1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình đến kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở trường tình thương ánh linh (điển cứu tại trường tình thương ánh linh 30

95 140 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình đến kết quả học tập của học sinh Trung học cở sở trường tình thương Ánh Linh.. Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu những ảnh hưởng từ hoàn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

( Điển cứu tại Trường tình thương Ánh Linh: 30/30 Lâm Văn Bền, phường Tân

Kiểng, Quận 7 Thành Phố Hồ Chí Minh)

Giáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ Đỗ Hạnh Nga Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm : Trần Thị Thu Thảo ( Nữ, lớp Công tác xã hội k5, năm 3)

Thành viên:

1 Đỗ Thị Thanh Hương ( Nữ, lớp Công tác xã hội k5, năm 3)

2 Cao Thị Tính ( Nữ, lớp Công tác xã hội k5, năm 3)

3 Phạm Thùy Trang ( Nữ, lớp Công tác xã hội k5, năm 3)

TP HỒ CHÍ MINH – 2014

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 9

3.1 Mục đích của đề tài 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10

4.1 Đối tượng nghiên cứu 10

4.2 Khách thể nghiên cứu 10

4.3 Phạm vi nghiên cứu 10

5.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng 11

5.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 11

5.3 Kĩ thuật điều tra, xử lý thông tin 11

6.1 Ý nghĩa lý luận 12

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 12

5 Kết cấu đề tài 12

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 13

1.1 Cách tiếp cận và các lý thuyết ứng dụng 13

1.1.1 Hướng tiếp cận Xã hội hóa 13

1.1.2 Thuyết Tương tác biểu tượng 14

1.1.3 Thuyết nhận thức của công tác xã hội 15

1.2 Các khái niệm liên quan 16

1.2.1 Gia đình 16

1.2.1.1 Khái niệm gia đình 16

1.2.1.2 Phân loại gia đình 16

1.2.1.3 Các chức năng cơ bản của gia đình 17

1.2.2 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 18

1.2.3 Học sinh Trung học cơ sở 19

1.2.4 Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở 19

1.2.4.1 Những đặc trưng cơ bản của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở 19

1.2.4.2 Hoạt động học tập của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở 20

1.2.4.3 Giao tiếp của học sinh Trung học cơ sở với bạn ngang hàng 21

1.2.4.4 Sự phát triển nhân cách của tuổi học sinh Trung học cơ sở 21

1.2.5 Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội 23

1.2.5.1 Sự tác động của gia đình đối với sự phát triển của xã hội 23

1.2.5.2 Trình độ phát triển của xã hội quy định hình thức tổ chức, quy mô, kết cấu gia đình 24

1.2.5.3 Tính độc lập tương đối của gia đình 25

Trang 3

1.2.6 Sự phối hợp giữa các nhân tố gia đình - nhà trường - xã hội trong việc giáo dục đạo đức học

sinh 25

1.3 Giả thuyết nghiên cứu 25

1.4 Khung Phân tích 26

CHƯƠNG 2 27

2.1 Tổng quan về trường tình thương Ánh Linh 27

2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình đến kết quả học tập của học sinh Trung học cở sở trường tình thương Ánh Linh 29

2.2.1 Hoàn cảnh gia đình của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh 29

2.2.1.1 Thực trạng hoàn cảnh gia đình 29

2.2.1.2 Các yếu tố của hoàn cảnh gia đình ảnh hưởng đến kết quả học tập 35

2.2.1.3 Nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh đối với hoàn cảnh gia đình 44

2.2.2 Tình hình học tập của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh 46

2.2.2.1 Đánh giá của giáo viên về việc học tập của học sinh tại trường 46

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

1 Kiến nghị 55

2.1 Đối với chính quyền: 55

2.2 Ðối với từng gia đình: 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHẦN PHỤ LỤC 58

Trang 4

TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI

1 Tên đề tài: " Ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình đến kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh."

2 Nhóm thực hiện đề tài: Trần Thị Thu Thảo, Đỗ Thị Thanh Hương, Cao Thị

Tính, Phạm Thùy Trang

3 Lí do chọn đề tài:

Văn kiện Đại hội VI của Đảng khẳng định:

“Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình Nâng cao trình độ tự giác xây dựng những quan hệ tình cảm, đạo đức trong từng gia đình, bảo đảm sinh đẻ

có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hóa của gia đình"

Gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu tố quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Mặt khác, trẻ bị ảnh hưởng rất nhiều từ gia đình, đặc biệt là hoàn cảnh gia đình Vì thực tế như vậy, nhóm nghiên cứu chọn trường Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh ở 30/30 Lâm Văn Bền , phường Tân Kiểng, quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh như một minh chứng cụ thể, phản ánh một phần nhỏ mà xã hội đang phải đối mặt

4 Mục tiêu nghiên cứu:

Tìm hiểu những ảnh hưởng từ hoàn cảnh gia đình tác động đến kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở trường Tình thương Ánh Linh Từ đó đưa ra một số ý kiến và đề xuất những giải pháp để góp phần cùng với gia đình, nhà trường giúp học sinh nâng cao kết quả học tập

Trang 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Thu thập những tài liệu nghiên cứu sẵn có, thống kê số liệu những thông tin liên quan đến vấn đề từ sách, báo, internet,

- Tiến hành điều tra: quan sát, khảo sát, lập bảng hỏi, phỏng vấn sâu học sinh cấp II, gia đình và thầy cô chủ nhiệm của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

- Xử lí thông tin bằng phương pháp định lượng và định tính

- Phân tích - Tổng hợp những thông tin đã thu thập được

6 Đối tượng nghiên cứu:

- Hoàn cảnh gia đình và kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

7 Khách thể nghiên cứu

- Học sinh, gia đình và giáo viên giảng dạy tại trường tình thương Ánh Linh

8 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính

9 Kết quả nghiên cứu

Hoàn cảnh gia đình là một trong những yếu tố tác động đến kết quả học tập của học sinh và đã được nhóm chúng tôi chứng minh thông qua đề tài nghiên cứu thực hiện tại trường Trung học cơ sở tình thương Ánh Linh

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, hoàn cảnh gia đình tác động rất lớn tới việc học của học sinh, gia đình nào có hoàn cảnh gia đình khá giả và chăm lo cho con nhiều hơn thì đa phần những em đó học rất tốt, đặc biệt gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn và những em nào nhận thức được hoàn cảnh của gia đình mình đã nỗ lực học tập thoát khỏi cái nghèo cũng là rất đáng khích lệ Tuy nhiên, bên cạnh những em có hoàn cảnh khó khăn nhận thức được hoàn cảnh gia đình mình mà cố gắng vươn lên trong học tập để có kết quả cao và thành tích tốt thì vẫn có những em tự ti với hoàn cảnh của gia đình mình, đôi khi vì quá bận với công việc gia đình mà học sinh không thể tập trung vào việc học được dẫn tới kết quả học tập không được tốt, hoặc có đôi khi vì tự ti về hoàn cảnh gia đình mình mà học sinh bỏ theo bạn bè, ăn chơi lêu lổng dấn đến tình trạng trốn học

10 Kiến nghị

Đối với chính quyền địa phương cần có những chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện,

Trang 6

khuyến khích giúp cho các em có hoàn cảnh khó khăn được đến trường

Gia đình cần có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc giáo dục các em, tạo điều kiện cho các em học tập và rèn luyện tốt nhất có thể

Nhà trường cần phối hợp tích cực với cộng đồng địa phương và gia đình trong việc giáo dục và đào tạo các em Thông qua các buổi tuyên truyền, sinh hoạt kỹ năng sống cho học sinh

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các quan niệm về gia đình, về lối sống, nếp sống của các xã hội cư dân khác nhau và ngày càng phong phú Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Đảng ta đề ra nhiều quan điểm, chủ trương tiếp tục nâng cao vai trò của gia đình đối với việc giáo dục, xây dựng con người mới Văn kiện Đại hội VI của Đảng khẳng định:

“ Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình Nâng cao trình độ tự giác xây dựng những quan hệ tình cảm, đạo đức trong từng gia đình, bảo đảm sinh đẻ

có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hóa của gia đình.".1

Gia đình được đề cập đến như là thành tố bảo đảm thành công của các nhiệm vụ cách mạng Đảng cũng cho rằng phải phát huy tính tự giác, trách nhiệm cá nhân của mỗi thành viên trong gia đình và xã hội để xây dựng gia đình, xây dựng lối sống, nếp sống, đạo đức mới trong sáng, lành mạnh nhằm chống lại sự tha hóa do tác động của những yếu tố ngoại lai đã và đang làm băng hoại những giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam

Từ trước tới nay, gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu tố quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Để tạo môi trường chăm sóc thuận lợi, cha mẹ cần tạo một bầu không khí yêu thương, đoàn kết, gắn bó quan tâm giữa các thành viên gia đình Việc chăm sóc phát triển trí tuệ cho trẻ em có quan hệ chặt chẽ với việc giáo dục, xã hội hoá trẻ em

Ý nghĩa sâu sắc của việc phối hợp giáo dục đã được Bác Hồ chỉ ra từ lâu:

“ Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” 2

1

Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2 Trích bài nói tại Hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957

Trang 8

Gia đình nhà trường và xã hội đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ Mặt khác, trẻ bị ảnh hưởng rất nhiều từ gia đình Đặc biệt là hoàn cảnh gia đình Nếu trẻ sống trong gia đình không có sự quan tâm chăm sóc thì trẻ sẽ có ít cơ hội thành công hơn so với trẻ sống trong những gia đình thường xuyên khích lệ, giáo dục

Vị trí của trẻ trong gia đình cũng ảnh hưởng đến điều này Có những gia đình do bố mẹ thiếu hiểu biết hoặc do không kiềm chế được nên đã coi việc hành hạ, đánh đập hoặc dùng nhục hình đối với trẻ như là quyền của họ Nhiều đứa trẻ bị đánh thành thương tích Chính cách xử sự này của bố mẹ đã gây ra cho trẻ những khủng hoảng về tâm lí

