1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cạnh tranh ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng hàng hải giữa ấn độ và trung quốc trên con đường tơ lụa trên biển tại khu vực nam á và đông nam á

126 35 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cạnh tranh ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng hàng hải giữa Ấn Độ và Trung Quốc trên con đường tơ lụa trên biển tại khu vực Nam Á và Đông Nam Á
Tác giả Phạm Hoàng Bảo Châu, Võ Ngọc Hậu, Tô Mỹ Ngọc, Nguyễn Trần Khánh Vy
Người hướng dẫn Thạc sĩ Lục Minh Tuấn
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Công trình nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (19)
    • 1.1.1. Lý thuyết về sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan (1840-1914) (21)
    • 1.1.2. Sự phát triển của lý thuyết về sức mạnh biển sau Mahan (23)
    • 1.1.3. Tác động của sức mạnh biển đến quan hệ quốc tế (24)
    • 1.2. Sự cạnh tranh của Ấn Độ và Trung Quốc dưới góc nhìn của chủ nghĩa Tân Hiện Thực (0)
    • 1.3. Khái quát về Con đường tơ lụa trên biển thời Cổ - Trung đại (30)
    • 1.4. Trung Quốc và Con đường tơ lụa trên biển (32)
      • 1.4.1. Khái niệm (32)
      • 1.4.2. Mục tiêu của Trung Quốc (33)
    • 1.5. Ấn Độ và Hành lang kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (36)
      • 1.5.1. Khái niệm (36)
      • 1.5.2. Mục tiêu của Ấn Độ (38)
  • CHƯƠNG 2 (19)
    • 2.1.1. Ấn Độ (41)
    • 2.1.2. Trung Quốc (43)
    • 2.2. Về quan hệ song phương (45)
      • 2.2.1. Ấn Độ (45)
      • 2.2.2. Trung Quốc (53)
  • CHƯƠNG 3 (20)
    • 3.1. Về quan hệ đa phương (59)
      • 3.1.1. Ấn Độ (59)
      • 3.1.2. Trung Quốc (66)
    • 3.2. Về quan hệ song phương (71)
      • 3.2.1. Ấn Độ (71)
      • 3.2.2. Trung Quốc (78)
  • CHƯƠNG 4 (20)
    • 4.1.1. Quan hệ đa phương của Ấn Độ và Trung Quốc tại khu vực Nam Á (88)
    • 4.1.2. Quan hệ song phương của Ấn Độ và Trung Quốc tại khu vực Nam Á (90)
    • 4.2. Ấn Độ và Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á (95)
      • 4.2.1. Quan hệ đa phương của Ấn Độ và Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á (95)
      • 4.2.2. Quan hệ song phương của Ấn Độ và Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á (99)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)
  • PHỤ LỤC (122)

Nội dung

Vì thế, việc phân tích mối quan hệ trong tiến trình cạnh tranh ảnh hưởng giữa Trung Quốc và Ấn Độ thông qua những chính sách của hai quốc gia này đối với các nước trong khu vực ảnh hưởng

Lý thuyết về sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan (1840-1914)

Trong lịch sử, quốc gia có những điều kiện tự nhiên, địa lý thuận lợi và biết cách tận dụng những lợi thế đó sẽ có được nhiều ưu thế hơn để gia tăng quyền lực so với những quốc gia khác Song song với quyền lực trên đất liền mà các quốc gia ra sức gây dựng ngay từ buổi đầu của lịch sử, quyền lực trên biển cũng được xem là một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh của một quốc gia Phải đến cuối thế kỉ thứ 19, những lý thuyết về chiến lược quân sự trên biển và sức mạnh biển mới được hệ thống hóa dù đã được thực hiện bởi các đế quốc hàng hải như Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan…trong nhiều thế kỉ trước

Lý thuyết gia được xem là người đặt nền tảng cho các lý thuyết về sức mạnh biển chính là Alfred Thayer Mahan (1840-1914) – thiếu tướng hải quân Mỹ, một nhà địa chiến lược và là một sử gia Ông được coi là một trong những nhà chiến lược quan trọng nhất của Mỹ thế kỉ XIX Quan điểm của ông về “quyền lực trên biển” ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hình thành tư tưởng chiến lược của lực lượng hải quân trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, Đức, Nhật và Anh Tác phẩm thể hiện những lý thuyết và quan điểm Mahan đưa ra chính là tác phẩm Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử 1660-1783, ra đời vào năm 1890 Khi đó, nước Anh đang thống trị trên các đại dương và hải quân Mỹ chưa thực sự là một thế lực có thể cạnh tranh với nước Anh Mahan đã viết về lịch sử từ năm

1660 đến năm 1783 của các quốc gia ven bờ Bắc Đại Tây Dương, ở đó, trật tự giữa các quốc gia được định đoạt trên mặt biển và bước ngoặt lịch sử được xác lập thông qua những cuộc hải chiến Mahan cho rằng, từ lâu, người ta đã nhận được rằng, những tuyến đường giao thương trên biển có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự thịnh vượng và sức mạnh các quốc gia, do đó, cần phải nghiên cứu lịch sử và kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh trên biển Đó sẽ là nguồn cung cấp những bài học lịch sử có giá trị và có thể áp dụng cho hiện tại

