Nếu tại Hollywood, các phim hoạt hình sẽ được thu tiếng trước sau đó mới bắt đầu vẽ hình để khớp với giọng người và dựng phối cảnh chuyển động, thì tại Nhật Bản và Việt Nam, việc lồng ti
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: NHẬT BẢN HỌC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2016
Tên công trình:
TÌM HIỂU NGÀNH LỒNG TIẾNG PHIM TẠI NHẬT BẢN
(CÓ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM)
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Châu Ngọc Trâm Anh, Lớp Nhật 1, Khóa 2013 - 2017
Thành viên: Trần Ngọc Vũ Anh, Lớp Nhật 1, Khóa 2013 - 2017
Trần Thị Bội Linh, Lớp Nhật 1, Khóa 2013 - 2017
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Thu Hương, Khoa Nhật Bản học, trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được công trình khoa học này, ngoài sự nỗ lực của bản thân chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ, những góp ý khoa học, những lời chia sẻ, động viên chân thành của quý Thầy Cô giáo và bạn bè
Chúng tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến:
- Thạc sĩ Nguyễn Thu Hương, người đã tận tình hướng dẫn, xem xét và góp ý sửa chữa, giúp đỡ, động viên chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện công trình khoa học này
- Quý Thầy Cô, bạn bè khoa Nhật Bản học, trường ĐHKHXH&NV TPHCM, những người đã tạo mọi điều kiện, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ, động viên chúng tôi khi chúng tôi gặp khó khăn
- Anh Hồng Quốc Tuấn – Giám đốc ACE MEDIA, chị Võ Huyền Chi – Đạo diễn chuyển âm ACE MEDIA, chú Đặng Hạnh Phúc – Diễn viên lồng tiếng HTV3, những người đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc phỏng vấn lấy thông tin, tra cứu tài liệu
để hoàn thành công trình này
Trang 3TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI 1
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài 5
6 Đóng góp mới của đề tài 6
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6
8 Kết cấu của Đề tài 6
CHƯƠNG 1 8
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Thuật ngữ “Seiyuu” 8
1.2 Lịch sử ngành lồng tiếng Nhật Bản 8
1.2.1 Thời kỳ “hoàng kim” của Radio Drama (1925 – 1955) 8
1.2.2 Thời kỳ phim ngoại nhập thịnh hành (1955 – 1970) 11
1.2.3 Thời kỳ phim hoạt hình Anime Nhật Bản phát triển mạnh mẽ (1970 – 1990) 14
1.2.4 Thời kỳ phát triển của khoa học kỹ thuật và chuyển giao thế hệ Seiyuu (1990 – Đến nay) 16
CHƯƠNG 2 18
NGÀNH LỒNG TIẾNG NHẬT BẢN 18
2.1 Sơ lược về ngành lồng tiếng hiện nay 18
2.2 Quá trình lồng tiếng 21
2.3 Hệ thống đào tạo diễn viên lồng tiếng 23
2.4 Công việc của diễn viên lồng tiếng 27
2.5 Ý kiến về ngành lồng tiếng phim hiện tại ở Nhật Bản thông qua khảo sát thực tế 30
CHƯƠNG 3 35
LIÊN HỆ NGÀNH LỒNG TIẾNG TẠI VIỆT NAM 35
3.1 Tổng quan về ngành lồng tiếng tại Việt Nam 35
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 35
3.1.2 Ngành lồng tiếng tại Việt Nam hiện nay 42
3.1.2.1 Thực trạng 42
Trang 43.1.2.3 Cuộc sống của diễn viên lồng tiếng 47
3.2 Tiềm năng và thách thức của ngành lồng tiếng tại Việt Nam 49
3.2.1 Tiềm năng phát triển 49
3.2.2 Những hạn chế và thách thức 50
KẾT LUẬN 52
KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
Trang 5TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Nhật Bản là một quốc gia có nền công nghiệp giải trí và sản xuất phim hoạt hình cực kì phát triển, đóng góp phần lớn sản phẩm vào nền công nghiệp giải trí toàn thế giới Nếu tại Hollywood, các phim hoạt hình sẽ được thu tiếng trước sau đó mới bắt đầu vẽ hình để khớp với giọng người và dựng phối cảnh chuyển động, thì tại Nhật Bản và Việt Nam, việc lồng tiếng là công đoạn gần như cuối cùng vì các diễn viên lồng tiếng phải vừa xem lời thoại vừa nhìn màn hình để khớp với cử động môi của nhân vật Tuy nhiên, đây cũng được xem là công đoạn quan trọng, mang tính quyết định linh hồn của toàn
bộ phim Đa số công ty truyền thông và các hãng thông tấn Nhật Bản hiện nay đều có đội ngũ diễn viên lồng tiếng riêng cho mình Các diễn viên lồng tiếng Nhật Bản thường được đào tạo một cách bài bản từ những trường dạy nghề chuyên nghiệp Hiện nay, các trường đạo tạo liên quan đến công việc lồng tiếng ngày càng tăng tại Nhật Bản, và ngành nghề này đang thu hút rất nhiều đối tượng tham gia Qua những thực tiễn được nêu trên,
ta hoàn toàn có thể đánh giá và xếp ngành lồng tiếng của Nhật Bản vào hàng ngũ các quốc gia phát triển nhất trên thế giới hiện tại
Riêng tại Việt Nam, công việc lồng tiếng phim đã xuất hiện từ khá lâu, và đóng vai trò quan trọng đối với phần lớn phim trong nước cũng như phim nhập từ nước ngoài Đặc biệt, trong thời đại phát triển toàn cầu, Việt Nam đang hội nhập văn hóa với tốc độ ngày càng cao Việc số lượng phim nước ngoài tràn vào Việt Nam ngày càng nhiều, cùng với yêu cầu cao về chất lượng các tác phẩm phim truyện trong nước; đã buộc công việc lồng tiếng phải không ngừng phát triển kỹ thuật và nâng cao chất lượng Trong quá trình đó, lĩnh vực lồng tiếng Việt Nam đã gặp rất nhiều thách thức để tồn tại và đáp ứng được sự đòi hỏi cao của thị trường Từ việc nghiên cứu sự phát triển ngành lồng tiếng phim tại Nhật Bản, chúng tôi hy vọng sẽ tìm ra được các gợi ý cho tình hình của Việt Nam hiện nay