"Theo số liệu điều tra 2.209 học viên các trường giáo dưỡng, có tới 49,81% trong số này sống trong cảnh bị đối xử hà khắc, thô bạo, độc ác của bố mẹ Số em bị

bố đánh chiếm 23% (gấp 6 lần mẹ đánh); bị dì ghẻ, bố dượng đánh chiếm 20,3% Nhóm cha mẹ thường xuyên đánh lộn, cãi nhau chiếm 33,4%; cha mẹ hàng ngày uống rượu chiếm 9,1%; cha mẹ li thân, li dị hoặc đã chết chiếm 11,1%; cha mẹ thường xuyên đi xa, ít quan tâm đến con chiếm 9,6%."3

Đây là những nguy cơ ảnh hưởng đến tinh thần trẻ tổn thương, tâm trạng bực bội, khó chịu, dễ có hành động gây hấn, hung

dữ hoặc có hành vi bạo lực không kiểm soát được

Với thực trạng như thế, nhóm lấy hoàn cảnh gia đình của học sinh Trung học cơ

sở trường tình thương Ánh Linh như một minh chứng cụ thể, phản ánh một phần nhỏ

mà xã hội đang phải đối mặt Ánh Linh là một trường tình thương nằm ở 30/30 Lâm Văn Bền, phường Tân Kiểng, quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh Đa số các trẻ theo học

ở đây đều thuộc vào diện gia đình nghèo di cư lên thành phố sinh sống, trẻ đường phố, trẻ em nghèo, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trẻ quá độ tuổi đi học phổ thông, trẻ có học lực yếu kém Vì thực tế như vậy nên nhóm nghiên cứu chọn trường để làm minh chứng nhằm tìm hiểu thực trạng hoàn cảnh gia đình ảnh hưởng đến trẻ như thế nào về thể chất và tinh thần, đặc biệt là đến kết quả học tập tại trường Song việc nghiên cứu còn nhiều hạn chế về mặt thời gian và kinh phí cũng như quy mô kết quả đạt được sẽ

không tránh khỏi những thiếu sót, chưa phản ánh được toàn diện xã hội

Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Trong tình hình kinh tế- xã hội ngày càng phát triển hiện nay, giáo dục trẻ em

3

ThS Lê Thị Ngọc Dung (2009), Bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ

Chí Minh

Trang 9

luôn là một trong những yếu tố luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu Bên cạnh sự phát triển của xã hội, nước ta vẫn còn có nhiều gia đình khó khăn, không

đủ điều kiện cho con em ăn học, nhiều em phải bỏ học đi làm để kiếm tiền phụ giúp cha mẹ, nuôi sống bản thân Việc hoàn cảnh gia đình gây ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh là một vấn đề hết sức thiết yếu, nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội vì thế đã có những công trình, đề tài, bài báo khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau nói về yếu tố gia đình và học tập Nhóm đã tìm và chọn lọc ra những công trình

có liên quan đến nội dung đề tài của nhóm để rút ra và tổng hợp thành những kiến thức căn bản làm cơ sở thực tiễn trong bài nghiên cứu của mình

Đề tài: " Nghiên cứu việc sử dụng thời gian ngoài giờ lên lớp của học sinh

Trung học cơ sở " của Trần Thị Mỵ, Đỗ Anh Khoa, Tăng Kim Ngọc sinh viên năm 3

trường Đại học khoa học xã hội nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh ( đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2006) Đề tài nghiên cứu tìm hiểu thực trạng chung về việc

sử dụng thời gian sau giờ lên lớp của học sinh Trung học cơ sở của ba trường Trung học cơ sở Hoàng Diệu, Lê Quang Định, Đinh Tiên Hoàng tại thành phố Biên Hòa Đề tài đã mô tả khái quát thực trạng sử dụng thời gian sau giờ lên lớp của học sinh vào các việc: thời gian dành cho việc tự học, thời gian dành cho việc học thêm, thời gian dành cho việc vui chơi giải trí, thời gian đi làm và việc làm phụ giúp gia đình, thời gian tham gia hoạt động ngoại khóa và các hình thức ngoại khóa Đồng thời, đề tài phân tích động cơ có sử dụng thời gian của học sinh Trung học cơ sở nhìn từ góc độ an sinh

xã hội về các vấn đề như: nhu cầu học tập, nhu cầu vui chơi, giải trí, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu tư vấn và giáo dục giới tính Từ đó, họ đề ra các giải pháp tác động đến gia đình, tác động trực tiếp đến học sinh, tác động trực tiếp đến nhà trường và giáo viên, tác động trực tiếp đến môi trường xã hội Sau khi tham khảo đề tài nghiên cứu trên, nhóm chúng tôi nhận thấy rằng đề tài đã phân tích được khái quát chung về tình hình học sinh sử dụng thời gian sau giờ lên lớp tại ba trường Trung học cơ sở, có sự so sánh kết quả học tập với việc sử dụng thời gian sau giờ lên lớp Qua nghiên cứu đề tài trên cho thấy rằng: đa số học sinh dành thời gian nhiều cho việc tự học, làm việc nhà, học thêm Mặc dù đa số học sinh công nhận lợi ích của việc vui chơi giải trí nhưng chưa dành thời gian đáng kể cho hoạt động này Hoạt động ngoại khóa của trường dường như cũng thu hút được sự tham gia nhiệt tình của học sinh Lượng thời gian dành cho mỗi hoạt động có sự khác nhau đáng kể ở các nhóm học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu

Trang 10

Tuy nhiên, đề tài trên vẫn còn một số hạn chế đó là chưa đi sâu vào từng đối tượng, đề tài chỉ phỏng vấn hai học sinh ở mỗi trường mà nhóm nghiên cứu Chính vì vậy, thông tin chưa mang tính đại diện nên nhóm nghiên cứu khi thực hiện nghiên cứu đề tài của mình đã chọn phỏng vấn số lượng 2/3 giáo viên, đại diện ba học sinh cho ba khối lớp

và phụ huynh của học sinh này để nhấn mạnh vai trò gia đình ảnh hưởng tới học sinh trong việc học tập

Đề tài: " Tìm hiểu vai trò của gia đình trong việc học tập của học sinh Trung

học cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" của Phạm Thị Huyền Trang sinh viên

chuyên ngành Xã hội học khóa 2004-2008 ( đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường 2007) Đề tài đã sử dụng cả hai phương pháp định tính và định lượng ( phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, bảng hỏi) để thu thập thông tin từ các giáo viên, học sinh, phụ huynh của học sinh trường Trung học cơ sở Đức Trí Quận 1, Trần Phú quận Thủ Đức tại Thành phố Hồ Chí Minh Nhìn chung, đề tài đã tìm hiểu khá sâu vai trò của gia đình trong việc học tập của con cái của học sinh ở cả hai trường Khác với đề tài trên, nhóm chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu và phân tích các yếu tố của gia đình ảnh hưởng tới việc học tập của các em

Đề tài: " Vấn đề sử dụng thời gian sau giờ lên lớp của học sinh trường Trung

học cơ sở trường tình thương Ánh Linh'' của Nguyễn Ngọc Hân, Phan Thị Hồng Gấm,

Lê Thị Thanh Kiều, Lường Hữu Thương, Nguyễn Hoàng Hà Uyên sinh viên trường Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh ( đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2011) Đề tài đã nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên, thực trạng việc sử dụng thời gian sau giờ lên lớp của học sinh, các hoạt động vui chơi giải trí từ góc độ giới tính tại trường tình thương Ánh Linh Nhóm nghiên cứu đề tài đã xác định đặc điểm tâm lý lứa tuổi này có ảnh hưởng tới việc học tập của học sinh ở các phương diện: giao tiếp với bạn ngang hàng, hoạt động học tập Sử dụng phương pháp định lượng và định tính nhóm tìm hiểu thực trạng việc sử dụng thời gian sau giờ lên lớp của học sinh xác định hai yếu tố gia đình và giới tính có ảnh hưởng Ngoài hai yếu tố này, đề tài còn đề cập tới các hoạt động vui chơi giải trí Tuy nhiên, yếu tố gia đình chưa được phân tích sâu mà chỉ nhấn mạnh sự ảnh hưởng tới việc sử dụng thời gian sau giờ lên lớp của học sinh Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu có cách tạo mối liên kết giữa gia đình - nhà trường và giữa học sinh giúp các em học tập tốt hơn

Trang 11

"Nghiên cứu ảnh hưởng của gia đình đến giáo dục trẻ lao động sớm" của nhóm

nghiên cứu Nguyễn Thế Thắng, Lê Tuấn Đức, Bùi Thế Hợp_Viện khoa học giáo dục Việt Nam năm 2009 Công trình đã chỉ ra được mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường

và cộng đồng là ba nhân tố thường trực ảnh hưởng giáo dục của trẻ em lao động sớm Các yếu tố ảnh hưởng của gia đình đến giáo dục trẻ em lao động sớm: thứ nhất là công việc của người cha; thứ hai là công việc của người mẹ; thứ ba là quy mô gia đình; thứ

tư là trình độ học vấn của bố mẹ; thứ năm là điều kiện kinh tế của gia đình; thứ sáu chi phí cho giáo dục của gia đình; thứ bảy quan tâm của gia đình; thứ tám là vấn đề giới; thứ chín là khoảng cách thế hệ Nhiệm vụ quan trọng nhất của trẻ em là học tập nhưng đối với học sinh lao động sớm thì đi làm chiếm một phần thời gian trong độ tuổi đi học Trẻ em buộc phải đi lao động sớm thì lao động hoặc học tập trở thành lựa chọn ưu tiên nếu vừa học vừa làm và đi học hoặc đi làm trở thành lựa chọn bắt buộc dù nguyên nhân là gì thì cũng tác động rất lớn đến việc học tập của học sinh Hầu hết chỉ đi làm

và bỏ học là những em đi lao động xa gia đình Trong rất nhiều các yếu tố làm cho trẻ

em phải lao động sớm nhưng có thể chia thành nhận thức của gia đình hoặc bản thân học sinh và hoàn cảnh khách quan từ gia đình Đề tài đưa ra những khuyến nghị đối với chính quyền, từng gia đình và các nhà trường tương đối cụ thể có tính hiệu quả Tuy nhiên nghiên cứu về thông tin chung trẻ em lao động sớm hiện tại chưa có những khảo sát toàn diện về trẻ em lao động sớm nên thiếu thông tin thực tiễn khi đề cập khái quát vấn đề này Nhóm chỉ phỏng vấn sâu hai em nên thông tin gây mơ hồ và chưa đi sâu vào từng hoàn cảnh của đối tượng