Trong tác phẩm của mình, Mahan lần lượt miêu tả sự trỗi dậy và những thăng trầm của các đế chế hải quân châu Âu như Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh, Pháp Ông cho rằng đằng sau sức mạnh hải quân và các cuộc hải chiến là sự thúc đẩy mạnh mẽ của các tham vọng thương mại: “Sự phát triển của các ngành kinh tế biển, đặc biệt là vận tải biển, đến một lúc nào đó, cần sự hỗ trợ của hải quân trước các nguy cơ trên biển, mà chủ yếu là sự tấn công của các lực lượng bên ngoài Ngược lại, kinh tế biển cũng là chỗ dựa vững chắc về nguồn lực, đặc biệt là tài chính, để duy trì lực lượng hải quân Tính gắn bó hữu cơ này giữa kinh tế và hải quân phải là nền tảng cho bất kỳ một chiến lược biển hiệu quả nào.” 3 Tiếp theo, ông đưa ra những nhân tố cấu thành quyền lực trên biển của một quốc gia bao gồm vị trí địa lý, điều kiện vật chất, qui mô lãnh thổ, đặc điểm người dân và vai trò của nhà nước – nhân tố quan trọng định đoạt tư duy, chiến lược biển của các quốc gia Ngoài ra, Mahan cũng đưa ra những phân tích liên quan đến sự khác biệt về sức mạnh trên biển giữa các quốc gia tự do và chuyên chế Ông lập luận rằng chỉ có chiến thuật là thay đổi theo thời gian còn những nguyên tắc thì không thay đổi: “những nguyên tắc của nghệ thuật hải chiến trong mọi thời đại là như nhau, và được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm của những cuộc chiến tranh trên biển.” 4 ; “Thỉnh thoảng, thượng tầng kiến trúc của chiến thuật lại phải thay đổi hoặc bị vứt bỏ, nhưng nền tảng cũ của chiến lược thì vẫn giữ nguyên, như thể được xây trên nền đá” 5 Trọng tâm quan điểm của Mahan là luận điểm cho rằng đại dương là Con đường giao thương, nối các quốc gia bị biển chia cắt lại với nhau Nguyên lí “biển chia rẽ và liên kết” là nguyên lí chủ đạo của ông, cho rằng, thương mại trên biển là nền tảng cho sự phát triển kinh tế, phải được hải quân bảo vệ, do đó cần phải xây dựng hạ tầng cơ sở cho lực lượng hải quân

Theo Mahan, biển cả là một Con đường lớn, nhưng người ta chỉ chọn một số tuyến đường để giao thương vì những lí do quyết định Dù còn tiềm ẩn những hiểm nguy, vận tải bằng đường thủy bao giờ cũng dễ dàng và rẻ hơn so với vận tải bằng đường bộ Những nhân tố quan trọng cho những vấn đề lịch sử và chính sách của các nước nằm bên bờ biển

3 Nhà báo Trịnh Hữu Long, “Lời giới thiệu”, Phạm Nguyên Trường (dịch) (2012), Alfred Thayer Mahan: Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660-1783, NXB Tri Thức, tr.8

4 Phạm Nguyên Trường (dịch) (2012), Alfred Thayer Mahan: Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660-1783, NXB Tri Thức, tr.11

5 Phạm Nguyên Trường (dịch) (2012), Alfred Thayer Mahan: Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660-1783, NXB Tri Thức, tr.135 là 3 lĩnh vực: 1) sản xuất hàng hóa để trao đổi, 2) vận chuyển đến nơi trao đổi và 3) các thuộc địa hỗ trợ, mở mang hoạt động vận chuyển và che chở bằng cách tạo nên những khu vực an toàn Ông đã đưa ra những điều kiện chính ảnh hưởng đến sức mạnh trên biển của quốc gia: vị trí địa lí, điều kiện vật chất (sản phẩm tự nhiên và khí hậu), quy mô lãnh thổ, quy mô dân số, đặc điểm người dân và đặc điểm chính phủ (bao gồm cả các định chế của quốc gia)

Trong tác phẩm của mình Mahan không có một định nghĩa rõ ràng về “sức mạnh biển” Tuy nhiên, ông đã nhấn mạnh và làm rõ những quan điểm của mình về mục đích và tầm quan trọng của sức mạnh biển đối với sức mạnh quốc gia Mahan đã chỉ ra được sự tương quan trực tiếp giữa sự thịnh vượng kinh tế, thương mại và sức mạnh quốc gia Trong một bài viết của mình, ông đã làm rõ hơn tầm quan trọng của nhân tố sức mạnh biển: “Một vài quốc gia có thể hơn các quốc gia khác, nhưng tất cả các quốc gia biển, nhiều hay ít, đều phụ thuộc vào thương mại biển cho sự thịnh vượng của họ, và có lẽ phụ thuộc nhiều hơn bất kì một nhân tố nào khác.” 6 Có thể nhận thấy được yếu tố kinh tế đóng vai trò trung tâm trong lý thuyết về sức mạnh biển của Mahan Theo ông, mục tiêu chiến lược của sức mạnh biển là bảo vệ quyền chủ quyền biển và sự tự do hàng hải của các quốc gia Dưới góc nhìn của Mahan, hệ thống thương mại biển toàn cầu nhưng một “cỗ máy” tạo ra sự thịnh vượng, và chính sự thịnh vượng đó sẽ sản sinh ra quyền lực 7

Sự phát triển của lý thuyết về sức mạnh biển sau Mahan

Năm 1982, Mahan cho xuất bản tác phẩm Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với

Cách mạng và Đế chế Pháp (1783-1812), trong đó ông đã bổ sung và phát triển thêm quan điểm về sức mạnh trên biển của quốc gia Sau Mahan, các học giả về sau cũng có những quan điểm về sức mạnh trên biển Ở Anh, Đại Úy John H Colomb (1838-1909) trong mốt số bài viết và bài giảng của mình đã tranh luận rằng hải quân là một nhân tố quan trọng trong phòng thủ của quốc gia Em trai của ông, Đô đốc Phillip Colomb (1831-

1899) đã xây dựng những nguyên tắc chung trong lịch sử để có thể ứng dụng vào những

