, London, New York

Trang 34

một trò chơi, việc sáng tạo nghệ thuật vì vậy cũng là một trò chơi mà ở đó thân chủ như đứa trẻ, tìm về chính mình trong quá trình thực hiện tác phẩm121 Tiến trình trị liệu bằng liệu pháp nghệ thuật cũng là một cuộc chơi mà cả thân chủ lẫn NTL phải có sự tương tác với nhau và ứng biến phù hợp để giữ cho trò chơi cân bằng, trong sáng Mặt khác, như tính 2 chiều của lý thuyết này, những hoạt động chơi của liệu pháp cũng mang tính nghệ thuật và trị liệu

c Học thuyết năng lượng dư thừa

G Spencer (1820-1903) – nhà triết học và sư phạm học Anh - đã kế thừa lý thuyết của Schiller và phát triển thành Thuyết năng lượng dư thừa 122 Khá gần với quan điểm

―hoạt động lao động‖ là cội rễ của sáng tạo nghệ thuật, Spencer giữ nguyên chủ thể là con người và đi sâu hơn vào bộ máy năng lượng của chủ thể trong quá trình sáng tạo đó Ông cho rằng nghệ thuật nảy sinh do năng lượng dư trong con người, thúc đẩy con người tìm đến hoạt động sáng tạo Cùng với đó, Spencer so sánh trò chơi trẻ em với trò chơi trong tự nhiên của các sinh vật bậc cao và cho rằng năng lượng dư thừa của các cơ thể

―con tơ‖ không được sử đụng cho các "hoạt động thực" vì tính non yếu của nó tiêu khiển qua con đường bắt chước lại các hoạt động thực của bản thân và của người lớn thành bằng hình thức trò chơi 123 Lý thuyết này có sự tương ứng với quan điểm tâm động học

(psychodynamic) trong tâm lý học, về bộ máy năng lượng và các xung năng của con

người Theo đó, quá trình sáng tạo nghệ thuật đồng nhất với quá trình trút xả và chuyển hóa năng lượng Xét trong tiến trình trị liệu và thực hành liệu pháp nghệ thuật, đó cũng là

1 quá trình điều tiết và chuyển di các xung năng Mặt khác, con người (hay thân chủ) thông qua sáng tạo nghệ thuật sẽ học được cách kiểm soát năng lượng của mình hoặc biết thể hiện nguồn năng lượng đó một cách phù hợp Như vậy, mối liên kết giữa nghệ thuật

và bộ máy năng lượng bên trong con người có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình trị liệu của liệu pháp nghệ thuật Thân chủ thông qua sáng tạo nghệ thuật bên cạnh việc giải quyết vấn đề của mình cũng đồng thời đang tự làm việc với nguồn năng lượng mà họ có

121 Jacques Derrida, Structure, Sign and Play in the Discourse of the Human Sciences

122

ĐHSP Hà Nội (2012) Nghiên cứu kỹ năng tổ chức trò chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5 tuổi của sinh viên Cao

đẳng sư phạm nhà trẻ mẫu giáo

123 Trần Thị Ngọc Trâm (2003), Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hoá của trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi)

Trang 35

d Thuyết “thanh lọc” (carthasis)

Ngoài những lý thuyết về dựa trên sự khởi nguồn, khi nói về tính liệu pháp hiện hữu tự thân trong quá trình sáng tạo hay thưởng thức nghệ thuật, ta không thể bỏ qua

chức năng ―thanh lọc‖ Thanh lọc (cartharsis) 124, có thể hiểu là sự giải phóng những căng thẳng hay cảm xúc đã dồn nén mạnh mẽ, trong một khoảnh khắc bùng nổ của sự biểu lộ Trong phân tâm học, đó có ý nghĩa là sự giải phóng của ham muốn tình dục