Sách Gia đình học_ Đặng Cảnh Khang và Lê Thị Quý_NXB Lý luận chính trị

Trong chương 8 " Giáo dục gia đình và xã hội hóa cá nhân", nhóm tác giả đã đưa ra

những nhận định, đánh giá về một cuộc nghiên cứu về gia đình với đối tượng là phụ huynh và trẻ em Phụ huynh được nghiên cứu ở các vấn đề: chi phí dành cho giáo dục; thời gian chăm sóc con cái trung bình/ngày; công việc thường làm của phụ huynh trong thời gian rảnh rỗi và so sánh giữa thành phố - nông thôn; cơ cấu công việc trong thời gian quan tâm, chăm sóc con cái; tương quan mức độ thường xuyên quan tâm về con và số con hiện có Như vậy, nhóm tác giả đã chuyển từ nghiên cứu gia đình đầu tư vật chất sang đầu tư thời gian cho việc giáo dục con cái Ngoài ra, nhóm tác giả bàn về những vấn đề nội dung giáo dục gia đình Việt Nam hiện nay Trong đó, các giá trị truyền thống vẫn được coi là nội dung quan trọng để dạy dỗ con cháu Trẻ em được

Trang 12

nghiên cứu bằng cách nhóm tác giả đưa ra các câu hỏi khảo sát về sự tiếp thu của con cháu với các giá trị được truyền dạy, định hướng nghề nghiệp cho con cháu, khi bị phạt hoặc nếu bị phạt học sinh sẽ tìm đến ai để tâm sự, cảm nhận của học sinh về hình phạt

Nguyễn Hữu Minh ( Tổng biên tập), tạp chí " Nghiên cứu Gia đình & Giới", số

5- 2013, tạp chí phối hợp với viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Tạp chí tổng hợp các bài nghiên cứu về Gia đình và Giới về: Ứng xử của cha mẹ đối với con cái vị thành niên; nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh trong gia đình Hà Nội từ góc nhìn của học sinh; quan niệm của cha mẹ về giá trị con cái trong gia đình hiện nay Tạp chí tổng hợp các bài nghiên cứu tập trung về các mối quan hệ giữa cha mẹ - con cái vị thành niên ở Việt Nam hiện nay cũng như các kỹ năng của học sinh cần được cung cấp, các kiến thức tâm lý cần thiết cho các bậc phụ huynh cần biết với tuổi vị thành niên Để qua đó các nhà giáo dục có thể có những biện pháp thiết thực tạo điều kiện khuyến khích các bậc phụ huynh kết hợp với nhà trường giúp học sinh có một cuộc sống an toàn, khỏe mạnh Với đề tài nghiên cứu của nhóm, nhóm nghiên cứu sẽ làm rõ và phát triển những yếu

tố của hoàn cảnh gia đình ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh, đặc biệt là học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích của đề tài

- Tìm hiểu những ảnh hưởng từ hoàn cảnh gia đình tác động đến kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở trường Tình thương Ánh Linh Từ đó đưa ra một số ý kiến và đề xuất những giải pháp để góp phần cùng với gia đình, nhà trường giúp học sinh nâng cao kết quả học tập

Mục tiêu cụ thể:

- Khảo sát thực trạng hoàn cảnh gia đình của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

- Nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh đối với hoàn cảnh gia đình

- Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

- Phân tích những yếu tố của hoàn cảnh gia đình tác động đến kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

Trang 13

- Đề xuất những giải pháp để góp phần cùng với gia đình, nhà trường giúp học sinh nâng cao kết quả học tập

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu đã đặt ra của đề tài thì nghiên cứu cần giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Tìm hiểu, xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp luận phục vụ cho đề tài nghiên cứu

- Thu thập những tài liệu nghiên cứu sẵn có, thống kê số liệu những thông tin liên quan đến vấn đề từ sách, báo, internet,

- Tiến hành điều tra: quan sát, khảo sát, lập bảng hỏi, phỏng vấn sâu học sinh cấp II, gia đình và thầy cô chủ nhiệm của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

- Xử lí thông tin bằng phương pháp định lượng và định tính

- Phân tích những thông tin đã thu thập có ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

- Tổng hợp những thông tin đã thu thập được

- Đánh giá tình hình học tập của học sinh và đề xuất một số giải pháp nhằm cải

thiện kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hoàn cảnh gia đình của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

- Kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Khách thể: học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

- Khách thể bổ trợ: Gia đình của học sinh và giáo viên giảng dạy tại trường tình thương Ánh Linh

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Từ ngày 25/2/2013 đến ngày 25/2/2014

- Không gian: Trường tình thương Ánh Linh, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Chọn mẫu: Phương pháp nghiên cứu định lượng với công cụ điều tra bằng bảng hỏi Mẫu xác suất: phát cho tất cả 90 học sinh Trung học cơ sở trong trường tình thương Ánh Linh

5.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp chọn mẫu: Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chọn

mẫu thuận tiện để số lượng mẫu chọn khách quan, mang tính đại diện và phương pháp chọn mẫu được đúng Thực tế, vì qui mô và giới hạn của đề tài nên nhóm nghiên cứu chỉ chọn học sinh Trung học cơ sở Trường tình thương Ánh Linh

Tổng số lượng mẫu định tính là 8 mẫu Bao gồm:

- Học sinh: 3 mẫu

- Phụ huynh: 3 mẫu

- Giáo viên : 2 mẫu

Đặc điểm và cơ cấu mẫu phỏng vấn sâu:

- Tiến hành phỏng vấn sâu hai học sinh của khối lớp 6 và một học sinh lớp 7 để tìm hiểu hoàn cảnh và kết quả học tập trong học kì vừa qua

- Phỏng vấn sâu ba phụ huynh trong đó có phụ huynh của hai học sinh bất kì và một phụ huynh của học sinh lớp 7 để thu thập thêm thông tin về hoàn cảnh gia đình và

sự quan tâm về việc học tập của học sinh

- Phỏng vấn sâu hai giáo viên chủ nhiệm của hai khối lớp 6,7 để tìm hiểu việc học tập của học sinh trên lớp

Nội dung phỏng vấn được ghi chép lại và sử dụng để đối chiếu với các kết quả thu được bằng phương pháp nghiên cứu định lượng

Dựa trên những tài liệu liên quan mà chúng tôi cập nhập được, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo in, báo mạng, các diễn đàn, mạng xã hội, báo cáo chuyên đề, sách tham khảo…để có cái nhìn rõ nét về vấn đề nghiên cứu cũng như để làm cơ sở lý luận cho đề tài

Các tư liệu trên đều đã được phân tích, hệ thống hóa sử dụng trong đề tài và sắp

xếp thành thư mục tham khảo

5.3 Kĩ thuật điều tra, xử lý thông tin

Các thông tin dữ liệu thu nhập được sẽ được sắp xếp thành các chủ đề xoay

Trang 15

quanh đề tài, làm cơ sở lý luận cho đề tài

Các thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS

Các thông tin định tính được lọc ra, sử dụng theo chủ đề dưới dạng các trích

dẫn, được phân tích nội dung và sử dụng kèm theo các thông tin định lượng

Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Hệ thống hóa vấn đề, tạo khung lý thuyết phục vụ cho các nghiên cứu sau này

- Xây dựng khung kiến thức tổng quát về vấn đề nghiên cứu

Đóng góp mới của đề tài

Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình đến kết quả học tập của học sinh để tìm ra các yếu tố dẫn đến hình thành thái độ của học sinh đối với hoàn cảnh gia đình và đối với việc học tập Từ đó, thấy được những khó khăn mà học sinh đang gặp phải trong quá trình học tập và phương pháp quản lí của nhà trường về việc học tập cũng như sinh hoạt của học sinh Từ đó, thấy được tầm quan trọng của nhân viên công tác xã hội học đường ở trường tình thương Ánh Linh trong việc tham vấn và

tư vấn tâm lí cho học sinh cũng như phối hợp với nhà trường giúp đỡ học sinh học tập

và rèn luyện kĩ năng sống cho chính mình

5 Kết cấu đề tài

Bài nghiên cứ gồm 3 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, kiến nghị

Phần nội dung gồm có hai chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết

- Chương 2: Kết quả nghiên cứu

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cách tiếp cận và các lý thuyết ứng dụng

1.1.1 Hướng tiếp cận Xã hội hóa

Xã hội hoá là khái niệm cơ bản trong xã hội học và được khai thác theo các góc

độ khác nhau, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này:

“Xã hội hoá là quá trình thích ứng và cọ sát với các giá trị, chuẩn mực và hình mẫu hành vi xã hội mà trong quá trình đó một thành viên xã hội tiếp nhận và duy trì khả năng hoạt động xã hội Xã hội hóa nghiên cứu xem với tư cách là điều kiện, các yếu tố cấu thành, cơ cấu, quá trình xã hội, văn hoá, kinh tế và sinh thái có tác dụng bằng cách nào và ở mức độ nào đạt tới sự phát triển nhân cách con người.”

