1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống của phụ nữ việt nam sau khi kết hôn với người nước ngoài hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã bình minh và huyện bình tâm, tỉnh vĩnh long)

82 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đời sống của phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn với người nước ngoài hiện nay
Tác giả Huỳnh Thị Khánh Vy
Người hướng dẫn Ths. Phạm Thị Thùy Trang
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2016
Thành phố Vĩnh Long
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA XÃ HỘI HỌC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA ĐỀ TÀI Đời sống của phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn với

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA XÃ HỘI HỌC

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA

ĐỀ TÀI

Đời sống của phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn với

người nước ngoài hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại địa bàn Thị xã Bình Minh và Huyện Bình

Tân, tỉnh Vĩnh Long)

GVHD: Ths Phạm Thị Thùy Trang

Tháng 3/2016

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1 1

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4.1.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.1.2 Khách thể nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

6.1 Phân tích thông tin từ tài liệu thứ cấp 4

6.2 Phương pháp xử lý thông tin 6

7 Mô tả mẫu 6

8 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 8

8.1 Ý nghĩa lý luận 8

8.2 Ý nghĩa thực tiễn 8

9 Hạn chế trong quá trình thực hiện khóa luận 8

10 Kết cấu khóa luận 9

PHẦN 2: NỘI DUNG 10

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 10

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.1 Thực trạng HNXQG tại Việt Nam………11

1.2 Các tác động ảnh hưởng của HNXQG tại địa phương………….………12

1.3 Đời sống hôn nhân của phụ nữ Việt Nam với nước ngoài………14

2 Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu 16

2.1 Cách tiếp cận trong nghiên cứu……….16

2.2 Lý thuyết hệ thống gia đình……… 17

2.3 Lý thuyết phát triển gia đình………18

2.4.Lý thuyết xung đột của B.Strong………19

2.5 Lý thuyết trao đổi xã hội của Peter Blau……… ……….21

3 Mô hình phân tích 23

4 Câu hỏi nghiên cứu 24

5 Giả thuyết nghiên cứu 24

6 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 24

Trang 3

6.1 Hôn nhân có yếu tố nước ngoài……… 24

6.2 Gia đình ……… …25

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 26

1 Bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội tỉnh Vĩnh Long 26

1.1.Vị trí địa lý – Điều kiện tự nhiên……… 26

1.2.Điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội….……….……… 27

2 Bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội tại Thị xã Bình Minh và Huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long 28

3 Thực trạng HNXQG tại địa bàn nghiên cứu 30

3.1 Số lượng, phân bố và xu hướng của cuộc kết hôn……….………30

3.2 Đặc điểm các cuộc HNXQG tại địa phương……….……….33

3.2.1 Các đặc điểm nhân khẩu của phụ nữ Việt Nam……… ………33

3.2.2.Các đặc điểm nhân khẩu của người chồng nước ngoài………….……… ………34

3.3.Các chính sách, chương trình liên quan đến HNXQG thực hiện tại địa phương………… 37

CHƯƠNG III: ĐỜI SỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM SAU KHI KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY 40

1 Giai đoạn thành lập 40

1.1 Nguyên nhân quyết định kết hôn với người nước ngoài……….39

1.2.Quá trình làm thủ tục kết hôn……… ……… 43

1.3.Nơi ở và làm việc sau kết hôn………… ………45

1.4 Mối quan hệ……….………….47

1.4.1.Mối quan hệ với chồng và gia đình chồng……… ……….………….47

1.4.2.Mối quan hệ cộng đồng……….……….…… 49

1.5.Sự tiếp cận và kiểm soát nguồn lực…….……….……… 50

2 Giai đoạn mở rộng 53

2.1.Nơi ở và việc làm……….……….……….52

2.2.Các mối quan hệ……….… ……….57

2.2.1.Mối quan hệ với chồng và gia đình chồng… …….……….……….………57

2.2.2.Mối quan hệ cộng đồng……….……… 58

2.3.Tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực……….……….……… 60

3 Giai đoạn ly hôn 63

3.1.Nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ……….…63

3.2.Quá trình làm thủ tục ly hô……… 66

3.3 Nơi ở và làm việc sau ly hôn……….67

Trang 4

3.4.Các mối quan hệ……….69

3.4.1.Mối quan hệ với chồng và gia đình chồng……… ……….69

3.4.2.Mối quan hệ cộng đồng……….……… …71

3.5.Sự tiếp cận và kiểm soát nguồn lực……… ………72

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73

1.Kết luận……….…73

2.Khuyến nghị……… 74

Trang 5

Thế nhưng, trong nhiều năm trở lại đây, các cô dâu Việt Nam tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐSBCL) kết hôn với người nước ngoài, cụ thể là những quốc gia như Đài Loan, Hàn Quốc với số lượng tăng đột biến, đồng thời nảy sinh nhiều vấn

đề xã hội nên HNXQG đã trở thành một hiện tượng được dư luận cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm

Nhìn chung, những cuộc kết hôn với người nước nước ngoài của phụ nữ thuộc khu vực ĐBSCL có thể chia thành hai xu hướng chính như sau:

Thứ nhất, những cuộc hôn nhân gần như thỏa mãn được những nguyện vọng của

cô dâu cũng như gia đình cô dâu khi quyết định kết hôn với người nước ngoài Các cô dâu Việt Nam có đời sống hạnh phúc, dư dả, đóng góp không ít vào kinh tế gia đình nói riêng và kinh tế địa phương nói chung Những trường hợp cô dâu có cuộc sống hạnh phúc đa phần chọn sinh sống và làm việc tại quê hương của người chồng

Thứ hai, những trường hợp hôn nhân đổ vỡ, không hạnh phúc Những khó khăn trong đời sống diễn ra trên “đất khách”, bất đồng trong ngôn ngữ, văn hóa và nhiều yếu tố khác đã dẫn đến sự xung đột trong đời sống hôn nhân của những gia đình xuyên quốc gia này Thậm chí một số cô dâu trốn về nước, mang theo những đứa con mang hai dòng máu Sau khi trở về, các cô dâu thường gặp những khó khăn trong việc hòa nhập lại với cuộc sống, công việc hoặc có thể mang những dư chấn về tâm lý Ngoài

Trang 6

ra, những trường hợp này cũng có thể gặp một số vấn đề bất cập trong quá trình làm các loại giấy tờ, thủ tục pháp lý tại Việt Nam

Như vậy, những cuộc hôn nhân này dù đi theo xu hướng nào, cũng có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống của các thành viên trong gia đình, mà cụ thể là người

chồng, người vợ và những đứa con Từ những vấn đề trên, tác giả chọn đề tài “Đời

sống của phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn với người nước ngoài hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại địa bàn Thị xã Bình Minh và Huyện Bình Tân, tỉnh

Vĩnh Long)” để thực hiện nghiên cứu, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về đời sống

sau hôn nhân với người nước ngoài của các cô dâu tại khu vực ĐBSCL

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài “Đời sống sau kết hôn của phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài (Nghiên

cứu trường hợp tại Thị xã Bình Minh và Huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long)” được thực

hiện với những mục tiêu như sau:

- Nghiên cứu thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của những cô dâu trong đời sống hôn nhân;

- Nghiên cứu đời sống của những trường hợp hôn nhân đổ vỡ và quay về Việt Nam;

- Tìm hiểu những chính sách và chương trình hỗ trợ cho các cô dâu Việt ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài;

- Đưa ra những khuyến nghị mang tính giải pháp nhằm bổ sung, hoàn thiện những quy định pháp luật cũng như những chương trình hỗ trợ phụ nữ Việt Nam khi kết hôn với người nước ngoài

Trang 7

3 Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hướng đến những nội dung sau:

- Bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội tại địa phương;

- Thực trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại địa phương;

- Đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ sau khi kết hôn với người nước ngoài;

- Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến chính sách, chương trình dành cho phụ nữ kết hôn với người nước ngoài;

- Đề xuất những khuyến nghị liên quan đến chính sách ở mỗi quốc gia, góp phần hoàn thiện hơn công tác quản lý với vấn đề hôn nhân xuyên quốc gia

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đời sống của phụ nữ Việt Nam sau khi kết với người nước ngoài

4.1.2 Khách thể nghiên cứu

- Cô dâu kết hôn với người nước ngoài hiện đang sinh sống tại địa phương

- Cô dâu kết hôn với người nước ngoài đang về thăm gia đình

- Hộ gia đình có con kết hôn với người nước ngoài

- Hộ gia đình tại địa phương (không có con kết hôn với người nước ngoài)

- Cán bộ phụ trách vấn đề liên quan đến HNXQG tại địa phương

5 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu tại địa bàn thị xã Bình Minh và huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

- Thời gian thực hiện từ tháng 9/2015 đến tháng 1/2016

Trang 8

- Nghiên cứu những trường hợp các cô dâu kết hôn với người nước ngoài (Đài Loan, Hàn Quốc, Mỹ, Malaysia…), không thực hiện nghiên cứu với những trường hợp là Việt kiều