(libido) bị ức chế, thường liên quan đến việc gợi nhắc lại những sự kiện sang chấn đã kìm

nén trong quá khứ 125 như Freud đã nói "Nghệ thuật là sự thể hiện và thăng hoa tiềm thức cá nhân, đặc biệt là ý thức về tính dục bản năng" Đây có lẽ là chức năng mang đậm tính trị liệu nhất của nghệ thuật Điều thú vị là lí thuyết này đánh mạnh vào quá trình thưởng thức, tiếp nhận nghệ thuật hơn cả việc sáng tạo chúng Như vậy, bất kể thân chủ

có phải là chủ thể sáng tạo hay không, nắm giữ vai trò cảm thụ hay người khai sinh, thì trong liệu pháp nghệ thuật, việc đặt để bản thân và tâm trí vào không gian nghệ thuật tự thân nó đã có ý nghĩa thanh tẩy cho tâm hồn

Hầu hết các quan điểm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và con người đều tựu trung tại những giai đoạn biến cố, bi kịch, những khó khăn về cảm xúc, tinh thần của mỗi cá nhân, mà tại đó con người tìm đến nghệ thuật như một cứu cánh 126 Những xung lực, nhữnng ẩn ức, dồn nén, khó khăn về tinh thần ấy ta có thể tạm coi là một hình thù, dạng thức của vấn đề mà trong trong trị liệu gọi là ―rối nhiễu tâm lý‖, và những rối nhiễu này

đã được ―thanh lọc‖ phần nào trong tiến trình trị liệu nghệ thuật Ta có thể thấy rằng, tự bản thân nghệ thuật từ khởi điểm, từ quá trình hình thành và phát triển cũng như từ cơ sở

lý luận nền tảng và chức năng của nó đã mang trong mình ―tự tính‖ cảm hóa và tác động lên tinh thần con người Nói cách khác, nghệ thuật từ lâu đã có ―tự tính‖ như một liệu pháp Việc ứng dụng nó vào môi trường lâm sàng và hệ thống hóa nó thành một phương thức trị liệu chính là một phương cách nhân rộng và củng cố tác động của nghệ thuật lên

124 Chữ dùng của Aristote chỉ tác động chuyển hóa của bi kịch thành mỹ cảm, gột rửa tâm trí người thưởng thức – A Berndtson (1975), p 235: "The theory of catharsis has a disarming affinity with the expressional theory, since it emphasizes emotion, asserts a change in emotion as a result of aesthetic operations, and concludes on a note of freedom in relation to the emotion"

125 David Matsumoto (2009), Cambridge Dictionary of Psychology, Cambridge University Press

126 Đỗ Đức Hiểu (2004), Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới

Trang 36

con người đang đau khổ nói chung Sự kết hợp này có ý nghĩa không chỉ với riêng nghệ thuật hay tâm lý học, mà nó mang đến những cơ hội mới cho sự phát triển của người gặp khó khăn tâm lý nói chung

1.2.4 Các lý thuyết và cách thức tiếp cận của liệu pháp nghệ thuật:

Như đã trình bày trước đó, liệu pháp nghệ thuật đương đại ngày nay đã vượt thoát

ra khỏi ―cái bóng‖ lớn độc tôn của phân tâm học cổ điển nhằm tìm đến những cách thức tiếp cận, những ứng dụng mới phù hợp hơn cho cá nhân mỗi nhà trị liệu cũng như thân chủ 127 Mặc dù các tác giả đương đại có xu hướng áp dụng những thuật ngữ đặc trưng như "chuyển di", "cơ chế phòng vệ" vào trong phân tích…,chủ đích thực của họ là để minh họa cho ý tưởng của mình hơn là sử dụng toàn vẹn kỹ thuật phân tâm cổ điển vào trị liệu chính thức Phần này sẽ trình bày khái lược 5 cách tiếp cận liệu pháp nghệ thuật tiêu biểu được đánh giá là có giá trị dựa trên hiệu quả lâm sàng và mức độ phổ biến của của lý thuyết nền tảng của nó 128