“Xã hội hoá trước hết là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội, qua đó cá nhân học hỏi, lĩnh hội, tiếp nhận nền văn hoá của xã hội như khuôn mẫu tác phong xã hội, chuẩn mực giá trị văn hoá xã hội”.4

Xã hội hóa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình Nói một cách khác, đó chính là quá trình con người liên tục tiếp thu văn hóa vào nhân cách của mình

để sống trong xã hội như là một thành viên

Xã hội hóa gồm có nhiều giai đoạn: Gia đình, trường học và môi trường xã hội Các giai đoạn này không tách rời mà lồng ghép vào nhau cùng tác động lên việc hình thành nhân cách của cá nhân Ngoài ra, còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình Xã hội hóa của cá nhân như nhóm tương đương hay các phương tiện thông tin đại chúng

Việc tiếp cận theo hướng nghiên cứu Xã hội hóa trong việc nghiên cứu về hoàn cảnh gia đình của học sinh là hết sức quan trọng Dựa trên lý thuyết Xã hội hóa, nhóm hiểu rõ nhận thức và thái độ của các gia đình cũng như của học sinh là do nhiều yếu tố

4

PTS Chung Á - PTS.Nguyễn Đình Tấn (1997), Nghiên cứu xã hội học NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 17

môi trường, xã hội chi phối qua lại, tác động lên mà thành Như vậy, trong quá trình nghiên cứu, nhóm sẽ chú ý nghiên cứu nhiều yếu tố tác động lên nhận thức của gia đình trong mối quan hệ đan xen qua lại, bên cạnh đó khi tìm hiểu về thái độ của các bậc phụ huynh và học sinh, ta cũng sẽ tìm hiểu trong nhiều hoàn cảnh cụ thể để có cái nhìn bao quát, toàn diện về đề tài

1.1.2 Thuyết Tương tác biểu tượng

Max Weber và Georg Simmel là hai người đầu tiên đóng góp vào thuyết tương tác, về sau có thêm các nhà xã hội học như: CH.Cooley (1902), G.O.Meal (1939), W.F.Thomes (1931), E.Goffman (1959), H.Garfinkel (1967) và K.Blumer (1969) đã phát triển chi tiết hơn lý thuyết này

Thuyết Tương tác biểu tượng nhấn mạnh sự tương tác của con người qua biểu tượng Các biểu tượng là một cái gì đó thay thế hoặc đại diện cho một cái gì khác nữa Các biểu tượng có thể mang rất nhiều hình thức ( lời nói, nét mặt, điệu bộ ) Các biểu tượng không được xác định bởi những sự vật chúng thể hiện mà được xác định bởi những người tạo ra và sử dụng chúng Vì vậy, nếu trong một nhóm không có sự thống nhất về ý nghĩa của một biểu tượng sẽ dẫn tới sự lẫn lộn nhận thức

Herbert Blumer (1969), người đặt ra thuật ngữ tương tác biểu tượng đã đưa ra

ba giả thuyết trung tâm về vấn đề này:

+ Thứ nhất, chúng ta thường lý giải theo cách riêng của chúng ta về hiện thực

Đó là chúng ta hành động hướng đến những sự vật mà ý nghĩa của nó phù hợp với chúng ta

+ Thứ hai, sự nhận thức chủ quan dựa trên những ý nghĩa mà chúng ta tiếp

nhận từ những người khác Chúng ta biết ý nghĩa của một cái gì đó qua việc xem những người khác hành động hướng tới nó

+ Cuối cùng, trong quá trình giao tiếp với mọi người xung quanh, chúng ta

liên tục xử lý ý nghĩa những biểu tượng của họ, đồng thời cũng có thể đối thoại được với chính mình Vì vậy, chúng ta có thể hình dung được sự phản ứng của người khác trước khi chúng ta hành động, để từ đó đưa ra những cách ứng xử phù hợp với hành vi

mà mình chờ đợi từ phía những người khác Nhờ vậy mà những người trong cùng một bối cảnh văn hóa có thể biết cách ứng xử đúng lúc, đúng chỗ tùy theo tình huống

Theo Erving Goffman, con người trong cuộc sống hằng ngày sẽ luôn phải chú

ý đến những ứng xử của mình sao cho phù hợp sự mong đợi của những người xung

Trang 18

quanh

Việc áp dụng thuyết Tương tác biểu tượng vào việc nghiên cứu giúp giải thích

cơ chế phản ứng của phụ huynh và học sinh về vấn đề này, cho thấy nhận thức của đối tượng thường là do nhận thức kém, chưa hình dung được tầm quan trọng của vấn đề, đặc biệt là ý nghĩa của việc học và tương lai của học sinh sau này

Xem nhẹ vấn đề là nguyên nhân dẫn đến sự không quan tâm của các bậc phụ huynh đối với việc học của học sinh Đồng thời, cũng là sự thiếu quan tâm của chính quyền địa phương đến những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn Hoặc khi các hộ gia đình “du canh du cư” không tuân theo các thủ tục hành chính cũng là vấn đề đáng lo ngại, đây cũng là lý do các hộ gia đình này không hưởng được các quyền lợi từ Nhà nước

1.1.3 Thuyết nhận thức của công tác xã hội

Thuyết nhận thức chủ trương mỗi cá nhân có một suy nghĩ và hiểu biết riêng về

sự vật, cách thu nhận và diễn giải các thông tin, đánh giá các kinh nghiệm, các phán đoán và quyết định cách ứng xử Tất cả các khái niệm này đươc Piaget gọi là cấu trúc nhận thức, có ảnh hưởng đến cảm xúc và cách ứng xử của cá nhân

Cấu trúc nhận thức được hình thành và học hỏi qua các kinh nghiệm sống của bản thân và qua sự quan sát và học hỏi từ ngoại cảnh Những kinh nghiệm mới phù hợp với cấu trúc nhận thức được sáp nhập vào nó Ngược lại, những kinh nghiệm mới trái ngược với cấu trúc nhận thức, người ta sẽ chỉnh sửa lại cấu trúc của nhận thức để chứa đựng kinh nghiệm mới

Trong thuyết nhận thức, Beck đã mô tả mối quan hệ giữa niềm tin, cảm xúc và ứng xử như sau: sự vật diễn ra (A), dẫn đến tư tưởng và niềm tin (B), tư tưởng niềm tin dẫn tới hành động (C)

Việc vận dụng thuyết nhận thức vào việc nghiên cứu giúp chúng tôi có được mô hình nhận thức các đối tượng liên quan Từ đó, vấn đề có thể được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả Nâng cao nhận thức cho các bậc phụ huynh, phản ánh thực tế vấn đề Khi có được mô hình cụ thể xem như nhóm đã khái quát được tình hình, sẽ dễ dàng

khai thác các tư liệu và thông tin cần thiết, phục vụ cho việc nghiên cứu

Trang 19

1.2 Các khái niệm liên quan

1.2.1 Gia đình

1.2.1.1 Khái niệm gia đình

Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ giáo dục Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội

Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viên trong gia đình Để đưa ra được một cách phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa -

xã hội của đời sống gia đình ở con người Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội Vì thế, theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người

Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm

lý, văn hóa, kinh tế, khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ

có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình

Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng

về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của

mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người

1.2.1.2 Phân loại gia đình

Có nhiều cơ sở để phân loại gia đình thành các loại khác nhau

- Xét về qui mô, gia đình có thể phân loại thành:

+ Gia đình hai thế hệ (hay gia đình hạt nhân): là gia đình bao gồm cha mẹ và con

Trang 20

+ Gia đình ba thế hệ (hay gia đình truyền thống): là gia đình bao gồm ông bà, cha mẹ và con còn được gọi là tam đại đồng đường

+ Gia đình bốn thế hệ trở lên: là gia đình nhiều hơn ba thế hệ Gia đình bốn thế

hệ còn gọi là tứ đại đồng đường

- Dưới khía cạnh xã hội học và về quy mô các thế hệ trong gia đình, cũng có thể

phân chia gia đình thành hai loại:

+ Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thường được coi là gia đình truyền thống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ Đó là một nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới một mái nhà, thường từ

ba thế hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả những người ruột thịt từ tuyến phụ Dạng cổ điển của gia đình lớn là gia đình trưởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và những người lẻ loi Các thành viên trong gia đình được xếp đặt trật tự theo ý muốn của người lãnh đạo gia đình mà thường là người đàn ông cao tuổi nhất trong gia đình Ngày nay, gia đình lớn thường gồm cặp vợ chồng, con cái của họ và bố mẹ của họ nữa Trong gia đình này, quyền hành không ở trong tay của người lớn tuổi nhất

+ Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là nhóm người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mối quan hệ của một người vợ hoặc một người chồng với các con Do vậy, cũng có thể có gia đình nhỏ đầy

đủ và gia đình nhỏ không đầy đủ Gia đình nhỏ đầy đủ là loại gia đình chứa trong nó đầy đủ các mối quan hệ (chồng, vợ, các con); ngược lại, gia đình nhỏ không đầy đủ là loại gia đình trong nó không đầy đủ các mối quan hệ đó, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại quan hệ của chỉ người vợ với người chồng hoặc chỉ của người cha hoặc người mẹ với các con Gia đình nhỏ là dạng gia đình đặc biệt quan trọng trong đời sống gia đình Nó

là kiểu gia đình của tương lai và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại và công nghiệp phát triển

1.2.1.3 Các chức năng cơ bản của gia đình

- Tái tạo ra một thế hệ mới bao gồm cả việc sinh đẻ và giáo dục đào tạo:

+ Chức năng sinh sản - tái sản xuất ra con người về mặt sinh học và về mặt xã hội

+ Chức năng giáo dục của gia đình

- Nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình:

Trang 21

+ Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

+ Chức năng thoả mãn những nhu cầu tâm - sinh lý tình cảm

- Hai chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia đình như:

+ Chức năng kinh tế

+ Chức năng giao tiếp tinh thần

+ Chức năng tổ chức thời gian rỗi

+ Chức năng thu nhận các phương tiện

+ Chức năng giáo dục bảo trợ

+ Chức năng đại diện

và hoà nhập với gia đình, cộng đồng Theo điều 40: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ

em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ

em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật” Theo đó:

 Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống

và nơi cư trú không ổn định hoặc trẻ em cùng với gia đình đi lang thang

 Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi,

bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt ( Ông, bà nội ngoại;

bố mẹ nuôi hợp pháp, anh chị) để nương tựa Trẻ em mồ côi còn được hiểu bao gồm cả trẻ em dưới 16 tuổi chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn tật nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại), không có nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa

 Trẻ em khuyết tật là trẻ em bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể

Trang 22

hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho sinh hoạt, học tập và lao động gặp nhiều khó khăn

 Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học: Là trẻ em bị dị dạng, dị tật do hậu quả chất độc hóa học

 Trẻ em nhiễm HIV/AIDS: Là trẻ em đã được cơ quan y tế có thẩm quyền

kết luận bị nhiễm HIV/AIDS

1.2.3 Học sinh Trung học cơ sở

Theo luật Giáo dục 9 ( mục 2, điều 26, khoản 1, điểm b) hiện nay quy định, học sinh Trung học cơ sở là những người học từ lớp 6 đến lớp 9 Học sinh vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học có tuổi là mười một tuổi Ở trường tình thương

Ánh Linh, học sinh Trung học cơ sở có độ tuổi 12 đến 18 tuổi

1.2.4 Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở

1.2.4.1 Những đặc trưng cơ bản của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở

- Mâu thuẫn giữa một bên là tính chất quá độ "Không còn là trẻ con nhưng chưa

phải là người lớn" và bên kia là ý thức bản ngã phát triển mạnh mẽ ở học sinh Cảm giác mình là người lớn là trung tâm của tự ý thức ở tuổi Trung học cơ sở