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phân tích thông tin từ tài liệu thứ cấp

Các thông tin, tài liệu thứ cấp được đề tài sử dụng để phân tích trong khóa luận dựa trên hai nguồn cơ sở dữ liệu chính:

- Từ tư liệu sẵn có: Những luận văn, báo cáo kết quả của các nghiên cứu trước, các bài viết khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các văn bản luật, chính sách, chương trình hỗ trợ đời sống cô dâu và các bài báo, trang mạng có liên quan đến đề tài

- Từ cuộc nghiên cứu “Các tác động xã hội của Hôn nhân xuyên quốc gia đến khu vực Đồng bằng sông Cửu Long – Nghiên cứu tại thị xã Bình Minh và Huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long” do đoàn nghiên cứu thuộc khoa Xã hội học thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM thực hiện vào tháng 12//2015

Phương pháp nghiên cứu định lượng:

Điều tra bảng hỏi với 443 đại diện cha/ mẹ cô dâu kết hôn với người nước ngoài tại

ba xã: Thuận An (Thị xã Bình Minh): 148 bảng hỏi, xã Tân Lược: 137 bảng hỏi và xã Tân An Thạnh (Huyện Bình Tân): 158 bảng hỏi

Phương pháp nghiên cứu định tính:

- Phương pháp thu thập tư liệu sẵn có:

Thu thập tài liệu từ các cơ quan tại địa phương như các văn bản luật, văn bản thực hiện các chương trình, chính sách, danh sách các hộ gia đình, số liệu thống kê… từ các

cơ quan hành chính tại địa phương

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Trang 9

Theo kết quả từ cuộc nghiên cứu, tổng cộng có 57 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện tại địa phương Bảng tiêu chí phỏng vấn sâu được thiết kế cho các đối tượng phỏng vấn là các cô dâu kết hôn với người nước ngoài, hộ gia đình có con kết hôn với người nước ngoài, các cán bộ địa phương phụ trách các vấn đề có liên quan đến hôn nhân xuyên quốc gia và một bảng tiêu chí phỏng vấn sâu trẻ em là con của các cuộc HNXQG và người nuôi dưỡng Cụ thể

+ Cô dâu kết hôn với người nước ngoài: 14 cuộc

+ Hộ gia đình có con kết hôn với người nước ngoải: 18 cuộc

+ Cán bộ địa phương: 18 cuộc

+ Trẻ em là con của HNXQG và người nuôi dưỡng: 7 cuộc

Phương pháp thảo luận nhóm (TLN)

Thực hiện 10 cuộc TLN với các đối tượng của thể như sau (Bảng 1):

Bảng 1- Đối tượng TLN

HGĐ có con kết hôn với người

nước ngoài

HGĐ không có con kết hôn với

người nước ngoài

Trang 10

Thực hiện quan sát và viết biên bản quan sát với các đối tượng như: quan sát cộng đồng, sở Tư pháp và các trung tâm, hộ gia đình có con lấy chồng nước ngoài, cô dâu kết hôn với người nước ngoài và trẻ em là con của các cuộc HNXQG

6.2 Phương pháp xử lý thông tin

- Thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS

- Thông tin định tính được mã hóa, chọn lọc và sắp xếp nội dung theo các vùng chủ

đề

7 Mô tả mẫu

Với đề tài “Đời sống của phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn với người nước ngoài hiện nay”, tác giả chủ yếu sử dụng thông tin định tính từ dữ liệu của các cuộc phỏng vấn sâu các cô dâu kết hôn với người nước ngoài

Sau khi tổng hợp nội dung từ các cuộc phỏng vấn của đối tượng này, có thể chia các trường hợp cô dâu kết hôn với người nước ngoài thành các nhóm như sau:

Nhóm các cô dâu kết hôn với người nước ngoài hiện đang sống và làm việc tại

nước ngoài (4 trường hợp) Trong đó:

- 3 trường hợp cả vợ chồng và con lai hiện đang sống và làm việc tại nước ngoài

- 1 trường hợp vợ chồng đang sống và làm việc tại nước ngoài, con lai gửi về Việt

Nam từ lúc 2 tháng tuổi (Bảng 2)

Bảng 2: Thông tin nhân khẩu từ các cuộc phỏng vấn sâu các cô dâu kết hôn với

người nước ngoài về thăm gia đình

STT Mã

BB

Tên Tuổi Trình

độ học vấn

Nghề nghiệp hiện nay

Số năm sống ở nước ngoài

Số con Tuổi

người chồng

Quốc tịch người chồng

Nghề nghiệp chồng

Năm kết hôn

Trang 11

04 nhân điện,

nước

Nhóm các cô dâu kết hôn với người nước ngoài hiện đang sống và làm việc tại

Việt Nam (9 trường hợp) Trong đó

- 5 trường hợp cô dâu đã làm thủ tục ly dị hoặc tự ý quay về Việt Nam sinh sống

- 2 trường hợp cô dâu đã hoàn tất thủ tục kết hôn, đang chờ làm thủ tục qua nước ngoài

- 1 trường hợp cô dâu kết hôn với người nước ngoài nhưng cả gia đình đều đang sống tại Việt Nam

- 1 trường hợp cô dâu đang sống tại Việt Nam cùng với con lai, chồng hiện đang sống ở

nước ngoài nhưng cũng mong muốn sinh sống tại Việt Nam (Bảng 3):

Bảng 3: Thông tin nhân khẩu từ các cuộc phỏng vấn sâu các cô dâu kết hôn với

người nước ngoài hiện đang sống tại Việt Nam

STT Mã

BB

Tên Tuổi Trình

độ học vấn

Nghề nghiệp hiện nay

Tình trạng hôn nhân

Số năm sống ở nước ngoài

Số con Tuổi

người chồng

Quốc tịch người chồng

Nghề nghiệp chồng

Năm kết hôn

2013

Trang 12

9

VN-09

bán ở chợ

2013

Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một số thông tin từ các cuộc phỏng vấn sâu khác với các thành viên trong hộ gia đình có con kết hôn với người nước ngoài; người nuôi dưỡng con trong cuộc HNXQG; Cán bộ địa phương phụ trách những thông tin liên quan đến đề tài như Chủ tịch/ Phó chủ tịch xã; cán bộ Hội Phụ Nữ tại huyện và thị xã; cán bộ Sở Tư Pháp tỉnh, cán bộ phụ trách tư pháp tại huyện, thị xã; Công an huyện;…

8 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Với đề tài này, tác giả mong muốn bổ sung thêm vào bức tranh nghiên cứu về vấn

đề hôn nhân xuyên quốc gia, từ đó góp phần làm phong phú nguồn tài liệu tham khảo chuyên ngành xả hội học

Đồng thời, nghiên cứu hy vọng góp phần làm cơ sở để có những gợi ý giải pháp dành cho chính quyền hai bên, nhằm có những biện pháp giải quyết đúng đắn và kịp thời, giữ vững mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các quốc gia khác

9 Hạn chế trong quá trình thực hiện khóa luận

Trong khả năng của tác giả khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đời sống sau hôn

nhân của phụ nữ Việt Nam trong hôn nhân xuyên quốc gia hiện nay” không thể

tránh khỏi những sai sót do hiểu biết về kiến thức chuyên ngành của tác giả còn ít, thiếu kinh nghiệm trong quá trình thu thập và phân tích thông tin

Trang 13

Quy mô của cuộc nghiên cứu trên một địa bàn nhỏ và trong thời gian ngắn, nên khó có thể khái quát lên tình hình của một khu vực rộng lớn như tại khu vực ĐBSCL Đơn vị mẫu của công cụ phỏng vấn sâu còn hạn chế, vì vậy lượng thông tin thu được chưa đầy đủ và không khai thác được những câu chuyện đặc biệt Đồng thời, trong giới hạn của cuộc nghiên cứu, thông tin nhận được chỉ từ phía các cô dâu kết hôn với người nước ngoài, vì vậy có thể có một số câu chuyện chỉ mang tính một chiều, chủ quan từ góc độ của cô dâu Việt Nam

Tuy vậy, thông qua đề tài này, tác giả mong muốn sẽ khái quát lên được phần nào

về đời sống của những người phụ nữ Việt Nam sau kết hôn qua một cách tiếp cận khác

so với những nghiên cứu trước Từ đó, chúng ta thấy được một lát cắt về đời sống gia đình của những cuộc hôn nhân xuyên quốc gia thông qua các câu chuyện của những

cô dâu Việt

10 Kết cấu khóa luận

Khóa luận được chia làm ba phần chính, bao gồm: phần mở đầu, phần nội dung;

phần kết luận và khuyến nghị

Ở phần mở đầu, tác giả trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu, nội dung, đối tượng và khách thể nghiên cứu, mô tả mẫu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa lý luận

và thực tiễn, những hạn chế của khóa luận

Phần nội dung là phần chính của khóa luận Trong đó, tác giả chia thành các chương như sau: Chương I – Cơ sở lý luận và phương pháp luận; Chương II – Tổng quan địa bàn nghiên cứu; Chương III – Đời sống của phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn với người nước ngoài

Phần kết luận và khuyến nghị, tác giả sẽ tóm lược lại những vấn đề đã được phân tích ở phần nội dung và đề xuất một số khuyến nghị mang tính giải pháp về mặt chính sách và chương trình ở Việt Nam và nước ngoài

Trang 14

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong phạm vi tiếp cận các tài liệu khoa học liên quan đến vấn đề Hôn nhân xuyên quốc gia, có thể phân chia công trình nghiên cứu, báo cáo và các bài viết khoa học theo hướng 3 chủ đề lớn như sau: 1) Thực trạng hôn nhân xuyên quốc gia tại Việt Nam; 2) Các tác động, ảnh hưởng của hôn nhân xuyên quốc gia đến địa phương; 3) Đời sống hôn nhân của phụ nữ Việt Nam và người nước ngoài

1.1 Thực trạng HNXQG tại Việt Nam

Về mặt nội dung, những nghiên cứu về thực trạng của HNXQG chủ yếu khai thác

những chủ đề như: Bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội tác động đến hiện tượng HNXQG; Số lượng, phân bố, xu hướng của các cuộc hôn nhân; Các đặc điểm nhân khẩu học của các cô dâu Việt Nam và người chồng nước ngoài; Những nguyên nhân dẫn đến quyết định kết hôn của các cô dâu (Trần Hồng Vân, 2008), (Trần Mạnh Cát, 2007), (Trần Thị Kim Xuyến, 2005)

Các yếu tố về số lượng, phân bố, xu hướng của các cuộc hôn nhân; một số đặc trưng hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc

là vấn đề được phần lớn các cuộc nghiên cứu tìm hiểu, thống kê Đối với các cuộc hôn nhân Việt – Đài, đây là một hiện tượng xã hội được ghi nhận từ những năm cuối của thế kỷ 20 và từ năm 2000 trở đi, nó mới thực sự trở thành “cơn sốt” Tuy nhiên, từ năm 2005 đến nay, số lượng các cuộc hôn nhân với người Đài Loan có xu hướng giảm, thay vào đó là sự gia tăng các cuộc hôn nhân với người Hàn Quốc (Ngô Văn Lệ, 2008), (Hoàng Bá Thịnh, 2008)

Độ tuổi kết hôn và độ chênh lệch tuổi, về trình độ học vấn, nghề nghiệp cũng là nội dung trong một số bài viết báo cáo khoa học về thực trạng diễn của vấn đề HNXQG

Độ tuổi cô dâu Việt Nam lấy chồng Đài Loan trong độ tuổi từ 18 – 25, trong khi đó chú rể trung bình ở độ tuổi từ 31 – 40 tuổi (Trần Mạnh Cát, 2007) Đa phần, hai bên tham gia kết hôn đều sinh sống ở khu vực nông thôn, trình độ học vấn thấp và nghề

Trang 15

nghiệp không ổn định (Trần Hồng Vân, 2008), (Bùi Quang Dũng, 2007), (Lê Thị Quý, 2010) Tác giả Trần Mạnh Cát (2007) khi khái quát về một bức tranh thực trạng của hôn nhân Việt-Đài còn đề cập đến quá trình và thời gian tìm hiểu của các cặp đôi và

có những phân tích về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia.Nguyên nhân kết hôn với người nước ngoài có thể chia thành hai nhóm lớn: nguyên nhân vĩ mô (các tác động của bối cảnh kinh tế-xã hội-văn hóa dẫn đến hiện tượng này) và nguyên nhân vi mô (nguyên nhân khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến quyết định kết hôn của cô dâu)

Những nguyên nhân vĩ mô hay còn là những khái quát về bối cảnh kinh tế, xã hội

và văn hóa dẫn đến hiện tượng kết hôn với người nước ngoài, được đa phần các tác giả

đề cập đến như: Sự phát triển quan hệ kinh tế - văn hóa giữa các quốc gia; Sự thay đổi trong xã hội của khiến những người đàn ông ở nước ngoài khó kiếm vợ, họ buộc phải sang các nước khác mà cụ thể là Việt Nam để kết hôn; Sự chênh lệch trong thị trường hôn nhân và tình trạng không cân bằng giới tính tại nhiều nơi Một cái nhìn chung nhất của hiện tượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài chính là sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng miền trong quốc gia và khu vực; sự liên thông

và kết nối văn hóa – xã hội giữa các quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa (Phạm Thanh Thôi, 2006), (Nguyễn Văn Tiệp, 2008), (Hoàng Bá Thịnh, 2008)

Về khía cạnh vi mô, nguyên nhân khách quan và chủ quan của hiện tượng hôn nhân Việt – Đài trong các bài báo cáo khoa học, các tác giả thường đề cập tới sự kỳ vọng vào sự cải thiện về kinh tế gia đình thông qua việc kết hôn với người Đài Loan, thái độ chấp nhận của cộng đồng và sự khác nhau giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng

Về phía các cô dâu, những động cơ dẫn đến quyết định kết hôn với người Đài Loan được nhắc đến trong bài viết là muốn giúp đỡ gia đình, muốn thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại, muốn được hưởng thụ về vật chất và cuối cùng là kết hôn vì tình cảm (Trần Thị Kim Xuyến, 2005), (Nguyễn Thị Hồng, 2007)

Về mặt phương pháp, các công trình nghiên cứu, bài viết báo cáo thường chủ yếu

sử dụng phương pháp thu thập và xử lý thông tin định lượng khi tìm hiểu về các nội

Trang 16

dung liên quan đến số lượng, phân bố, xu hướng và các đặc điểm nhân khẩu của những cuộc HNXQG Các nội dung về nguyên nhân dẫn đến hiện tượng HNXQG và nguyên nhân quyết định của các cô dâu Việt Nam thường được phân tích thông qua phương pháp thu thập và xử lý thông tin định tính có những góc nhìn sâu hơn về hiện tượng này

1.2 Các tác động, ảnh hưởng của HNXQG tại địa phương

Những cuộc hôn nhân xuyên quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến các cá nhân tham gia, vấn đề này còn có những tác động, ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - văn hóa- xã hội tại địa phương

Về nội dung, các tác giả thường đề cập đến những vấn đề chính như các tác động

kinh tế, tác động văn hóa - xã hội và vấn đề con lai Đây là những chủ đề thường được khai thác ở cả “quốc gia đi” và “quốc gia đến” (Hoàng Bá Thịnh, 2010)

Tác động kinh tế của HNXQG

Sự thay đổi về kinh tế đối với gia đình các cô dâu nói riêng và địa phương nói chung là một trong những tác động dễ dàng nhận thấy nhất của hiện tượng này khi có nhiều gia đình thay đổi cuộc sống, nhà cửa - làng xã khang trang hơn nhờ vào tiền của các cô dâu gửi về; Số lượng các hộ gia đình nghèo, trung bình tại nông thôn giảm và

số lượng các hộ gia đình có mức sống khá, giàu chiếm tỉ lệ cao tại những vùng có nhiều cuộc kết hôn xuyên quốc gia là những minh chứng cụ thể cho những tác động kinh tế của HNXQG đến các hộ gia đình nói riêng và địa phương nói chung (Hoàng

Bá Thịnh, 2010), (Nguyễn Thị Hồng, 2007), (Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2011)

Tác động văn hóa - xã hội của HNXQG

Sự phát triển của các công ty môi giới là một hệ quả tất yếu của hiện tượng xuyên quốc gia, ngược lại quá trình hoạt động của các công ty này có vai trò lớn trong việc làm gia tăng nhanh số lượng các cuộc HNXQG Sự hình thành các đường dây môi giới là để đáp ứng nhu cầu thực tế của đàn ông nước ngoài và phụ nữ Việt Nam Tuy nhiên, những hoạt động môi giới này đa phần đem lại những hệ quả tiêu cực, biến

Trang 17

tướng Đồng thời, các nghiên cứu cũng đã có những phát hiện trong vấn đề môi giới hôn nhân trái phép Trong đó tác giả đề cập đến vấn đề thiếu thông tin, thông tin sai lệch trong hôn nhân Đài - Việt, thực trạng bị lừa dối, khống chế bóc lột khi ở nước ngoài (Chu Thúy Ngà-Lê Thu, 2011), (Trần Mạnh Cát, 2007), (Duong Hien Hanh, 2008)

Các tác động xã hội của HNXQG đến vấn đề về giới cũng là chủ đề được nhiều tác giả quan tâm Nội dung của những công trình nghiên cứu này là những phân tích về mối quan hệ giới trong các gia đình xuyên quốc gia, đặc biệt là vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các hoạt động của gia đình (Danièle Bélanger -Tran Giang Linh, 2011), (Phạm Thị Thùy Trang, 2009)

