Tình trạng tồi tệ này càng trở nên trầm trọng do trong nước không có nhu cầu đối với sản phẩm khoa học, được thể hiện qua mức độ hoạt động áp dụng rất thấp, cơ chế chuyển giao và phổ biế
Trang 1Một số vấn đề quản lý khoa học và công nghệ của Liên bang nga những năm đầu thập kỷ 90
Nghiêm Minh Hòa
Vụ kế hoạch
Bộ KH,CN&MT
Từ khi Liên bang cộng hòa XHCN Xô Viết sụp đổ, Cộng đồng các quốc gia độc lập được thành lập mà hạt nhân là Liên Bang Nga, sự đầu tư cho khoa học và công nghệ giảm sút đáng kể Sự mất giá của đồng rúp đã làm cho đầu tư đã giảm lại càng bị giảm đáng kể Những khái quát giới thiệu trong bài viết cho chúng ta bức tranh về quản lý khoa học và công nghệ ở nước Nga đầu những năm 90 của thế kỷ 20
i Đầu tư tài chính cho hoạt động R&D
Đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ (KH&CN) của Liên bang Nga (LBN) nhìn chung được đặc trưng bởi việc gia tăng tổng kinh phí theo giá trị tuyệt đối và theo giá hiện hành Tuy nhiên, việc gia tăng đầu tư trên danh nghĩa này trong giai đoạn vừa qua không bù đắp được ảnh hưởng âm tính của gia tăng lạm phát Cùng với tình trạng tài chính của cả nước xấu đi rõ rệt, sự thiếu hụt căng thẳng của ngân sách, các quá trình trên dẫn đến việc giảm 4 lần tổng chi phí trong năm 1993 cho khoa học - tính trên giá cố định
Mức tăng trưởng kinh phí cho KH&CN thấp hơn so với động thái của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu Nhìn chung, chi phí cho khoa học giảm So với GDP - giảm
từ 2,03% xuống còn 0,78%, hoặc so với tổng thu nhập quốc dân (GNP) - giảm từ 2,94% xuống còn 1,1% Kết quả là, nếu vào năm 1991, tỉ lệ chi phí cho khoa học
so với GDP của LBN còn ở mức của các nước phát triển thì vào năm 1993, LBN
đã được xếp vào hàng các nước có tiềm năng khoa học thấp như Tây Ban Nha,
Trang 2Isarael Những so sánh này là những chỉ số báo động về tình trạng tiếp tục sa sút
về bảo đảm tài chính cho khoa học của Nga
Mặc dù có những thay đổi rất cơ bản về cơ cấu tổ chức của khoa học, ngân sách Nhà nước vẫn là nguồn tài chính lớn nhất cho nghiên cứu khoa học ở Nga vẫn tồn tại hệ thống tập trung hóa cao độ cấp kinh phí cho khoa học, mà ở đó trong một thời gian dài toàn bộ tài chính được cấp từ ngân sách nhà nước và từ các quĩ của các bộ ngành (chiếm khoảng 92-93% chi phí thường xuyên cho khoa học)
Tỷ lệ chi phí cho khoa học trong ngân sách nhà nước trong giai đoạn 1991-1994 giảm từ 3,9% xuống còn 2%; (ở Mỹ, năm 1993 tỷ lệ này là 7,6%) Tình hình càng xấu đi do việc kế hoạch tài chính cho khoa học không được thực hiện Vào năm
1993, thực hiện kế hoạch tài chính cho khoa học chỉ đạt 71,1% với số tiền nợ đọng
là 345,3 tỷ rup; năm 1994 hoàn thành ở mức 55,3% và nợ đọng 199,7 tỷ rup Như vậy, trong 2 năm cuối, khoa học Nga không nhận được 2,3 nghìn tỷ rúp từ ngân sách của Liên Bang Trong điều kiện sản xuất giảm liên tục tới mức tối thiểu thì việc cấp tài chính cho nghiên cứu và triển khai (R&D) từ các nguồn khác cũng bị hạn chế (vốn tự có của các xí nghiệp, các quĩ ngoài ngân sách của các bộ ngành, thực hiện các hợp đồng ) Tỷ trọng tài chính cho khoa học từ các nguồn khác ngoài ngân sách hiện tại giảm xuống mức không lớn hơn 7%
Việc không đảm bảo đủ kinh phí dẫn đến tình trạng dự kiến tăng tỷ trọng cấp kinh phí theo mục tiêu so với cấp kinh phí cơ bản bị phá vỡ Chẳng hạn, kế hoạch kinh phí cấp cho việc thực hiện các hướng KH&CN ưu tiên trong năm 1993 dự kiến chiếm 49,8% tổng đầu tư cho R&D, nhưng trong thực tế chỉ đạt 42,8% Kinh phí cho thực hiện các chương trình KH&CN cấp Nhà nước, duy trì các trung tâm khoa học quốc gia và các ưu tiên tầm quốc gia khác chỉ đạt 33,5% tổng kinh phí dự kiến cho các mục tiêu này là 1234,3 tỷ rúp