1.2.4.1 Hướng tiếp cận tâm động học

Tâm động học (Psychodynamic) hay còn gọi là phân tâm mới là một phương thức

trị liệu dựa trên các lý thuyết nền tảng của Sigmund Freud về bộ máy năng lượng – xung năng với mục tiêu nỗ lực giúp thân chủ đạt được cái nhìn sâu sắc vào những động cơ vô thức của mình, hay chạm được đến vấn đề gốc rễ từ thời thơ ấu – nguồn gốc của các cuộc xung đột tâm lý và những khó khăn hiện tại129

Dù thế nào, ta cũng không thể phủ nhận được những đóng góp và ý nghĩa tiên phong của phân tâm học đối với ngành tâm lý học nói chung và liệu pháp nghệ thuật nói riêng Những ý tưởng của Freud và môn đệ đã là một phần của liệu pháp nghệ thuật từ những ngày đầu tiên, các phương thức làm việc hiện đại sau này dù có mở ra nhiều hướng tiếp cận khác nhau đang dạng hơn, song vẫn không quay lưng lại với các học thuyết nguyên khởi bởi giá trị của nó130…

127 Williams, G H., & Wood, M M (1975) Developmental art therapy Baltimore: University Park Press

128 Cathy A Malchiodi (2003) Handbook of Art Therapy

129 Roberts Feldman (2011), Understanding Psychology 10th edition

130 Cathy A Malchiodi (2003) Handbook of Art Therapy

Trang 37

Ta cũng có thể tìm thấy trong tài liệu về liệu pháp nghệ thuật những diễn giải của những các phát triển mới hơn trong phân tâm học chẳng hạn như các lý thuyết của Klein131, tâm lý học bản ngã 132, lý thuyết quan hệ đối tượng133…v.v Với sự nhấn mạnh

về hình ảnh vô thức, những khái niệm của Jung về tâm lý học phân tích và tâm lý học

truyền thống đang từng bước lấn sang lĩnh vực liệu pháp nghệ thuật Công trình của McConeghey và Chaverian 134 đều phản ánh cách tiếp cận theo Jung này

1.2.4.2 Hướng tiếp cận nhân văn

Dù đa phần liệu pháp nghệ thuật có nền tảng từ thuyết tâm động học, khá nhiều phương pháp đã thay đổi và phát triển để có thể được tích hợp vào những hướng tiếp cận

lý thuyết khác nhau trong tham vấn135 Phương pháp tiếp cận nhân văn phát triển từ giữa thế kỷ XX cùng lúc ở cả Mỹ và Châu Âu Hạt nhân cơ bản của phương pháp là quan điểm cho rằng mỗi cá nhân tồn tại với tư cách con người tổng thể tham gia vào quá trình phát triển, biến đổi không ngừng để trở thành chính nó Nói cách khác, đây là một quan điểm lạc quan về bản chất con người và thân phận con người, nhìn nhận con người trong một tiến trình sinh trưởng và phát triển, với khả năng chịu trách nhiệm cho số phận của

họ Theo đó, mặc dù có những giới hạn của yếu tố di truyền và môi trường, con người vẫn luôn có sự tự lựa chọn ‗tôi sẽ trở thành người như thế nào‘ bằng cách thiết lập cho mình những giá trị riêng và tìm cách hiện thực hoá chúng thông qua những quyết định của chính mình Cùng với sự tự do lựa chọn, con người mang trong mình gánh nặng của trách nhiệm và các vấn đề rối nhiễu sẽ nảy sinh khi con người không nhận thức được đầy

131 Weir, F (1990) The role of symbolic expression in its relation to art therapy: A Kleinian approach In T Dalley,

C Case, J Schaverian, F Weir, D Halliday, P N Hall, & D Waller (Eds.), Images of art therapy: New

developments in theory and practice (pp 109–127) London: Tavistock/Routledge

132 Lachman-Chapin, M., Jones, D., Sweig, T L., Cohen, B M., Semekoski, S S., & Fleming, M M (1999) Connecting with the art world: Expanding beyond the mental health world Art Therapy: Journal of the American Art Therapy Association, 15, 233–244

Trang 38

đủ về toàn bộ mục tiêu, cách thức và hậu quả của hành động (dễ trở nên lo âu, đau khổ, thất vọng, hối tiếc, cảm thấy mặc cảm với chính bản thân)

Ứng dụng liệu pháp nghệ thuật theo hướng tiếp cận nhân văn, mục tiêu chính của nhà trị liệu nghệ thuật lúc này là giúp thân chủ xác định tự tính tự do của chính họ, hỗ trợ thân chủ đánh giá lại kinh nghiệm và nhận ra sự phong phú về khả năng của bản thân Mặt khác, nhà trị liệu theo hướng tiếp cận này cũng mong muốn giúp thân chủ nuôi dưỡng tính độc lập, lòng tự tin và phát hiện những cách thức để thực hiện đầy đủ nhất

những tiềm năng của chính mình

Elkins và Stovall 136 đưa ra giả thuyết rằng chỉ có một số ít các nhà trị liệu nghệ thuật làm việc từ quan điểm nhân văn, trong khi một số tư liệu khác lại cho biết đây là một hướng làm việc rất được ưa chuộng tại phương Tây (trong số các trường phái như nhân văn, Gestalt, hiện sinh v v; đáp ứng cao nhất là hạng mục đầu tiên với 2,9%)137

1.2.4.3 Hướng tiếp cận nhận thức – hành vi

Nhận thức hành vi là một phương thức trị liệu tổng hòa nhiều cách tiếp cận khác

nhau như liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lí (REBT), điều chỉnh nhận thức hành vi 138, và liệu pháp nhận thức 139 Khái niệm trung tâm trong tất cả các phương pháp tiếp cận này là

―vấn đề‖ không phải thực là chính nó mà đó là giả định, kỳ vọng, là các diễn giải của thân chủ… và đó là nguồn gốc sản sinh ra các xúc cảm tiêu cực 140 Đó là những cảm xúc khiến con người cảm thấy chán nản, lo lắng… và có thể dẫn đến rối loạn cảm xúc toàn diện Theo lý thuyết nền tảng nhận thức, những đau khổ tâm lý phần lớn là một hệ quả của các rối loạn trong quá trình nhận thức, và việc thay đổi các nhận thức có thể tạo ra

thay đổi mong muốn, từ đó tác động lên hành vi

136

Elkins, D E., & Stovall, K (2000) American Art Therapy Association, Inc.: 1998–1999 Membership survey

report Art Therapy: Journal of the American Art Therapy Association, 17, 41–46

Trang 39

Trong khi liệu pháp nghệ thuật dựa trên việc sử dụng các hình tượng để điều trị, liệu pháp nhận thức hành vi lại thiên về tư duy ngôn ngữ hơn 141 Trong trị liệu nhận thức – hành vi, thân chủ được hướng dẫn bằng lời để theo dõi và ghi lại những suy nghĩ tiêu cực của mình bằng văn bản; thực hiện các danh sách, các bảng xếp hạng (cảm xúc được xếp hạng trên các thang đo)… để theo dõi tiến độ và xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề tác động lên thân chủ Mặc dù liệu pháp nghệ thuật thường tập trung vào kinh nghiệm cảm xúc, một số nhà trị liệu đã tích hợp thêm các cấu trúc nhận thức nền tảng vào quá trình làm việc của họ với trẻ em và người lớn Camic 142 sử dụng liệu pháp nhận thức hành vi dựa trên công trình của Turk, Meichenbaum, và Genest 143 cùng với liệu pháp nghệ thuật để phát triển một chương trình trị liệu về ―quản lí nỗi đau‖ Làm thế nào để sử dụng một kỹ thuật phi ngôn ngữ trong một chương trình trị liệu có cấu trúc như vậy là vấn đề được không ít nhà lâm sàng quan tâm đến Để dung hòa cách thức làm việc logic

và trí tuệ của hướng tiếp cận nhận thức – hành vi, liệu pháp nghệ thuật đã cho ra những hoạt động đặc thù, sử dụng cả biểu tượng hình ảnh và ngôn từ giao tiếp làm cầu nối cho ngôn ngữ vô thức của thân chủ