6 Nicholas A.Lambert, “Classical Theories of Sea Power and World EConomic Systems”, EMC Chair Conference

Paper, the Naval War College, p.2-3

7 Nicholas A.Lambert, “Classical Theories of Sea Power and World EConomic Systems”, EMC Chair Conference

Paper, the Naval War College, p.5 cuộc chiến tranh hiện đại trong tác phẩm Các cuộc chiến trên biển (1891) Tuy nhiên, những đóng góp này vẫn chưa nhận được danh tiếng như của Mahan

Một đóng góp điển hình khác khi nhắc đến lý thuyết về sức mạnh biển chính là của Sir Julian Corbett (1854-1922) – một nhà sử học hải quân người Anh Corbett và Mahan có những điểm giống nhau trong việc thừa nhận sự cần thiết và quan trọng trong việc bảo đảm “quyền kiểm soát biển” của các quốc gia, nhưng lại có những cách hiểu khác nhau về việc nên và có thể áp dụng sức mạnh biển để đạt được những mục tiêu chính trị như thế nào Trong khi Mahan nhấn mạnh tầm quan trọng của sức mạnh biển và đưa ra những lý do để giải thích thì Corbett lại nhấn mạnh làm sao để đạt được sức mạnh biển và cách áp dụng Khi định nghĩa thuật ngữ “sức mạnh biển” ông đã viết “mục tiêu của chiến tranh trên biển lúc nào cũng là sự bảo đảm quyền kiểm soát biển hoặc ngăn chặn kẻ thù làm điều đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp” 8 Corbett đồng tình với Mahan về vai trò của kinh tế trong lý thuyết về sức mạnh biển nhưng đồng thời cũng lập luận rằng sự tấn công hay phòng thủ về thương mại trên biển chỉ là sự chệch hướng của chiến lược hải quân vì mục đích chính trị Quan điểm của Corbett khác với Mahan khi không đặt trọng tâm vào các trận chiến hạm đội Corbett nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chiến tranh trên biển và trên đất liền và đồng thời, có xu hướng tập trung vào tầm quan trọng của các thông tin liên lạc trên biển hơn là về các trận chiến Tác phẩm nổi tiếng của ông Một số nguyên tắc về chiến lược biển (1911) vẫn được xem là một tác phẩm cổ điển khi nói về sức mạnh biển sau Mahan

Ngoài ra, cũng có những nhà tư tưởng khác thuộc trường phái Đại lục (Continental School) điển hình như Trung tướng hải quân người Pháp Raoul Castex (1878-1968) và Trung tướng hải quân người Đức Wolfgang Wegener (1875-1956) Castex, với tác phẩm

Các lý thuyết về chiến lược, đã có ảnh hưởng nhất định từ Mahan nhưng phạm vi lý thuyết của ông thì rộng hơn, không chỉ nói về chiến lược biển Có thể nói, các nhà tư tưởng trường phái Đại lục đã có những nhận định về sức mạnh biển với qui mô rộng hơn và mang nhiều sắc thái hơn 9

Sự cạnh tranh của Ấn Độ và Trung Quốc dưới góc nhìn của chủ nghĩa Tân Hiện Thực

cơ sở hạ tầng hàng hải cũng như tác động của Trung Quốc và Ấn Độ vào các khu vực Nam Á và Đông Nam Á – hai khu vực nằm trên Con đường tơ lụa này Qua đó, bài nghiên cứu sẽ mang lại cái nhìn cụ thể về sự biến động và động thái của các bên liên quan

Về hướng sử dụng cụ thể của đề tài, nhóm nghiên cứu chú trọng đến việc bài nghiên cứu đề tài này sẽ hướng đến mục tiêu phục vụ cho 5 nhóm đối tượng chính Trước hết, đề tài này sẽ giúp ích cho những người đọc quan tâm đến chính trị, tình hình thế giới Thứ hai, bài nghiên cứu đề tài này cũng có thể được sử dụng như một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các học giả đang và sẽ nghiên cứu về vấn đề này Thứ ba, đề tài nghiên cứu này có thể trở thành một trong những tài liệu giúp các giáo viên, giảng viên có nhu cầu tìm hiểu cho công tác nghiên cứu, giảng dạy trong các lĩnh vực chính trị, quan hệ quốc tế… Thứ tư, đây cũng có thể xem là tài liệu cho học sinh, đặc biệt là sinh viên chuyên ngành chính trị và quan hệ quốc tế trong quá trình học tập, nghiên cứu của mình Cuối cùng, nhóm nghiên cứu mong muốn đề tài này sẽ là một nguồn tham khảo phục vụ cho các nhà chính trị, các nhà làm công tác hoạch định chính sách trong quá trình làm việc có liên quan đến vấn đề này

10 Kết cấu của đề tài

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận

Trong chương này, đề tài sẽ giới thiệu tổng quan nội dung của lý thuyết về sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan và sự phát triển cũng như tác động của sức mạnh biển đến quan hệ quốc tế Những lý thuyết về chủ nghĩa Tân Hiện thực cũng được đề cập để làm rõ cạnh tranh ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng hàng hải của hai quốc gia này trong thời điểm hiện nay Bên cạnh đó, chương 1 cũng sẽ khẳng định lại khái niệm Con đường tơ lụa trên biển thời Cổ-Trung đại và tổng hợp chiến lược Con đường tơ lụa trên biển thế kỉ XXI của Trung Quốc cùng với kế hoạch Hành lang kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Ấn Độ

CHƯƠNG 2: Cạnh tranh ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng hàng hải giữa Ấn Độ và Trung Quốc tại khu vực Nam Á

Chính sách đa phương và song phương của Ấn Độ và Trung Quốc tại khu vực Nam Á sẽ là nội dung chính của chương 2 Đề tài sẽ phân tích những hợp tác đa phương với Nam Á theo các khía cạnh quan hệ chính trị, quốc phòng và đầu tư cơ sở hạ tầng hàng hải của Ấn Độ và Trung Quốc lần lượt với các nước ở Nam Á là Sri Lanka, Maldives, Bangladesh và Pakistan