Ngoài ra, yếu tố “dư luận xã hội” đối với vấn đề hôn nhân xuyên quốc gia là nội dung được nhiều nhà nghiên cứu xã hội học khai thác Dư luận xã hội về vấn đề này chủ yếu được chia thành hai nhóm chính là đồng tình và phản đối Theo một số nghiên cứu khác, dư luận đối với vấn đề kết hôn với người nước ngoài hiện nay đã chuyển dần từ việc phản đối sang đồng tình, ủng hộ Sự thay đổi của dư luận xã hội đã tác động xu hướng kết hôn như: số lượng các cuộc kết hôn tăng cao (Phạm Thị Thùy Trang, 2008), (Hoàng Bá Thịnh)

Vấn đề về con cái trong HNXQG

Các bài viết, báo cáo trong hội thảo quốc tế thường khai thác những nội dung về việc nuôi dưỡng, giáo dục và khó khăn khi thực hiện các giấy tờ, thủ tục cho trẻ em lai

Việc chăm sóc, nuôi dưỡng những đứa trẻ một vấn đề cần được quan tâm Những trẻ em đang sống tại Việt Nam thường gặp những khó khăn trong việc thực hiện các thủ tục giấy tờ pháp lý vì không có khai sinh Trong khi đó những trẻ tại nước ngoài thường bị phân biệt đối xử, ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống của trẻ (Le Hien Anh,

2015), (Tổng cục dân số- kế hoạch hóa gia đình, Báo cáo Phụ nữ Việt Nam lấy chồng

nước ngoài qua môi giới: Những vấn đề cần quan tâm)

Trang 18

Giáo dục trong những gia đình đa văn hóa là một trong những chủ đề được các tác giả đề cập khi phân tích đời sống của trẻ tại nước ngoài Những thực trạng trong việc nuôi dạy trẻ về tiếng Việt, văn hóa; những khó khăn trong quá trình học tập là nội dung trong các bài viết của (Lê Hoàng Bảo Trân-Lê Kiều Trang, 2015), (Eva Chian - Hui Chen, 2011)

Về mặt phương pháp, tùy vào từng chủ đề mà các công trình, nghiên cứu sử dụng

các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích khác nhau Trong quá trình tổng quan, tác giả nhận thấy đa phần các bài viết, báo cáo chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập

và xử lý thông tin định lượng khi tìm hiểu về các nội dung liên quan tác động về kinh

tế Các nội dung về các tác động văn hóa, dư luận xã hội thường được phân tích thông qua dữ liệu định tính từ các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

Riêng với chủ đề về con của những cuộc HNXQG, các tác giả sử dụng phương pháp định tính, chủ yếu thông qua các cuộc phỏng vấn sâu người mẹ, hoặc người nuôi dưỡng để khai thác những nội dung trong đời sống của trẻ

1.3 Đời sống hôn nhân của phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài

Về nội dung, những bài viết, nghiên cứu đa phần khai thác và phân tích những

thông tin về đời sống vật chất và đời sống tinh thân của các cô dâu trong khoảng thời gian sinh sống tại nước ngoài (Dương Hiền Hạnh, 2008), (Nguyễn Nữ Nguyệt Anh, 2010) Song song đó có những phân tích lý giải về nguyên nhân dẫn đến những vấn đề nảy sinh trong đời sống hôn nhân Tuy nhiên, trong quá trình tổng quan đề tài, tác giả chưa tiếp cận được những bài viết, công trình nghiên cứu về đời sống của những cô dâu quay về Việt Nam mà đây chỉ là một nội dung được các tác giả đề cập một cách

sơ sài trong các đề tài nghiên cứu khác chứ chưa có những nghiên cứu và phân tích cụ thể

Có không ít những nghiên cứu về đời sống hôn nhân của phụ nữ Việt Nam và người nước ngoài được thực hiện tại các quốc gia như Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc Phần lớn những nghiên cứu, bài viết thường đề cập đến thực trạng trong đời sống vật chất và tinh thần của các cô dâu trong hôn nhân, sự khác biệt giữa kỳ vọng và

Trang 19

thực tế cuộc hôn nhân Từ những dữ liệu trong các cuộc nghiên cứu, hầu hết các tác giả đều lý giải những khó khăn trong đời sống hôn nhân của các cặp vợ chồng hôn nhân xuyên quốc gia, trong quá trình thích ứng văn hóa của các cô dâu khi kết hôn (Nguyễn Nữ Nguyệt Anh, 2010), (Eva Chien – Hui Chen, 2011), (Caroline Grillot), (Lee Kyesun, 2012)

Ngoài ra, những đề tài nghiên cứu còn tập trung vào sự xung đột, mâu thuẫn diễn

ra trong các gia đình hôn nhân xuyên quốc gia và hướng giải quyết những mâu thuẫn

đó Thông qua việc phân nhóm đối tượng các cô dâu kết hôn thành công và đổ vỡ trong HNXQG để so sánh những đặc điểm giống và khác trong đời sống hôn nhân của các cuộc hôn nhân này (Dương Hiền Hạnh, 2008), (Phạm Văn Bích)

Thực trạng và những khó khăn mà các bài nghiên cứu về đời sống hôn nhân của các cô dâu Việt Nam thường đưa ra là: Sự khó hòa nhập, rào cản về vấn đề ngôn ngữ khi ở nhà chồng; Lệ thuộc vào kinh tế và những bi kịch nảy sinh về sự xung đột giữa mong muốn và thực tế; Định kiến và sự phân biệt đối xử dành cho các cô dâu Việt và một số vấn đề về con lai Ngoài ra, đặc điểm thị trường (hôn nhân truyền thống mang tính dịch vụ thị trường) và đặc điểm tự phát (thiếu sự chuẩn bị cho sự hòa nhập) là những nguyên nhân dẫn đến sự xung đột về kinh tế, về văn hóa trong các gia đình xuyên quốc gia (Thanh Tâm, 2011), (Trần Thị Thu Lương-Ah Kyong Hwan, 2012), (Lê Thị Quý, 2010)

Về phương pháp, khi nghiên cứu về đời sống hôn nhân của phụ nữ Việt Nam kết

hôn với người nước ngoài chủ yếu dựa trên kết quả phân tích định tính từ các cuộc phỏng vấn sâu, quan sát (Dương Hiền Hạnh, 2008), (Nguyễn Nữ Nguyệt Anh, 2010) Các tác giả thường có cách tiếp cận xung đột để lý giải về những khó khăn, mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân và sử dụng một số các lý thuyết xã hội học gia đình khác Nhìn chung, các cuộc nghiên cứu, bài báo cáo khoa học đa phần khai thác những nội dung liên quan đến thực trạng của hôn nhân xuyên quốc gia và các tác động xã hội của vấn đề này Có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu cho rằng hôn nhân xuyên quốc gia mang nhiều hệ quả tiêu cực, tuy nhiên cũng có một số những tác giả không

Trang 20

đồng tình với ý kiến này Những chủ đề mà các tác giả khai thác chủ yếu tập trung vào giai đoạn các cô dâu trước khi kết hôn, đời sống hôn nhân của các cô dâu ở nước ngoài và những tác động xã hội của HNXQG đến địa phương

Đối với những công trình nghiên cứu về các cuộc hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam

và người Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc đa phần được thực hiện trong giai đoạn đầu của thế kỷ 21 (2000-2010) khi HNXQG đang trở thành trào lưu tại Việt Nam và được sự quan tâm từ phía dư luận xã hội Các cuộc nghiên cứu, thu thập thông tin được thực hiện ở cả Việt Nam và những nước có các cô dâu Việt Nam sinh sống sau kết hôn Tại Việt Nam, khu vực ĐBSCL và khu vực các vùng núi phía Bắc, khu vực biên giới là những nơi có nhiều nhà nghiên cứu chọn để thực hiện khảo sát Đồng thời, các nước có nhiều phụ nữ Việt Nam kết hôn và sinh sống như Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc – mà cụ thể là khu vực nông thôn tại những quốc gia này cũng là nơi mà các nhà nghiên cứu thu thập thông tin

Về lý thuyết tiếp cận khi nghiên cứu về đời sống của các cô dâu kết hôn với người nước ngoài, các tác giả chủ yếu dùng cách tiếp cận xung đột, thuyết trao đổi hợp lý Một hạn chế của những đề tài khi phân tích về đời sống gia đình xuyên quốc gia này là

có ít tác giả sử dụng các lý thuyết về xã hội học gia đình mà cụ thể là cách tiếp cận hệ thông gia đình, phát triển gia đình (đường đời) để phân tích và lý giải về đời sống hôn nhân

Như vậy, kế thừa từ những bài viết và các công trình khoa học trước, tác giả luận

văn chọn đề tài “Đời sống sau kết hôn của phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài

hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại Thị xã Bình Minh và Huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long)” để tìm hiểu về đời sống sau kết hôn của phụ nữ Việt Nam với mong

muốn tác tìm hiểu các thông tin về đời sống của các cặp vợ chồng xuyên quốc gia hiện đang sống tại nước ngoài và cả những trường hợp các cô dâu hiện đang sống tại Việt Nam