Đây là thời kì biến động nhanh, mạnh, đột ngột và có những đảo lộn cơ bản Từ

đó, dễ dẫn tới tình trạng mất cân đối, không bền vững giữa các hiện tượng tâm lý, đồng thời cũng là thời kì chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong sự phát triển

- Tuổi Trung học cơ sở là giai đoạn khó khăn trong quá trình cá nhân, đồng thời cũng là giai đoạn khó khăn trong công tác giáo dục Đòi hỏi người lớn phải có sự quan tâm đặc biệt, sự hiểu biết, kiên nhẫn và tinh tế với trẻ em

- Điều kiện xã hội cho sự phát triển tâm lý của học sinh Trung học cơ sở: Cùng với sự biến đổi mạnh mẽ về thể chất, điều kiện xã hội của sự phát triển tâm lý cũng có những thay đổi so với nhi đồng

- Đời sống học sinh Trung học cơ sở trong gia đình: Vị thế của học sinh Trung học cơ sở trong gia đình đã được thay đổi so với lứa tuổi nhi đồng, học sinh được thừa nhận là một thành viên tích cực, được giao những nhiệm vụ cụ thể như chăm sóc, nấu

cơ, dọn dẹp nhà cửa Còn ở những gia đình khó khăn thì các em phải tham gia lao động để đóng góp cho gia đình

Trang 23

1.2.4.2 Hoạt động học tập của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở

Ở lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở hoạt động học tập chiếm vị thế hàng đầu trong đời sống và quy định sự phát triển tâm lý lứa tuổi thanh niên

- Đặc điểm hoạt động của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở:

Thứ nhất: Nếu đặc trưng nổi bật trong hoạt động học tập của nhi đồng là hình

thành các hành động học, thì đối với học sinh Trung học cơ sở vấn đề quan trọng nhất

là phương pháp học nói chung, cách học các môn khoa học như thế nào cho hiệu quả

là mối quan tâm hàng đầu trong học tập của học sinh Trung học cơ sở Các giáo viên

có kinh nghiệm thường phát hiện và trợ giúp kịp thời cho học sinh thông qua các buổi sinh hoạt trao đổi tập thể và cá nhân

Ở trường tình thương Ánh Linh, vào mỗi giờ ra chơi sáng thứ 3 hàng tuần, học sinh tiểu học thường được các giáo viên nhắc nhở, răn dạy, đối với học sinh cấp II thì vào đầu tuần Còn đối với một số em học lệch hay có năng khiếu môn gì thì cũng được

các cô quan tâm, khuyến khích phát triển

Thứ hai: Đối tượng học tập của tuổi học sinh Trung học cơ sở là những tri thức

thuộc các lĩnh vực khoa học riêng Việc học tập một cách hệ thống những khái niệm khoa học là yếu tố quan trọng để học sinh Trung học cơ sở cấu trúc lại hệ thống động

cơ, thái độ học tập cũng như thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển nhận thức, trí tuệ và nhân cách của học sinh

Ở trường Ánh Linh học sinh được học hầu hết các môn như Sinh, Địa lý, Toán, Văn, Sử, Hóa, Tuy nhiên, các môn như: Thể Dục, Công nghệ vẫn còn hạn chế Nhưng đã đáp ứng được các môn khoa học cần thiết trong chương trình giáo dục Trung học cơ sở Hiện nay, ngoài việc học các môn chính thức trong chương trình học học sinh còn được học may và học làm cườm

Thứ ba: Thái độ đối với học tập của học sinh Trung học cơ sở đã được cấu trúc

lại Ở thời học sinh nhỏ, thái độ đối với các môn học phụ thuộc vào thái độ của học sinh đối với giáo viên Nhưng dần dần, những nội dung đòi hỏi tính tích cực, hoạt động học tập, sáng tạo và mở rộng tầm hiểu biết sẽ hấp dẫn học sinh Trung học cơ sở hơn Từ đó, dẫn tới sự phân hóa "thích" hoặc " không thích" các môn học Có môn cần,

có môn không cần Thái độ khác nhau đối với các môn của học sinh Trung học cơ sở phụ thuộc vào hứng thú, sở thích của học sinh vào nội dung học và phương pháp giảng dạy của giáo viên

Thứ tư: Việc học tập của học sinh trong lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở

Trang 24

không chỉ đóng khung trong các tiết học lý thuyết ở trên lớp mà còn được diễn ra theo nhiều hình thức sinh động khác như thảo luận, thực hành thí nghiệm, học sinh cũng thích các hoat động ngoại khóa Sắp tới học sinh sẽ tham gia vào những hoạt động thể thao nhằm kỉ niệm 20 năm thành lập trường, hiện tại học sinh rất hân hoan chào đón

sự kiện này

1.2.4.3 Giao tiếp của học sinh Trung học cơ sở với bạn ngang hàng

Ở tuổi học sinh Trung học cơ sở về vấn đề giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với bạn đã trở thành một hoạt động riêng và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống học sinh Nhiều khi giá trị này cao đến mức đẩy lùi học tập đứng hàng thứ hai và làm xao nhãng cả quan hệ giao tiếp với người thân

Khi học sinh Trung học cơ sở giao tiếp với người lớn thường diễn ra sự bất thường bình đẳng còn khi giao tiếp với bạn ngang hàng là hệ thống bình đẳng và đã mang đặc trưng của quan hệ xã hội giữa cá nhân độc lập Với bạn bè, học sinh dễ tâm

sự hơn Những vướng mắc, khó khăn trong cuộc sống hay trong học tập học sinh đều

có xu hướng chia sẻ với bạn bè Nhiều lúc cha mẹ do sự khác biệt lứa tuổi mà không thể tiếp xúc nói chuyện với học sinh một cách tự nhiên như các bạn của mình Muốn

có được sự gần gũi và phá bỏ rào cản giao tiếp thì các bậc phụ huynh thường tham gia vào các hoạt động của học sinh với tư cách là những người bạn chứ không phải vai trò của một người lớn Những em khó "cởi mở" trong các vấn đề thầm kín hay một số em

có những ước mơ lãng mạn, xa vời thì người lớn cũng nên tìm hiểu cách tiếp cận với học sinh sao cho học sinh không cảm thấy đường đột Nếu đường đột thì học sinh sẽ cảm thấy người lớn đang xâm phạm " khoảng trời riêng " của chúng, chúng sẽ có phản ứng rất mạnh, đâm ra ghét người lớn Bằng tất cả mọi cách có thể, người lớn cần đặt vị trí của mình vào nơi học sinh Nếu nhiều lần mà học sinh không đủ tự tin để có thế chia sẻ với người lớn thì cha mẹ cũng có thể gián tiếp hỏi thông tin của học sinh thông qua các bạn mà học sinh thường chơi với thái độ thành thật chứ không phải soi mói vào đời sống riêng tư của học sinh Nhiều lúc học sinh coi giao tiếp với bạn ngang hàng là số một, là vấn đề quan trọng hơn cả Có em đang học rất tốt nhưng vì có mâu thuẫn nào đó với bạn, đặc biệt là bạn thân thì kết quả học tập của học sinh giảm sút

đáng kể

1.2.4.4 Sự phát triển nhân cách của tuổi học sinh Trung học cơ sở

Trang 25

Đặc điểm cơ bản của đời sống tình cảm lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở là những xúc cảm và tình cảm dễ bị mâu thuẫn với nhau Những tình cảm đó chưa ổn định và có cường độ rất mạnh Đặc biệt, chúng có những phản ứng mạnh khi kết quả giao tiếp không đạt như mong muốn: trạng thái tinh thần cũng không ổn định, thường hay cáu gắt, dễ vui, dễ giận, dễ buồn, dễ buồn vô cớ Tình cảm của học sinh Trung học cơ sở rất phong phú, trong sáng Vì vậy, tình bạn trong lứa tuổi này cũng phát triển rất mạnh mẽ

Do mâu thuẫn giữa các mặt trong sự phát triển nên lứa tuổi học sinh Trung học

cơ sở dễ bị ảnh hưởng bởi những nhận xét, đánh giá của người lớn Nếu người lớn không khuyến khích học sinh phát triển mặt tích cực, ngược lại còn chê bai khuyết điểm của học sinh thì học sinh dễ " thu mình" dẫn tới tự ti, mặc cảm, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển về mặt tinh thần của học sinh

Sự phát triển của tự ý thức và tự đánh giá

Hầu hết học sinh trong lứa tuổi Trung học cơ sở đều chấp nhận về mình ở tất cả các mặt Tự ý thức xuất hiện từ trước tuổi học sinh Trung học cơ sở nhưng bước vào tuổi học sinh Trung học cơ sở thì do được tích lũy kinh nghiệm nên sự hiểu biết và tự ý thức phát triển mạnh mẽ

Trước tác động của hoàn cảnh học tập mới, đặc biệt là những mối quan hệ với bạn bè và những mối quan hệ ngoài trường học khác nên học sinh có nhu cầu quan tâm đến mình hơn, học sinh đã biết tự đánh giá và ý thức những gì mình làm, hay những biểu hiện ra ngoài, học sinh quan sát kĩ và có xu hướng so sánh mình với các bạn khác Các em ý thức những việc mình có thể làm như người lớn bằng sự quyết đoán, tự tin

và độc lập Phần lớn, những vấn đề của bản thân học sinh đều tìm cách giải quyết ổn thỏa mà không cần đến sự trợ giúp của người lớn Học sinh tự biết đánh giá mình nên

có thể phát triển những thế mạnh của bản thân Ngược lại, một số em khác lại rụt rè, nhút nhát không dám thể hiện mình vì nhận ra những khuyết điểm đó