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình làm phim, việc lồng tiếng là công đoạn gần như cuối cùng vì các diễn viên lồng tiếng phải vừa xem lời thoại vừa nhìn màn hình để khớp với cử động môi của nhân vật Tuy nhiên, đây cũng được xem là công đoạn quan trọng, mang tính quyết định linh hồn của toàn bộ phim, do tính cách, cao trào cảm xúc của các nhân vật được truyền tải trực tiếp và chủ yếu dựa vào diễn xuất của các diễn viên lồng tiếng Nhật Bản
là một quốc gia có nền công nghiệp giải trí và phim hoạt hình cực kì phát triển, đóng góp phần lớn sản phẩm vào nền công nghiệp giải trí toàn thế giới Đa số công ty truyền thông và các hãng thông tấn Nhật Bản hiện nay đều có đội ngũ diễn viên lồng tiếng riêng cho mình để đảm bảo về chất lượng, tiêu chuẩn Các diễn viên lồng tiếng Nhật Bản thường được đào tạo một cách bài bản từ những trường dạy nghề chuyên nghiệp Hiện nay, các trường đạo tạo liên quan đến công việc lồng tiếng ngày càng tăng tại Nhật Bản, và ngành nghề này đang thu hút rất nhiều đối tượng tham gia
Về phía Việt Nam ta, công việc lồng tiếng phim đã xuất hiện từ khá lâu, đóng vai trò quan trọng đối với phần lớn phim trong nước cũng như phim nhập từ nước ngoài Đặc biệt, trong thời đại phát triển toàn cầu, Việt Nam đang hội nhập văn hóa với tốc độ ngày càng cao, vì vậy nên số lượng phim nước ngoài nhập vào Việt Nam ngày càng tăng; cùng với yêu cầu cao về chất lượng các tác phẩm phim truyện trong nước đã buộc công việc lồng tiếng phải không ngừng phát triển về kỹ thuật và nâng cao chất lượng Tuy đứng trước những cơ hội và nhu cầu phát triển ấy, nhưng ngành lồng tiếng tại Việt Nam vẫn còn tồn đọng nhiều mặt hạn chế, và hiện tại đang phải đối mặt nhiều thách thức để tồn tại, để đáp ứng sự đòi hỏi cao của thị trường Với tốc độ phát triển chậm, thái độ đánh giá tiêu cực của số lượng lớn người xem, cũng như một vài hạn chế khác, ngành lồng tiếng tại Việt Nam đang rất cần một nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu và chi tiết, nhằm xác định nguồn gốc của các khuyết điểm còn tồn động, từ đó vạch ra hướng phát triển hợp lý trong tương lai
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi tìm hiểu của nhóm nghiên cứu chúng tôi, hiện tại số lượng các tài liệu, công trình khóa học nghiên cứu cụ thể về ngành lồng tiếng, tình hình phát triển
Trang 7 Bài báo “Lồng tiếng phim: Cứu tinh hay tội đồ?” (2014, Báo Thể thao và Văn
hóa, tác giả Ninh Lộc, Văn Bảy, Huyền Thơ) Bài báo chia sẻ góc nhìn nhiều chiều tại Việt Nam về nghề lồng tiếng và phim lồng tiếng Bên cạnh đó còn đưa ra số liệu về số lượng kênh truyền hình, số lượng tập phim trung bình được chiếu hằng năm và chất lượng thực tế Bài báo chỉ rõ những hạn chế còn tồn tại hiện nay đối với vấn đề lồng tiếng phim trong nước, và nêu lên quan điểm của nhiều người trong nghề, từ nhà sản xuất phim đến đạo diễn lồng tiếng
Bài báo “Hậu trường diễn viên lồng tiếng” (2014, Mực tím Online, tác giả Quốc Duy), bài báo “Nguyễn Đạt Phi: Thành công là được làm việc mình thích” (2013,
VnExpress, tác giả Phương Thảo) Thông qua buổi phỏng vấn với các diễn viên lồng tiếng nổi tiếng, hai bài báo mang đến cho người đọc một cái nhìn chân thật hơn về cuộc sống của một diễn viên lồng tiếng và những khó khăn trong quá trình làm nghề của họ
Sách “Thuật ngữ Báo chí – Truyền thông” (2007, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, Phạm Thành Hưng) Sách trình bày các khái niệm của những thuật ngữ liên quan đến ngành Báo chí – Truyền thông một cách cơ bản nhất, theo thứ tự bảng chữ cái Alphabet, nhằm phục vụ mục đích tham khảo và nghiên cứu Trong đó, có trình bày rõ ràng và khái quát khái niệm thuật ngữ “Lồng tiếng” Tuy nhiên, sách chỉ thực hiện phần định nghĩa các thuật ngữ như một cuốn từ điển chuyên ngành bỏ túi, ngoài ra, không hề giải thích thêm gì về những vấn đề khác xung quanh thuật ngữ đó
Về phía Nhật Bản, ngành lồng tiếng phim thường xuyên được cập nhật và đề cập trong các bài báo, tuy vậy các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngành lồng tiếng
Trang 8Các công trình nghiên cứu của nước ngoài về ngành lồng tiếng rất hạn chế, chủ yếu chỉ được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu liên quan
Sách “The Art of Watching Films – 7 th Edition” (2012, NXB McGraw-Hill): Sách
giới thiệu về các thuật ngữ và phương diện cần chú ý đến để có thể thưởng thức được những nét nghệ thuật của một bộ phim, cũng như đưa ra một số phim Mỹ nổi tiếng để làm ví dụ Trong đó, cuốn sách giải thích sâu về thuật ngữ “Lồng tiếng” và nêu lên việc lồng tiếng có tác động như thế nào đến khán giả xem phim; diễn viên lồng tiếng phải
có những nhiệm vụ và phương thức thực hiện như thế nào để có thể truyền đạt được nét nghệ thuật của phim đến với người xem Sách cũng đi vào những ưu và khuyết điểm của việc lồng tiếng thông dịch cho các phim nước ngoài và so sánh nó với việc phụ đề hoặc thuyết minh phim
Tất cả các tư liệu trên đều rất quan trọng trong việc giúp chúng tôi hình thành những cơ sở lý luận đầu tiên về đề tài này