Cơ sở thực hiện sự kết hợp này của Camic dựa trên việc sử dụng các sáng tạo nghệ thuật và hình ảnh để đánh lạc hướng (làm phân tâm) thân chủ của mình ra khỏi nỗi đau của họ, sử dụng các phương thức như tăng cường ý thức về cảm xúc và ý thức trong hiện tại để giảm đau Rosal mô tả một loạt các phương pháp nghệ thuật- nhận thức hành vi trong trị liệu cá nhân và nhóm ở trẻ em và người lớn Steele và Raider 144 sử dụng bản vẽ

kỹ thuật và tái cấu trúc nhận thức để giúp trẻ em nhớ lại và đương đầu với sự kiện sang chấn Tương tự, Malchiodi 145 sử dụng các nhiệm vụ vẽ cụ thể và các câu hỏi để hỗ trợ trẻ

em trong cuộc khủng hoảng để mô tả kinh nghiệm của họ, với mục tiêu của cảm xúc và tái định hình suy nghĩ tiêu cực và giảm di chứng của stress sau sang chấn Việc tưởng

141 Cathy A Malchiodi (2003) Handbook of Art Therapy

142 Camic, P (1999) Expanding treatment possibilities for chronic pain through the expressive arts In C Malchiodi

(Ed.), Medical art therapy with adults (pp 43–61) London: Jessica Kingsley

143

Turk, D., Meichenbaum, D., & Genest, M (1983) Pain and behavioral medicine: A cognitivebehavioral

perspective New York: Guilford Press

144Steele, W (1997) Trauma response kit: Short-term intervention model Grosse Pointe Woods, Institute for

Trauma and Loss in Children

145

Cathy A Malchiodi (2003) Handbook of Psychology

Trang 40

tượng và sáng tạo ra hình ảnh có thể được lồng ghép với liệu pháp nhận thức hành vi để cải thiện hiệu quả của việc điều trị

1.2.4.4 Hướng tiếp cận tập trung vào giải pháp

De Shazer 146 là người có những đóng góp tiêu biểu cho liệu pháp giải pháp trọng tâm De Shazer khẳng định rằng các cá nhân, các cặp vợ chồng và gia đình tham gia cùng các nhà trị liệu trong buổi nói chuyện mang tính trị liệu… để nhằm mô tả những kinh nghiệm cuộc sống và vấn đề của họ Nhà trị liệu sẽ dẫn dắt, hỗ trợ và gợi dẫn về các mục tiêu cho thân chủ, kể cả trong việc xây dựng các giải pháp có thể để đạt được những mục tiêu này Thay vì "nói chuyện về ―vấn đề‖ " –một sự tìm kiếm lời giải thích tại sao các vấn đề xảy ra, các nhà trị liệu nghệ thuật theo hướng tiếp cận giải pháp trọng tâm sẽ kêu gọi thân chủ "trao đổi về giải pháp" – một giải pháp mà nhà trị liệu và thân chủ muốn cùng làm việc với nhau vì nó147 Ví dụ, một nhà trị liệu giải pháp trọng tâm sẽ hỏi: "Làm thế nào để chúng ta có thể làm việc cùng nhau và giúp bạn giải quyết vấn đề của bạn?" Đây là loại câu hỏi đặt ra giai đoạn kỳ vọng về sự thay đổi cũng như sự tham gia của thân chủ vào tiến trình trị liệu 148