Cùng với sự tự đánh giá là khả năng đánh giá người khác Ở đây, khả năng đánh giá người khác biểu hiện rất rõ rệt và thuận tiện hơn vì học sinh dễ nhận ra thiếu xót của người khác Sự đánh giá đó là rất tốt nếu học sinh đánh giá đúng và khách quan về bạn bè mình và ngược lại Nếu đánh gíá phiến diện hoặc sai sự thật thì học sinh chối

bỏ, xa lánh

Trang 26

Đạo đức là một phẩm chất quan trọng cần có ở mỗi người Ngay từ nhỏ, khi chưa cắp sách tới trường thì ông bà cha mẹ đã giáo dục con cái có những phẩm chất đạo đức tốt, lành mạnh Các quy tắc và chuẩn mực đạo đức có hệ thống được học sinh tiếp thu một cách đầy đủ khi học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường Ở lứa tuổi nhi đồng, do nhận thức còn non nớt nên ý thức của học sinh phát triển chưa sâu sắc thì đến lứa tuổi này học sinh đã lĩnh hội được một cách trọn vẹn và phát huy ở từng hoàn cảnh, học sinh không còn hành động theo sự hướng dẫn trực tiếp của người lớn nữa mà do ý thức quyết định hành động, theo ý muốn của bản thân bằng cách sử dụng những nguyên tắc đạo đức đã học được

Cùng với sự phát triển của ý thức thì nguyện vọng của học sinh cũng rất phát triển Nguyện vọng của tuổi học sinh Trung học cơ sở cũng rõ ràng hơn nhiều so với các lứa tuổi khác ở những giai đoạn trước Những nguyện vọng ấy cũng thay đổi theo thời gian khi học sinh hình thành những tình cảm mới Bởi vậy, trong quá trình giáo dục học sinh, người lớn cần chú trọng để giáo dục cơ sở đạo đức Những hành vi đạo đức của các em không đi sai lệch với mục đích giáo dục muốn hình thành cho học sinh Đôi khi, học sinh còn có những ngộ nhận về đạo đức do bị tiêm nhiễm từ sách báo, tranh ảnh đồi trụy và dễ dẫn đến những động cơ không đúng, vi phạm đạo đức, rồi trở thành những học sinh cá biệt về đạo đức Nghiêm trọng hơn là hành vi phạm tội ở lứa tuổi thiếu niên Do đó, trong cách giáo dục thì cha mẹ, giáo viên và những người làm công tác giáo dục cần thiết phải hết sức chú ý Gia đình cần có sự phối hợp với nhà

trường kiểm soát chặt chẽ đối với một số em cá biệt

1.2.5 Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội

1.2.5.1 Sự tác động của gia đình đối với sự phát triển của xã hội

Gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, là nhân tố cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Gia đình như một tế bào tự nhiên, là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên xã hội Không có gia đình để tái tạo ra con người thì xã hội không tồn tại và phát triển được Chính vì vậy, muốn xã hội tốt thì phải xây dựng gia đình tốt

Tuy nhiên, mức độ tác động của gia đình đối với xã hội còn phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ xã hội Trong các chế độ dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình, quan hệ xã hội đã hạn chế rất lớn sự tác động của gia đình đối với xã hội

Trang 27

Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội Mỗi cá nhân chỉ có thể sinh ra trong gia đình Gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự hình thành và phát triển tính cách của mỗi cá nhân Và cũng chính trong gia đình, mỗi cá nhân sẽ học được cách cư xử với người xung quanh và xã hội

Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống mỗi thành viên, mỗi công dân của xã hội Chỉ trong gia đình mới thể hiện được mối quan

hệ tình cảm thiêng liêng giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái

Gia đình là nơi nuôi dưỡng (các giá trị hạnh phúc, sự hoài hòa trong đời sống của mỗi thành viên, mỗi công dân của xã hội Chỉ trong gia đình, mới thể hiện được mối quan hệ trên), chăm sóc những công dân tốt cho xã hội Sự hạnh phúc của gia đình

là tiền đề hình thành nên nhân cách tốt cho những công dân của xã hội Vì vậy, muốn

xây dựng xã hội thì phải chú trọng xây dựng gia đình Hồ Chủ Tịch đã nói: “ Gia đình

tốt thì xã hội tốt, nhiều gia đình tốt cộng lại thì làm cho xã hội tốt hơn”

Xây dựng gia đình là một trách nhiệm, là bộ phận cấu thành trong chính thể các mục tiêu phấn đấu của xã hội, vì sự ổn định và phát triển của xã hội Thế nhưng, các cá nhân không chỉ sống trong quan hệ gia đình mà còn có những quan hệ xã hội Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viên của xã hội Không thể

có con người bên ngoài xã hội Gia đình đóng vai trò quan trọng để đáp ứng nhu cầu

về quan hệ xã hội của mỗi cá nhân

Ngược lại, bất cứ xã hội nào cũng thông qua gia đình để tác động đến mỗi cá nhân Mặc khác, nhiều hiện tượng của xã hội cũng thông qua gia đình mà có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo

và kết cấu gia đình Từ gia đình tập thể - hình thức quần hôn, huyết thống đến gia đình cặp đôi – hình thức hôn nhân đối ngẫu và cuối cùng là gia đình cá thể - hôn nhân một

vợ một chồng Gia đình một vợ một chồng bất bình đẳng sang gia đình một vợ một chồng bình đẳng

Trang 28

Tất cả các bước tiến trong gia đình đều phụ thuộc vào những bước tiến trong xã hội, trong trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi thời đại lịch sử Đặc điểm đạo đức, lối sống trong gia đình cũng chi phối bởi những quan hệ xã hội Vì vậy, trong mỗi chế độ xã hội khác nhau có quan điểm khác nhau về tiêu chuẩn đạo đức, lối sống

1.2.5.3 Tính độc lập tương đối của gia đình

Mặc dù gia đình và xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, nhưng gia đình vẫn có tính độc lập tương đối của nó Vì gia đình và quan hệ gia đình còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như tôn giáo, truyền thống, pháp luật Mặc dù xã hội có những thay đổi nhưng gia đình vẫn giữ được truyền thống gia đình

1.2.6 Sự phối hợp giữa các nhân tố gia đình - nhà trường - xã hội trong việc giáo dục đạo đức học sinh

Có 3 nhân tố chính trong việc giáo dục đạo đức học sinh đó là: gia đình, nhà trường và xã hội Mỗi nhân tố đều mang một vai trò riêng nhất định:

+ Gia đình: là tế bào của xã hội, là nền tảng của mỗi quốc gia và là chỗ dựa

vững chắc về mặt tinh thần, đồng thời cũng là kim chỉ nam để tránh những nhận thức lệch lạc từ phía học sinh

+ Nhà trường: là môi trường giáo dục chuyên nghiệp, không chỉ phát triển về

kiến thức mà còn phải truyền tải cho học sinh những giá trị chuẩn mực của xã hội để học sinh trở thành những con người trí thức thật sự có đời sống tinh thần phong phú bên cạnh cuộc sống gia đình

+ Xã hội: là môi trường thực tế, giúp học sinh hoàn thiện một số kĩ năng cuộc

sống, chi phối một phần rất lớn trong suy nghĩ và hành động của học sinh

Vì vậy, sự phối hợp của 3 nhân tố trên là việc làm hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục nhân cách ở học sinh Giống như chiếc kiềng 3 chân đơn giản, vững chắc và không thể thiếu bất kì chân nào

1.3 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thiết 1: Hoàn cảnh gia đình ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc học tập của học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh

Giả thiết 2: Mặc dù gia đình gặp nhiều khó khăn song phần lớn học sinh có thái

độ tích cực đối với việc học tập của mình

Trang 29

1.4 Khung Phân tích

Hoàn cảnh gia đình

Một số nguyên nhân khác

Cha,

mẹ không quan tâm đến việc học của con

Cha,

mẹ bạo hành con cái

Cha,

mẹ mâu thuẫn với nhau

Trang 30

CHƯƠNG 2

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về trường tình thương Ánh Linh

Về lịch sử hình thành và phát triển, năm 1990 trường tình thương Ánh Linh được thành lập từ hai lớp học có khoảng hai mươi học sinh Cơ sở đầu tiên là một chuồng heo cũ mượn lại của hợp tác xã Năm 1995, trường đã có đầy đủ năm lớp học Khóa đầu tiên tốt nghiệp Tiểu học 100% Sau hai lần chuyển đổi địa điểm, trường chính thức dời về địa chỉ 53/2 (Nay là 30/30 Lâm Văn Bền , phường Tân Kiểng, quận 7) Năm 2006, trường được mở tiếp cấp II Sau mười lăm năm thành lập và phát triển, trường nhận được sự ủng hộ của chính quyền địa phương, phòng giáo dục Quận 7 và các mạnh thường quân Nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp Tiểu học gặp nhiều khó khăn

để tiếp tục lên Trung học cơ sở tại các trường phổ thông, nhiều em bỏ học sớm, Nhà trường đã quyết định việc tiếp tục mở cấp II để có thể giúp học sinh hoàn tất chương

trình Trung học cơ sở Năm 2007, cở sở II nay là trường cấp II được xây dựng

Đối tượng là trẻ đường phố, trẻ em nghèo, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trẻ quá độ tuổi đi học phổ thông, trẻ có học lực yếu kém Học sinh phải được xét duyệt kĩ lưỡng để nhận vào trường học tùy theo mỗi hoàn cảnh, đa số là không có hộ khẩu Những gia đình nghèo, thỉnh thoảng nhà trường đến thăm hỏi gia đình học sinh Học sinh không những được học miễn phí mà còn được hỗ trợ ăn uống, phát đồng phục,

khám sức khỏe

Hiện nay, về cơ sở hạ tầng của trường đã được xây dựng khá khang trang, phòng ốc thoáng mát, sạch sẽ Trường còn có khu phục vụ các hoạt động như phòng thí nghiệm, nhà may, Phòng học có đầy đủ hệ thống thiết bị phục vụ, đáp ứng nhu

Kết quả học tập của con

Trang 31

cầu dạy và học Trường tình thương Ánh Linh có 2 cơ sở: địa điểm cơ sở một là 30/30 Lâm Văn Bền, phường Tân Kiểng, Quận 7 và địa điểm cơ sở hai là 30/44 Lâm Văn Bền, phường Tân Kiểng, Quận 7 Cơ sở một dành cho học sinh tiểu học và cơ sở hai dành cho học sinh Trung học cơ sở Ban điều hành của trường gồm 4 người: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, quản lí và sơ bề trên Đội ngũ giáo viên có 5 giáo viên cấp I

và có 22 giáo viên cấp II Trong đó, số lượng giáo viên chủ nhiệm là 10 người Ngoài

ra, trường có hai giáo viên nghề dạy may và hai nhân viên cấp dưỡng Các giáo viên được trả lương như lương của nhà nước trả cho các giáo viên trường khác