3 Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Để có thể khắc phục những nhu cầu cấp thiết trên của ngành lồng tiếng tại Việt Nam và đề ra được hướng phát triển hiệu quả, việc nghiên cứu, học hỏi từ kinh nghiệm thực tiễn và hướng phát triển của ngành lồng tiếng tại các quốc gia đã phát triển là một bước vô cùng quan trọng Với nhiều nét tương đồng về văn hóa phương Đông, vị trí địa
lý, cũng như thị hiếu của người dân, có thể khẳng định Nhật Bản là quốc gia chúng ta nghiên cứu kinh nghiệm và ứng dụng vào Việt Nam một cách hiệu quả, tối ưu nhất; từ
đó sẽ tạo nên đà phát triển hợp lý cho ngành lồng tiếng của nước nhà, vốn đang tồn đọng nhiều hạn chế và khó khăn
Trang 9Đó là lý do chúng tôi chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu lịch sử hình thành, quá trình phát triển, những khó khăn ngành lồng tiếng tại Nhật Bản đã vấp phải trong quá khứ cùng với hướng giải quyết, phát triển để đạt được vị trí hàng đầu như hiện tại, từ đó chúng tôi hi vọng có thể tìm được những điểm tương đồng với những khó khăn, hạn chế hiện tại của ngành lồng tiếng tại Việt Nam, ứng dụng những kinh nghiệm đã nghiên cứu được để vạch ra một hướng phát triển rõ ràng, cụ thể
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận dựa trên những thông tin sẵn có về ngành lồng tiếng để hình thành ngành lồng tiếng tại Việt Nam và Nhật Bản
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: dựa vào các đài báo, phương tiện truyền thông, tài liệu nghiên cứu để có trong tay số liệu cần thiết (số lượng diễn viên lồng tiếng Nhật Bản và Việt Nam, số lượng các công ty tài năng phụ trách, số lượng các trường đào tạo ngành nghề lồng tiếng,…) để có thể xác định được tốc độ phát triển và hướng phát triển của ngành lồng tiếng tại Việt Nam và Nhật Bản
- Phương pháp so sánh: từ những thông tin sẵn có về ngành lồng tiếng tại Việt Nam
và Nhật Bản, tiến hành so sánh, đánh giá và đưa ra đề xuất cần thiết cho Việt Nam trong tương lai sắp tới
- Phương pháp điều tra: thu thập, khảo sát ý kiến của người xem tại Việt Nam và Nhật Bản về sở thích, quan điểm đối với ngành lồng tiếng và tác động của nó, từ đó phát hiện những ưu, khuyết điểm, mặt hạn chế còn tồn đọng để so sánh, đánh giá Phỏng vấn diễn viên lồng tiếng trong nước để tìm hiểu công việc, cuộc sống của họ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài
Đối tượng: ngành lồng tiếng phim tại Nhật Bản và Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: đề tài chủ yếu được giới hạn tại Nhật Bản (1945 – 2015) và Việt Nam (2000 – 2015) đây là giai đoạn ngành lồng tiếng bắt đầu được hình thành
Trang 106 Đóng góp mới của đề tài
Thứ nhất, đề tài là một trong những đề tài đầu tiên nghiên cứu cụ thể về ngành lồng tiếng tại Việt Nam, cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình hình phát triển, ưu điểm và những hạn chế của ngành lồng tiếng tại Việt Nam
Thứ hai, cho một cái nhìn tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển, thực trạng, công nghệ của ngành lồng tiếng tại Nhật Bản từ giai đoạn 1945 đến 2015 Thứ ba, từ những giải pháp mà Nhật Bản đã đề ra để giải quyết những khó khăn ban đầu gặp phải trong quá trình hình thành ngành lồng tiếng phim, đề tài nêu ra những bài học kinh nghiệm có thể rút ra được mà Việt Nam cần lưu ý để định hướng phát triển ngành lồng tiếng trong tương lai
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt khoa học, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp tài liệu tổng quát về ngành lồng tiếng phim tại Nhật Bản và Việt Nam
Về mặt thực tiễn, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành, phát triển, thực trạng hiện tại của ngành lồng tiếng tại Nhật Bản và tại Việt Nam để có thể liên hệ, so sánh, là nguồn tham khảo cho các tổ chức muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này, ứng dụng vào phát triển ngành lồng tiếng tại Việt Nam
8 Kết cấu của Đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương này giới thiệu sơ lược về Nhật Bản, lịch sử phát triển của ngành lồng tiếng tại Nhật Bản, vị thế hiện tại và tầm quan trọng của nó Bên cạnh đó, chương cũng giải thích qua một số thuật ngữ khác liên quan đến ngành lồng tiếng và một số khái niệm dễ bị nhận định nhầm với khái niệm “lồng tiếng”
Chương 2: Ngành lồng tiếng của Nhật Bản
Phần này nghiên cứu chi tiết về ngành lồng tiếng của Nhật Bản, cụ thể là việc đào tạo các diễn viên lồng tiếng, cách thức vận hành của các trung tâm quản lý diễn
Trang 11viên lồng tiếng Bên cạnh đó, chương cũng đi vào các kỹ thuật, kỹ năng cần thiết của một diễn viên lồng tiếng, những khó khăn thường gặp phải
Chương 3: Liên hệ đến ngành lồng tiếng tại Việt Nam
Phần này đi sơ lược về lịch sử và tình hình phát triển của ngành lồng tiếng ở Việt Nam, nêu lên những ưu điểm và khuyết điểm còn tồn tại lại, phân tích sâu những phê bình của khán giả về lồng tiếng tại Việt Nam Từ đó, áp dụng những gì đã nghiên cứu
về ngành lồng tiếng tại Nhật Bản ở các chương trước để đề xuất, gợi ý giải pháp khả thi nhằm cải thiện tình hình phát triển ngành lồng tiếng trong nước
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
「声だけで出演する俳優。アニメーションやテレビゲームなどのキャ
Nghĩa là người diễn viên chỉ phô diễn mỗi về phần giọng nói, thực hiện việc lồng tiếng cho các phim truyện ngoại nhập, đóng góp giọng nói cá nhân cho các thể loại nhân vật hoạt hình (Anime) hoặc TV Game và một số thể loại sản phẩm giải trí tương tự
1.2 Lịch sử ngành lồng tiếng Nhật Bản
Để có thể trở thành một ngành nghề phát triển như hiện tại, ngành lồng tiếng tại Nhật Bản đã đi qua một quá trình lịch sử trải dài từ giữa những năm 20 của thế kỷ XIX cho đến nay và có thể được chia ra thành bốn thời kỳ phát triển khác nhau
1.2.1 Thời kỳ “hoàng kim” của Radio Drama (1925 – 1955)
Radio Drama (tức chuyên mục truyện kịch phát thanh) có thể được xem như là cột mốc đầu tiên đánh đấu sự xuất hiện của ngành lồng tiếng phim tại Nhật Bản Vào tháng 3 năm 1925, đài phát sóng Tokyo (tiền thân của đài truyền hình NHK sau này) chính thức bắt đầu lên sóng những chương trình radio đầu tiên Ngay sau đó một tháng, chuyên mục “Lời thoại phim truyện” đã được phát sóng, với nội dung lồng lời thoại cho
bộ phim câm “大地は微笑む (Daichi wa Hohoemu)” Khác với những chuyên mục khác trên radio lúc bấy giờ, chuyên mục này đòi hỏi người dẫn phải có khả năng diễn xuất, có thể truyền tải được cảm xúc của nhân vật trong truyện chỉ qua giọng nói Vậy
1 http://dictionary.goo.ne.jp/jn/122903/meaning/m0u/%E5%A3%B0%E5%84%AA/
Trang 13nên, các diễn viên thuộc trường phái phim mới như 井上正夫 (Inoue Masao), 栗島す
み子 (Kurishima Sumiko) được mời lồng tiếng Đến tháng 7, thêm những dấu hiệu khác của sự ra đời ngành lồng tiếng phim xuất hiện, khi vở kịch “桐一葉 (Kirihitoha)” được tái diễn và ghi âm lại trong phòng thu, sau đó được phát sóng trên Radio; cùng với sự
ra mắt của Radio Drama đầu tiên của đất nước Nhật Bản mang tên “大尉の娘 (Taii no Musume)”, với sự tham gia lồng tiếng của các diễn viên 井上正夫 (Inoue Masao) và 水谷八重子 (Mizutani Yaeko) Tháng 9 năm 1925 đánh dấu cột mốc quan trọng đầu tiên đối với ngành lồng tiếng phim Nhật Bản, khi đài phát sóng Tokyo cho ra mắt công chúng những thực tập sinh đầu tiên của chuyên ngành diễn xuất bằng giọng nói cho các Radio Drama Trong hơn 100 ứng cử viên khác nhau, 12 giọng nữ được chọn lọc và thủ vai trong bộ Radio Drama “太っちょう (Futocchou)”, được phát sóng vào tháng 11 cùng năm Theo nhiều nguồn tư liệu khác nhau về lịch sử ngành lồng tiếng, 12 nữ diễn viên trên về sau được cho là “Thế hệ Seiyuu đầu tiên của Nhật Bản” Tuy nhiên lúc bấy giờ, thuật ngữ “声優 (Seiyuu)” vẫn chưa xuất hiện, và các bài báo đều gọi họ bằng thuật ngữ “ラヂオ役者 (Rajio Yakusha)”, tức diễn viên Radio Một trong những nữ diễn viên lồng tiếng hoạt động tiêu biểu trong giai đoạn này có thể kể đến đó là 飯島綾
子 (Iijima Ayako)
Vào năm 1941, đài NHK tuyên bố mở chương trình đào tạo các diễn viên chuyên
về lồng tiếng các Radio Drama mang tên “東京中央放送局専属劇団俳優養成所 (Tokyo Chuuou Housou Kyoku Senzoku Gekidan Haiyuu Yousei Sho)”, tạm dịch “Cơ quan đào tạo độc quyền diễn viên đài phát thanh trung ương Tokyo” Sau một năm hoàn tất chương trình đào tạo, thế hệ đầu tiên tốt nghiệp được ra mắt công chúng, đồng thời cũng được cho là “Thế hệ Seiyuu thứ hai của Nhật Bản”2, và cũng chính từ giai đoạn này, thuật ngữ “声優 (Seiyuu)” bắt đầu xuất hiện Có hai giả thuyết về nguồn gốc sáng lập ra thuật ngữ “声優 (Seiyuu)”: có thể thuật ngữ trên đã được sáng lập ra bởi nhà báo 小林徳三郎 (Kobayashi Tokusaburo) của tờ 読売新聞 (Yomiuri Shimbun) trong một bài viết thuộc chuyên mục giải trí; một giả thiết khác đó là thuật ngữ trên được đặt ra bởi chính giám đốc sản xuất chương trình giải trí của đài NHK, ông 大岡龍男 (Ooka
書房新社 (NXB Kawade Shobo) Tr 18-19
Trang 14Tatsuo)3 Ở giai đoạn đầu tiên này thì thuật ngữ “声優 (Seiyuu)” được dùng để chỉ những diễn viên thuộc các đội ngũ chuyên lồng tiếng cho các Radio Drama của đài phát thanh, tiêu biểu như đội truyện kịch phát thanh đài Tokyo (東京放送劇団 – Tokyo Housougeki Dan) Về sau đến giai đoạn thịnh hành của các chương trình truyền hình,
“声優 (Seiyuu)” dần được thay đổi thành thuật ngữ để chỉ cả các diễn viên lồng tiếng cho các phim và các Anime
Vào năm 1951, đài phát thanh tư nhân Radio Tokyo (ラジオ東京), nay là đài phát thanh và truyền thông TBS (TBS ラジオ&コミュニケーションズ – TBS Radio
& Communications), chính thức lên sóng lần đầu tiên, độc quyền sáng lập ra đội truyện kịch phát thanh đài Tokyo (東京放送劇団 – Tokyo Housougeki Dan), về sau đổi tên thành đội truyện kịch phát thành đài TBS (TBS 放送劇団 – TBS Housougeki Dan) Đến năm 1957, đài phát thanh Radio Tokyo bắt đầu phát sóng bộ Radio Drama nhiều tập mang tên “赤胴鈴之助 (Akadou Suzunosuke)” và nhận được sự ủng hộ, theo dõi nhiệt tình từ phía trẻ em Nhật Bản lúc bấy giờ Vì thời điểm này truyền hình vẫn chưa
ra đời và phát thanh dường như là phương tiện truyền thông chủ yếu, cho nên diễn viên lồng tiếng cho các bộ Radio Drama trở nên rất nổi tiếng và rất được lòng mến mộ của công chúng Điển hình như việc các diễn viên lồng tiếng nhân vật chính thuộc đội truyện kịch đài phát thanh Nagoya liên tiếp mỗi tháng nhận được hàng chục thư cám ơn từ phía người hâm mộ4 Ngoài việc nhận được lòng mến mộ, các diễn viên lồng tiếng còn thường xuyên được xuất hiện trên báo chí qua các bài viết phỏng vấn, phóng sự về ngành giải trí truyền thông, khiến cho lượng người muốn trở thành diễn viên lồng tiếng tại Nhật Bản lúc bấy giờ cũng nhanh chóng tăng theo Đến năm 1953, chương trình tuyển dụng thành viên thế hệ thứ năm cho đội truyện kịch phát thanh đài Tokyo của NHK tuy chỉ tuyển ở mức 10 thành viên, nhưng lại có đến 6000 đơn nộp ứng cử khác nhau
集 ” (Lịch sử diễn viên lồng tiếng: từ phim hoạt họa đến phim ngoại nhập – Bản đặc biệt cho phim hoạt họa) 近 代映画社 (NXB Kindai Eiga) Tr 174
kịch thời đại truyền hình từ năm 1953-1998) 東京新聞出版局 (NXB Tokyo Shinbun) Tr 20-21
Trang 15Về phần lồng tiếng cho phim hoạt hình trong giai đoạn giai đoạn này, vào năm
1933, phim hoạt hình ngắn có lời thoại đầu tiên của Nhật Bản “力と女の世の中 (Chikara to Onna no Yononaka)” được chính thức công chiếu, với sự tham gia lồng tiếng của các diễn viên điện ảnh lớn, điển hình như nhân vật chính được lồng bởi diễn viên hài 古川ロッパ (Furukawa Roppa) Năm 1942, phim hoạt hình của Trung Quốc
“西遊記・鉄扇姫の巻 (Saiyuuki - Tessen Hime no Maki)” được công chiếu tại Nhật Bản, và các nghệ sĩ thuyết minh cho các bộ phim câm như 徳川夢声 (Tokugawa Musei), 山野一郎 (Yamano Ichirou) được mời lồng tiếng cho các nhân vật
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các công ty sản xuất phim hoạt hình tư nhân như công ty 東映動画 (Touei Douga) được thành lập, phim hoạt hình Nhật Bản liên tiếp được ra đời, và các nghệ sĩ hài, diễn viên điện ảnh và diễn viên lồng tiếng cho các Radio Drama thường xuyên được mời góp giọng Đồng thời với sự phát triển của TV
và truyền hình, xu hướng lồng tiếng tại Nhật Bản đang dần chuyển sang các bộ phim phương Tây
1.2.2 Thời kỳ phim ngoại nhập thịnh hành (1955 – 1970)
Vào những ngày đầu phát triển của các hãng truyền thông tư nhân tại Nhật Bản sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, vấn đề cạnh tranh nguồn nhân lực đạo diễn và diễn viên giữa các công ty trong ngành công nghiệp điện ảnh luôn là vấn đề nhạy cảm và tồn đọng qua nhiều năm Đến năm 1961, Thỏa hiệp Năm Công ty được ký kết (五社協定 – Gosha Kyoutei) giữa 5 hãng truyền thông giải trí tư nhân lớn của Nhật Bản: Shouchiku, Touhou, Daiei, Shintouhou, Touei Theo thỏa hiệp trên, các thành viên đồng ý tuân theo hai điều Một là, nghiêm cấm việc ký kết, thuê diễn viên – đạo diễn thuộc các công ty thành viên còn lại Hai là, nghiêm cấm việc cho phép các hãng thành viên còn lại thuê, mượn diễn viên – đạo diễn thuộc công ty mình
Sau khi thỏa hiệp trên được ký kết, tuy vấn đề cạnh tranh nhân lực cơ bản được giải quyết, vì vốn bản thân đội ngũ đạo diễn – diễn viên của mỗi công ty có giới hạn, dẫn đến việc năng suất sản xuất phim của ngành công nghiệp điện ảnh Nhật Bản giai đoạn này tụt xuống rõ rệt Nửa đầu thập kỷ 1960, số lượng phim Nhật sản xuất trở nên
ít dần, và những khoảng trống trong khung chương trình của các đài truyền hình đang dần xuất hiện Để lấp vào những khoảng trống đó, các hãng truyền thông của Nhật Bản
Trang 16đã nhập số lượng lớn phim nước ngoài, đặc biệt là các phim từ phương Tây và từ Mỹ,
và lồng tiếng lại để phát sóng trên truyền hình Bối cảnh này là cơ hội lớn đã giúp cho
số lượng và độ nổi tiếng của các diễn viên lồng tiếng nhanh chóng tăng vọt Điển hình
có thể kể đến đó là diễn viên lồng tiếng 野沢那智 (Nozawa Nachi), chuyên thu giọng cho các vai của tài tử điện ảnh người Pháp Alain Delon, rất được lòng người hâm mộ Phim nước ngoài lồng tiếng Nhật đầu tiên được phát sóng là một tập của phim hoạt hình Mỹ “Superman” vào ngày 9 tháng 10 năm 1955 trên kênh KRT (tiền thân của TBS hiện tại), và phim người đóng ngoại nhập lồng tiếng Nhật đầu tiên được phát sóng
là bộ phim “Cowboy G-men” vào đầu năm 1956, cũng do kênh KRT phát sóng Tuy nhiên cả hai chương trình trên đều được lồng tiếng trực tiếp Phim với bản lồng tiếng được thu âm trước lồng ghép vô đầu tiên được phát sóng đó là bộ phim hoạt hình “テレビ坊やの冒険 (Terebi Bouya no Bouken)” vào ngày 8 tháng 4 năm 1956
Vào năm 1966, chương trình “土曜洋画劇場 (Doyou Youga Gekijou – Phim truyện Tây thứ Bảy)”, nay đổi thành “日曜洋画劇場 (Nichiyou Youga Gekijou – Phim truyện Tây Chủ Nhật), chính thức được bắt đầu phát sóng hằng tuần, với đội ngũ diễn viên lồng tiếng nổi tiếng cố định không đổi
Vì các quy định ép buộc từ Thỏa hiệp Năm Công ty cùng với vấn đề về mức lương, cho nên phần lớn các diễn viên điện ảnh và truyền hình không chọn đi theo con đường lồng tiếng cho phim ngoại Phần lớn các diễn viên lồng tiếng cho các phim nước ngoài này xuất thân là diễn viên lồng tiếng thuộc các đội ngũ truyện kịch – Radio Drama
từ thời kỳ hoàng kim của radio trước đây, ngoài ra còn có các diễn viên chuyên về sân khấu kịch hiện đại5 Đặc biệt về phần các diễn viên – nghệ sĩ sân khấu kịch hiện đại, thì công việc lồng tiếng cho phim ngoại được xem như là một nghề tay trái để kiếm thêm nguồn thu nhập cho bản thân Diễn viên chuyên lồng tiếng cho truyện kịch – Radio Drama 若山弦蔵 (Wakayama Genzou) đã trình bày quan điểm trong một phát ngôn của mình rằng ông cảm thấy rất khó chịu về vấn đề trên6 Về phần các phim hoạt hình ngoại
thành Shizuka, mục tiêu làm ngôi sao lồng tiếng hạng nhất) リブレ出版 (NXB Ribure) Tr 24
lồng tiếng phim) 洋泉社 (NXB Yosen) Tr 274
Trang 17sĩ thuộc giới giải trí lồng tiếng Nhật Bản Tuy vậy, một số diễn viên – nghệ sĩ, ví dụ như diễn viên 若山弦蔵 (Wakayama Genzou) đã nêu trên, vẫn thích hoạt động độc lập không phụ thuộc vào tổ chức này Về sau, một số tổ chức quản lý Seiyuu khác được tách ra từ Haikyou
Về thuật ngữ Seiyuu, cho đến giai đoạn này thuật ngữ trên chưa phải là thuật ngữ
sử dụng rộng rãi nhất7 Thay vào đó, để gọi các nghệ sĩ lồng tiếng thế vai cho các phim nước ngoài thì các báo chí – bài viết chủ yếu dùng thuật ngữ 吹き替えタレント (Fukikae Talent – Nghệ sĩ tài năng lồng tiếng thế vai), còn đối với người góp giọng, lồng tiếng cho các chương trình, phim truyện Nhật Bản thì dùng thuật ngữ アテ師8[2](Ateshi – lấy từ chữ あてる (ateru) nghĩa đóng góp, hiến; và chữ 師 (shi), tức người có chuyên môn, người có học thức về một vấn đề cụ thể)9
Trang 181.2.3 Thời kỳ phim hoạt hình Anime Nhật Bản phát triển mạnh mẽ (1970 – 1990)
Đây có thể được xem như là thời kỳ chính thức đánh dấu sự phát triển bùng nổ
và trở thành một trong những nền văn hóa đặc trưng của ngành lồng tiếng phim – Seiyuu Nhật Bản Vào thập kỷ 1970, phim hoạt hình Anime Nhật Bản bắt đầu phát triển nhanh chóng mạnh mẽ, và đến ngày 6 tháng 8 năm 1977, khi phiên bản chiếu rạp của phim hoạt hình “宇宙戦艦ヤマト (Uchuu Senkan Yamato – Chiến hạm Không gian Yamato)” được công chiếu, đã đánh dấu mốc đỉnh điểm của tốc độ phát triển phim hoạt hình Anime Nhật lúc bấy giờ
Đi kèm với sự phát triển vượt bậc đó của phim hoạt hình, ngành lồng tiếng – Seiyuu của Nhật Bản tất nhiên cũng phát triển theo Chính vào giai đoạn này, thuật ngữ Seiyuu bắt đầu chính thức được công chúng công nhận và sử dụng rộng rãi, đặc biệt là
từ sau khi “Chiến hạm Không gian Yamato” được công chiếu; theo một bài phỏng vấn một nhà quản lý tài năng lồng tiếng của báo Yomiuri Shimbun, “trong khi trước đây, khi các diễn viên lồng tiếng tự giới thiệu mình là ‘Seiyuu (声優)’, thì người nghe hay nhầm thành hệ thống siêu thị ‘Seiyuu (西友)’ của Nhật Bản”10 Và đặc biệt cũng từ giai đoạn này, ngành lồng tiếng – Seiyuu bắt đầu phát triển vô cùng đa dạng, với nhiều xu hướng phát triển, cách tiếp cận thị trường thính giả - người hâm mộ thông qua nhiều hoạt động khác nhau, và thậm chí cho đến cả hiện tại, các hướng phát triển này vẫn còn rất phổ biến
Một trong những hướng phát triển ví dụ, do tính chất của các phim hoạt hình Anime thường đòi hỏi các Seiyuu phải hát các bài nhạc nền cho phim, cho nên nhanh chóng xuất hiện trào lưu các Seiyuu phát triển sự nghiệp âm nhạc song song với nghề lồng tiếng của mình11 Một ví dụ điển hình cho hướng phát triển này đó là khi ba Seiyuu chuyên lồng tiếng cho các nhân vật điển trai trong Anime 神谷明 (Kamiya Akira), 古
谷徹 (Furuya Touru) và 古川登志夫 (Furukawa Toshiro) thành lập ban nhạc “Slapstick (スラップスティック)”, liên tiếp đi lưu diễn khắp Nhật Bản và tổ chức các hoạt động
10 輝光乙(Terumitsu Otsu) và Mary Kennard "Nghệ thuật lồng tiếng” Báo Yomiuri ngày 27-4-2002 Tr 11
bạn muốn trở thành diễn viên lồng tiếng) 徳間書店 (NXB Tokuma) Tr 46
Trang 19biểu diễn liveshow trực tiếp khác nhau12 Ví dụ điển hình khác là ban nhạc “NG5” do 5 nam Seiyuu chính trong bộ phim hoạt hình nổi tiếng “鎧伝サムライトルーパー (Yoroiden Samurai Troopers)” được thành lập vào cuối những năm 1980 và nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới truyền thông Ngoài ra một số Seiyuu nổi tiếng khác cũng bắt đầu phát hành những bài hát đầu tay của mình Vào thời điểm này, hàng vạn đĩa thu âm từ các ca sĩ là Seiyuu được bán ra, một số điển hình như Slapstick và NG5
đã nêu trên, 潘恵子 (Han Keiko), 戸田恵子 (Toda Keiko), 神谷明 (Kamiya Akira), 水
島裕 (Mizushima Yuu), v.v…
Ngoài ra, một hướng phát triển khác cũng bắt đầu xuất hiện, khi các Seiyuu hoạt hình Anime tham dự với tư cách là khách mời hoặc người dẫn trong các chương trình giải trí, chương trình trò chuyện trên đài phát thanh, ví dụ như chương trình アニメト
ピア (Animetopia) được bắt đầu phát sóng vào năm 1979
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của phim hoạt hình Anime Nhật, các tạp chí chuyên về Anime bắt đầu được phát hành Vào giai đoạn này, tổng biên tập của tạp chí
“アニメージュ (Animage)”, ông 尾形英夫 (Ogata Hideo), đã tuyên bố sẽ bắt đầu kế hoạch của mình nhằm chuyển biến các Seiyuu thành một nền văn hóa thần tượng (アイドル化 – Idol-ka)13 Ngoài tạp chí Animage, các tạp chí chuyên về Anime Nhật khác cũng bắt đầu mở rộng thêm các chuyên mục tương tự như “Góc Seiyuu”, thường xuyên cập nhật các tin tức, sự kiện, các bài phỏng vấn, tiểu sử về các diễn viên Seiyuu cho Anime nổi tiếng
Về mặt đào tạo và nguồn nhân lực của ngành lồng tiếng giai đoạn này, thì các trung tâm quản lý tài năng – chuyên môn về ngành lồng tiếng liên tiếp gia tăng về mặt
số lượng, và mỗi trung tâm bắt đầu mở ra các đơn vị đào tạo tài năng lồng tiếng của riêng mình Bên cạnh đó, do trào lưu đẩy mạnh truyền thông về các Seiyuu từ các tạp chí về Anime, cùng với chính sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của ngành lồng tiếng phim, giới trẻ yêu thích phim hoạt hình mong muốn trở thành Seiyuu cũng dần xuất hiện Chính vì những điều kiện trên, cho nên các Seiyuu vào giai đoạn này không chỉ
Jitsugyo no Nihon) Tr 152
của Animage) オークラ出版 (NXB Okura) Tr 60
Trang 20Có một số đặc điểm đặc trưng, khác biệt của thời kỳ này so với thời kỳ trước
Đó là bắt đầu từ những năm 1990, khoa học kỹ thuật và công nghệ bắt đầu phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng, dẫn theo sự phát triển ngày càng đa dạng của các hình thức giải trí Các sản phẩm phim lồng tiếng trước đây chỉ có thể phát sóng trên truyền hình thông qua sóng vô tuyến, nay đã có thể được phát hành thông qua các hình thức khác như lưu hành đĩa phim DVD, truyền hình cáp đặc chuyên về nội dung phim – hoạt hình, đăng ký và xem trực tuyến thông qua mạng Internet, v.v… Nhờ sự phát triển đa dạng về hình thức trên, các sản phẩm phim lồng tiếng ngày càng dễ dàng đến tiếp cận đến thị trường người xem hơn và trở nên phổ biến, thịnh hành hơn