CHƯƠNG 3: Cạnh tranh ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng hàng hải giữa Ấn Độ và Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á

Tương tự chương 2, chương 3 sẽ đi sâu vào nghiên cứu chính sách đa phương và song phương của Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng lần này sẽ diễn ra ở một khu vực khác là Đông Nam Á Những quốc gia Đông Nam Á trong được phân tích trong phạm vi cạnh tranh ảnh hưởng của Ấn Độ và Trung Quốc là Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines, Campuchia và Việt Nam

Dựa trên những phân tích từ các chương trước, chương 4 sẽ làm nhiệm vụ tổng hợp và đưa ra so sánh sự cạnh tranh ảnh hưởng về cơ sở hạ tầng hàng hải của Ấn Độ và Trung Quốc trên các bình diện đa phương ở Nam Á, đa phương ở Đông Nam Á, song phương ở Nam Á và song phương ở Đông Nam Á Qua đó, nhóm sẽ rút ra kết luận và trả lời cho câu hỏi nghiên cứu “Liệu Trung Quốc hay Ấn Độ đang nắm giữ vai trò chi phối về cơ sở hạ tầng hàng hải ở Con đường tơ lụa trên biển trong khu vực Nam Á và Đông Nam Á?”

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lý thuyết về sức mạnh biển

1.1.1 Lý thuyết về sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan (1840-1914)

Trong lịch sử, quốc gia có những điều kiện tự nhiên, địa lý thuận lợi và biết cách tận dụng những lợi thế đó sẽ có được nhiều ưu thế hơn để gia tăng quyền lực so với những quốc gia khác Song song với quyền lực trên đất liền mà các quốc gia ra sức gây dựng ngay từ buổi đầu của lịch sử, quyền lực trên biển cũng được xem là một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh của một quốc gia Phải đến cuối thế kỉ thứ 19, những lý thuyết về chiến lược quân sự trên biển và sức mạnh biển mới được hệ thống hóa dù đã được thực hiện bởi các đế quốc hàng hải như Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan…trong nhiều thế kỉ trước

Lý thuyết gia được xem là người đặt nền tảng cho các lý thuyết về sức mạnh biển chính là Alfred Thayer Mahan (1840-1914) – thiếu tướng hải quân Mỹ, một nhà địa chiến lược và là một sử gia Ông được coi là một trong những nhà chiến lược quan trọng nhất của Mỹ thế kỉ XIX Quan điểm của ông về “quyền lực trên biển” ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hình thành tư tưởng chiến lược của lực lượng hải quân trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, Đức, Nhật và Anh Tác phẩm thể hiện những lý thuyết và quan điểm Mahan đưa ra chính là tác phẩm Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử 1660-1783, ra đời vào năm 1890 Khi đó, nước Anh đang thống trị trên các đại dương và hải quân Mỹ chưa thực sự là một thế lực có thể cạnh tranh với nước Anh Mahan đã viết về lịch sử từ năm

1660 đến năm 1783 của các quốc gia ven bờ Bắc Đại Tây Dương, ở đó, trật tự giữa các quốc gia được định đoạt trên mặt biển và bước ngoặt lịch sử được xác lập thông qua những cuộc hải chiến Mahan cho rằng, từ lâu, người ta đã nhận được rằng, những tuyến đường giao thương trên biển có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự thịnh vượng và sức mạnh các quốc gia, do đó, cần phải nghiên cứu lịch sử và kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh trên biển Đó sẽ là nguồn cung cấp những bài học lịch sử có giá trị và có thể áp dụng cho hiện tại

Trong tác phẩm của mình, Mahan lần lượt miêu tả sự trỗi dậy và những thăng trầm của các đế chế hải quân châu Âu như Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh, Pháp Ông cho rằng đằng sau sức mạnh hải quân và các cuộc hải chiến là sự thúc đẩy mạnh mẽ của các tham vọng thương mại: “Sự phát triển của các ngành kinh tế biển, đặc biệt là vận tải biển, đến một lúc nào đó, cần sự hỗ trợ của hải quân trước các nguy cơ trên biển, mà chủ yếu là sự tấn công của các lực lượng bên ngoài Ngược lại, kinh tế biển cũng là chỗ dựa vững chắc về nguồn lực, đặc biệt là tài chính, để duy trì lực lượng hải quân Tính gắn bó hữu cơ này giữa kinh tế và hải quân phải là nền tảng cho bất kỳ một chiến lược biển hiệu quả nào.” 3 Tiếp theo, ông đưa ra những nhân tố cấu thành quyền lực trên biển của một quốc gia bao gồm vị trí địa lý, điều kiện vật chất, qui mô lãnh thổ, đặc điểm người dân và vai trò của nhà nước – nhân tố quan trọng định đoạt tư duy, chiến lược biển của các quốc gia Ngoài ra, Mahan cũng đưa ra những phân tích liên quan đến sự khác biệt về sức mạnh trên biển giữa các quốc gia tự do và chuyên chế Ông lập luận rằng chỉ có chiến thuật là thay đổi theo thời gian còn những nguyên tắc thì không thay đổi: “những nguyên tắc của nghệ thuật hải chiến trong mọi thời đại là như nhau, và được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm của những cuộc chiến tranh trên biển.” 4 ; “Thỉnh thoảng, thượng tầng kiến trúc của chiến thuật lại phải thay đổi hoặc bị vứt bỏ, nhưng nền tảng cũ của chiến lược thì vẫn giữ nguyên, như thể được xây trên nền đá” 5 Trọng tâm quan điểm của Mahan là luận điểm cho rằng đại dương là Con đường giao thương, nối các quốc gia bị biển chia cắt lại với nhau Nguyên lí “biển chia rẽ và liên kết” là nguyên lí chủ đạo của ông, cho rằng, thương mại trên biển là nền tảng cho sự phát triển kinh tế, phải được hải quân bảo vệ, do đó cần phải xây dựng hạ tầng cơ sở cho lực lượng hải quân

Theo Mahan, biển cả là một Con đường lớn, nhưng người ta chỉ chọn một số tuyến đường để giao thương vì những lí do quyết định Dù còn tiềm ẩn những hiểm nguy, vận tải bằng đường thủy bao giờ cũng dễ dàng và rẻ hơn so với vận tải bằng đường bộ Những nhân tố quan trọng cho những vấn đề lịch sử và chính sách của các nước nằm bên bờ biển

3 Nhà báo Trịnh Hữu Long, “Lời giới thiệu”, Phạm Nguyên Trường (dịch) (2012), Alfred Thayer Mahan: Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660-1783, NXB Tri Thức, tr.8

4 Phạm Nguyên Trường (dịch) (2012), Alfred Thayer Mahan: Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660-1783, NXB Tri Thức, tr.11

5 Phạm Nguyên Trường (dịch) (2012), Alfred Thayer Mahan: Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với lịch sử, 1660-1783, NXB Tri Thức, tr.135 là 3 lĩnh vực: 1) sản xuất hàng hóa để trao đổi, 2) vận chuyển đến nơi trao đổi và 3) các thuộc địa hỗ trợ, mở mang hoạt động vận chuyển và che chở bằng cách tạo nên những khu vực an toàn Ông đã đưa ra những điều kiện chính ảnh hưởng đến sức mạnh trên biển của quốc gia: vị trí địa lí, điều kiện vật chất (sản phẩm tự nhiên và khí hậu), quy mô lãnh thổ, quy mô dân số, đặc điểm người dân và đặc điểm chính phủ (bao gồm cả các định chế của quốc gia)

Trong tác phẩm của mình Mahan không có một định nghĩa rõ ràng về “sức mạnh biển” Tuy nhiên, ông đã nhấn mạnh và làm rõ những quan điểm của mình về mục đích và tầm quan trọng của sức mạnh biển đối với sức mạnh quốc gia Mahan đã chỉ ra được sự tương quan trực tiếp giữa sự thịnh vượng kinh tế, thương mại và sức mạnh quốc gia Trong một bài viết của mình, ông đã làm rõ hơn tầm quan trọng của nhân tố sức mạnh biển: “Một vài quốc gia có thể hơn các quốc gia khác, nhưng tất cả các quốc gia biển, nhiều hay ít, đều phụ thuộc vào thương mại biển cho sự thịnh vượng của họ, và có lẽ phụ thuộc nhiều hơn bất kì một nhân tố nào khác.” 6 Có thể nhận thấy được yếu tố kinh tế đóng vai trò trung tâm trong lý thuyết về sức mạnh biển của Mahan Theo ông, mục tiêu chiến lược của sức mạnh biển là bảo vệ quyền chủ quyền biển và sự tự do hàng hải của các quốc gia Dưới góc nhìn của Mahan, hệ thống thương mại biển toàn cầu nhưng một “cỗ máy” tạo ra sự thịnh vượng, và chính sự thịnh vượng đó sẽ sản sinh ra quyền lực 7

1.1.2 Sự phát triển của lý thuyết về sức mạnh biển sau Mahan:

Năm 1982, Mahan cho xuất bản tác phẩm Ảnh hưởng của sức mạnh trên biển đối với

Cách mạng và Đế chế Pháp (1783-1812), trong đó ông đã bổ sung và phát triển thêm quan điểm về sức mạnh trên biển của quốc gia Sau Mahan, các học giả về sau cũng có những quan điểm về sức mạnh trên biển Ở Anh, Đại Úy John H Colomb (1838-1909) trong mốt số bài viết và bài giảng của mình đã tranh luận rằng hải quân là một nhân tố quan trọng trong phòng thủ của quốc gia Em trai của ông, Đô đốc Phillip Colomb (1831-

1899) đã xây dựng những nguyên tắc chung trong lịch sử để có thể ứng dụng vào những

6 Nicholas A.Lambert, “Classical Theories of Sea Power and World EConomic Systems”, EMC Chair Conference

Paper, the Naval War College, p.2-3

7 Nicholas A.Lambert, “Classical Theories of Sea Power and World EConomic Systems”, EMC Chair Conference

Khái quát về Con đường tơ lụa trên biển thời Cổ - Trung đại

Để xây dựng cơ sở nền tảng cho Con đường tơ lụa trên biển thế kỉ XXI như đề tài của nhóm nghiên cứu, nhóm sẽ tóm lược lại một số nội dung cơ bản về Con đường tơ lụa trên biển thời Cổ - Trung đại, về một kì quan hùng vĩ mà những thương nhân xa xưa đã kiến thiết để mang lại sự thông thương huyết mạch của một nền kinh tế sơ khai

Không phải ngẫu nhiên khi Con đường tơ lụa trên biển lại có chữ “tơ lụa” đi kèm và định vị cho nó Một phần chính vì nó xuất phát từ những người sáng lập nên cung đường này thời cổ đại: dân tộc Trung Hoa Trong thực tế, Trung Quốc là quốc gia phát triển việc nuôi tằm và ươm tơ để dệt lụa đầu tiên trên thế giới 26 Lúc bấy giờ, do những sản phẩm dệt tơ lụa được nhiều người dân ưa chuộng, nên nhiều thương nhân Trung Quốc đã nảy sinh dự định đem mặt hàng này đến nhiều nước lân cận buôn bán kiếm lời từ đầu nhà Tây Hán Dần dần, sự ưa chuộng ngày càng tăng lên, giao thương tơ lụa ngày càng nhiều, dẫn đến sự hình thành của hai trục đường tơ lụa trên bộ và trên biển