Nguồn hỗ trợ chủ yếu là từ nhà dòng chủ yếu Ngoài ra, một số tổ chức phi chính phủ hỗ trợ vốn như NGOs, Enfant Du Mekong cho các nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, tổ chức NGO của Pháp: Bridges 2 Learning và các mạnh thường quân gần xa

Trường được lập ra với mục tiêu là phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ

sở Giáo dục nhân bản giúp trẻ phát triển và hình thành nhân cách tốt Ngoài ra nhà trường là nơi tạo điều kiện cho trẻ em nghèo được hưởng một nền giáo dục chất lượng,

có cơ hội vượn lên và thăng tiến trong cuộc sống

Về chương trình giáo dục, năm 2012 -2013, số học sinh có 240 em gồm: 9 lớp

từ lớp 1 đến lớp 9 Cấp I học gồm 161 học sinh học buổi sáng gồm 5 buổi Cấp II có

80 học sinh học buổi chiều gồm 6 buổi và được giảm bớt 2 tiết Anh văn/ tuần Giờ học cấp I bắt đầu từ 7 giờ - 11 giờ, gồm 5 buổi/tuần Cấp II từ 13 giờ đến 17 giờ, gồm 6 buổi/tuần Theo chương trình của Bộ giáo dục và đào tạo Ngoài ra, trường còn có các lớp ngoại khóa: Anh văn, Vi tính, các môn năng khiếu Khi học sinh học xong cấp I thì chuyển lên cấp II Sau cấp II học sinh có thể chọn trung tâm giáo dục thường xuyên hay trường dạy nghề để tiếp tục việc học hoặc đi làm Khi học sinh ra ngoài học thì được nhận học bổng từ nhà trường

Về chế độ của cơ sở, nhà trường tìm mọi cách để học sinh được đi học như: thuê nhà gần, ở nội trú, 12 em ở nội trú, 4 em mồ côi, 8 em quê ở xa không có gia đình ở đây; 2/3 học sinh cha mẹ li dị, không chung sống với nhau, học sinh phải với chú, bác, Bằng các phương tiện học sinh có thể đi học bằng xe đạp, đi bộ, xe bus, gia đình chở, Vì vậy, đa số các học sinh đi học đều Đối với học sinh học may, làm cườm, Các sản phẩm làm ra nhờ các tổ chức mua ủng hộ, bán dùm sản phẩm Số tiền

đó được dành để hỗ trợ học sinh có thêm thu nhập và duy trì công việc của mình Mỗi

Trang 32

sản phẩm có giá 10-15 ngàn Mỗi em được 1-2 bộ đồng phục miễn phí/ năm Học sinh được khám bệnh định kì 2 lần/ năm Dịch vụ y tế phát thuốc cho học sinh khi đau ốm Nhà trường hỗ trợ cho một số gia đình học sinh vay vốn làm ăn Mục đích giáo dục

chủ yếu của trường là nâng cao ý thức cá nhân, tư cách đạo đức con người Hoạt động

cơ sở gồm có: dạy văn hóa; tập huấn các kĩ năng và hoạt động Đoàn, Đội; dạy năng khiếu; tổ chức các hoạt động sinh hoạt, vui chơi, giải trí ; giáo dục kĩ năng sống

2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình đến kết quả học tập của học sinh Trung học cở sở trường tình thương Ánh Linh

2.2.1 Hoàn cảnh gia đình của học sinh Trung học cơ sở tại trường tình thương Ánh Linh

2.2.1.1 Thực trạng hoàn cảnh gia đình

Theo số liệu điều tra, học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh đi học với nhiều độ tuổi khác nhau từ 11 đến 20 tuổi Các em học không đúng tuổi đa phần là vì gia đình khó khăn không đủ điều kiện cho đi học hay đi học muộn so với các bạn cùng độ tuổi, bỏ học giữa chừng để đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình, Khối lớp 6 có 4 em 11 tuổi chiếm 11.1%, 8 em 12 tuổi chiếm 22.2%, 14 em 13 tuổi chiếm 38.9%, 5 em 14 tuổi chiếm 13.9%, 3 em 15 tuổi chiếm 8.3%, 2 em 16 tuổi chiếm 5.6% trong tổng số học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh Lớp 7 có 2 em

12 tuổi chiếm 7.7%, 7 em 13 tuổi chiếm 26.9%, 7 em 14 tuổi chiếm 26.9%, 5 em 15 tuổi chiếm 19.2%, 2 em 16 tuổi chiếm 7.7.%, 2 em 16 tuổi chiếm 7.7.%, 1 em 19 tuổi chiếm 3.8% trong tổng số học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh Lớp

8 có 2 em 13 tuổi chiếm 14.3%, 5 em 14 tuổi chiếm 35.7%, 1 em 15 tuổi chiếm 7.1%,

4 em 16 tuổi chiếm 28.6%, 1 em 17 tuổi chiếm 7.1%, 1 em 20 tuổi chiếm 7.1% trong tổng số học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh Lớp 9 có 1 em 14 tuổi chiếm 7.1%, 5 em 15 tuổi chiếm 35.7%, 3 em 16 tuổi chiếm 21.4%, 3 em 17 tuổi chiếm 21.4%, 1 em 18 tuổi chiếm 7.1%, 1 em 19 tuổi chiếm 7.1% trong tổng số học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh

Biểu đồ 2.1 Mức độ tuổi của học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh

Trang 33

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Từ biểu đồ 2.2 bên dưới, ta thấy số lượng học sinh nam và nữ Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh khá đồng đều: ở khối lớp 6 có 17 em nam, 19 em nữ, ở khối lớp 7 có 13 em nam và 13 em nữ, ở khối lớp 8 có 6 em nam và 8 em nữ, khối lớp

9 có 7 em nam và 7 em nưữ Như vậy nhìn chung trường có 43 em nam chiếm 47.8%

và 47 em nữ chiếm 52.2% Số lượng học sinh nam nữ cấp II không chênh lệch nhiều Vậy hoàn cảnh gia đình không phân biệt giới tính, học sinh là một trong những đối tượng trẻ em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cuộc sống không đầy đủ như các bạn cùng trang lứa

Biểu đồ 2.2 Thành phần giới tính của học sinh

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Đa phần gia đình học sinh rất đông người, có 47 em trả lời trong bảng hỏi là gia đình chọn phương án khác Theo quan sát từ biểu đồ dưới đây ta thấy:

Biểu đồ 2.3 Số lượng người trong gia đình của em:

Trang 34

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Trong phương án này học sinh ghi rõ số người cụ thể trong gia đình mình hầu hết là hơn 4 người, có gia đình lên tới 7 và 8 người, còn số lượng gia đình có 2 người không có em nào lựa chọn chiếm 0%, số lượng gia đình có 3 người là 12 em chiếm 13.3%, số lượng gia đình có 4 người là 31 em chiếm 34.4% Những con số này cho thấy một thực trạng đang tồn tại hiện nay là gia đình đông con gây ảnh hưởng đến hoàn cảnh gia đình Số liệu gia đình có 4 người trở xuống rất ít chỉ có 13.3% Thực trạng gia đình đông con hiện nay vẫn là một vấn đề của xã hội, gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt và học tập của học sinh

Việc làm và thu nhập có đủ để nuôi sống cả gia đình hay không? Trong mỗi gia đình, khả năng lao động là có hạn Nếu mỗi cặp vợ chồng chỉ có hai con và không sinh quá sớm hoặc quá muộn thì dưới mỗi mái nhà thường chỉ có thể có đến ba thế hệ: ông

bà, bố mẹ và hai con Sản phẩm lao động được chia sẻ cho 6 người Cuộc sống sẽ đầy

đủ, sung túc, có phần dư giả để xây nhà, mua tivi, tủ lạnh, đi du lịch, nghỉ mát Thời gian bố mẹ dành cho việc học hành, vui chơi của con cái cũng nhiều lên Những người con như thế có đầy đủ điều kiện để khoẻ mạnh, học tốt, lớn lên thành người tài giỏi Chỉ cần gia đình có thêm một em bé là kinh tế sẽ khó khăn hơn Thời gian và những sự

âu yếm, ân cần của bố mẹ dành cho các con lớn giảm đi Sự vất vả thiếu thốn làm cho người lớn chóng già yếu hơn, trẻ em chịu nhiều thiệt thòi hơn, môi trường xung quanh

ít được quan tâm hơn Nếu gia đình lại có tới 5 - 7 người con, thì mỗi đứa con không chỉ được hưởng thụ ít hơn, mà còn phải lao động nhiều hơn may ra mới đủ ăn đủ mặc, học hành

Theo thông tin thu thập được từ bảng 2.1 có 89 em trả lời câu hỏi hiện tại em sống

ở đâu? Có 20 em chiếm 22.5% sống ở nhà riêng, 52 em lựa chọn phương án nhà trọ

Trang 35

chiếm 58.4%, nội trú là 7 em chiếm 7.9% còn lại 10 em chiếm 11.2% chọn phương án khác Chúng ta nhìn thấy con số học sinh phải sống ở nhà trọ là 58.4% gấp đôi so với

tổng số học sinh ở nhà riêng

Bảng 2.1 Hiện tại em sống ở

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Điều này cho thấy gia đình đông con cũng làm cho nhiều gia đình không có chỗ ở phải sống tạm bợ nên không gian sinh sống bị bó hẹp Với mức tài chính có hạn của gia đình và thời bão giá như thế này thì việc thuê nhà, phòng trọ rộng rãi là hết sức khó khăn đối với họ Họ là những người nông dân nghèo phải xa xứ và sống bám trụ nơi đất khách quê người Và mục đích cơ bản nhất của họ di dân khi ra đô thị làm việc là để nâng cao thu nhập cho gia đình học sinh ở nội trú chỉ có 7 em và 10 em chọn phương án khác như

là ở nhà ngoại, ở với cô, Qua đó phần nào nói lên rằng, nhiều em không có cha, không

có mẹ hoặc không có cả cha lẫn mẹ, gia đình đi xa không đủ chu cấp cho học sinh tiền ăn, tiền học, tiền đi lại, Theo thống kê của Tổng Cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thì có tới 85.8% người di dân có ý định ra đô thị để nâng cao thu nhập cho gia đình Ngoài ra,

số người ra đô thị với mục đích để học nghề chiếm 5.9%; để nuôi sống bản thân 35% và