Tiền công lao động bình quân trong lĩnh vực khoa học là một trong những mức tiền công lao động thấp nhất của Nga (thấp hơn 1,3 lần so với mức trung bình của nền kinh tế quốc dân) Tiền công thực tế giảm gần 4 lần so với năm 1990
Trang 3Cần lưu ý rằng từ giữa năm 1993, mức chi tiêu cho một số nhu yếu phẩm tăng, chẳng hạn: Nhiên liệu tăng 5,4 lần, nhà ở 3,8 lần, chi phí đi lại 5,4 lần Vì vậy, ở nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học đã hạn chế hoặc cắt giảm các công trình nghiên cứu khoa học của các hướng, nhiều máy móc và thiết bị khoa học đắt tiền không được sử dụng
Tình trạng tồi tệ này càng trở nên trầm trọng do trong nước không có nhu cầu đối với sản phẩm khoa học, được thể hiện qua mức độ hoạt động áp dụng rất thấp, cơ chế chuyển giao và phổ biến các công nghệ tiên tiến chưa phát triển.Vì vậy, nếu trong thời gian ngắn trước mắt không áp dụng các biện pháp cấp bách về việc thay đổi cơ chế cấp phát tài chính cho khoa học thì sẽ diễn ra sự phá sản hàng loạt các
cơ quan nghiên cứu khoa học (đặc biệt là các cơ quan nghiên cứu KH&CN ngành), giảm trầm trọng nguồn kinh phí vốn đã qúa ít ỏi để đảm bảo cho các hướng tiến bộ KH&CN ưu tiên và nghiên cứu cơ bản (NCCB)
Tình trạng tồi tệ trong việc đầu tư tài chính cho khoa học trong các ngành kinh tế khác nhau đã dẫn đến việc tập trung hóa cao độ NCCB vào khu vực các viện hàn lâm khoa học.Tuy tỷ trọng NCCB của các viện hàn lâm khoa học trong tổng các công trình NCCB giai đoạn 1990-1993 giảm từ 62,4% xuống 57,7%, song vẫn cao hơn 4,9 lần tỷ trọng của nó trong tổng thể các công trình R&D Điều này chứng tỏ vai trò và ý nghĩa của các viện hàn lâm khoa học được nâng cao trong việc duy trì tiềm năng của khoa học cơ bản Tuy vậy, bản thân các viện hàn lâm khoa học lại nằm trong tình trạng ngày càng khó khăn hơn để đạt được trình độ phát triển của NCCB
Tại khu vực các trường đại học cũng diễn ra việc tăng khối lượng NCCB (cả về số lượng và tỷ trọng), điều này liên quan chặt chẽ đến việc giảm nhu cầu đối với các nghiên cứu ứng dụng và triển khai được tiến hành theo hợp đồng, và sự gia tăng của tỷ trọng ngân sách nhà nước trong việc đầu tư tài chính cho khoa học trong các trường đại học Trong giai đoạn 1990-1992 tỷ trọng các công trình NCCB so với tổng các công trình R&D trong các trường đại học tăng gần gấp đôi và đến đầu
Trang 4năm 1994 đạt tới 40,6% - nhiều hơn khoảng 8,3 lần tỷ trọng R&D của khu vực này so với toàn quốc
Trong khu vực sản xuất, với số lượng các công trình nghiên cứu không lớn, nhưng
tỷ trọng các công trình R&D so với toàn quốc có tăng chút ít do việc phân bố các đơn hàng liên quan đến lĩnh vực triển khai Việc các xí nghiệp và các tổ chức đặt hàng không quan tâm cấp kinh phí cho các công trình nghiên cứu dài hơi đã dẫn đến việc giảm tỷ trọng các công trình R&D do khu vực sản xuất đảm nhiệm, từ 78,5% vào năm 1990 xuống 75,% năm 1993 Tỷ trọng NCCB của các viện nghiên cứu khoa học thuộc các ngành dân sự trong tổng các công trình R&D chiếm 0,4 - 1,7%
Việc giảm tỷ trọng tuyệt đối của khu vực sản xuất trong nghiên cứu khoa học xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1992 sau nhiều năm liên quan chủ yếu đến sự thay đổi điều khoản về nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ của các tổ hợp quân