Hơn nữa, hình thức giải trí trò chơi điện tử bắt đầu xuất hiện và nhanh chóng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt nền công nghiệp trò chơi điện tử của Nhật Bản đứng hàng đầu trên thế giới về mức độ phát triển và thịnh hành Đây là cơ hội phát triển thị trường việc làm mới cho các diễn viên lồng tiếng, vì các nhân vật trong các trò chơi điện tử cũng cần phần lồng tiếng cho riêng mình
Một yếu tố khác đó là truyền thông cho các Seiyuu không ngừng phát triển mạnh
mẽ Năm 1994, tạp chí đầu tiên dành riêng cho Seiyuu mang tên “声優グランプリ (Seiyuu Grand Prix)” được phát hành; ngoài ra tạp chí Animage cũng mở rộng ra thêm
Trang 21tạp chí con “ボイスアニメージュ (Voice Animage)” Năm 1995, chương trình truyền hình đầu tiên dành riêng cho các Seiyuu mang tên “声・遊倶楽部 (Sei – Yuu Ku Ra Bu)” cũng bắt đầu được phát sóng
Ngoài ra bắt đầu từ thời kỳ này, vì lý do truyền thông phát triển mạnh mẽ, các Seiyuu thường phải xuất hiện trước báo chí và người hâm mộ, bên cạnh các yêu cầu từ phim hoạt hình Anime và các trò chơi điện tử; các Seiyuu ngoài khả năng diễn xuất, thể hiện qua giọng nói của mình ra, thường phải có thêm các điều kiện như ưa nhìn về ngoại hình, khả năng ca hát, khả năng biểu diễn trên sân khấu, mới có thể đảm bảo được tiến triển tốt trong công việc Đặc điểm này ở các thời kỳ trước hoàn toàn không tồn tại do những hạn chế về mặt truyền thông không yêu cầu các Seiyuu phải xuất hiện trước công chúng
Đến nửa cuối của thập niên 2000, các chương trình Anime phát sóng về khuya dần tăng về số lượng với các Seiyuu chủ yếu là những tài năng trẻ, nghiệp dư Bên cạnh
đó, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các phim hoạt hình/trò chơi điện tử luôn đi kèm với yêu cầu về nguồn nhân lực Seiyuu Đây là những điều kiện tốt để ngành lồng tiếng phim tại Nhật Bản thay đổi và chuyển giao sang thế hệ trẻ trong tương lai
Trang 22CHƯƠNG 2 NGÀNH LỒNG TIẾNG NHẬT BẢN
2.1 Sơ lược về ngành lồng tiếng hiện nay
Việc diễn xuất chỉ bằng giọng nói (Voice acting) đã và đang được công chúng công nhận là một ngành nghệ thuật độc lập ở Nhật với hệ thống đào tạo rõ ràng, hệ thống các công ty quản lý và kinh doanh, các hiệp hội nhằm mục đích phát triển và bảo
vệ ngành lồng tiếng (ví dụ như : Nihon Seiyuu jigyousha kyougikai 日本声優事業社協議会14 - Hiệp hội các công ty điều hành và kinh doanh Seiyuu Nhật Bản) Diễn viên lồng tiếng chuyên nghiệp được làm thành viên của Hiệp hội diễn viên Nhật Bản ( Japan Actors Union15) với quyền lợi được bảo vệ như các diễn viên khác Hơn thế nữa, việc lồng tiếng ở Nhật không chỉ là một ngành giải trí mà còn được người dân nước ngoài
và trong nước nhìn nhận là một nét văn hóa đặc trưng: Seiyuu Bunka - 声優文化 (văn hóa lồng tiếng) cùng với sự nổi tiếng toàn cầu của nền công nghiệp sản xuất Anime của Nhật
Đối với Anime, phần lồng tiếng là tác nhân chính khiến các nhân vật và cảm xúc của câu chuyện trở nên chân thật, và khiến người xem chấp nhận sự cường điệu, thậm chí phi thực tế của lời thoại hoặc chi tiết phim Những câu nói và ngữ điệu hầu như không được sử dụng ngoài đời thực nhưng hoàn toàn được chấp nhận và hưởng ứng khi chúng được các diễn viên lồng tiếng sử dụng trong Anime, chỉ cần hợp với nhân vật trên màn ảnh Nhiều diễn viên lồng tiếng chuyên nghiệp ở Nhật có thể dùng giọng nói của mình thể hiện nhiều vai khác nhau, thậm chí những vai đối lập hoàn toàn với giọng thật của bản thân về giới tính, độ tuổi, những vai của động vật, robot 16 mà không cần đến quá nhiều kỹ thuật máy móc Các loại hình sản phẩm nghệ thuật và chương trình truyền hình, radio chỉ chủ yếu sử dụng diễn xuất của giọng nói diễn viên hoặc xoay quanh ngành lồng tiếng cũng trở nên đa dạng như : CD drama (các đĩa CD được kinh doanh mà nội dung chỉ gồm giọng nói của diễn viên lồng tiếng diễn các vai theo một
14 日本声優事業社協議会: Nihon Seiyuu jigyousha kyougikai- Một hiệp hội gồm thành viên là 45 công ty quản lý diễn viên lồng tiếng ở Nhật Tên viết tắt: JSYCC Website: http://sei-yu.net/index.html
15 Japan Actors Union: Một dạng hiệp hội lao động dành cho diễn viên ở Nhật
16 Nguồn: edit bởi Toru Mitsui, 2014, Made in Japan - Studies in Popular Music, nxb Routledge, trang 196
Trang 23kịch bản có sẵn, cụ thể có thể là theo một bộ truyện tranh hay tiểu thuyết nào đó), chương trình trò chuyện trực tiếp với những diễn viên lồng tiếng nổi tiếng, những chương trình trực tiếp trên sân khấu nhằm tuyên truyền cho các Anime Với nền công nghiệp Anime có giá trị lên đến 13,5 tỉ US$ vào năm 201417, những hoạt động, chương trình có liên quan hoặc nhằm quảng bá Anime ngày càng trở nên đa dạng Sự phát triển của ngành công nghiệp Anime cũng là nền tảng cơ hội phát triển của các diễn viên lồng tiếng
Lĩnh vực lồng tiếng cho các phim nước ngoài ngoại nhập cũng đang rất có triển vọng khi số lượng các bản phim nước ngoài được lồng tiếng dần tăng về số lượng và được khán giả đón nhận Các bản phim nước ngoài lồng tiếng hay phụ đề được sản xuất bởi các công ty phát hành (ví dụ như Paramount Pictures - Japan, 20 Century Fox ), sau đó phân phối cho các rạp chiếu phim18