để trả học phí cho con cái chiếm 5.9% Như vậy, việc hình thành quyết định di chuyển có

sự tác động của nhiều động cơ khác nhau Nhưng những khó khăn về kinh tế là động lực chính buộc phần lớn người dân ở nông thôn tìm ra đô thị làm việc Điều đó cho thấy, việc

ra đô thị làm việc vì hoàn cảnh gia đình, vì sự sống của gia đình nhiều hơn là vì bản thân

họ

Gia đình là một yếu tố quan trọng trong việc xuất thân, hình thành nhân cách cũng như thái độ đối với việc học tập và sinh hoạt của bản thân học sinh với cộng đồng xung quanh Đa phần học sinh ở trường tình thương Ánh Linh gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần Theo biểu đồ 2.4 dưới đây, 88 em

Trang 36

học sinh trả lời câu hỏi này trên tổng số 90 em: có tổng cộng 111 đáp án được lựa chọn trong câu hỏi được chọn nhiều đáp án

Biểu đồ 2.4 Hiện nay, em đang sống với ai

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Học sinh hiện nay đang sống với cha có 4 lựa chọn chiếm 3.6%, mẹ có 10 chiếm 9%, 57 em chiếm 51.4% lựa chọn đáp án sống với cả cha lẫn mẹ, sống với ông

bà ( nội, ngoại) có 18 em chiếm 16.2%, có 2 lựa chọn sống với bạn bè chiếm 1.8%, phương án khác có 20 lựa chọn chiếm 18% trong tổng số 111 đáp án được lựa chọn Những con số trên cho thấy, một nửa số học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh đều đang sống với cha và mẹ ( chiếm 51.4%), nhưng một nửa còn lại chỉ sống với cha hoặc với mẹ, có em sống với ông bà, dì dượng, cô chú, Bên cạnh đó, một số học sinh sống ở nội trú vì gia đình ở các tỉnh khác gửi học sinh lên đây học Điều này phản ánh một thực trạng là học sinh không được sống trong sự đùm bọc của cha mẹ, ảnh hưởng đến tâm sinh lí học sinh làm cho học sinh thiếu tình thương yêu, nhiều em rơi vào tình trạng mặc cảm học hành sa sút làm ảnh hưởng đến tâm lí học

sinh ở lứa tuổi học đường

Theo kết quả điều tra về việc làm của các phụ huynh hoặc những người trực tiếp nuôi dạy học sinh cho thấy đa phần công việc mà họ làm là lao động chân tay, thu nhập thấp không ổn định

Biểu đồ 2.5 Người nuôi dưỡng em đang làm nghề:

Trang 37

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Phương án việc làm của người cha có 70 em chọn đáp án trả lời: có 7 người cha làm nghề buôn bán chiếm 10%, công nhân có 19 người chiếm 27.1%, phụ hồ là 14 chiếm 20%, nội trợ chỉ có 1 chiếm 1.4% và 29 người chiếm 41.4% làm công việc khác Những con số trên cho ta thấy làm việc khác chiếm tỉ lệ cao nhất là 41.4%, thấp nhất

là nội trợ chỉ có 1.1%

Phương án việc làm của người mẹ có 72 em chọn đáp án trả lời: có 20 người mẹ làm nghề buôn bán chiếm 27.8%, công nhân có 19 người chiếm 26.4%, phụ hồ là 2 chiếm 2.8%, nội trợ chỉ có 17 chiếm 23.6% và 14 người chiếm 19.4% làm công việc khác Theo bảng số liệu ta thấy được nghề buôn bán chiếm tỉ lệ cao nhất 27.8% và thấp nhất là phụ hồ chiếm 2.8% Công việc buôn bán là việc mà nhiều người phụ nữ lựa chọn vì vừa nhẹ vừa phù hợp với người phụ nữ

Phần việc làm của ông/bà có 21 em học sinh chọn các đáp án trả lời: Nghề buôn bán có 5 người chiếm 23.8%, công nhân có 2 người chiếm 9.5%, nội trợ chỉ có 7 chiếm 33.3% và 7 người chiếm 33.3% làm công việc khác Nghề phụ hồ không được học sinh lựa chọn Theo số liệu này ông/bà của học sinh làm những công việc được chọn nhẹ vừa sức với độ tuổi

Phần công việc của phương án khác có 13 em chọn các đáp án trả lời, người nuôi dưỡng học sinh có thể là cô, dì, chú, bác, trong số này có 30.8% người làm nghề công nhân, 15.4% làm phụ hồ, 30.8% làm nội trợ, 23.1% làm nghề khác

Nhìn chung, việc làm của những người thân trong gia đình học sinh đều là những công việc lao động chân tay như phụ hồ, buôn bán thì đồng lương không ổn định, công nhân đồng lương phụ thuộc vào các công ty, Có em ghi trong phần

Trang 38

phương án nghề khác có người đi bán vé số, đi đánh đàn cho tiệc cưới hay xe ôm Theo lời của chú Nguyễn Văn Ng - bố của một em học sinh lớp 6- chú làm nghề xe ôm

khi được hỏi: "Chú cảm thấy công việc đó như thế nào ạ?" chú trả lời: "Chú thấy vô

chừng, không ổn định." Chú thấy công việc đó "phù hợp" với mình, "thu nhập bình thường, không đủ lo cho gia đình." Khi không đủ tiền lo cho gia đình thì "chú mượn tiền của hàng xóm, đóng lời cho người ta Mượn 1 triệu thì trả 1 triệu 2." ( Trích biên

bản số 3 PVS phụ huynh) Hay trong trường hợp chú Nguyễn Hữu Th - cũng là bố của một em học sinh lớp 6 - đang là nhạc công đánh ghita cho đám cưới ở nhà hàng Nam

Bộ vào thứ 7, chủ nhật hàng tuần Chú thấy công việc này "Không ổn định" làm theo

sô người ta gọi Chỉ làm thứ 7 và chủ nhật, "những ngày khác chú phụ bán rau với cô"

Số tiền thu nhập hàng tháng của chú có đủ chi trả cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày

không ạ? Chú trả lời "Mong manh lắm con, không đủ lo cho gia đình Phải đi mượn

tiền rồi trả góp." ( Trích biên bản số 4 PVS phụ huynh)

Việc làm của những người nuôi dưỡng em là một phần quan trọng trong các yếu

tố tác động đến hoàn cảnh gia đình Đồng lương không ổn định, cuộc sống của gia đình khó khăn, nhà thì đông con như vậy những yếu tố này làm cho hoàn cảnh gia đình càng thêm trắc trở Gia đình phải mưu toan kiếm tiền để trang trải cuộc sống hằng ngày Vì thế việc học tập của học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi học sinh không được quan tâm, chỉ bảo nhiều trong việc học

2.2.1.2 Các yếu tố của hoàn cảnh gia đình ảnh hưởng đến kết quả học tập

Với câu hỏi khảo sát: “ Người hay cho em tiền hoặc mua đồ dùng học tập cho

em”, theo kết quả khảo sát từ bảng 2.6 và 2.7 cho thấy:

Biểu đồ 2.6 Người hay cho em tiền

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Trang 39

Biểu đồ 2.7 Người mua đồ dùng học tập cho em

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Người thường xuyên cho tiền học sinh là mẹ hoặc cha và mẹ Vì theo kết quả học sinh nhận được tiền từ mẹ cho là 27 em ( chiếm 29.0 %) còn nhận được tiền từ cha

và mẹ cho là 31 em (chiếm 33.3 %) Ngoài ra, học sinh còn nhận được tiền từ cha, ông

bà (Nội, ngoại) nhưng chỉ có 13 em và có tỷ lệ là 14.0 %; Có 2 em nhận được tiền cho

từ phía nhà trường có 3 em chiếm tỷ lệ là 2.2% và các nguồn khác là 7 em(chiếm 7.5%)

Số tiền học sinh nhận được từ cha, mẹ hoặc cha và mẹ, ông bà… để mua đồ dùng học tập hầu hết nhận được là từ mẹ có 28 em chiếm 35.4 % và nhận được từ cha

và mẹ là 27 em chiếm 34.2%; có rất ít học sinh nhận được tiền cho từ nhà trường chỉ

có 3 em chiếm 3.8%, từ cha là 4 em chiếm 5.1% để mua hoặc mua cho đồ dùng học tập

Với câu hỏi khảo sát: “ Thời gian rảnh rỗi em thường làm gì? ”, kết quả khảo sát cho thấy: kết quả trả lời xem tivi là nhiều nhất chiếm 32.3%; sau đó là câu trả lời là thời gian rảnh dành để học bài chiếm 23.2%, còn tỷ lệ học sinh dành thời gian rảnh để chơi game chiếm 16.1%, học sinh dành thời gian đọc truyện trong thời gian rảnh chiếm tỷ lệ 12.9% còn dành cho các hoạt động khác chỉ chiếm 4.5%

Biểu đồ 2.8 Thời gian rảnh rỗi em thường làm gì?

Trang 40

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Qua đó cho thấy, học sinh vẫn chưa ưu tiên nhiều thời gian rảnh cho việc học của mình Tuy nhiên, tỷ lệ việc dành thời gian cho việc học đang xếp thứ hai sau tỷ lệ xem tivi Chứng tỏ các em vẫn ý thức được việc học hành là quan trọng

Biểu đồ 2.9 Tổng số thời gian em thường dành cho việc học ở nhà trong một ngày

(Nguồn xử lý bảng SPSS của nhóm tác giả)

Từ kết quả của câu hỏi: “Tổng số thời gian em thường dành cho việc học ở nhà trong một ngày là” cho thấy, thời gian học ở nhà của học sinh Trung học cơ sở trường tình thương Ánh Linh chủ yếu là từ 1h- 2h có 34 em ( chiếm 38%) và từ 2h- 3h là 31

em ( chiếm 34%); còn số em học dưới 1h là ít nhất chỉ có 8 em với tỷ lệ là 9% và số

em có thười gian học trên 3h có 17 em ( chiếm 19%) Học sinh ở trường Trung học cơ

sở Tình thương Ánh Linh hầu hết đều có thời gian học ở nhà ngoài thời gian học trên lớp.Thời gian học ở nhà của học sinh dao động từ 1h đến 3h

Bảng 2.2 Em có đi học thêm không?

Lớp 6 Lớp7 Lớp 8 Lớp 9 Tổng

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm