Thông qua đề tài này chúng tôi đã tìm hiểu nhận thức của học sinh THCS về kỹ năng sống nói chung, tìm hiểu tác động của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc trang bị, giáo dục kỹ nă
Trang 1CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA NĂM 2012
THỬ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA VIỆC GIÁO DỤC
KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THCS (Điển cứu: trường THCS Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương)
Sinh viên thực hiện:
Trần Văn Khánh (CN) Phạm Thị Huệ
Nguyễn Thị Tú Quyên Người hướng dẫn khoa học:
TS Cao Thị Huyền Nga
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt i
Mục lục ii
Danh mục các bảng ….vi
Danh mục các biểu đồ vii
TRANG TÓM TẮT 1
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 8
3.1 Mục đích 8
3.2 Nhiệm vụ 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 8
4.2 Phương pháp định lượng 8
4.3 Phương pháp định tính 9
4.4 Phương pháp thử nghiệm 9
4.5 Phương pháp xử lý thông tin 9
5 Giới hạn của đề tài 9
6 Đóng góp mới của đề tài 10
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 10
7.1 Ý nghĩa lý luận 10
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
8 Kết cấu của đề tài 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1 Khái niệm và phân loại kỹ năng sống 12
Trang 41.2 Phương pháp giáo dục chủ động và năng động nhóm trong giáo dục KNS cho học
sinh THCS 20
1.2.1 Phương pháp giáo dục chủ động 20
1.2.1.1 Lịch sử hình thành phương pháp giáo dục chủ động 21
1.2.1.2 Khái niệm và các nguyên tắc trong phương pháp giáo dục chủ động 22 1.2.1.3 Các phương pháp trong giáo dục chủ động 22
1.2.2 Năng động nhóm trong giáo dục KNS cho học sinh THCS 23
1.3 Những đặc điểm tâm lý điển hình của học sinh THCS 24
1.3.1 Khái niệm học sinh 25
1.3.2 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh THCS 25
1.4 Lý thuyết nghiên cứu 27
1.4.1 Thuyết hành vi 27
1.4.2 Lý thuyết xã hội hóa 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KNS CỦA HỌC SINH THCS 30
2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 30
2.1.1 Địa bàn tỉnh Bình Dương 30
2.1.2 Địa bàn thị xã Dĩ An 31
2.1.3 Tổng quan trường THCS Bình An 31
2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 32
2.2.1 Quy mô mẫu phân theo giới tính 33
2.2.2 Quy mô mẫu phân theo học lực 33
2.2.3.Quy mô mẫu phân theo hoàn cảnh thân nhân 34
2.2.4.Quy mô mẫu phân theo kinh tế gia đình 34
2.3 Thực trạng KNS của học sinh THCS 35
2.4 Thực trạng giáo dục KNS cho học sinh THCS 43
2.4.1 Giáo dục KNS từ gia đình 45
Trang 52.4.2 Giáo dục KNS từ nhà trường 52
2.4.3 Giáo dục KNS từ xã hội 55
2.5 Mong muốn của học sinh THCS về giáo dục KNS 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM GIÁO DỤC KNS CHO HỌC SINH THCS 65 3.1 Những vấn đề chung về quá trình thử nghiệm giáo dục KNS cho học sinh THCS 65
3.1.1 Mục đích thử nghiệm 65
3.1.2 Đối tượng thử nghiệm 65
3.1.3 Quy trình thử nghiệm 65
3.1.4 Phương pháp sử dụng trong thử nghiệm 66
3.1.5 Thiết kế bài học KNS 66
3.1.6 Giả thuyết thử nghiệm 67
3.2 Kết quả thử nghiệm 67
3.2.1 Đánh giá của học sinh về nội dung thử nghiệm 67
3.2.2 Đánh giá của học sinh về phương pháp thử nghiệm 69
3.2.3 Những thay đổi chung về KNS của học sinh THCS (về phương diện thái độ, kiến thức và kỹ năng) 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
4.1 Kết luận 77
4.2 Kiến nghị 78
4.2.1 Đối với gia đình 78
4.2.2 Đối với nhà trường 78
4.2.3 Đối với xã hội 79
PHỤ LỤC Phụ lục 1: Tài liệu tham khảo 1
Phụ lục 2: Phiếu khảo sát 3
Trang 6Phụ lục 3: Phiếu đo đầu và sau thực nghiệm 12
Phụ lục 4: Giáo án KNS 23
Phụ lục 5: Biên bản phỏng vấn sâu 30
Phụ lục 6: Một số hình ảnh trong các buổi thực nghiệm KNS 46
Trang 7DANNH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả khảo sát nhận thức của học sinh THCS về KNS 32
Bảng 2.2: Mức độ tiếp nhận thông tin về KNS của học sinh THCS 37
Bảng 2.3: Hiểu biết của học sinh về các kênh thông tin cung cấp, trang bị KNS 39
Bảng 2.4: Cách đối phó với stress của học sinh 40
Bảng 2.5: Quan điểm của học sinh THCS về những điều nên làm khi giải quyết vấn đề 41
Bảng 2.6: Nhận thức của học sinh THCS về KN nhận thức bản thân 42
Bảng 2.7: Mức độ quan tâm của gia đình đến việc học tập phân theo học lực của học sinh 46
Bảng 2.8: Lý do học sinh chọn gia đình là nơi chia sẻ và giúp giải quyết khó khăn 50
Bảng 2.9: Lý do học sinh không chọn gia đình là nơi để giúp giải quyết các khó khăn 51
Bảng 2.10: Lý do tham gia các hoạt động ngoại khóa của học sinh 57
Bảng 2.11: Lý do cản trở việc đi học KNS ở các cơ quan, tổ chức xã hội của học sinh 58
Bảng 2.12: Phương pháp học sinh THCS muốn được sử dụng trong các buổi học KNS 61
Bảng 3.1: Bảng thể hiện mẫu khách thể trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm 65
Bảng 3.2: Tính bổ ích và tính phù hợp của các KNS thực nghiệm 68
Bảng 3.3: Đánh giá của học sinh về nội dung của các buổi thực nghiệm 68
Bảng 3.4: Đánh giá của học sinh về phương pháp giáo dục chủ động trong thực nghiệm 69
Bảng 3.5: Thay đổi về nhận thức của học sinh trong KN nhận thức bản than 70
Bảng 3.6: Thay đổi về nhận thức của học sinh về lợi ích của việc nhận thức bản than 71
Bảng 3.7: Thay đổi hành vi của học sinh về cách đối phó với stress 72
Bảng 3.8: Thay đổi nhận thức của học sinh về việc đối phó với stress 73
Bảng 3.9: Thay đổi nhận thức của học sinh về kỹ năng giải quyết vấn đề 74
Bảng 3.10: Thay đổi về thái độ của học sinh khi giải quyết vấn đề 75
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Quy mô mẫu phân theo giới tính 33
Biểu đồ 2.2 Quy mô mẫu phân theo học lực 33
Biểu đồ 2.3: Quy mô mẫu phân theo hoàn cảnh thân nhân 34
Biểu đồ 2.4: Quy mô mẫu phân theo kinh tế gia đình 34
Biểu đồ 2.5: Đánh giá của học sinh về thời điểm thích hợp dạy KNS trong nhà trường 38
Biểu đồ 2.6: Những vấn đề học sinh thường gặp trong cuộc sống và học tập 44
Biểu đồ 2.7: Mức độ quan tâm của gia đình đến việc học tập của học sinh 47
Biểu đồ 2.8: Các đối tượng mà học sinh cần đến sự giúp đỡ khi gặp khó khăn 48
Biểu đồ 2.9: Học sinh chia sẻ và cần đến sự giúp đỡ của gia đình khi gặp khó khăn 49
Biểu đồ 2.10: Đánh giá của học sinh về thời lượng dành cho các buổi học KNS ở trường 53
Biểu đồ 2.11: Đánh giá của học sinh về nội dung chương trình học KNS ở trường 54
Biểu đồ 2.12: Mức độ tham gia các hoạt động ngoại khóa của học sinh 55
Biểu đồ 2.13: KNS học sinh THCS còn thiếu và mong muốn được trang bị, giáo dục 60
Trang 9TRANG TÓM TẮT
Trong khi kỹ năng sống đã trở thành môn học chính khóa của học sinh ở nhiều quốc gia trên thế giới, thì ở Việt Nam kỹ năng sống mới chỉ được biết đến thông qua việc lồng ghép trong các môn học hay bước đầu tiến hành dạy thí điểm Chính
vì vậy, hiện nay, việc nghiên cứu để tìm ra nội dung và phương pháp giáo dục kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm tâm lý xã hội của học sinh Việt Nam đóng vai trò quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết
Thông qua đề tài này chúng tôi đã tìm hiểu nhận thức của học sinh THCS về kỹ năng sống nói chung, tìm hiểu tác động của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc trang bị, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS; đồng thời bước đầu đã tìm hiểu và có những đánh giá về phương pháp giáo dục kỹ năng sống phù hợp với học sinh THCS
Nhằm thu thập được những thông tin mang tính khách quan, khái quát cao và chuyên sâu cho vấn đề nghiên cứu, ở giai đoạn 1 chúng tôi sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Ở phương pháp định lượng, với cách chọn mẫu phi xác suất, bằng cách sử dụng công cụ bảng hỏi Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 105 khách thể là học sinh thuộc khối 8 trường THCS Bình An Còn với phương pháp định tính, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 2 giáo viên, 2 phụ huynh và 4 học sinh thuộc khối 8 trường THCS Bình An Ở giai đoạn 2 của cuộc nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm với 3