Nhận thấy lợi ích từ xuất khẩu ngày càng tăng, mong muốn mở rộng thương mại của các thương nhân Trung Quốc cũng lớn lên dần khi họ hi vọng hàng của mình có thể đi xa hơn về phía Tây Bên cạnh đó, điều kiện địa hình của Con đường tơ lụa trên bộ với những ngọn núi khổng lồ, những hoang mạc nóng bỏng cằn cỗi, phương tiện vận chuyển duy nhất chỉ là lạc đà thồ hàng khiến cho việc vận chuyển không đạt hiệu quả và phải kéo dài trong một thời gian khá lâu Chính những điều kiện trên đây đã dẫn tới nhu cầu tìm một tuyến đường khác thuận tiện hơn, đáp ứng những nguyện vọng của thương gia và tầng lớp cai trị nhà Hán Con đường tơ lụa trên biển trên vùng biển phía Nam Trung Hoa chính vì thế đã ra đời trên vùng biển phía Nam

26 Wenhua Li (2001), Agro-ecological farming systems in China, UNESCO, p.28

Thông qua nhiều ghi ghép lịch sử và các hiện vật mà các nhà khảo cổ học đã khai quật được, giới nghiên cứu đã có nhiều bằng chứng để khẳng định sự hình thành và phát triển của tuyến đường tơ lụa trên biển thời cổ đại Theo đó, xuất phát từ cảng Từ Văn, Hợp Phố (bán đảo Lôi Châu) qua vịnh Bắc Bộ, Con đường tơ lụa trên biển men dọc theo bờ biển Việt Nam, vòng qua vịnh Thái Lan rồi di chuyển xuống vùng tây – nam Malaysia, thông qua eo Malaca Con đường tơ lụa từ đây tiếp tục vòng lên phía bờ biển nam Thái Lan, qua Miến Điện (Myanmar) vào vịnh Bengal rồi xuôi xuống vùng nam Ấn Độ và dừng lại trên đảo Sri Lanka (xem phụ lục 1) 27 Khi Con đường tơ lụa trên biển xuất hiện cũng là khoảng thời gian quan hệ giao lưu kinh tế giữa Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á chuyển sang một giai đoạn mới Sự phát triển kỹ thuật hàng hải và những thay đổi trong các tuyến hải trình là nguyên nhân thúc đẩy sự giao lưu kinh tế hàng hóa giữa Trung Quốc và Đông Nam Á Tơ lụa trở thành một mặt hàng trao đổi chủ lực trong thời kì này, là sản phẩm trao đổi chủ yếu của thương nhân Trung Quốc với với nhân dân các quốc gia Đông Nam Á

Cũng cần nhấn mạnh vào thời điểm này, Con đường tơ lụa trên biển còn mang tên

“Con đường hồ tiêu” hay “Con đường gia vị” (hương liệu) Khoảng 2000 năm trước Công nguyên, những thương gia Ấn Độ và Indo-Malay đã dọc theo trục đường nối liền những cảng biển từ bờ biển Đông của Ấn Độ đến Quảng Châu của Trung Quốc nhằm buôn bán và trao đổi hương liệu, gia vị, nhiều nhất là hồ tiêu khiến những thứ nguyên liệu này trở thành tên chính của Con đường Ấn Độ lúc bấy giờ lại chính là một điểm nối quan trọng của Con đường hồ tiêu Từ bờ biển Chola của Ấn Độ và Sri Lanka, hàng hóa sẽ được vận chuyển từ Đông sang Tây trên biển và đôi khi vươn xa đến cả bờ biển Trung Á Tương tự như Con đường tơ lụa, những Con thuyền mua bán lưu thông trên Con đường hồ tiêu đều nhờ vào sức đẩy của gió mùa từ Ấn Độ Dương, xuyên qua eo biển Malacca và bán đảo Malay, cảng Óc Eo của Phù Nam Mặc dù trong những giai đoạn đầu, hoạt động thương mại Con đường tơ lụa và hương liệu trên biển chưa có nhiều điểm đặc sắc nhưng đây chính là những nền tảng cơ bản để Trung Quốc và Ấn Độ thực hiện những động thái đầu tiên nhằm mở rộng giao lưu kinh tế - văn hoá với các nước Đông Nam Á và Nam Á và tới

27 Tansen Sen (2014) - Silk Road Diplomacy – Twists, Turns and Distorted History, bản dịch của nghiencuuquocte.net tại http://nghiencuuquocte.net/2014/10/20/ngoai-giao-Con-duong-to-lua-xuyen-tac-lich- su/#sthash.r1EStTpl.dpuf truy cập ngày 12/12/2014 tận châu Âu Nền văn minh và giao thương rực rỡ của Con đường tơ lụa trên biển trong những giai đoạn sau cũng chính là lý do thúc đẩy để những cường quốc châu Á của thế kỉ XXI có những suy tính khôi phục trở lại một trong những tuyến đường giao thương lâu đời nhất trên thế giới này.