sự Sự giảm các đơn hàng quân sự gắn liền với việc tăng tỷ trọng của các công trình dân sự Tuy nhiên, việc tăng khối lượng các công trình mang tính dân sự không thể bù lại sự giảm các công trình nghiên cứu mang tính quốc phòng, nó đòi hỏi không chỉ việc đầu tư bổ sung mà còn đòi hỏi cả thời gian Hơn nữa, trong năm 1992 chi phí cho nghiên cứu khoa học mang tính dân sự còn bị cắt giảm tới 38% Điều này dẫn đến sự hạn chế các công trình NCCB và thăm dò, mà tỷ trọng của chúng hiện mới chỉ chiếm không quá 5%
II Công lao động trong khoa học
Trong hoàn cảnh mới, quá trình lạm phát gia tăng liên tục, thị trường tiêu dùng bị buông lỏng dẫn đến tiền lương trở nên vô nghĩa trong việc củng cố lực lượng cán
bộ khoa học trong các cơ quan nghiên cứu Đến đầu năm 1993, lương bình quân trong các xí nghiệp liên hợp cao gấp 2,4 lần và trong các xí nghiệp tư cao gấp 1,8 lần so với tiền lương trong ngành "khoa học và dịch vụ khoa học" Cũng cần lưu ý rằng các số liệu này mới phản ánh tiền lương danh nghĩa chứ chưa phản ánh tiền lương thực tế trong khoa học Trên thực tế, thậm chí với việc tốc độ gia tăng tiền
Trang 5lương (ở chừng mực nào đó) cao hơn so với tốc độ tăng giá cả, song sức mua của tiền lương lại bị giảm do có độ trễ về thời gian giữa việc tăng giá cả và tăng tiền lương (xem bảng dưới đây - đơn vị rúp)
Năm
Chi tiêu so sánh
Lương tháng bình quân
trong ngành "Khoa học và
dịch vụ khoa học"
558,0 4108,5 39645,0 156196
Thu nhập bình quân trên
đầu dân
465,4 3509,9 43969,0 186500
Sinh hoạt phí tối thiểu
trung bình trên đầu dân
Căn cứ vào việc tiền lương trong khu vực khoa học thấp hơn 35% so với toàn ngành kinh tế quốc dân có thể đưa ra kết luận rằng thu nhập thực tế của các nhà khoa học thấp hơn nhiều so với cán bộ ở nhiều ngành khác
Tiền lương thấp đã cản trở việc tăng uy tín của lao động khoa học, tính lôi cuốn của nó đối với sinh viên đại học mới ra trường cũng như các nghiên cứu sinh mới tốt nghiệp Kết quả là khoa học bị thiếu các thế hệ mới, các chuyên gia giỏi bỏ khoa học để vào các ngành thương mại hoặc buộc phải cộng tác với các tổ chức khác
Trong cơ cấu thu nhập từ ngành nghề thứ 2 của các nhà khoa học, tỷ trọng NCCB (68,7%) có nguồn gốc thu nhập từ các công việc mang tính chuyên môn khoa học chính Trong đó, cán bộ của các viện nghiên cứu thuộc hệ hàn lâm khoa học có
Trang 6nhiều điều kiện hơn để có nghề phụ bên cạnh công việc chính, là một trong những yếu tố hấp dẫn để duy trì đội ngũ các nhà bác học hàn lâm
Thu nhập từ công việc hợp tác trong lĩnh vực chuyên môn khoa học chính rất khác nhau, phụ thuộc vào mức độ có công ăn việc làm của các loại hình viện nghiên cứu khoa học khác nhau Theo số liệu điều tra, tỷ trọng thu nhập cao nhất có được
từ công việc trong các xí nghiệp và các tổ hợp KH&CN nhỏ (40,9%) và các trường đại học (17,5%) Thu nhập từ công tác giảng dạy (ngoài trường đại học) và
tư vấn đạt tương ứng 7,2 và 9,8% Tỷ trọng thu nhập ít nhất: Trong các xí nghiệp hỗn hợp (3,2%) và các cơ quan nghiên cứu bên ngoài (5%) Tất cả điều này chứng minh về tính đa dạng của công việc phụ của các cán bộ khoa học mà sự ủng hộ nó
có thể tạo khả năng duy trì và củng cố cán bộ trong lĩnh vực khoa học
III Cơ sở vật chất - kỹ thuật của khoa học
Khối lượng tài sản cố định của các cơ quan đảm nhận việc R&D là 996,5 tỷ rúp vào năm 1993 và tăng hơn 89,6 % so với năm trước Các chỉ tiêu của vốn cố định được tính bằng giá hiện hành và tốc độ tăng nhanh của chúng được giải thích bởi
sự tăng giá liên tục của máy móc; trang thiết bị và các tài sản cố định khác Sự gia tăng giá trị tài sản cố định này diễn ra ở tất cả các khu vực của khoa học, trong đó, tốc độ gia tăng của khu vực sản xuất và các trường đại học là cao hơn cả (191,1 và 155,4%)
Mức độ trung bình về trang bị máy móc cho lao động trong khoa học ở LBN là 757,8 nghìn rup vào năm 1991, trong đó cao nhất là trong sản xuất - 2088,5 nghìn rúp
Cơ cấu kỹ thuật vốn cố định của hoạt động nghiên cứu khoa học được hình thành trong điều kiện trình độ trang bị máy móc cho lao động trong lĩnh vực khoa học rất thấp, chỉ bằng 50% chỉ tiêu này trong công nghiệp Trong thời gian dài diễn ra sự tăng trưởng mạnh mẽ, phần tích cực của vốn cố định thông qua việc tăng tỷ trọng
có cấu các trang thiết bị thí nghiệm, thiết bị tính toán
Trang 7Sự giảm tốc độ tăng trưởng tái sản xuất tài sản cố định trong khoa học ảnh hưởng xấu tới sự thay đổi trong cơ cấu tuổi của chúng Nếu như trong năm 1989 chỉ có 20% trang thiết bị máy móc thuộc nhóm "lớn tuổi" (hơn 10 năm), 5% thuộc nhóm tuổi trên 20 năm thì vào năm 1992, tỷ trọng tương ứng đã là 38,7% và 11% Tuổi trung bình của trang thiết bị khoa học trong các cơ quan nghiên cứu khoa học tăng
từ 7 năm (1989) lên tới 10 năm (1992) Trong điều kiện hoạt động đổi mới trong nước còn chưa phát triển, trong thời gian tới, rõ ràng tình trạng tuổi của trang thiết
bị máy móc khoa học càng bị xấu hơn
Nhìn chung, tới năm 1992, chỉ có 30,3% tổng số trang thiết bị máy móc khoa học
có thể đuợc xem như mới (có tuổi dưới 5 năm) Nhóm này được hình thành chủ yếu trên cơ sở các thiết bị tính toán với tỷ trọng giá trị chiếm tới 44% tổng giá trị của nhóm
Trong các cơ quan hàn lâm khoa học, nơi tiến hành hơn nửa số công trình NCCB của cả nước, có khoảng 25% trang thiết bị già cỗi, hơn 30% có các chỉ tiêu kỹ thuật không tương ứng với trình độ tiên tiến của thế giới (45% tổng số trang thiết
bị không xác định được trình độ kỹ thuật)
Cơ cấu tuổi trang thiết bị khoa học cũng như mức độ trang bị trang thiết bị có tuổi thọ cao của các cơ quan nghiên cứu khoa học ngành là lớn nhất Các chỉ tiêu kỹ thuật trang thiết bị trong khu vực này của khoa học thấp hơn giá trị trung bình của các tổ chức nghiên cứu khoa học nói chung
Khu vực các trường đại học được phân biệt bởi mức độ trang thiết bị cho khoa học thấp nhất, nhưng với cơ cấu tuổi và chỉ tiêu kỹ thuật của trang thiết bị khoa học cao
IV Những thay đổi chủ yếu trong hệ thống quản lý KH&CN
Hiện nay, công tác quản lý trong lĩnh vực KH&CN - khác với hệ thống kế hoạch - mệnh lệnh cứng nhắc trước đây, bắt đầu được tiến hành trên nguyên tắc điều tiết của Nhà nước và tự quản lý
Trang 8Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, khả năng mà các xí nghiệp và các tổ chức được trao quyền tự chủ một cách rộng rãi, vai trò quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN được thu gọn lại và mang một số đặc điểm khác về nguyên tắc Các biện pháp điều hòa mang tính kinh tế và chương trình mục tiêu đã thay thế các đòn bẩy hành chính - mệnh lệnh Kết quả của các quyết định hiện hành đã tạo điều kiện để hình thành cơ sở chính trị và kinh tế cho KH&CN tham gia như một yếu tố cấu thành tích cực vào công cuộc cải cách kinh tế
Nguyên tắc tự quản trong xã hội khoa học được tiến hành trên cơ sở công khai và thu hút tính xã hội trong khoa học trong việc lựa chọn các hướng KH&CN ưu tiên
và các dự án thử nghiệm, phát huy tính chịu trách nhiệm và cạnh tranh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ này