kỹ năng sống được dạy tại 3 lớp 8 của trường THCS Bình An Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định tính hiệu quả và khả thi của phương pháp giáo dục chủ động trong việc trang bị kỹ năng sống cho học sinh, đồng thời cũng đánh giá được vai trò của kỹ năng sống trong việc thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh THCS
Kết hợp cả 2 giai đoạn nghiên cứu của chúng tôi đã đánh giá được vai trò của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS đồng thời đề xuất những biện pháp
để việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS đạt hiệu quả và thiết thực hơn Trong giới hạn cho phép của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu về vai trò của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS và cũng chỉ tiến hành nghiên cứu thực nghiệm với 3 kỹ năng sống song cũng rất mong có thể đóng góp cả về lý luận và thực tiễn cho những ai quan tâm đến vấn đề nghiên cứu còn khá mới mẻ này ở Việt Nam
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật như vũ bão đã đưa nền văn minh nhân loại tiến những bước tiến nhảy vọt trong việc đáp ứng các nhu cầu của con người Tuy nhiên mặt trái của những bước tiến ấy là hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh, đặc biệt là ở thế hệ trẻ như: sự gia tăng các tệ nạn xã hội, sự xói mòn nghiêm trọng các giá trị đạo đức, cuộc sống thiếu ước mơ, lý tưởng của một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên… Những vấn đề ấy khiến cho con người phải nhìn lại các giá trị của cuộc sống, về vai trò của đạo đức trong việc định hướng phát triển nhân cách con người trong hoàn cảnh hiện tại Điều đó đặt ra nhu cầu bức thiết cho việc giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho thế hệ trẻ ngày nay
Học sinh trung học cơ sở (THCS) là lứa tuổi có nhiều thay đổi về tâm sinh lý với đặc trưng cơ bản là mâu thuẫn giữa một bên là tính chất quá độ “không còn trẻ con nhưng chưa phải là người lớn” và bên kia là bản ngã phát triển mạnh mẽ ở các
em Bên cạnh đó lứa tuổi học sinh trung học cơ sở cũng là giai đoạn khó khăn trong quá trình phát triển của cá nhân, đồng thời cũng là giai đoạn khó khăn trong công tác giáo dục Đòi hỏi người lớn phải có sự quan tâm đặc biệt, sự hiểu biết,
rất quan ngại trước sự bùng nổ các vấn đề của học sinh phổ thông như vấn nạn bạo lực học đường, hiện tượng học sinh hút thuốc lá, uống rượu, tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục sớm, tự sát…ngày càng có xu hướng gia tăng Không chỉ thế, các
em còn là nạn nhân của hàng loạt các vấn đề khác như bị lạm dụng tình dục, bị buôn bán qua biên giới…
Những thay đổi lớn lao của tâm lý lứa tuổi thanh thiếu niên cùng với hàng loạt các vấn đề nan giải nơi học sinh đang đặt ra nhu cầu bức thiết nâng cao năng lực tự ứng phó của các em với những nhu cầu và thách thức của cuộc sống đang diễn ra hàng ngày Trong khi những kiến thức được trang bị trong nhà trường lại chưa đủ
để làm hành trang cho các em
1
X Dương Thị Diệu Hoa (2008), Tâm lý học phát triển, trang 169
Trang 11Tiến sĩ Phùng Khắc Bình, Ủy viên Ban chỉ đạo phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thể thao học sinh Việt Nam trả lời trong một buổi phỏng vấn: “Tình trạng học sinh đánh nhau, vô lễ với thầy cô giáo, bỏ học, không hứng thú học tập xuất hiện ngày một nhiều Nguyên nhân thì có nhiều nhưng chung quy là do nhận thức, ý thức và về
Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của KNS với học sinh, đặc biệt là học sinh THCS, từ năm 2001, Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã thực hiện giáo dục KNS cho học sinh phổ thông với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là tổ chức UNICEF tại Việt Nam
Trong những năm gần đây Bộ Giáo dục Đào tạo cũng đang nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục KNS để đưa vào trong chương trình giáo dục phổ thông Tuy nhiên, hiện nay học sinh THCS có nhu cầu được trang bị KNS ở mức
độ nào? Việc giáo dục KNS cho học sinh là vai trò và trách nhiệm của ai? Mức độ quan tâm của xã hội đến giáo dục KNS cho học sinh THCS như thế nào? Các phương pháp có thể giúp cho việc giáo dục KNS cho học sinh THCS đạt hiệu quả?
Để giải đáp cho những câu hỏi trên có lẽ cần xem xét vai trò của những nhân viên công tác xã hội (CTXH) học đường trong việc giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách học sinh, giúp trẻ có kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, thay đổi hành vi,
vụ của nhân viên CTXH học đường là rất cần thiết, đặc biệt trong lĩnh vực truyền thông, giáo dục KNS CTXH học đường ở Việt Nam vẫn còn là một lĩnh vực rất mới mẻ Sách vở, tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực này ở Việt Nam còn rất hạn chế Chính vì thế, chúng tôi nhận thấy cần phải tập trung nghiên cứu sâu hơn về lĩnh
vực này Chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: “Thử nghiệm và đánh giá vai trò
của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS”
2
Bài viết: “Giáo dục kỹ năng sống cho bé phải từ những việc cụ thể” Theo link:
sng-gia-tr-sng&catid=74:tin-ao-to&Itemid=90
http://www.smartfastkids.com/index.php?option=com_content&view=article&id=173:phng-phap-hc-k-nng-3
X Kỷ yếu hội thảo CTXH học đường (2011), trang 35
Trang 122 Tình hình nghiên cứu đề tài
* Trên thế giới
Có thể nói KNS là vấn đề được quan tâm đặc biệt trong thời gian gần đây Trước những thách thức của cuộc sống và những đòi hỏi mới của công cuộc hội nhập, KNS đã trở thành hành trang cực kì quan trọng cho tất cả mọi người Để tồn tại, phát triển và quản lý cuộc sống thường không thể thiếu những KNS quan trọng
Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) với các đối tượng khác nhau nhằm trang bị những kỹ năng sống giúp đối phó với những vấn đề trong cuộc sống như sức khỏe, bảo vệ môi trường, phòng chống HIV/AIDS,… “Bởi lẽ những thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là những kỹ năng đọc, viết, tính
UNICEF, WHO và UNESCO là những định hướng cơ bản góp phần hình thành những chương trình giáo dục KNS cho mọi lứa tuổi ở các nước trên thế giới
Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia – BCA)
và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (The Australian Chamber of Commerce and Industry – ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (The Department of Education, Science and Training – DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (The Australian National Training Authority – ANTA) đã xuất bản
cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (2002) Cuốn sách cho thấy các kỹ
năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có Kỹ năng hành nghề là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến
bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức
Trang 13Còn tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh tế xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc) thì nghiên cứu và phân loại KNS thành 3 dạng gồm: KNS để phát triển cá nhân, KNS để tạo mối quan hệ với người khác, KN công nghệ
Những nghiên cứu về KNS tại Úc và của ESCAP chủ yếu tập trung vào những
KN dành cho người lao động mà chưa nhấn mạnh đến việc giáo dục KNS cho học sinh Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cũng định hướng cho chúng tôi trong việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
* Ở Việt Nam
Trong một vài năm trở lại đây, toàn xã hội cũng như ngành giáo dục Việt Nam
đã và đang quan tâm sâu sắc đến thực trạng bạo lực học đường diễn ra hàng ngày hàng giờ trên phạm vi cả nước, số lượng học sinh bỏ học tăng nhanh ở cả mọi cấp học, số vụ vi phạm pháp luật hình sự ngày càng có xu hướng trẻ hóa, Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, nhưng theo các chuyên gia giáo dục, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu KNS Bắt đầu từ năm học 2010-2011 Bộ Giáo dục – Đào tạo chủ trương đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống vào chương trình học chính khóa trong các nhà trường phổ thông, từ bậc Tiểu học đến Trung học Phổ thông Phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã và đang nhận được sự hưởng ứng của nhiều trường học, học sinh và người dân trên cả nước Một chương trình chuẩn giáo dục KNS cho học sinh vẫn còn đang trong quá trình nghiên cứu và biên soạn Cách phổ biến nhất được các trường áp dụng hiện nay là lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh vào các môn học khác nhau Thậm chí với nhiều trường việc dạy KNS vẫn chỉ dựa vào những tiết sinh hoạt chào cờ đầu tuần hay các buổi sinh hoạt để lồng ghép, kể những câu chuyện hay, những hình ảnh đẹp từ đời thường cho học sinh, chứ chưa thể tổ chức các buổi dã ngoại vì thiếu kinh phí Có thể thấy việc thực hiện và triển khai dạy KNS tại trường học một cách hiệu quả hiện vẫn đang là bài toán chưa có lời giải, khi phần lớn giáo viên và các
Theo cố Ths Nguyễn Thị Oanh, thời gian gần đây KNS được nhắc đến hàng ngày trên báo chí bởi lẽ việc trang bị cho tuổi trẻ Việt Nam những năng lực tâm lý
6
Báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày18/12/2011 Bài viết “Tự bơi môn kỹ năng sống”
Trang 14xã hội mới là vô cùng bức xúc Tuy nhiên, dù được nhắc đến nhiều, khái niệm này
Có nhiều công trình nghiên cứu và xuất bản phẩm liên quan đến việc giáo dục
KNS Cuốn sách “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên” (2006) của cố tác giả
Nguyễn Thị Oanh đề cập đến việc trang bị kỹ năng sống từ nhà trường hoặc tại các trung tâm đào tạo KNS Với việc phân tích khá rõ ràng về thực trạng KNS của thế
hệ trẻ hiện nay và cách tiếp cận KNS từ việc phân tích tâm lý lứa tuổi, cuốn sách
“10 kỹ năng sống cơ bản dành cho tuổi vị thành niên” của tác giả đi sâu vào
từng KNS cụ thể cho tuổi vị thành niên Cả 2 cuốn sách đã cung cấp một số thông tin cơ bản để bạn đọc, nhất là các nhà giáo dục có cách tiếp cận thống nhất về mặt nội dung, đặc biệt là phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên
Cuốn sách “Dạy con kỹ năng sống” của tác giả Liêm Trinh (2007) đề cập đến
việc giáo dục kỹ năng sống cho con trẻ trong gia đình Cuốn sách là cẩm nang cần thiết dành cho các bậc cha mẹ trong việc nhận ra các trục trặc tâm lý của trẻ, nghệ thuật dạy con cách sống tự chủ, độc lập, thận trọng, dạy con biết cảm thông, chia
sẻ và sống tử tế, đối phó với những ảnh hưởng xấu từ bạn bè
Trong bài viết “Khái niệm kỹ năng sống nhìn từ góc độ tâm lý học” (2008),
tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã đưa ra những định nghĩa KNS và phân loại chúng từ góc độ tâm lý học Tuy nhiên bài viết mới chỉ dừng ở việc phân tích lý thuyết, chưa có liên hệ thực tế để việc giáo dục kỹ năng sống đạt hiệu quả hơn
Cuốn “Bạn trẻ và kỹ năng sống” (Huỳnh Văn Sơn, 2009) đã mang đến cho
độc giả, đặc biệt là các bạn trẻ những hành trang cần thiết để bước vào đời Những hành trang ấy là những tri thức, kinh nghiệm, các kỹ năng sống cần thiết như kỹ năng tự đánh giá mình và tự tin để đối diện với khủng hoảng, kỹ năng phát huy nội lực cá nhân, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng lắng nghe để thành công,… Cuốn sách là tài liệu tham khảo thú vị trong hướng tiếp cận kỹ năng sống cho bạn trẻ
ngày nay Cuốn sách “Nhập môn kỹ năng sống” (2009) của tác giả cũng đề cập
đến 24 KNS cơ bản cho người trẻ trong hành trang bước vào đời Tác giả đã rất thành công trong việc phân tích vai trò của những KNS này đối với mọi người, đặc
7
Nguyễn Thị Oanh (2006), 10 cách thức rèn kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, trang 8
Trang 15biệt là tầng lớp sinh viên, cùng với những bài tập KN cụ thể để mọi người có thể tự rèn luyện những KN này cho bản thân
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của việc trang bị KNS cho thiếu niên, trung tâm
huấn luyện KNS Phù Sa Đỏ đã cho xuất bản 2 cuốn sách “Phương pháp giảng
dạy kỹ năng sống” và “Tuyển tập bài giảng kỹ năng sống cho thiếu niên” Với
cách tiếp cận những KNS cơ bản dành cho thiếu niên theo quan điểm của WHO,
cả 2 cuốn sách đã có những định hướng khá rõ ràng về các phương pháp giáo dục chủ động trong giảng dạy KNS cùng với giáo án cụ thể cho 10 KNS dành cho thiếu niên 2 cuốn sách cũng là những định hướng hữu ích về nội dung và phương pháp cho chúng tôi khi thực hiện đề tài nghiên cứu này
Bên cạnh đó còn có một số đề tài nghiên cứu việc giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh Luận án tiến sĩ: “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ
thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (Phan Thanh Vân, 2009)
đã chỉ ra hiệu quả của việc lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh THPT qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Bên cạnh những nghiên cứu về mặt lý thuyết, đề tài còn chỉ ra hiệu quả thực tiễn của việc trang bị KNS cho học sinh THPT bằng thực nghiệm tại một số trường THPT ở TP.HCM Tác giả Nguyễn Kim Châu
Hương (2010) đã tiến hành nghiên cứu “Nhu cầu hình thành kỹ năng sống cho
học sinh trung học phổ thông tại Biên Hòa – Đồng Nai” Đề tài đã làm rõ nhu
cầu cấp thiết của việc hình thành kỹ năng sống cho học sinh THPT hiện nay Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo các thế hệ tương lai, đặc biệt là lứa tuổi học sinh THCS Chính vì thế, nhóm chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thử nghiệm và đánh giá vai trò của việc giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh THCS” nhằm tìm hiểu nhận thức của học sinh về
KNS, thực trạng giáo dục KNS cho học sinh THCS hiện nay, bước đầu đánh giá về phương pháp giáo dục KNS cho học sinh THCS dựa trên kết quả nghiên cứu thử nghiệm, đồng thời đưa ra những khuyến nghị để việc giáo dục KNS cho học sinh THCS đạt hiệu quả
Trang 163 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
3.1.1 Đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh THCS về KNS, tìm hiểu
mong muốn của các em trong việc trang bị, giáo dục KNS, đồng thời đánh
giá vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc trang bị, giáo dục KNS cho học sinh THCS
3.1.2 Đánh giá vai trò của kỹ năng sống đối với học sinh THCS và
hiệu quả của phương pháp giáo dục chủ động trong truyền thông giáo dục
KNS thông qua việc thử nghiệm dạy một số KNS cụ thể phù hợp với tâm lý
lứa tuổi
3.2 Nhiệm vụ
3.2.1 Khảo sát, đánh giá nhận thức của học sinh THCS về KNS, thực
trạng giáo dục KNS cho học sinh THCS và những mong muốn của học sinh
THCS trong việc trang bị, giáo dục KNS
3.2.2 Tiến hành thử nghiệm dạy một số KNS cụ thể dựa trên nền tảng
lý thuyết của ngành CTXH như giáo dục chủ động, năng động nhóm
3.2.3 Đánh giá vai trò của việc giáo dục KNS cho học sinh THCS
thông qua quá trình thử nghiệm, đồng thời đưa ra những đề xuất, khuyến
nghị để việc giáo dục KNS cho học sinh THCS đạt hiệu quả
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu tài liệu để xây dựng các khái niệm công cụ cho vấn đề nghiên cứu Điều này cũng giúp cho chúng tôi có cái nhìn bao quát về vấn đề nghiên cứu Với phương pháp này, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm nghiên cứu và phân tích các tài liệu lý luận, các kết quả nghiên cứu thực tiễn từ các công trình nghiên cứu, các bài báo, tạp chí, các bài viết trên các website, có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp định lượng
Đây là phương pháp chính của đề tài nhằm thu thập thông tin về mức độ hiểu biết của học sinh về KNS, thực trạng giáo dục KNS cho học sinh THCS Trước và sau khi
Trang 17tiến hành nghiên cứu thực nghiệm, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát nhằm đánh giá vai trò của việc giáo dục kỹ năng sống Với phương pháp này, chúng tôi sử dụng công
cụ là bảng hỏi
Với phương pháp chọn mẫu phi xác suất, cụ thể là cách chọn mẫu thuận tiện, trong
đó chúng tôi tiến hành khảo sát lần 1 là 105 bảng hỏi là những học sinh lớp 8 của trường Trung học Cơ sở Bình An Trước và sau khi tiến hành thử nghiệm dạy những KNS cụ thể, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát trên nhóm học sinh được tiến hành thử nghiệm
4.3 Phương pháp định tính
Nhằm mục đích khai thác sâu hơn các nội dung nghiên cứu ở những trường hợp điển hình, làm rõ hơn những vấn đề đề cập trong mục đích nghiên cứu Chúng tôi sẽ lựa chọn ngẫu nhiên 4 học sinh đại diện cho 105 mẫu khảo sát ở cả 2 giai đoạn của quá trình nghiên cứu để phỏng vấn sâu Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu 2 phụ huynh và 2 giáo viên, của trường THCS Bình An
4.4 Phương pháp thử nghiệm
Nhằm đánh giá vai trò của KNS đối với học sinh THCS, cũng như kiểm chứng lại những lý thuyết trong CTXH, các biện pháp trong truyền thông giáo dục cộng đồng, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu thử nghiệm, cụ thể là thử nghiệm cấp diễn trong giai đoạn 2 của quá trình nghiên cứu Vì thời gian và nguồn lực có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành thử nghiệm dạy 3 KNS tại 3 lớp 8 của trường THCS Bình An
4.5 Phương pháp xử lý thông tin
Đối với những thông tin định tính: chúng tôi xử lý theo phương pháp phân tích nội
dung
Đối với những thông tin định lượng: Kết quả điều tra từ bảng hỏi được xử lý nhờ phần mềm SPSS
5 Giới hạn của đề tài
- Do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu ở học sinh khối lớp 8
trường THCS Bình An Sau đó, chúng tôi chọn 3 trong 5 lớp 8 của trường tiến hành việc thử nghiệm dạy những KNS cụ thể
Trang 18- Việc thử nghiệm dạy các KNS cụ thể của chúng tôi được thực hiện dựa trên nhu cầu của học sinh với 10 KNS cơ bản dành cho lứa tuổi vị thành niên theo cách phân loại của WHO Tuy nhiên trong thời gian và khả năng cho phép, chúng tôi chỉ tiến hành thử nghiệm dạy 3/10 KNS này cho nhóm thử nghiệm
6 Đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ đưa ra những đánh giá nhất định đối với mức
độ nhận thức của học sinh THCS về KNS, thực trạng giáo dục KNS cho học sinh THCS trong gia đình, nhà trường, xã hội Cụ thể hóa và kiểm định tính khả thi của phương pháp giáo dục KNS dựa trên các phương pháp và kỹ năng của CTXH như giáo dục chủ động, năng động nhóm, kỹ năng truyền thông trong các buổi thử nghiệm dạy KNS
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Bước đầu góp phần thiết lập cơ sở lý luận về giáo dục KNS cho học sinh dựa trên những lý thuyết cơ bản và phương pháp truyền thông giáo dục trong ngành CTXH Củng cố thêm những luận điểm: 1/ Giáo dục KNS là nhiệm vụ của ngành giáo dục nhằm giúp học sinh phát triển nhân cách toàn diện Trong đó “tam giác” giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội đóng vai trò then chốt 2/ Phương pháp truyền thông giáo dục cộng đồng và những lý thuyết năng động nhóm trong CTXH có thể giúp cho việc giáo dục KNS cho học sinh đạt hiệu quả
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc thiếu KNS đã và đang là nhân tố gây ra hàng loạt các vấn đề nơi học sinh đặc biệt là học sinh THCS, lứa tuổi có những chuyển biến tâm lý sâu sắc Chính những chuyển biến ấy có ảnh hưởng không nhỏ đến việc việc hình thành nhân cách sau này của các em Đề tài được thực hiện sẽ góp phần tìm ra những biện pháp khả thi để việc giáo dục KNS cho học sinh THCS đạt hiệu quả
Ngày nay, có nhiều biện pháp và cách thức để trang bị KNS cho học sinh trong trường học Việc thử nghiệm dạy KNS của chúng tôi trên nhóm mẫu trong đề tài này góp phần khẳng định tính khả thi của phương pháp giáo dục chủ động trên cơ sở các
Trang 19kiến thức CTXH nhóm, có thể nhân rộng và trở thành phương pháp chủ đạo trong việc trang bị, giáo dục KNS cho học sinh tại các trường học
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm có phần mở đầu và 4 chương
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Thực trạng KNS của học sinh THCS
- Chương 3: Kết quả thử nghiệm giáo dục KNS cho học sinh THCS
- Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm và phân loại kỹ năng sống
Trong xã hội ngày nay, ở hầu hết các quốc gia và ở mọi môi trường làm việc từ nhà trường, công ty, cho đến các cơ quan Nhà nước,… người ta sớm nhận ra việc thiếu hụt các kỹ năng sống chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến con người gặp nhiều khó khăn hơn khi đối diện với những tình huống xảy ra trong cuộc sống Vì thế, vấn đề giáo dục kỹ năng sống bắt đầu được quan tâm tìm hiểu
từ thập niên 80 của thế kỉ XX
Có nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về kỹ năng sống Thông thường,
kỹ năng sống được hiểu là những kỹ năng thực hành mà con người cần để có được
sự an toàn, cuộc sống khỏe mạnh với chất lượng cao
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1993): “Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội (TLXH), là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khoẻ mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực TLXH có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khoẻ theo nghĩa rộng nhất
về mặt thể chất, tinh thần và xã hội Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi
Trong bài viết “Khái niệm kỹ năng sống nhìn từ góc độ tâm lý học”, PGS Nguyễn Quang Uẩn đã xem xét khái niệm kỹ năng sống dưới góc độ tâm lý học Tác giả đã phân tích: cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống, với sự đan xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và “mối quan hệ giao tiếp - ứng xử” giữa con người với con người, đó là hai mặt có mối quan hệ tác động lẫn nhau, tạo nên cuộc sống đích thực của mỗi con người Các kỹ năng sống nằm trong hệ thống các kỹ năng cơ bản có tính tổng hợp và phức tạp của hoạt động sống của con người Do đó, PGS Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Kỹ năng sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp
8 Nguyễn Thị Oanh (2010), Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, trang 18 - 19
Trang 21con người thực hiện công việc và tham gia và cuộc sống hàng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”
Về việc phân loại KNS, theo quan điểm của WHO, KNS được chia làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: Nhóm kỹ năng nhận thức bao gồm: Tự nhận thức bản thân, tự đặt mục tiêu và xác định giá trị, kỹ năng phân tích tình huống, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tư duy, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề
- Nhóm 2: Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc bao gồm: Kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân, kỹ năng phán đoán cảm xúc người khác, kỹ năng vượt qua áp lực, kỹ năng ứng phó với khó khăn
- Nhóm 3: Nhóm kỹ năng xã hội bao gồm: Kỹ năng giao tiếp – truyền thông,
kỹ năng chia sẻ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng gây thiện cảm, kỹ năng thích ứng với cảm xúc của người khác
Danh sách kỹ năng sống có thể rất dài, nhưng qua quá trình ứng dụng, WHO xác định một danh sách cơ bản các kỹ năng có thể được chấp nhận ở những nền văn hóa khác nhau Đó là các kỹ năng:
- Kỹ năng lấy quyết định
- Kỹ năng giải quyết vấn đề
- Kỹ năng suy nghĩ sáng tạo
- Kỹ năng suy nghĩ có phán đoán
- Kỹ năng truyền thông có hiệu quả
- Kỹ năng giao tiếp giữa người và người
- Kỹ năng ý thức về bản thân
- Kỹ năng thấu cảm
- Kỹ năng ứng phó với cảm xúc
- Kỹ năng đối phó với stress
Kỹ năng lấy quyết định giúp chúng ta chọn những quyết định tích cực liên quan đến cuộc sống của chúng ta
Trang 22Kỹ năng giải quyết vấn đề giúp chúng ta xử lý những khó khăn gặp phải một cách xây dựng Những vấn đề gặp phải nếu không quan tâm giải quyết sẽ gây stress dẫn theo những xáo trộn về cơ thể
Suy nghĩ sáng tạo góp phần vào việc lấy quyết định và giải quyết vấn đề, bằng cách giúp chúng ta xem xét tất cả các lối ra khác nhau và suy nghĩ về hậu quả khác nhau của việc chúng ta hành động hay không hành động
Suy nghĩ có phán đoán giúp phân tích các thông tin và kinh nghiệm một cách khách quan, giúp nhận ra các yếu tố ảnh hưởng tới thái độ và hành vi, ví dụ như các phương tiện truyền thông đại chúng hay ảnh hưởng của bạn đồng lứa
Truyền thông có hiệu quả là khi chúng ta diễn đạt suy nghĩ của mình bằng lời nói hay không bằng lời nói một cách phù hợp với hoàn cảnh hay bối cảnh văn hóa Điều này có nghĩa là khả năng diễn đạt những ước muốn cũng như tìm sự tham vấn khi cần
Kỹ năng giao tiếp giúp chúng ta quan hệ một cách tích cực với những ai tương tác với chúng ta Có nghĩa là kết bạn, gìn giữ tình bạn, vì điều này có thể rất quan trọng cho sức khỏe tinh thần và xã hội của ta Nó cũng có nghĩa là giữ mối quan hệ tốt với gia đình - nguồn hỗ trợ quan trọng Nhưng cũng có nghĩa cắt đứt các mối quan hệ một cách xây dựng
Ý thức về bản thân bao gồm sự nhìn nhận về bản thân, tính tình, mặt mạnh, mặt yếu, ước muốn của chúng ta, cũng như những điều mà chúng ta không thích Ý thức về bản thân giúp chúng ta nhận ra stress hay tình trạng áp lực để ứng phó kịp thời Ý thức về bản thân là một tiền đề quan trọng để truyền thông và giao tiếp có hiệu quả cũng như để thấu cảm với người khác
Thấu cảm là khả năng hình dung hoàn cảnh sống của người khác mà có khi họ còn xa lạ với ta Thấu cảm giúp chúng ta chấp nhận người kia cho dù họ rất khác chúng ta Điều này sẽ giúp cải tiến các mối tương tác xã hội Ví dụ giữa các nhóm sắc tộc khác nhau Thấu cảm giúp chúng ta có thái độ phù hợp với những người cần chăm sóc Ví dụ như những người sống với AIDS, những người bị bệnh tâm thần thường bị bêu xấu, ruồng bỏ bởi những người lẽ ra phải bảo bọc, hỗ trợ họ
Trang 23Ứng phó với cảm xúc - đó là nhìn nhận các cảm xúc nơi ta và người khác, ý thức rằng cảm xúc ảnh hưởng đến hành vi như thế nào và có khả năng ứng phó với cảm xúc một cách phù hợp
Ứng phó với stress - đó là biết nhận ra các nguyên nhân gây stress trong đời sống chúng ta, nhận ra stress tác động đến chúng ta như thế nào và hành động để giảm bớt các nguồn gây stress, giữ stress ở mức độ chấp nhận được Một ví dụ hành động để làm giảm nguồn stress là thay đổi lối sống, môi trường sống hoặc
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:
- Học để biết, gồm các kỹ năng tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả…
- Học làm người gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…
- Học để sống với người khác, gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông
- Học để làm, gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm…
Theo quan niệm này, kỹ năng sống được phân loại thành:
- Các kỹ năng cơ bản: Kỹ năng đọc, viết, tính toán cho các chức năng hàng ngày Những kỹ năng này không mang đặc trưng tâm lý nhưng là nền tảng cho những năng lực thực hiện các chức năng của cuộc sống
- Các kỹ năng chung (kỹ năng nhận thức, kỹ năng cảm xúc, kỹ năng xã hội) như các kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp…
- Các kỹ năng trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội, như:
+ Các vấn đề về giới, giới tính
9 Nguyễn Thị Oanh (2010), Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, trang 22 - 24
Trang 24+ Các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, chống ma túy, rượu, thuốc lá… Theo UNICEF, giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái
độ, hành vi Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì, và làm như thế nào)
Từ quan điểm trên về kỹ năng sống, UNICEF phân loại chúng thành 3 nhóm:
kỹ năng truyền thông và giao tiếp; kỹ năng lấy quyết định và suy nghĩ có phán đoán; kỹ năng ứng phó và làm chủ bản thân
a/ Kỹ năng truyền thông và giao tiếp bao gồm:
+ Truyền thông và giao tiếp cá nhân
o Truyền thông bằng lời/ không bằng lời
o Lắng nghe tích cực
o Biểu lộ cảm xúc phản hồi (mà không trách cứ), nhận phản hồi
+ Kỹ năng thương lượng/ từ chối
+ Kỹ năng ảnh hưởng và thuyết phục
+ Kỹ năng tạo mạng lưới và động viên
b/ Kỹ năng lấy quyết định và suy nghĩ có phán đoán bao gồm:
+ Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề:
o Kỹ năng thu thập thông tin
Trang 25o Đánh giá hệ quả tương lai của những hành động hiện tại đối với bản thân và người khác
o Kỹ năng phân tích ảnh hưởng của các giá trị, thái độ, động cơ của bản thân và người khác
+ Kỹ năng tư duy có phán đoán
o Phân tích ảnh hưởng của đồng đẳng và truyền thông
ảnh hưởng của chúng
c/ Kỹ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân gồm:
+ Kỹ năng làm tăng sức mạnh nội lực để tự chủ
o Ý thức về giá trị bản thân/ Kỹ năng xây dựng sự tự tin
o Ý thức về bản thân, bao gồm ý thức về quyền, ảnh hưởng, giá trị, thái
độ, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân
o Kỹ năng xác định mục đích
o Kỹ năng phân tích ảnh hưởng của giá trị và thái độ trên động cơ của bản thân và người khác
+ Kỹ năng quản lý stress
o Quản lý thời gian
o Kỹ thuật thư giãn
+ Kỹ năng làm chủ cảm xúc
o Làm chủ sự tức giận
o Xử lý những đau buồn và lo âu
Tuy có sự khác biệt về quan niệm về kỹ năng sống nhưng các tổ chức UNESCO, WHO và UNICEF đã thống nhất 10 kỹ năng sống cơ bản, được xem như cần thiết nhất cho tất cả mọi người bao gồm các kỹ năng sau:
10 Bùi Văn Trực (2011), phương pháp giảng dạy kỹ năng sống, trang 21 - 24
Trang 26- Kỹ năng ra quyết định
- Kỹ năng giải quyết vấn đề
- Kỹ năng tư duy sáng tạo
- Kỹ năng tư duy phê phán/ suy nghĩ có phán đoán
- Kỹ năng truyền thông có hiệu quả
- Kỹ năng giao tiếp giữa người và người
- Kỹ năng tự nhận thức bản thân
- Khả năng thấu cảm
- Kỹ năng ứng phó với cảm xúc
- Kỹ năng ứng phó với stress
- Kỹ năng sống để phát triển cá nhân
- Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác
- Kỹ năng công nghệ, vì thất nghiệp là một vấn đề lớn Ở đây nhấn mạnh kỹ năng về công nghệ thông tin
Riêng tác giả Nguyễn Thanh Bình xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe đã phân loại
- Nhóm thứ nhất là nhóm kỹ năng nhận thức bao gồm các kỹ năng như: tư duy phê phán, tư duy phân tích, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, khả năng sáng tạo, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị,…
- Nhóm thứ hai là nhóm kỹ năng để đương đầu với xúc cảm gồm các kỹ năng như: kiềm chế căng thẳng, kiềm chế cảm xúc, tự quản lý, tự giám sát, tự điều chỉnh và ý thức trách nhiệm
- Nhóm thứ ba là nhóm kỹ năng thành phần xã hội hay tương tác xã hội gồm các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, quyết đoán, kỹ năng thương thuyết, từ
11
Hội đồng kinh tế châu Á Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc
12
Bùi Văn Trực (2011), phương pháp giảng dạy kỹ năng sống, trang 25
13 Nguyễn Thanh Bình (2007), Giáo dục kỹ năng sống Giáo trình dành cho sinh viên Cao đẳng Sư phạm
Trang 27chối, hợp tác, sự cảm thông chia sẻ, khả năng nhận thấy thiện cảm của người khác
PGS Nguyễn Quang Uẩn đưa ra cách phân loại các kỹ năng như sau:
- Nhóm kỹ năng về cuộc sống cá nhân: Kỹ năng thực hiện các chức năng cơ bản của đời sống hàng ngày như sinh hoạt cá nhân, giữ gìn sức khỏe thể chất và tinh thần; kỹ năng tự nhận thức về bản thân; kỹ năng tự ý thức và có trách nhiệm với bản thân; kỹ năng tự điều khiển, điều chỉnh và tự đánh giá hành vi bản thân; kỹ năng tự xác định mục đích, kế hoạch phấn đấu về đường đời của bản thân…
- Nhóm kỹ năng quan hệ với người khác, cộng đồng và xã hội: Kỹ năng giao tiếp ứng xử; kỹ năng thích ứng xã hội; kỹ năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ liên nhân cách; kỹ năng thực hiện các hành vi văn hóa xã hội, hành vi theo chuẩn mực xã hội
- Nhóm kỹ năng công việc: Kỹ năng xác định mục tiêu công việc, kỹ năng lựa chọn và xác định các giá trị; kỹ năng hoạch định công việc; kỹ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong công việc; kỹ năng tổ chức thực hiện công việc; kỹ năng đánh giá, rút kinh nghiệm về công việc; kỹ năng chuẩn bị cho các công việc tiếp
Tóm lại, dù các tác giả có quan điểm khác nhau về tiêu chí và cách phân loại cho phù hợp với các mục đích khác nhau, tất cả đều dựa trên 10 kỹ năng cơ bản sau:
- Kỹ năng ra quyết định
- Kỹ năng giải quyết vấn đề
- Kỹ năng tư duy sáng tạo
- Kỹ năng suy nghĩ có phán đoán
- Kỹ năng truyền thông hiệu quả
- Kỹ năng giao tiếp
Trang 28- Kỹ năng ứng phó với cảm xúc
- Kỹ năng ứng phó với stress
Từ các khái niệm và cách phân loại kỹ năng sống nêu trên chúng tôi nhận thấy rằng có nhiều cách biểu đạt kỹ năng sống với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề Nếu như khái niệm kỹ năng sống theo nghĩa hẹp chỉ được hiểu là năng lực tâm lý xã hội, thì theo nghĩa rộng kỹ năng sống không chỉ bao gồm năng lực tâm lý xã hội mà còn bao gồm cả kỹ năng tâm vận động
Tóm lại, kỹ năng sống được hiểu theo nhiều cách khác nhau theo từng khu vực
và từng quốc gia Ở một số nước, chủ yếu là các nước chậm phát triển và các nước đang phát triển, kỹ năng sống hướng vào lĩnh vực vệ sinh, dinh dưỡng, phòng bệnh,… Trong khi đó, ở các nước phát triển, giáo dục kỹ năng sống lại hướng vào giáo dục hành vi, cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, lòng yêu hòa bình Như vậy, vấn đề phát triển kỹ năng sống ở từng nước cũng khác nhau Có những nước chỉ chú trọng giáo dục kỹ năng sống cho các đối tượng
có nguy cơ cao phải đương đầu với những thách thức của cuộc sống như sức khỏe,
tệ nạn xã hội… Thế nhưng tại một số quốc gia có mức độ hiểu biết về kỹ năng sống cao hơn thì kỹ năng sống không phải dành riêng cho một hay một số nhóm đối tượng nào đó mà dành cho tất cả mọi người
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tìm hiểu vai trò của giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh THCS Chúng tôi sử dụng khái niệm kỹ năng sống của
WHO (khái niệm kỹ năng sống theo nghĩa hẹp): KNS là “khả năng làm cho hành
vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày” Đây chính là khái niệm công cụ cho việc nghiên cứu của chúng tôi
1.2 Phương pháp giáo dục chủ động và năng động nhóm trong giáo dục KNS cho học sinh THCS
1.2.1 Phương pháp giáo dục chủ động
Xuất phát từ nhiệm vụ đặt ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dạy thử nghiệm các KNS cụ thể tại trường THCS Bình An Phương pháp chính sử dụng trong các buổi thử nghiệm của chúng tôi là phương pháp giáo dục chủ động
Trang 291.2.1.1 Lịch sử hình thành phương pháp giáo dục chủ động
Giáo dục chủ động hay còn gọi là giáo dục phi chính quy được hình thành trong giai đoạn từ thập niên 30 cho đến những năm 50 của thế kỷ trước Để đối phó với sức ì to lớn của đông đảo quần chúng nghèo nàn, lạc hậu, đã xuất hiện các phong trào giáo dục người lớn như phong trào xóa nạn mù chữ cho người lớn ở Trung Hoa lục địa do nhà giáo dục nổi tiếng Jimmy Yen khởi xướng Nội dung giáo dục căn bản do UNESCO chủ trương xóa nạn mù chữ, giáo dục vệ sinh thường thức và các kỹ năng nhằm giúp cho nông dân và thị dân nghèo tham gia công cuộc phát triển
Tiếp theo, UNESCO khởi xướng việc giáo dục cộng đồng nhằm gắn giáo dục cấp 1 và cấp 2 vào thực tiễn của làng mạc, nghĩa là học sinh ra trường không chỉ biết chữ mà còn biết trồng trọt chăn nuôi
Ở Mỹ, những năm 50, phong trào giáo dục tráng niên thông qua các ủy ban công tác địa phương, các câu lạc bộ, các lớp học về kỹ năng tâm lý xã hội, vận động tổ chức rất thịnh hành Tiếp theo đó, các phong trào khuyến nông xuất phát
từ Á Châu (Đài Loan, Ấn Độ,…) hay phát triển nông thôn phổ biến ở Phi Châu là một hình thức giáo dục tổng hợp (canh tác, chăn nuôi, vệ sinh, kinh tế gia đình…) ngay trong cuộc sống hàng ngày nhằm cải thiện đời sống của nông dân một cách toàn diện
Phương thức giáo dục này được gọi là giáo dục “phi chính quy” – hệ thống giáo dục ngoài khuôn khổ học đường Hệ thống này có vai trò quan trọng, thậm chí ngang hàng với hệ thống chính quy, đóng vai trò trọng yếu trong giáo dục phát triển, và nó cũng đóng góp cho hệ thống chính quy nhiều kinh nghiệm về phương
Nhìn vào lịch sử hình thành của phương pháp giáo dục chủ động hay giáo dục phi chính quy, có thể thấy giáo dục chủ động có mối liên hệ mật thiết với công tác
xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực tổ chức và phát triển cộng đồng Ngày nay, những
ưu điểm của phương pháp giáo dục chủ động khiến nó không chỉ được sử dụng thành công trong lĩnh vực tổ chức và phát triển cộng đồng mà còn mang lại những
15
Nguyễn Thị Oanh, Giáo dục chủ động
Trang 30kết quả ưu việt hơn so với phương pháp giáo dục truyền thống Thực tế cho thấy, phương pháp giáo dục chủ động được sử dụng nhiều trong công tác truyền thông bao gồm cả truyền thông KNS
1.2.1.2 Khái niệm và các nguyên tắc trong phương pháp giáo dục chủ động
“Giáo dục chủ động là phương pháp tạo ra sự tham gia tích cực của học viên
Theo Ths Nguyễn Thị Oanh, phương pháp giáo dục chủ động tuân theo 4 nguyên tắc: học là thay đổi, người học là trung tâm của quá trình học, học tốt nhất
4 nguyên tắc làm nên sự khác biệt cơ bản giữa giáo dục truyền thống và giáo dục chủ động Các nguyên tắc này phù hợp với mục tiêu của giáo dục KNS, chính vì thế ngày nay nhiều trường học và các trung tâm đào tạo giá trị sống và kỹ năng sống chọn làm phương pháp để trang bị, giáo dục kỹ năng sống cho người học
1.2.1.3 Các phương pháp trong giáo dục chủ động
Triết gia cổ đại Lão Tử từng nói: “Cái gì ta nghe ta quên, cái gì ta thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết” Phải tự mình làm mới biết Các nhà tâm lý giáo dục khẳng định: 10% đọc, 20% nghe, 30% thấy, 50% nghe và thấy (các phương tiện nghe nhìn), 80% nói (đối thoại với thầy, thảo luận nhóm), 90% nói và làm điều chúng ta
dục này Giáo dục chủ động bao gồm các phương pháp: trò chơi, khởi động và xây dựng bầu khí, kể chuyện, động não, thảo luận nhóm, sắm vai, hình ảnh, chiếu phim, lập phiếu, phân nhóm, đặt câu hỏi, nghiên cứu tình huống, trò chơi lớn, kịch rối.19
16
Nguyễn Thị Thu Hiền, Bài giảng Giáo dục cộng đồng 1
17 Nguyễn Thị Oanh, Giáo dục chủ động
Trang 31Có thể thấy đây là những phương pháp trong đó người học chính là trung tâm của quá trình dạy học Người học không chỉ được cung cấp thông tin mà còn nhận thức và thay đổi hành vi sao cho phù hợp Giáo dục chủ động mang lại hiệu quả to lớn trong truyền thông, giáo dục KNS, tạo điều kiện cho người học nâng cao năng lực lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau Quyết định cuối cùng là từ người học
Với những phương pháp đã liệt kê ở trên, có thể thấy giáo dục chủ động có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu mà giáo dục KNS đề ra nhằm giúp người học thay đổi hành vi Cụ thể, người học không chỉ thực tập, thực hành trong khi học mà còn làm bài tập ở nhà, đi thực địa, tham gia các phong trào, các dự án… Ví dụ học về môi trường có thể đi du khảo, tham gia làm sạch đường phố Học về trật tự an toàn giao thông có thể có những trò chơi về luật đi đường, quan sát tình hình giao thông rồi
1.2.2 Năng động nhóm trong giáo dục KNS cho học sinh THCS
Thảo luận nhóm là phương pháp quan trọng và phổ biến nhất trong truyền thông, giáo dục KNS Sau rất nhiều nghiên cứu thể nghiệm, các nhà khoa học đã khẳng định nhóm nhỏ là môi trường thuận lợi để thay đổi hành vi Trong nhóm nhỏ (không quá 7 – 9 người) người ta mới tham gia tích cực Bên cạnh đó, các mối tương tác giữa nhóm viên làm cho họ ảnh hưởng lẫn nhau và bắt chước nhau Do vậy, việc nắm vững kiến thức về năng động nhóm góp phần thành công trong truyền thông giáo dục KNS
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh thì năng động nhóm là bộ môn nghiên cứu về
sự vận hành bên trong nhóm, bao gồm các vấn đề như các giai đoạn phát triển của nhóm, cơ cấu nhóm, mối tương tác truyền thông giữa các nhóm viên, các vai trò được thể hiện trong nhóm, trong đó vai trò lãnh đạo là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của nhóm, quy tắc của nhóm, ảnh hưởng của nhóm trên hành vi của cá
20 X Nguyễn Thị Oanh (2008) Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, trang 31 - 32
21 Nguyễn Ngọc Lâm (2006), Công tác xã hội nhóm, trang 55
Trang 32Tác giả đề xuất những kỹ năng để tác động vào nhóm trong truyền thông giáo dục KNS gồm: Thứ nhất, tạo bầu không khí dân chủ, thoải mái để nhóm viên đưa
ra kinh nghiệm, nhận thức mới hay những quyết định hành động Thứ hai, tác động kịp thời khi nhóm có bế tắc, để thay đổi quy trình nhóm cho phù hợp.Thứ ba, biết tạo bầu không khí tranh luận sôi nổi để cọ xát các giá trị, các lập trường khác nhau giúp học viên chấp nhận hay không chấp nhận những ý kiến khác biệt Thứ tư, biết nắm phản hồi của nhóm khi sinh hoạt kết thúc Thứ năm, uyển chuyển nhưng bám
Như vậy, có thể thấy việc vận dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp của giáo dục chủ động góp phần quan trọng nhằm đạt đến mục tiêu giáo dục KNS, trong đó quan trọng nhất là kiến thức và kỹ năng của năng động nhóm
1.3 Những đặc điểm tâm lý điển hình của học sinh trung học cơ sở
Một trong những yêu cầu quan trọng đối với người làm công tác truyền thông giáo dục KNS là sự am hiểu tâm lý phát triển của từng nhóm đối tượng Vì giáo dục KNS không chỉ cung cấp kiến thức và kỹ năng mà còn thay đổi hành vi người học, cho nên việc nắm bắt nhu cầu của học viên sẽ giúp người làm công tác truyền thông giáo dục KNS tìm ra các biện pháp hiệu quả trong việc tác động đến nhận thức của họ
Do đó, người làm công tác truyền thông giáo dục KNS cần phải được trang bị kiến thức về tâm lý lứa tuổi, hiểu rõ những đặc điểm tâm lý chung cũng như cá biệt của mỗi giai đoạn lứa tuổi để có thể tác động giáo dục hiệu quả nhất đến đối tượng
Vì lý do trên, chúng tôi tập trung tìm hiểu về tâm lý lứa tuổi học sinh THCS để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, tạo nền tảng khoa học để tiến hành nghiên cứu thử nghiệm tác động
22 Nguyễn Thị Oanh (2010), Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, trang 39
23 X Bùi Văn Trực (2011) Phương pháp giản dạy kỹ năng sống, trang 29 – 30 và Nguyễn Thị Oanh, Giáo dục chủ động
Trang 331.3.1 Khái niệm học sinh
Có nhiều định nghĩa khác nhau về học sinh Từ điển tiếng Việt (web www.vdict.com) định nghĩa “học sinh là trẻ em học tập ở nhà trường” Đây là cách định nghĩa đã giới hạn học sinh ở độ tuổi trẻ em tức là dưới 18 tuổi theo pháp
Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa học sinh là người học trong các nhà trường (phổ thông, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp) Học sinh cao đẳng, đại học là sinh viên, học sinh các trường Trung học và Cao đẳng sư phạm là giáo sinh
Từ “học sinh” còn được dùng để chỉ người đi học một nghề nào đó (ví dụ, học sinh
Luật Giáo dục (2005), điều 83 quy định: học sinh là tên gọi chỉ người đang học tập tại các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm cơ sở giáo dục phổ thông, lớp dạy nghề, trung tâm dạy nghề, trường trung cấp, trường dự bị đại
Như vậy, học sinh là danh từ chung dùng để chỉ những người đang học ở bậc phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.2 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh trung học cơ sở
Học sinh THCS thông thường có độ tuổi từ 11 – 15 tuổi Do đó, lứa tuổi học sinh THCS còn được gọi là tuổi vị thành niên hay lứa tuổi thiếu niên Cùng với sự biến đổi mạnh mẽ về thể chất, điều kiện xã hội của sự phát triển tâm lý của thiếu niên cũng có thay đổi cơ bản so với lứa tuổi trước đó - lứa tuổi nhi đồng
Sự phát triển đột biến về cơ thể, với đặc trưng là sự dậy thì, là yếu tố chi phối mạnh mẽ sự phát triển tâm lý lứa tuổi thiếu niên Đây là giai đoạn bứt phá lần thứ hai trong suốt cuộc đời cá nhân
Lứa tuổi học sinh THCS có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi
24
Theo link: http://vdict.com/h%E1%BB%8Dc%20sinh,3,0,0.html
25 Theo link :http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1CEAaWQ9MTAyNz
26 Luật giáo dục (2010), trang 69
Trang 34khó bảo”, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị” Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành), điều này tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của lứa tuổi thiếu niên Ở các em có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn” Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt: Những điểm yếu của hoàn cảnh kìm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau: Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập, trong khi còn quan hệ với bạn gái như trẻ con
Mối quan hệ nhóm đồng đẳng trong giai đoạn này hết sức quan trọng Đối với một số cá nhân, việc tìm kiếm bản sắc có thể tiến hành thông qua cá tính riêng biệt tiềm ẩn trong bản sắc nhóm
Đối với một số ít thanh thiếu niên, một trong những rối loạn đáng lo nhất ở tuổi này là chứng trầm cảm Trầm cảm là nguyên nhân thường thấy của việc tự tử
Trang 35Theo nghiên cứu của Rutter27 năm 1993 thì chứng rối loạn mang tính trầm cảm ở tuổi thanh thiếu niên có liên quan tới: Thứ nhất, suy nghĩ tiêu cực về thế giới và tương lai Thứ hai, tổn thương về mặt xã hội Thứ ba, triệu chứng suy nhược, có
Như vậy có thể thấy, trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên hay lứa tuổi học sinh THCS có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm
xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên sẽ giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một
1.4 Lý thuyết nghiên cứu
1.4.1 Thuyết hành vi
Thuyết hành vi cho rằng hành vi con người có thể thay đổi, điều chỉnh được qua học tập có điều kiện Những đại diện tiêu biểu của thuyết hành vi là A Lazarus, B.F Skinner, A Bandera… Thuyết tập trung vào những hành vi hiện tại, tìm hiểu những điều kiện gây ra hành vi không thích ứng của thân chủ đồng thời tạo những điều kiện thuận lợi để thân chủ thay thế bằng hành vi thích hợp, giúp họ học được những khuôn mẫu hành vi hiệu quả hơn Tuy không bỏ qua nhưng trường phái này không
đề cao việc thay đổi nhận thức, tình cảm của chủ thể hành vi Mối quan hệ tin tưởng
27 Sinh năm 1933 Ông được đào tạo về y học thần kinh và nhi khoa trước khi chuyên tâm thần học Ông nghiên cứu về bệnh tự kỷ, trầm cảm, hành vi chống đối xã hội, đọc khó, tước đoạt trẻ em, trẻ em hoạt động quá mức, hiệu quả trường học với trẻ em có vấn đề tâm thần
28 X Nguyễn Thị Nhẫn, Huỳnh Minh Hiền (2011), An sinh nhi đồng và gia đình, trang 52 - 54
29 X Nguyễn Thị Ánh Hồng (2000), Tập bài giảng Tâm lý học lứa tuổi; Vũ Thị Nho (2008), Tâm lý học phát triển; Dương Thị Diệu Hoa (2008) Tâm lý học phát triển; Đỗ Hạnh Nga, Tâm lý học phát triển
30 X Bùi Thị Xuân Mai (2008), Giáo trình tham vấn, trang 90 - 93
Trang 36Một số kỹ thuật được sử dụng để thay đổi, điều chỉnh hành vi trong liệu pháp này là:
sử dụng củng cố tích cực, sử dụng củng cố tiêu cực, lịch áp dụng những phần
Chúng tôi vận dụng học thuyết này để tìm hiểu cơ chế vận hành các loại hành vi (tích cực, tiêu cực) của học sinh Đồng thời áp dụng các kỹ thuật trong thay đổi hành vi ở phần thử nghiệm KNS
1.4.2 Lý thuyết xã hội hóa
Trong lý thuyết này chúng tôi tìm hiểu về quá trình xã hội hóa cá nhân trong mối tương tác giữa cá nhân với các môi trường gia đình, nhà trường và xã hội