2 Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu

2.1 Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu

Trang 21

Với đề tài, tác giả sử dụng cách tiếp cận hệ thống, trong đó lý thuyết hệ thống gia đình làm chủ đạo để phân tích về những đặc điểm trong đời sống hôn nhân của các cặp

vợ chồng hôn nhân xuyên quốc gia; Đồng thời dùng cách tiếp cận giới để làm nổi bật đời sống và vai trò của phụ nữ Việt Nam trong gia đình

Ngoài ra, lý thuyết phát triển gia đình được sử dụng để xem xét đời sống của những người phụ nữ trong từng giai đoạn; lý thuyết xung đột của B.Strong là lý thuyết được dùng để phân tích những xung đột trong đời sống gia đình; lý thuyết trao đổi xã hội của Peter Blau được ứng dụng để lý giải trong những lựa chọn của các cô dâu trong đời sống hôn nhân

2.2 Lý thuyết hệ thống gia đình

Lý thuyết hệ thống gia đình được xây dựng nên từ “Lý thuyết hệ thống” do nhà khoa học Ludwig von Bertalanffy khởi xướng “Hệ thống” được định nghĩa như một thể tập hợp các yếu tố khác nhau nhưng có liên quan với nhau và thể hiện chung một

số đặc điểm nhất định (C.Morgaine, 2001)

Lý thuyết này xem gia đình là một cấu trúc thống nhất, bao gồm các tiểu hệ thống: mối quan hệ vợ-chồng, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, mối quan hệ vợ chồng trong việc giáo dục con, mối quan hệ cá nhân Để một gia đình có thể thực hiện tốt các chức năng, các tiểu hệ thống dù nằm trong thể thống nhất nhưng vẫn cần có sự độc lập (Minuchin, 1981)

Murry Bowen cho rằng, đây là một lý thuyết nghiên cứu hành vi con người, xem gia đình là một thể thống nhất về mặt tình cảm (emotional unit) và sử dụng hệ thống suy nghĩ để miêu tả sự phức tạp trong sự tương tác giữa các thành viên (Bowen, 2000)

Lý thuyết hệ thống gia đình được dùng để giải thích các vấn đề liên quan đến đời sống hôn nhân của các cặp vợ chồng xuyên quốc gia, xem xét sự ảnh hưởng giữa các thành viên trong gia đình này Các cô dâu Việt Nam khi chung sống với các thành viên khác trong gia đình chồng sẽ có những thay đổi trong hành động như sử dụng ngôn ngữ khác, thực hiện các tập tục văn hóa khác Đồng thời do có sự phụ thuộc giữa

Trang 22

các thành viên trong gia đình nên sẽ nảy sinh áp lực đối với từng cá nhân trong các mối quan hệ như vợ - chồng, cha mẹ - con, cha mẹ chồng – con dâu, ông bà – cháu…, những áp lực này là nguyên nhân dẫn đến sự xung đột giữa các thành viên trong gia đình chồng

Ngoài ra, khi áp dụng để nghiên cứu về đời sống của các cô dâu khi quay trở về Việt Nam sinh sống, lý thuyết hệ thống gia đình được dùng để lý giải các trường hợp

cô dâu về sống chung với gia đình, những áp lực mà các thành viên trong gia đình cô dâu đang đối diện Đồng thời cũng là cơ sở để xem xét đến đời sống của các cô dâu khi sống tại Việt Nam trong gia đình thiếu chồng, hoặc đời sống của những đứa con lai thiếu cha để từ đó nhận định được sự phụ thuộc giữa các thành viên trong một gia đình xuyên quốc gia được biểu hiện như thế nào về đời sống vật chất cũng như tinh thần

2.3 Lý thuyết phát triển gia đình

Lý thuyết phát triển gia đình xem xét sự thay đổi khi một gia đình bắt đầu hình thành và trải qua những giai đoạn quan trọng trong đường đời gia đình

Quan điểm về phát triển đường đời coi cá nhân làm đơn vị phân tích cơ bản để nhằm mục đích nghiên cứu những biến đổi của quan hệ gia đình Cuộc sống của cá nhân trải ra theo thời gian khi một người bắt đầu tham gia vào xây dựng và giải tán gia đình Các nhà khoa học xã hội chia đường đời gia đình của một cá nhân từ khi kết hôn đến khi chết thành ít nhất 4 giai đoạn lớn: thành lập, mở rộng, chia tách và tan rã (giai đoạn ly hôn có thể có hoặc không) (Mai Huy Bích, 2010)

(1) Giai đoạn thành lập: khởi đầu khi nam – nữ quyết định chung sống với nhau và kết thúc khi đứa con đầu lòng ra đời;

(2) Giai đoạn mở rộng: khi gia đình bắt đầu tăng về số lượng bằng việc sinh con đẻ cái;

(3) Giai đoạn chia tách: bắt đầu khi đứa con lớn nhất trưởng thành, xa nhà và kết thúc với sự rời nhà của con út;

Trang 23

(4) Giai đoạn tan rã: bắt đầu khi một trong hai vợ chồng chết và đường đời gia đình chấm dứt khi người cuối cùng lìa đời

Trong đề tài này, lý thuyết phát triển gia đình để phân tích và so sánh đời sống của phụ nữ Việt Nam sau kết hôn với người nước ngoài trong các giai đoạn của đời sống gia đình, cụ thể sẽ tìm hiểu đời sống của các cô dâu dựa trên ba giai đoạn: thành lập,

mở rộng và ly hôn (nếu có)

Ứng dụng lý thuyết phát triển gia đình trong khóa luận, tác giả mong muốn có một góc nhìn khác về đời sống của người phụ nữ không chỉ trong một kiểu cấu trúc gia đình mà còn trong từng giai đoạn với những “sự kiện” diễn ra trong đời sống hôn nhân Một số nội dung mà đề tài hướng đến như: Sự thay đổi trong đời sống của người phụ nữ Việt Nam trong mỗi giai đoạn phát triển gia đình; Sự xung đột trong gia đình hôn nhân xuyên quốc gia ở từng giai đoạn và tác động của giai đoạn trước đến những giai đoạn sau trong đời sống hôn nhân

2.4 Lý thuyết xung đột của B Strong

Xung đột là một hiện tượng thường xuyên xảy ra giữa các cá nhân trong một nhóm hoặc nhóm này với nhóm khác, đây là một hiện tượng không tránh khỏi trong các vấn

đề xã hội Gia đình là một nhóm xã hội bao gồm nhiều cá nhân, mỗi cá nhân có một tính cách, đặc điểm tâm sinh lý khác nhau nên xung đột vẫn thường xảy ra trong gia đình Đặc biệt với các gia đình xuyên quốc gia, các cá nhân thụ hưởng hai nền văn hóa khác nhau hoặc có sự hòa trộn giữa hai nền văn hóa nên cũng dễ dàng xảy ra những bất đồng Khi có xung đột, những người giải quyết thường là những người có quyền lực, mà trong xã hội Á Đông thường trọng nam và người cao tuổi như cha, chồng đưa

ra quyết định để giải quyết

Theo lý thuyết về xung đột của B Strong, quyền lực được bắt đầu từ 4 nguồn gốc: 1) Tính hợp danh – hợp pháp; 2) Tiền bạc; 3) Cưỡng bức về thể xác; 4) Quyền lực của tình yêu và tính dục (Mai Huy Bích, 2010)

Tính hợp danh – hợp pháp được dựa trên vào tính hợp pháp, chính danh, niềm tin rằng những người đó có thể đưa ra quyết định Như đã đề cập, theo truyền thông của

Trang 24

xã hội Á Đông thường cho rằng người chồng là người có quyền được đưa ra những quyết định quan trọng; đồng thời do các cô dâu Việt Nam khi kết hôn thường theo chồng, sống chung với gia đình chồng – với tư cách là chủ nhà, nên phụ nữ Việt Nam phải nghe theo quyết định của chồng

Tiền bạc được xem là một nguồn quyền lực mạnh mẽ, và là cơ sở kinh tế cho quyền lực Những người chồng ngoại quốc khi kết hôn với phụ nữ Việt Nam thường phải bỏ ra một số tiền lớn khi cưới vợ nên những người chồng thường cho rằng vợ là

“tài sản” của riêng mình Đồng thời, đa phần những người chồng đều có việc làm và

có thu nhập, trong khi đó phụ nữ Việt Nam do khó kiếm việc làm nên kinh tế phụ thuộc vào người chồng Chính điều này làm cho phụ nữ Việt Nam càng trở nên yếu thế và quyền lực của người chồng trong gia đình càng được củng cố

Cưỡng bức về thể xác được thể hiện bằng việc một người trong gia đình có thể chất tốt hơn những người khác và được quyền đánh đập, hành hạ hay bạo hành tinh thần các thành viên khác Điều này cũng dễ dàng nhận ra khi nam giới thường có sức mạnh thể chất hơn nữ giới, những người chồng đe dọa hoặc đánh đập người vợ Với những quốc gia Châu Á thường mang nặng tư tưởng gia trưởng thì việc này diễn ra thường xuyên hơn