Trung Quốc và Con đường tơ lụa trên biển

Với ảnh hưởng sâu rộng của Con đường tơ lụa trên biển thời Cổ - Trung đại, Trung Quốc vẫn luôn muốn khôi phục tuyến đường thông thương quan trọng hàng đầu của khu vực này với mục tiêu rõ ràng nhất là mở rộng và tăng cường sự hiện diện cũng như ảnh hưởng của quốc gia trong khu vực Tuy nhiên, cho dù cơ bản dựa trên trục đường đã tồn tại hàng ngàn năm nay, Con đường tơ lụa trên biển thế kỉ XXI vẫn có những nét khác biệt đặc trưng, mang tầm vóc của những chính sách và chiến lược tầm cỡ trong thời đại mới

Tham vọng khôi phục Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc đã có từ lâu, song, chỉ đến tháng 9/2013, khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chính thức công bố thì kế hoạch này mới dần hiện rõ đến công chúng và thế giới Chưa đầy một năm sau khi đảm nhận vị trí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đưa ra sáng kiến chính sách đối ngoại mới được gọi là “Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa.” Tháng 10/2013, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc lần thứ 16 được tổ chức ở Brunei, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đề xuất việc xây dựng một “Con đường Tơ lụa trên biển” thế kỷ XXI để cùng nhau thúc đẩy hợp tác hàng hải, kết nối, nghiên cứu khoa học và môi trường, và các hoạt động khai thác hải sản Vài ngày sau đó, trong bài phát biểu trước Quốc hội Indonesia, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã lên tiếng ủng hộ ý tưởng này và tuyên bố Trung Quốc sẽ đóng góp kinh phí để “phát triển mạnh mẽ quan hệ đối tác hàng hải trong một nỗ lực chung nhằm xây dựng Con đường Tơ lụa trên biển của thế kỷ XXI,” kéo dài từ bờ biển Trung Quốc đến Địa Trung Hải Hai nhà lãnh đạo của Trung Quốc là Thủ tướng Lý Khắc Cường và Chủ tịch Tập Cận Bình qua đó đưa ra công thức hợp tác “2+7” dựa trên sáng kiến về Con đường

Tơ lụa trên biển Theo đó, sẽ có hai vấn đề đáng chú ý: một là, quá trình làm sâu sắc niềm tin và tình hữu nghị giữa các nước láng giềng và hai là, phát triển kinh tế dựa trên lợi ích chung để đạt được kết quả có lợi cho cả hai bên (win-win) Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng đưa ra 7 kiến nghị thông qua những hiệp ước của Trung Quốc với ASEAN mà họ hi vọng một khi Con đường tơ lụa trên biển được khôi phục và thúc đẩy thì các hiệp ước này cũng nhanh chóng được kí kết Đó là sử dụng hiệu quả hơn các khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN và các cuộc đàm phán Đối tác kinh tế; đẩy mạnh các dự án cơ sở hạ tầng chung; hợp tác tài chính và phòng chống rủi ro trong khu vực mạnh mẽ hơn; hợp tác hàng hải chặt chẽ hơn; tăng cường hợp tác về an ninh; phát triển, trao đổi văn hóa, hợp tác bảo vệ môi trường và khoa học 28

Con đường tơ lụa trên biển thế kỉ XXI sẽ bắt đầu từ Tuyền Châu (tỉnh Phúc Kiến) chạy qua Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông), Bắc Hải (tỉnh Quảng Tây) và Hải Nam sau đó trước theo hướng nam tới eo biển Malacca Từ Kuala Lumpur, nó được kéo đến Kolkata (Ấn Độ) rồi đi tiếp qua phần còn lại của Ấn Độ Dương Từ đây tuyến đường sẽ tiếp tục hành trình vươn đến các đảo quốc và nước ven biển ở châu Phi và Địa Trung Hải Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của nhóm sẽ dừng lại ở khu vực Ấn Độ Dương (xem phụ lục 2)

1.4.2 Mục tiêu của Trung Quốc

Lý do Trung Quốc đã đề xuất việc xây dựng lại Con đường tơ lụa trên biển là để khám phá những giá trị và ý tưởng của Con đường tơ lụa thời xưa, cụ thể là các nước sẽ cùng học hỏi lẫn nhau sự độc đáo của thời cổ đại, đồng thời có thể bổ sung những thành tựu mới mẻ của thời đại hiện nay, qua đó sẽ đạt được sự phát triển và sự thịnh vượng chung của tất cả các nước trong khu vực Đó là những thông điệp mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc phát biểu ra công chúng và thế giới, song, thực chất ý đồ của Trung Quốc trong ý tưởng xây dựng “Con đường tơ lụa mới” trên biển được nhiều nhà nghiên cứu phân tích theo các mục tiêu và lợi ích chính sau đây

Một là, tạo ra một trật tự mới trên biển mà các nước, trước hết là các nước láng giềng ven biển đi theo một quỹ đạo do Trung Quốc điều hành và chi phối Trong thời đại mà châu Á dần được định vị như một trung tâm kinh tế và chính trị mới của thế giới, chính sách đối ngoại của nhiều cường quốc đồng loạt chuyển hướng tới khu vực châu Á Thái Bình Dương, thì khu vực này đang dần bước vào một giai đoạn địa chính trị đặc trưng bởi những lợi ích chung, những lợi ích chồng chéo và thậm chí là rất nhiều xung đột

28 Justyna Szczudlik-Tatar (2013), China’s New Silk Diplomacy, PISM Policy Paper, No 34 (82),

Một khi lưu thông và thông tin liên lạc bằng Con đường tơ lụa trên biển được phổ biến, một hệ thống của tất cả các nước có liên quan sẽ được xây dựng với những mối quan tâm chung, lợi ích chung mà người đứng đầu sẽ chính là quốc gia đưa ra sáng kiến này: Trung Quốc Rõ ràng, Con đường tơ lụa đại diện cho tầm nhìn của Trung Quốc cho một cộng đồng kinh tế và chính trị phụ thuộc lẫn nhau kéo dài từ Đông Á đến tây Âu 29 Hơn nữa, các Con đường tơ lụa trên biển sẽ kết nối với Con đường tơ lụa trên bộ cũng như “Hành lang kinh tế Trung Quốc Ấn Độ-Bangladesh-Myanmar (BCIM)” và chiến lược “Một trục – hai cánh” của Trung Quốc mà Trung Quốc vẫn đang thực hiện hóa 30 Tất cả đều nằm trong kế hoạch tổng thể “chuỗi ngọc trai” với tham vọng trở thành cường quốc biển và xa hơn là để cạnh tranh vị trí siêu cường của Mỹ từ Trung Quốc

Hai là, Con đường tơ lụa trên biển sẽ giúp Trung Quốc chứng minh với thế giới sự trỗi dậy hòa bình thông qua việc thực thi chính sách ngoại giao láng giềng Qua việc sử dụng “Con đường tơ lụa trên biển”, Trung Quốc cố gắng tạo ra một hình ảnh mềm mại, thân thiện và hòa hữu cho sự trỗi dậy và mở rộng ảnh hưởng của mình 31 Tại một bài phát biểu trước quốc hội Indonesia vào năm 2013, Chủ tịch Tập Cận Bình đề ra một lộ trình rõ ràng cho việc phát triển và tăng cường hợp tác hàng hải sẽ là một nhiệm vụ ưu tiên trong việc xây dựng các Con đường tơ lụa trên biển 32 Tất nhiên đây sẽ là một nhiệm vụ tầm cỡ không thể nào hoàn thành tất cả trong tương lai gần Vì thế, thay vào đó, Trung Quốc và các nước có liên quan cần phải phối hợp cùng nhau từng bước một Tất cả sẽ được dựa trên các cơ chế hợp tác hiện có và các nền tảng và được thúc đẩy bởi Trung Quốc và các nước khác dọc theo tuyến đường

Ba là, Con đường tơ lụa trên biển sẽ trở thành một cơ sở hợp pháp để Trung Quốc có thể khai thác các tài nguyên biển cả và đại dương trên những khu vực mà Con đường

29 Ngọc Mai (2014), “Tham vọng của Trung Quốc từ „Con đường tơ lụa mới‟ ”, báo Thanh Niên, http://www.thanhnien.com.vn/the-gioi/tham-vong-cua-trung-quoc-tu-Con-duong-to-lua-moi-508683.html truy cập ngày 12/12/2014

30 Liu Cigui (2014) , “Reflections on Maritime Partnership: Building the 21 st Century Maritime Silk Road”, Viện nghiên cứu quốc tế học Trung Quốc, http://www.ciis.org.cn/english/2014-09/15/Content_7231376.htm truy cập ngày 12/12/2014

31 Tansen Sen (2014) - Silk Road Diplomacy – Twists, Turns and Distorted History, bản dịch của nghiencuuquocte.net tại http://nghiencuuquocte.net/2014/10/20/ngoai-giao-Con-duong-to-lua-xuyen-tac-lich- su/#sthash.r1EStTpl.dpuf truy cập ngày 12/12/2014

32 Liu Cigui (2014) , “Reflections on Maritime Partnership: Building the 21 st Century Maritime Silk Road”, Viện nghiên cứu quốc tế học Trung Quốc, http://www.ciis.org.cn/english/2014-09/15/Content_7231376.htm truy cập ngày 12/12/2014 đi qua, đặc biệt nhất là dầu mỏ và khí đốt, những nguồn tài nguyên hóa thạch giá trị mà Trung Quốc vẫn ra sức kiếm tìm Với việc đặt ngoại giao năng lượng nằm ở vấn đề lớn thứ ba sau ngoại giao nước lớn và ngoại giao láng giềng, Trung Quốc liên tục chủ động thăm dò và khai thác năng lượng tại những khu vực tranh chấp mà điển hình nhất là vùng biển Đông và Ấn Độ Dương Cho dù thể hiện chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” với các nước liên quan, song những động thái gần đây của Trung Quốc đều khiến các quốc gia trong khu vực lo ngại về một đất nước hung hăng, nóng vội Một khi trục đường này chính thức được xác lập, Trung Quốc sẽ có tiền đề vững vàng để thực hiện hoạt động thăm dò và khai thác năng lượng trong khu vực ảnh hưởng truyền thống của chính mình

Bốn là, Con đường tơ lụa trên biển sẽ là một bàn đạp pháp lý để Trung Quốc hiện thực hóa toan tính về lãnh thổ và yêu sách biển đảo của họ Điều mà các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Nam Á vẫn luôn e ngại sẽ trở thành hiện thực đó là một tính chính danh cho sự hiện diện của Trung Quốc, mà trước hết là khu vực Biển Đông, eo biển Malacca, Ấn Độ Dương Một khi sáng kiến của Trung Quốc được cộng đồng thế giới chấp thuận và hoan nghênh, họ sẽ càng có thêm cơ hội để mở rộng ảnh hưởng trên biển và tăng cường ảnh hưởng về quân sự trên biển Điều này rõ ràng sẽ dẫn đến việc Trung Quốc sở hữu phía có lợi của cán cân quyền lực trên biển do tuyến đường giao thông khu vực lúc bây giờ không ai khác hơn sẽ do họ làm chủ và thao túng Qua đó, chủ quyền biển đảo của các quốc gia trong khu vực chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Đặc biệt, đối với Biển Đông, Trung Quốc đã từng đưa ra lập luận rằng trước đây, trong quá trình thực hiện “Con đường tơ lụa” trong thời kỳ cổ đại Con tàu của Trịnh Hòa đã “xác lập và thực thi chủ quyền” đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để biện minh cho yêu sách về chủ quyền của họ Trung Quốc sẽ tiếp tục sử dụng “Con đường tơ lụa trên biển” mới để biện minh cho các hành động hung hăng ở Biển Đông làm cho tình hình Biển Đông nóng hơn và căng thẳng hơn 33

Cuối cùng, sáng kiến “Con đường tơ lụa trên biển” của Trung Quốc được đưa ra còn nhằm mục tiêu đẩy Mỹ và các nước phương Tây ra khỏi khu vực Trước sự thay đổi trục từ Tây sang Đông, từ khu vực Trung Đông sang châu Á của Mỹ, Bắc Kinh quan ngại về

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w