Đối với cách tiếp cận này, nhà trị liệu sẽ như nhà chiến lược Các vấn đề cơ bản bắt đầu từ nỗ lực bị đặt sai chỗ, thân chủ hoặc gia đình chỉ đơn giản là đã hết cách đối phó với vấn đề, họ cũng tin rằng lựa chọn cho sự thay đổi là rất hạn chế hoặc không tồn tại Nhà trị liệu nghệ thuật lúc này sẽ phải tìm cách mở rộng các định hướng về giải pháp cho thân chủ, và khi ấy một vấn đề cụ thể đã xảy ra không quan trọng bằng việc giúp thân chủ khám phá những cách sáng tạo hơn giải quyết vấn đề Theo hướng tiếp cận này, nhà tâm lý quan niệm rằng mọi người đều có "chìa khóa" để mở khóa cửa ra vào sẽ kích thích

sự thay đổi tích cực Nhiệm vụ của nhà trị liệu là để giúp thân chủ tìm thấy những chiếc chìa khóa đúng, chứ không phải là tìm hiểu xem tại sao các khóa không mở Các bài tập

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. 2010 Stress in America report. American Psychological Association. http://www.apa.org/news/press/releases/stress/national-report.pdf. Accessed April 9, 2013 Link
2. Australian and New Zealand Arts Therapy Association(AZABTA) http://anzata.org/aboutanzata/ Link
3. British Association Art Therapist (BAAT) http://www.baat.org/aboutbaat.html 4. French Federation of Art Therapists (FFAT)http://www.ffat-federation.org/ Link
9. Anne Trueman (2012), Art Therapy and Meditation May Control Stress in Cancer Patients http://www.medindia.net/news/healthinfocus/art-therapy-and-meditation-may-control-stress-in-cancer-patients-112224-1.html Link
1. Các kiểu ứng phó với stress trong học tập của sinh viên Đại học quốc gia Hà nội, Nguyễn Hữu Thụ, Tạp chí Tâm lý học 3-2009 Khác
2. Công văn số 9971/BGD&ĐT-HSSV về Triển khai công tác tƣ vấn cho học sinh, sinh viên (năm 2005) Khác
3. Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở Hà Nội Trường Đại học Giáo dục, Vũ Thu Hà 2012 Khác
4. Đỗ Đức Hiểu (2004), Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới Khác
5. Hồng Sương (2013), Thơ hiện đại Việt Nam nhìn từ lý thuyết trò chơi, tr.11 Khác
6. ICD 10 (1992) – Bản dịch Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi, Tổ chức Y tế thế giới – WHO Khác
7. Một số biện pháp nhằm giảm hiện tƣợng stress đối với các chiến sỹ ở đơn vị cơ sở hiện nay, Đỗ Duy Môn, Tạp chí Tâm lý học 5-2008 Khác
8. Mức độ và biểu hiện về stress ở người trưởng thành, Ths. Nguyễn Thị Hải, Tạp chí Giáo dục số 219, 8/2008 Khác
9. Quyết định số 1090/QĐ-GDĐT-Thân chủ về Ban hành Quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động công tác tư vấn trường học (năm 2012) Khác
10. Stress và những giải pháp giảm stress ở cán bộ quản lý / Ngô Thị Kim Dung Tạp chí Tâm lý học 5-2010 Khác
11. Thực trạng stress lo âu và những liên quan đến lo âu ở học sinh cấp 3 trường THPT Phan Bội Châu_ Phan Thiết, Bình Thuận Hồ Hữu Tính ,Nguyễn Doãn Thành 4/2009, tạp chí y học Khác
13. Trần Thị Ngọc Trâm (2003), Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hoá của trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) Khác
14. Vấn đề stress của công nhân ở một số kdhu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Đào Thị Duy Duyên 2010 Khác
15. Vấn đề stress trong thể thao, Phạm Ngọc Viễn 2010, tạp chí Tâm lý học 3-2010 16. Lê Bá Hân,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điền thuật ngữ văn học, NXBGiáo dục, tr.217 Khác
17. Phạm Ngọc Mai (2009), Tính nhân văn trong nghệ thuật Phục Hƣng Khác
18. Nguyễn Thị Hải (2008), Nghiên cứu mức độ biểu hiện về Stress ở người trưởng thành Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w