Yếu tố quyền lực của tình yêu và tính dục được thể hiện khi người khác có thể khiến cho người này làm theo khi cưỡng ép bằng tình cảm Tuy nhiên, đối với các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia thường ít dựa trên cơ sở tình yêu, các cuộc hôn nhân diễn ra như một cuộc mua bán khiến cho người vợ không có quyền cưỡng ép người chồng làm theo về mặt tình cảm, tuy nhiên người chồng lại có quyền đòi hỏi người vợ

về mặt tính dục do họ luôn xem người vợ là một món “tài sản” mà họ đã mua được Khi các nhân tố quyền lực đều do một người chồng nắm giữ, họ sẽ là những người được quyền ra các quyết định trong gia đình Có môt số phụ nữ Việt Nam sẽ nhẫn nhịn chịu đựng, nhưng khi đã vượt quá sức chịu đựng thì họ sẽ có những phản ứng – thường là tiêu cực Những hành động phản ứng của họ là những mâu thuẫn, xung đột khiến gia đình không còn bền vững, dẫn đến sự đổ vỡ trong hôn nhân

Trang 25

2.5 Lý thuyết trao đổi xã hội của Peter Blau

Thuyết trao đổi xã hội của Peter Blau dựa trên quan điểm gốc từ thuyết lựa chọn hợp lý Blau cho rằng trao đổi xã hội có hai chức năng cơ bản là tạo ra mối quan hệ gắn kết, tin cậy, nhất trí trong xã hội và tạo ra mối quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia trao đổi Những đặc trưng của trao đổi xã hội được Blau đề cập như sau: 1) Một số quan hệ trao đổi có giá trị tự thân, các bên tham gia sẵn sàng cho-nhận không ngang giá nhau; 2) Trong trao đổi xã hội các bên tham gia luôn tạo ra ấn tượng tốt đẹp với nhau hoặc đem lại sự thoải mái, dễ chịu cho nhau; 3) Sự trao đổi xã hội ngang vị thế; 4) Sự xác định giá trị khi trao đổi xã hội được thể hiện ngầm

Thuyết trao đổi xã hội của Peter Blau thực chất cũng như các quan điểm của thuyết lựa chọn hợp lý khác, cho rằng các trao đổi xã hội đều theo nguyên tắc “cùng có lợi” Trong nghiên cứu này, thuyết trao đổi xã hội của Peter Blau được dùng để giải thích cho những vấn đề liên quan đến sự lựa chọn trong hôn nhân của các cô dâu Việt Nam như khi quyết định kết hôn với người nước ngoài, lý giải những nguyên dẫn đến việc

ly hôn hoặc các cô dâu tự ý trốn về nước

Các mối quan hệ trong trao đổi xã hội có giá trị tự thân thường là những mối quan

hệ ruột thịt như cha mẹ - con cái, anh - em, chị - em, đó là những mối quan hệ mà những người mà cá nhân thường cảm thấy dễ chịu, tin cậy, thoái mái Các cuộc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và chồng nước ngoài đa phần lại không dựa trên sự gắn bó

về mặt tình cảm, lại có sự khác biệt trong ngôn ngữ và văn hóa dẫn đến cảm giác thiếu thoải mái trong cuộc sống hôn nhân

Như đã đề cập, đa phần những người chồng thường có việc làm, tạo ra nguồn thu nhập chính, đồng thời cũng là người có quyền lực trong gia đình nên giữa người chồng ngoại quốc và người vợ Việt Nam dường như không có sự ngang bằng trong vị thế Các cô dâu sau kết hôn cũng thường sinh sống với gia đình chồng, vì vậy cũng có thể diễn ra các trao đổi xã hội giữa các mối quan hệ khác như mẹ chồng – con dâu, cha chồng – con dâu, anh/chị/em chồng – cô dâu, mà ở các mối quan hệ này cô dâu đều có

Trang 26

vị thế thấp hơn do xuất thân nghèo khó, không có việc làm lại không thể giao tiếp với gia đình

Nếu các cô dâu Việt Nam không vượt qua những rào cản, hay họ gặp phải những xung đột không thể hòa giải trong gia đình, họ sẽ có những quyết định lựa chọn quay

về Việt Nam sinh sống, gần gũi với những mối quan hệ thân mật, gần gũi, tránh những

áp lực trong mối quan hệ giữa họ và chồng, gia đình chồng Điều này đem lại cho họ cảm giác thoải mái, tin cậy hơn

Trang 27

3 Mô hình phân tích

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - VĂN

HÓA – XÃ HỘI NƯỚC

NGOÀI

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI VIỆT NAM

GIA ĐÌNH XUYÊN QUỐC GIA

ĐỜI SỐNG PHỤ NỮ VIỆT NAM

Trang 28

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Đời sống của các cô dâu Việt Nam trong HNXQG hiện nay như thế nào theo từng giai đoạn phát triển đường đời?

- Những tác động nào ảnh hưởng đến đời sống sau kết hôn của các cô dâu Việt Nam hiện nay?

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Đời sống của các cô dâu Việt Nam sau kết hôn theo từng giai đoạn phát triển gia đình có nhiều đặc điểm khác nhau Giai đoạn gặp nhiều khó khăn trong đồi sống là giai đoạn thành lập vì rào cản ngôn ngữ, bất đồng văn hóa Giai đoạn mở rộng đời sống các cô dâu chịu nhiều áp lực vì thêm vai trò chăm sóc, nuôi dưỡng con cái Với giai đoạn ly hôn, những vấn đề về thủ tục pháp lý gây trở ngại trong đời sống sau hôn nhân

- Các tác động về kinh tế - văn hóa – xã hội và các đặc điểm của cuộc hôn nhân ảnh hưởng đến đời sống các cô dâu

6 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

6.1 Hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Theo văn bản pháp luật tại Việt Nam, hôn nhân có yếu tố nước ngoài được định nghĩa là “Quan hệ hôn nhân và gia đình: a) giữa công dân Việt Nam và người người nước ngoài; b) giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” (Điều 8, Luật Hôn nhân và Gia đình, năm 2000)

Ngoài ra, trong những nghiên cứu khác, nhiều học giả còn sử dụng một số từ ngữ

học thuật khác để khi bàn về mô hình hôn nhân có yếu tố nước ngoài như: hôn nhân

xuyên quốc gia (crossed – nation marriage), hôn nhân xuyên biên giới (crossed – border marriage); hôn nhân đa văn hóa (intercultural marriage)…

Trang 29

6.2 Gia đình

Khái niệm “gia đình” thường được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên

cơ sở các quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, họ hàng bên nội, bên ngoại) Gia đình gồm có vợ chồng và con cái

do họ sinh ra, có thể bao gồm cả ông bà bên nội, bên ngoại cùng chung sống, đồng thời cũng có thể có một số người được nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ (Lê Thi, 1995)

Tuy nhiên, không có định nghĩa phổ biến, thống nhất về gia đình do gia đình hết sức đa dạng theo thời gian và không gian (Mai Huy Bích, 2010)

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng một định nghĩa chung nhất về gia đình như

sau: Gia đình là một nhóm người có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc

quan hệ nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống,

có chung ngân sách (Bùi Thị Hương Trầm, 2013 trích theo Lê Ngọc Văn, 2008:4)

Trang 30

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1 Bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội tỉnh Vĩnh Long

1.1 Vị trí địa lý – Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Tỉnh Vĩnh Long nằm trong khu vực ĐBSCL, thuộc hạ lưu sông Mekong Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa sông Tiền, sông Hậu; phía Bắc và Đông Bắc giáp các tỉnh Tiền Giang và Bến Tre; phía Tây Bắc Đông giáp tỉnh Đồng Tháp; phía Đông Nam giáp với tỉnh Trà Vinh; phía Tây Nam giáp các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ Tổng diện tích tự nhiên của Vĩnh Long là 152 017, 6 ha, đứng thứ 12/13 các tỉnh, thành vùng ĐBSCL (Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long – vinhlong.gov.vn)

Hình 2.1 Bản đồ ranh giới hành chính tỉnh Vĩnh Long

Trang 31

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Công an Vĩnh Long1

Điều kiện tự nhiên

Vĩnh Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm Nhiệt

độ trung bình cả năm từ 27-280C, biên độ nhiệt giữa ban ngày và đêm bình quân

7-80C Độ ẩm không khí bình quân 74-83%, tổng lượng mưa cao nhất là 1.5818mm/năm Với những yếu tố về điều kiện tự nhiên thuận lợi, Vĩnh Long là một tỉnh phát triển về nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm canh tăng vụ Đây là khu vực

ít chịu ảnh hưởng thiên tai, lũ lụt; Tuy nhiên, do lượng mưa tập trung vào mùa mưa cao nên những nơi có địa hình thấp trũng thường bị ngập úng, làm hạn chế và gây thiệt

hại đối với sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng và môi trường