Xã hội hóa cá nhân là quá trình trong đó cá nhân với tư cách là một sinh vật vốn có những đặc tính sinh học nhất định, tương tác với xã hội, thông qua sự giao tiếp, học tập, hoạt động mà tập nhiễm những phẩm chất cần có để sống trong xã hội Xã hội hóa cá nhân là quá trình hình thành nhân cách: chiếm lĩnh ngôn ngữ và thế giới văn hoá, hình thành những tình cảm xã hội (tình cảm về phẩm giá, về trách nhiệm ), lĩnh hội những chuẩn mực xã hội (về pháp quyền, về đạo đức ), tiếp thu những quan niệm, niềm tin, định hướng giá trị, định hướng hành vi Xã hội hóa
cá nhân không phải chỉ là kết quả một chiều xã hội tác động đối với cá nhân, mà
xuất ra con người với tư cách là con người như thế nào thì con người cũng sản xuất
ra xã hội như thế" (K.Marx) Nội dung, cơ chế của quá trình xã hội hóa cá nhân thay đổi tuỳ theo cấu trúc kinh tế - xã hội của xã hội trong những thời đại lịch sử
Nghiên cứu lý thuyết xã hội hóa giúp chúng tôi đánh giá mức độ ảnh hưởng tác động của các môi trường xã hội hóa cá nhân gồm gia đình, nhà trường và xã hội đối với việc trang bị, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
31 X Nguyễn Thơ Sinh (2006), Tư vấn tâm lý căn bản, trang 187
32 X Trần Thị Kim Xuyến và Nguyễn Thị Hồng Xoan (2007), Nhập môn xã hội học, trang 146 - 156
33
Theo Link: http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1CEAaWQ9MTAyNz
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua những tài liệu mà chúng tôi tìm hiểu được thì những nghiên cứu về KNS trên thế giới khá phong phú Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về KNS vẫn còn rất hạn chế Giáo dục KNS cho học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng mặc dù đã và đang nằm trong chương trình “Trường học thân thiện – học sinh tích cực” triển khai từ năm học 2009 -2010 Thế nhưng việc đưa môn học KNS vào trường học ở nước ta vẫn còn đang trong quá trình thử nghiệm Việc có một khung chương trình giáo dục KNS cho học sinh ngay tại trường học cả về nội dung và phương pháp cần được tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn từ những nhà quản
lý giáo dục, nhân viên CTXH học đường, các nhà tâm lý học, xã hội học
KNS là “khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu
và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày” KNS được phân loại theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên để làm căn cứ xuyên suốt quá trình nghiên cứu của mình, chúng tôi đã lấy 10 KNS cơ bản cho lứa tuổi thiếu niên theo cách phân loại của WHO làm cơ sở cho cả hai giai đoạn của quá trình nghiên cứu 10 KNS cơ bản này bao gồm: Kỹ năng nhận thức bản thân, kỹ năng suy nghĩ có phán đoán, kỹ năng suy nghĩ sáng tạo, kỹ năng quyết định, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng truyền thông, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ứng phó với cảm xúc
và kỹ năng đối phó với stress
Trong cách tiếp cận về phương pháp giáo dục KNS cho học sinh cùng với nghiên cứu thực nghiệm ở giai đoạn 2 của quá trình nghiên cứu Chúng tôi đã bước đầu triển khai những kiến thức chuyên ngành CTXH như phương pháp giáo dục chủ động trong truyền thông, giáo dục KNS, kiến thức năng động nhóm trong CTXH nhóm làm cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu của mình
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KNS CỦA HỌC SINH THCS 2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn tỉnh Bình Dương 34
Với tọa độ địa lý 10o51' 46" – 11o30' vĩ độ Bắc, 106o20'- 106o58' kinh độ Đông, Bình Dương tiếp giáp với các tỉnh, thành sau: Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước Phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh
Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm 8 tỉnh thành, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và tỉnh Tiền Giang), là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước
Địa hình Bình Dương tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên nhiên phong phú Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa, từ tháng 5 - 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm 1800mm-2000mm Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5oC Diện tích tự nhiên 2.695,22km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ) Dân số 1.482.636 người (1/4/2009), mật độ dân số khoảng 550 người/km2 Có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó thị xã Thủ Dầu Một là trung tâm kinh tế - chính trị
- văn hóa của tỉnh
Bình Dương là cửa ngõ giao thương với TP Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế - văn hóa của cả nước; có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á, cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 - 15 km, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội toàn diện
34
Theo link: http://binhduong.gov.vn/vn/status_pages.php?id=42&idcat=15&idcat2=0&idmenu=gioithieu
Trang 39Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế Bình Dương luôn ở mức cao, GDP tăng bình quân khoảng 14,5%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, năm 2010, tỷ lệ công nghiệp - xây dựng 63%, dịch vụ 32,6% và nông lâm nghiệp 4,4% Hiện nay, Bình Dương có 28 khu công nghiệp và cụm công nghiệp tập trung có tổng diện tích hơn 8.700 ha với hơn 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động
có tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ đôla Mỹ
Với những ưu thế về điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế - xã hội và chính sách lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Bình Dương sẽ tiếp tục phát triển bền vững, trở thành một thành phố văn minh, hiện đại nhất Việt Nam và khu vực Đông Nam Á
Thị xã Dĩ An nằm ở trung tâm khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, giáp 2 thành phố công nghiệp lớn là Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh, gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và cụm cảng Sài Gòn nên có đủ các điều kiện để phát triển
kinh tế - xã hội
Thị xã Dĩ An có 6.010 ha diện tích tự nhiên và 297.435 nhân khẩu; có 7 đơn vị hành chính trực thuộc Gồm các phường: Dĩ An, An Bình, Tân Đông Hiệp, Đông Hòa, Tân Bình, Bình An, Bình Thắng Địa giới hành chính thị xã Dĩ An: Đông giáp quận 9, thành phố Hồ Chí Minh; Tây giáp thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; Nam giáp quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh; Bắc giáp thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
2.1.3 Tổng quan trường THCS Bình An
Trường THCS Bình An toạ lạc tại khu vực trung tâm thị xã, thuộc phường Bình Thung, thị xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, tiếp giáp với hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Biên Hoà Trường nằm giữa hai trục lộ chính là xa lộ Hà Nội và quốc lộ 1K, ở vị trí 1/3 của đường ĐT 743 Trường THCS Bình An tiền thân là trường cấp I và II Bình An, do số lượng học sinh ngày càng đông nên trường đã chính thức tách ra thành trường THCS Bình
Trang 40Theo báo cáo mới nhất của trường THCS Bình An, năm học 2010 – 2011, tổng
số cán bộ, nhân viên, công nhân viên của trường năm học 2010 -2011 là 58 người, giáo viên trực tiếp giảng dạy 41/23 lớp, tỉ lệ 1.78, giáo viên tạm đủ với yêu cầu biên chế
Về học sinh : Trường có 23 lớp với tổng số học sinh :
Đầu năm Cuối năm
2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Để đánh giá vai trò của việc giáo dục KNS cho học sinh THCS, với nơi điển cứu là trường THCS Bình An, Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, cùng với cách chọn mẫu phi xác suất, chúng tôi đã lựa chọn 3/5 lớp 8 thuộc khối 8 trường THCS Bình
An để tiến hành nghiên cứu Ở giai đoạn 1 của quá trình nghiên cứu, số lượng bảng hỏi được phát ra là 115 bảng hỏi Chúng tôi thu về được 109 bảng hỏi và sau quá trình xử lý ban đầu chúng tôi đã loại bỏ 4 bảng hỏi không đạt yêu cầu Như vậy, số lượng bảng hỏi hợp lệ là 105 bảng hỏi Giai đoạn 2 của quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng chọn 3 lớp 8 trong giai đoạn 1 để tiến hành nghiên cứu thực nghiệm
36
Thông tin do trường THCS Bình An cung cấp