Theo Hiến pháp của LBN, các vấn đề cơ bản của khoa học và chính sách KH&KT cấp Nhà nước được thống nhất trong khuôn khổ Liên bang và các chủ thể của nó Chính sách KH&KT của Nhà nước được hình thành trên cơ sở phương hướng chính của chính sách đối nội và đối ngoại do Tổng thống Nga quyết định Một Uỷ ban về chính sách KH&KT trực thuộc Chính phủ Liên bang được thành lập nhằm xây dựng các kiến nghị về chiến lược chính sách KH&KT và hình thành các hướng ưu tiên phát triển KH&KT Trong báo cáo hàng năm của Chính phủ Liên bang về tình hình của đất nước, các nhiệm vụ trong lĩnh vực KH&KT được đưa ra xem xét, và trên cơ sở đó, trong quá trình duyệt ngân sách Liên bang, Đuma Nga xác định tổng kinh phí trong năm kế hoạch để thực hiện các chương trình và các
đề án KH&KT cấp Liên bang, khối lượng kinh phí đầu tư cho các cơ quan KH&KT và tổng kinh phí đưa vào các quĩ hỗ trợ hoạt động khoa học/KH&KT Chính phủ Liên bang bảo đảm tiến hành chính sách KH&KT quốc gia thống nhất trong toàn quốc, xác định quyền hạn của các cơ quan hành pháp cấp Liên bang về lĩnh vực xây dựng và triển khai chính sách KH&KT, quyết định các chương trình KH&KT cấp Liên bang theo các hướng phát triển ưu tiên
Trang 9Bộ khoa học và chính sách kỹ thuật (Bộ KH&CN) LBN là cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì và phối hợp với Viện hàn lâm khoa học Nga, các viện hàn lâm khoa học ngành, các cơ quan hành pháp cấp Liên bang xây dựng và triển khai thực
tế chính sách của Nhà nước về KH&KT dân sự Bộ có trách nhiệm xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình KH&KT theo các hướng phát triển KH&KT
ưu tiên, xác định khối lượng kinh phí đầu tư cho các công trình R&D dân sự trong khuôn khổ tổng kinh phí đầu tư cho hoạt động khoa học từ ngân sách Liên bang, hoàn thiện cơ chế kinh tế và phát triển quan hệ thị trường trong lĩnh vực KH&KT, bảo đảm việc tổ chức hợp tác quốc tế và thông tin về KH&KT, cũng như tiến hành các biện pháp khác về duy trì và phát triển tiềm lực KH&KT của nước Nga
Bộ KH&CN phối hợp với các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước trong quản lý KH&KT, ví dụ phối hợp với Bộ kinh tế: Xác định các thông số đầu vào trong việc xây dựng chính sách KH&KT và các chương trình KH&KT khi chuẩn
bị đặt hàng, ngân sách đầu tư cho các công trình nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm, trong việc xác định khối lượng đầu tư cho các công trình xây dựng
cơ bản trong khoa học, cũng như đưa ra các kiến nghị về việc hình thành chính sách về cơ cấu và đổi mới, về triển khai các kết quả R&D quan trọng nhất, về áp dụng các công nghệ tiết kiệm nguồn và các công nghệ mới nhất
Các quĩ khoa học cấp Nhà nước được hình thành theo quyết định của tổng thống hoặc Chính phủ đóng vai trò to lớn trong việc lựa chọn và hỗ trợ các công trình nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm quan trọng và có triển vọng nhất Hiện nay đang tồn tại các quĩ sau:
- Quĩ nghiên cứu cơ bản LBN
- Quĩ phối hợp phát triển các xí nghiệp nhỏ trong lĩnh vực KH&KT
- Quĩ khoa học nhân văn LBN
Trang 10Kinh phí các quĩ nêu trên được lấy từ ngân sách của Liên bang và từ nguồn đóng góp tự nguyện của các chủ thể có tư cách pháp nhân, được chi cho các công trình
cụ thể được lựa chọn qua thẩm định trên nguyên tắc thi tuyển
Để cấp kinh phí cho các công trình nghiên cự khoa học và triển khai thử nghiệm còn sử dụng các quĩ ngành và liên ngành ngoài ngân sách Nhà nước, quĩ phát triển công nghệ của LBN được hình thành trên nguyên tắc trích từ giá thành của sản phẩm
Biên tập: Nghiêm Phú Ninh