Diện tích đất tự nhiên tỉnh Vĩnh Long là 1.479 km2, có bình độ tương đối bằng phẳng nên thích hợp cho việc canh tác trồng lúa, trồng cây ăn trái, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày Đất nông nghiệp chiếm 77, 26% diện tích đất tự nhiên Hằng năm, với lượng phù sa do sông Tiền và sông Hậu bồi đắp nên đất đai màu mỡ Nhóm đất phù sa chiếm 30, 29% diện tích đất tự nhiên, tập trung nhiều ở các huyện Trà Ôn, Vũng Liêm, Bình Minh và một phần của huyện Long Hồ và Tam Bình Đây là vùng đất thuận lợi cho việc trồng các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao (Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long – vinhlong.gov.vn)

Tài nguyên, khoáng sản tại tỉnh Vĩnh Long chủ yếu là cát sông với trữ lượng khoảng 143 triệu m3 phân bố ở khu vực sông Cổ Chiên và đất sét trữ lượng khoảng 92 triệu m3 nằm ở vùng ven Thị xã Vĩnh Long, huyện Long Hồ, Mang Thít Khoáng sản đất sét tại Vĩnh Long là điều kiện giúp nhiều sản phẩm gốm mỹ nghệ xuất khẩu sang các nước châu Âu và thế giới, giúp phát triển nền kinh tế tại đây (Trang web Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long – vinhlong.mard.gov.vn)

1.2 Điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội

1 congan.vinhlong.gov.vn

Trang 32

Tỉnh Vĩnh Long có 8 đơn vị hành chính gồm 6 huyện (Bình Tân, Long Hồ, Mang Thít, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm), thị xã Bình Minh và thành phố Vĩnh Long với

94 xã, 5 thị trấn và 10 phường

Dân số trung bình toàn tỉnh là 1.040.500 người (2013), chiếm 6,8% dân số vùng ĐBSCL và 1,4% dân số cả nước; mật độ dân số 648 người /km2 Dân tộc Kinh chiếm khoảng 97,3%, dân tộc Khmer chiếm gần 2,1%; ngoài ra còn có dân tộc Hoa và một

số dân tộc khác) Người lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc 613.045 người, chủ yếu làm việc tại các vùng nông thôn Như các tỉnh khác tại khu vực Nam bộ, người dân tỉnh Vĩnh Long chịu ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau như: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hòa Hảo…

Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phía Nam; nằm giữa trung tâm kinh tế quan trọng là Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh Với

vị trí địa lý thuận lợi, Vĩnh Long là nơi hội tụ và giao lưu giữa giao thông thủy bộ, là cửa ngõ quan trong trong việc tiếp nhận những thành tựu về phát triển kinh tế của TP HCM và các khu công nghiệp miền Đông; là trung tâm trung chuyển hàng nông sản từ các tỉnh phía Nam sông Tiền lên TP.HCM và hàng công nghiệp từ TP.HCM về lại các tỉnh miền Tây Ngoài ra, Vĩnh Long có nền nông nghiệp phát triển và sản xuất được quanh năm, nông thôn khá trù phú, dân cư đông đúc Kinh tế miệt vườn là truyền thống của tỉnh Hơn nữa, tại Vĩnh Long còn tập trung các khu công nghiệp (KCN) như: KCB Bắc Cô Chiên, KCN Bình Minh, KCN Hòa Phú, khu sản xuất gạch ngói dọc đường tỉnh 902

Tỉnh Vĩnh Long là nơi tiếp thu các giá trị văn hóa truyền thống và văn minh tiến

bộ khác Tại địa phương có nhiều di tích văn hóa quốc gia như: Văn Thánh Miếu, Chùa Tiên Châu, Đình Long Thanh, Chùa Phước Hậu, Chùa Ngọc Sơn Quang, Đình Tân Hòa, Miếu Công Thần…là cơ sở để phát triển dịch vụ, du lịch tại đây (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long – vinhlong.gov.vn)

2 Bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội tại Thị xã Bình Minh và Huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Trang 33

Thị xã Bình Minh được thành lập theo Nghị quyết số 89/NQ-CP, ngày 28/12/2012,

là một trong 08 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Vĩnh Long, tổng diện tích đất tự nhiên 9.363,29 ha Thị xã Bình Minh có 08 đơn vị hành chính, gồm các phường: Cái Vồn, Thành Phước, Đông Thuận và các xã: Thuận An, Mỹ Hòa, Đông Bình, Đông Thạnh, Đông Thành (Nguồn: Cổng thông tin điện tử Thị xã Bình Minh - binhminh.vinhlong.gov.vn)

Thị xã Bình Minh là trung tâm tổng hợp, cửa ngõ phía nam của tỉnh Vĩnh Long; là

đô thị cảng-công nghiệp và là đô thị sinh thái của tỉnh Đây là khu vực có quốc lộ 1A

và quốc lộ 54 đi qua, cách thành phố Cần Thơ 3km, cách thành phố Vĩnh Long 30km, cách TP.HCM khoảng 165km và cách sân bay quốc tế Cần Thơ 20km

Theo số liệu thống kê cuối năm 2010, thị xã Bình Minh có tổng số hộ là 22.419 hộ,

số hộ nghèo là 3.497 hộ chiếm tỷ lệ 15,60% so với tổng số hộ Dân số là 88.526 người (2010) Tổng số người trong độ tuổi lao động là 56.442 người; trong đó, số người có khả năng tham gia lao động là 50.317 người, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 28,20%; số lao động có việc làm thường xuyên đạt 96,20%

Bình Minh là địa phương có tỷ trọng nông nghiệp cao với thế mạnh là cây ăn trái

và màu thực phẩm chuyên canh, trong đó có vùng trồng cây đặc sản là bưởi “Năm Roi” nổi tiếng cả nước

Huyện Bình Tân

Huyện Bình Tân được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2008 trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bình Minh, theo Nghị định 125/2007/NĐ-CP, ngày 31/7/2007 của Chính Phủ Huyện có diện tích tự nhiên 15.288,63 Ha và có 11 xã trực thuộc: Mỹ Thuận, Nguyễn Văn Thảnh, Thành Trung, Tân Thành, Tân Hưng, Tân An Thạnh, Tân Lược, Tân Bình, Tân Quới, Thành Đông, Thành Lợi (Cổng thông tin điện tử Huyện Bình Tân – binhtan.vinhlong.gov.vn)

Dân số huyện Bình Tân là 94.359 người, trong đó nữ 47.410 (năm 2013); mật độ dân số 598 người/km2

Trang 34

Huyện Bình Tân có đoạn sông Hậu đi qua dài khoảng 15km; đường Quốc lộ 54 đi qua dài 15,44 km, kết nối với tuyến đường tỉnh 908; đây là tuyến giao thông huyết mạch đi trong và ngoài huyện, nối với tỉnh Đồng Tháp Bình Tân còn là nơi sản xuất nông nghiệp với nhiều loại cây màu có hiệu quả cao, nhất là khoai lang tím Nhật Trong tương lai, nơi đây sẽ phát triển mạnh về thương mại dịch vụ, du lịch sinh thái ven sông, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Đồng thời phát triển mạnh các ngành sản xuất và dịch vụ có liên quan đến dự án luồng tàu trọng tải lớn từ biển Đông vào sông Hậu

3 Thực trạng HNXQG tại địa bàn nghiên cứu

Nhằm khái quát lên về thực trạng của HNXQG tại địa bàn nghiên cứu, tác giả chủ yếu tìm hiểu bốn nội dung sau tại địa bàn: 1) Số lượng, phân bố và xu hướng các cuộc kết hôn; 2) Đặc điểm các cuộc HNXQG tại địa phương; 3) Các chính sách, chương trình liên quan đến HNXQG được thực hiện tại địa phương

3.1 Số lượng, phân bố và xu hướng các cuộc kết hôn

Theo Số liệu ghi chú kết hôn của Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long, từ năm 1995 – 2010 công dân cư trú ở trong nước kết hôn với người nước ngoài là 7986 người trên tổng số

9052 người đăng ký kết hôn (chiếm khoảng 88,2%) Đa số các cô dâu kết hôn với người Đài Loan, Mỹ, Hàn Quốc, Canada…

Theo số liệu do Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long cung cấp, từ năm 2005-2015 có

khoảng 4,900 trường hợp các cô dâu kết hôn với người nước ngoài (Biểu đồ 2.1)

Trang 35

Biểu đồ 2.1- Số lượng các cô dâu kết hôn với người nước ngoài qua từng năm

2005 – 2015

Nguồn: Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long

Từ biểu đồ 2.1, nhìn chung, có thể nhận thấy rằng số lượng các cô dâu kết hôn với nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Long cao trong giai đoạn 2005 – 2009, giai đoạn từ năm

2010 – 2015 có số lượng ít hơn và ổn định qua từng năm Các cô dâu kết hôn chủ yếu với người Đài Loan, người Mỹ hoặc Việt kiều Mỹ và các quốc gia khác, trong đó phụ

nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan luôn chiếm tỉ lệ cao nhất qua các năm Nhìn chung, số lượng các cô dâu kết hôn với người nước ngoài từ năm 2005 đến

2015 có thể chia thành 2 giai đoạn:

+ Từ năm 2005-2009: Số lượng các cô dâu kết hôn với người nước ngoài ở mức cao

so với các năm khác trong giai đoạn 2005-2015, tăng đột biến vào năm 2007 Các cô dâu chủ yếu kết hôn với người Đài Loan; đặc biệt năm 2005 có 337 trường hợp, năm

2007 có đến 460 trường hợp kết hôn với người Đài Loan Số lượng các cô dâu kết hôn với người Mỹ và Việt kiều Mỹ cũng có tỉ lệ khá cao

Trang 36

+ Từ năm 2010-2015: Số lượng các cô dâu kết hôn với người nước ngoài giảm nhiều

so với giai đoạn trước và ổn định qua từng năm

Lý giải về chiều hướng giảm dần trong số lượng các cô dâu kết hôn với người nước ngoài qua từng năm, một cán bộ phụ trách văn hóa-thông tin tại địa phương cho biết, do quá trình tuyên truyền, giáo dục tại địa phương đã góp phần giúp những người dân thay đổi trong nhận thức về việc kết hôn với người nước ngoài:

“Lúc đầu á (hừm) họ chưa nắm vững luật pháp thì là họ cũng cũng là đi có nghĩa là khi cái người đi thành công về á thì ở địa phương người ta cũng có giới thiệu cho nhau, dẫn… dẫn những người chồng này về nước á thì người ta cũng dẫn theo bạn bè anh em để mà đi kiếm phụ nữ ở Việt Nam để kết hôn Nhưng mà dần dần sau này chính quyền địa phương thì cũng có dựa theo pháp luật tuyên truyền giáo dục cho họ nhận thức là cái… cái tâm lý của người dân á là người ta không hướng vè mục đích là để làm giàu mà là cái hôn nhân chính thức, hôn nhân tự nguyện ha Thì cho nên dần dần cái trào lưu nó nó giảm xuống.”

Nguồn: Biên bản Phỏng vấn sâu CB-01

Một xu hướng khác biệt trong những cuộc HNXQG tại địa bàn so với những nghiên cứu trước, ngoài những cuộc hôn nhân do những người chồng sang ngoại quốc sang Việt Nam chỉ với một mục đích duy nhất là tìm vợ, và những cuộc hôn nhân này

đa phần thông qua các dịch vụ môi giới Trong những năm gần đây, có những trường hợp những người chồng sang Việt Nam làm việc, sau đó kết hôn với phụ nữ Việt Nam – trường hợp VN-08 Theo một cán bộ tại địa phương cho biết, những người nước ngoài qua Việt Nam làm việc đa số là người Trung Quốc, và họ thường làm thương lái, kinh doanh sản xuất, chế biến khoai lang tại địa phương

H:Vậy chỗ mình có cơ sở nào liên kết với nước ngoài không chị

Đ:Liên kết với nước ngoài thì không có, ở đây liên kết thì không có chỉ có giống như là tiểu thương nước ngoài, tiểu thương Trung Quốc nó lại đây nó mua hàng thôi chứ liên kết thành lập công ty sản xuất thì không Thì có một số lượng lượng là nam Trung Quốc nó qua đây thu mua khoai rồi nó thuê nhà ở một thời gian vậy thôi

Nguồn: Biên bản Phỏng vấn sâu CB-07

Nhìn chung, số lượng các cuộc HNXQG tại địa phương có chiều hướng giảm qua từng năm Các cô dâu thường kết hôn với những người chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc…, đa phần thông qua môi giới và các mối quan hệ bạn bè, gia đình Tại địa phương, có một số trường hợp những người chồng nước ngoài (chủ yếu là người

Trang 37

Trung Quốc) đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam, sau đó kết hôn với phụ nữ địa phương

3.2 Đặc điểm các cuộc HNXQG tại địa phương

3.2.1 Các đặc điểm nhân khẩu của phụ nữ Việt Nam

Độ tuổi kết hôn

Các cô dâu khi kết hôn với người nước ngoài thường nằm trong độ tuổi dưới 30, chủ yếu nằm trong đổ tuổi từ 21-25 tuổi Theo kết quả nghiên cứu với các trường hợp kết hôn với người nước ngoài tại địa bàn, độ tuổi kết hôn của các cô dâu được thể hiện

Trình độ học vấn, nghề nghiệp trước khi kết kết hôn

Trang 38

Theo thông tin từ cuộc khảo sát, phần lớn các cô dâu có học vấn thấp, chủ yếu ở bậc THCS; một số ít tiếp tục theo học ở bậc THPT và Cao đẳng, Đại học, sau Đại

học (Biểu đồ: 2.2)

Nguồn: Kết quả nghiên cứu tại tỉnh Vĩnh Long, tháng 12/2015 Với thông tin được thể hiện trên biểu đồ, chiếm tỉ lệ cao nhất là các cô dâu có học vấn ở trình độ THCS (39,7%); học vấn ở trình độ THPT chiếm tỉ lệ cao thứ hai (33,2%); tiếp theo, lần lượt là học vấn ở cấp Tiểu học (21,9%) và bậc Trung cấp, CĐ,

ĐH và sau ĐH với 4,5% Ngoài ra, có 0,7% trường hợp các cô dâu chưa bao giờ đi học

Với trình độ học vấn đa phần chỉ ở bậc phổ thông, các cô dâu trước khi kết hôn với người nước ngoài chỉ ở nhà làm nội trợ, giúp đỡ gia đình làm ruộng và buôn bán tại nhà; một số khác làm công nhân tại các khu công nghiệp, nhưng nhìn chung đó là những công việc không đòi hỏi trình độ, tay nghề Với những công việc này, các cô dâu cũng khó có thể kiếm được thu nhập đủ để lo cho bản thân và phụ giúp gia đình (Xem phụ lục bảng….)

3.2.2 Các đặc điểm nhân khẩu của người chồng nước ngoài

Trang 39

Độ tuổi, quốc tịch người chồng

Độ tuổi của những người chồng thường cao hơn nhiều so với các cô dâu với độ tuổi chênh lệch trung bình khoảng 20 tuổi Số tuổi chênh lệch thấp nhất là 8 tuổi, mức chênh lệch cao nhất là 54 tuổi (Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long)

Những người chồng nước ngoài đến từ nhiều quốc gia khác nhau Nổi bật nhất tại địa phương là các cuộc hôn nhân Đài – Việt, Hàn – Việt Ngoài ra còn có một số quốc gia khác như Trung Quốc, Mỹ, Canada,… (Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long) Qua khảo sát bảng hỏi tại địa phương với 443 hộ gia đình, trong đó có 585 cô dâu kết hôn

với người nước ngoài, quốc tịch của những người chồng được thể hiện qua biểu đồ

2.3:

Biểu đồ 2.3: Quốc tịch người chồng của các cô dâu

Nguồn: Kết quả khảo sát tại tỉnh Vĩnh Long, tháng 12/2015

Kết quả khảo sát tại Thị xã Bình Minh và Huyện Bình Tân, số lượng các cô dâu kết hôn với người Đài Loan và Hàn Quốc chiếm số lượng và tỉ lệ cao nhất lần lượt là

338 trường hợp (57%) và 191 trường hợp (32,6%) Kế đến là những người chồng Trung Quốc với số lượng là 42, chiếm tỉ lệ 7,2%; Malaysia có 7 trường hợp chiếm 1,2%; Mỹ là 5 trường hợp với 0,9% Ngoài ra, Singapore và Nhật mỗi nước có 1

Trang 40

trường hợp, chiếm 0,2% Số lượng này cũng phản ánh xu hướng chung của các cuộc HNXQG trong các cuộc nghiên cứu trước Phần lớn với những trường hợp kết hôn với người nước ngoài trong nhiều năm nay tại khu vực, những người chồng chủ yếu đến

từ Đài Loan, Hàn Quốc

Nghề nghiệp và thu nhập

Về nghề nghiệp, theo kết quả khảo sát tại địa phương, những người chồng nước ngoài đa phần làm những công việc phổ thông, không yêu cầu trình độ cao Phần lớn, những người chồng làm công nhân, buôn bán-dịch vụ, làm thuê…, chỉ một số ít làm

những công việc ổn định như nhân viên văn phòng, kỹ sư… (Bảng 2.2)

Bảng 2.2 – Nghề nghiệp người chồng các cô dâu

Nguồn: Cuộc khảo sát tại tỉnh Vĩnh Long, tháng 12/2015

Theo bảng 2.2, nghề nghiệp của những người chồng nhìn chung là những công việc phổ thông Chiếm tỉ lệ cao nhất là nhóm những người chồng làm công nhân với

130 người (chiếm tỉ lệ 29,3%) Kế đến là nhóm có công việc buôn bán – dịch vụ với tỉ

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w