Biểu đồ 1: Sự cạnh tranh của phim nước ngoài đối với phim lồng tiếng thông qua các
Trang 24Theo biểu đồ 1 ta có thể thấy được từ năm 2001 đến năm 2009, phim ngoại nhập
và phim trong nước luôn có sự cạnh tranh về doanh thu, và phim lồng tiếng có một vai trò quan trọng Theo số liệu của Eiren 映連- Motion Picture Producers Association of Japan, Inc (công ty hợp tác của các nhà sản xuất phim ảnh Nhật Bản), từ năm 2001 đến năm 2005, doanh thu của phim nước ngoài tuy cao hơn nhưng có chiều hướng giảm xuống Số lượng phim lồng tiếng trong giai đoạn này tăng khoản 13 phim, tăng chậm
từ 3 đến 5 phim mỗi năm Từ năm 2006 đến năm 2008, số lượng phim lồng tiếng chỉ giảm khoảng 2 đến 3 phim, có thể xem là ổn định chứ không phát triển thêm, sự canh trạnh trong giai đoạn này trở nên gay gắt khi doanh thu luôn xấp xỉ nhau Doanh thu của phim ngoại nhập trong 2 năm có chiều hướng đi xuống, đến năm 2008 có dấu hiệu mất dần ưu thế khi doanh thu chỉ chiếm khoảng 40% trong tổng số doanh thu từ phim ảnh ở Nhật Từ năm 2008 đến 2009, số lượng phim ngoại nhập lồng tiếng Nhật tăng nhanh khoảng 9 bộ, khiến doanh thu của phim nước ngoài cũng có chiều hướng tăng lên
Để có thể cạnh tranh đối với phim trong nước, đáp ứng được nhu cầu của khán giả là điều cần thiết Việc các bản phim nước ngoài lồng tiếng ngày càng được đón nhận xuất phát từ nhiều lý do khác nhau Lý do chủ yếu là vì cảnh phim hiện nay chuyển quá nhanh khiến người nghe không đọc kịp phụ đề Đầu năm 2010, chủ tịch công ty kế hoạch sản xuất phim lồng tiếng Kiccorit đã làm một cuộc điều tra đối với 310 người thích xem phim19 40% tổng số người trả lời không thể đọc kịp phụ đề, gần phân nữa những người từ 15-19 tuổi trả lời khi đi xem phim nước ngoài chỉ chủ yếu chọn phim lồng tiếng Cùng vì lý do không theo kịp phụ đề, khán giả khó có thể hiểu được những nội dung phức tạp Theo Yoshida Keisuke của công ty chuyên thu âm bản phim lồng tiếng - Glovision Inc., bản lồng tiếng có thể truyền tải 90% nội dung phim trong khi bản phụ đề nhiều nhất chỉ có thể truyền tải 30%20 Phần phụ đề cũng dễ làm mất tập trung của người xem Khán giả sẽ muốn tập trung vào nội dung và hình ảnh hơn là cố gắng bắt kịp phần phụ đề của phim Sự phổ biến của phim 3D hiện nay cũng là một trong những nguyên do khiến sự yêu thích bản phim phụ đề của khán giả dần giảm đi Phần
Trang 252.2 Quá trình lồng tiếng
Trong quá trình sản xuất Anime, lồng tiếng nằm trong giai đoạn cuối cùng, được gọi là hậu sản xuất “post-production” Quá trình này gồm tất cả các công việc liên quan đến âm thanh và công đoạn chỉnh sửa cuối cùng của một tập phim Anime: lồng tiếng nhân vật, âm nhạc, hiệu ứng âm thanh, kiểm tra thành quả Sau khi phần hình ảnh được hoàn thành bởi các công ty sản xuất Anime, gọi là Anime Studio, mỗi tập phim được cắt ra thành từng phần nhỏ và bàn giao cho các công ty thu âm (Recording Studio) được thuê để thực hiện phần hậu sản xuất23 Các công ty thu âm có thể chỉ chuyên về hậu sản xuất Anime hoặc hoạt động đa dạng hơn trong các mảng về lĩnh vực thu âm, âm thanh khác như âm nhạc, radio, lồng tiếng phim Sau đây là thông tin cụ thể về quá trình thu
âm của diễn viên lồng tiếng Anime được cung cấp bởi Kohei Oishi - kỹ sư lồng tiếng của công ty thu âm T&T - thông qua trang điện tử của Sunrise Inc., một Anime Studio được biết đến nhiều với bộ Anime nổi tiếng Gundam24 Phần post-production của anime Gundam được thu âm tại Studio T&T, công ty thu âm này đã hợp tác sản xuất các anime
Trang 26Hình 2: Phòng thu âm của Studio A (bên trái) và Studio B (bên phải)
Nguồn: trang điện tử của Studio T&T: http://www.studio-tt.com
Có thể thấy các phòng thu âm ở Studio T&T có cấu trúc và bố trí theo cách thông dụng nhất đối với một phòng thu âm Một studio được chia làm hai phần là phòng điều khiển và phòng thu âm Phòng thu âm là nơi làm việc của các diễn viên lồng tiếng Đây
là một phòng cách âm, được bố trí màn hình, micro và có các dãy ghế ngồi dành cho diễn viên lồng tiếng Khi tới cảnh nhân vật của họ xuất hiện trên màn hình, họ sẽ bước đến micro và đọc lời thoại của mình Một phòng thu âm có nhiều micro và màn hình
Trang 27Tuy nhiên, trong trường hợp trong một cảnh có quá nhiều nhân vật xuất hiện, diễn viên lồng tiếng sẽ tự sắp xếp chỗ đứng để phục vụ tốt nhất cho việc lồng tiếng khớp thời gian với nhân vật Những người mới thường sẽ gặp khó khăn trong việc canh thời gian để bắt kịp nhân vật của mình trên màn ảnh Phần chỉnh sửa trong khi và sau khi thu âm, hiệu ứng âm thanh và nhạc nền được thực hiện trong phòng điều khiển Bất cứ tạp âm nào như tiếng bước chân, tiếng thở, tiếng lật trang giấy đều bị lược bỏ Sau khi kiểm tra, nếu cần thiết phải thay đổi lời thoại hay ngữ điệu cho nhân vật nào đó, diễn viên lồng tiếng cho nhân vật ấy có thể được gọi lại để thực hiện lại phần lồng tiếng theo kỹ thuật của dubbing - lồng tiếng đè giọng giống như đối với lồng tiếng cho phim nước ngoài Mất 1 đến 2 tuần đề hoàn thành phần lồng tiếng của Anime
Đối với phim nước ngoài, các công ty phân phối sẽ thuê các công ty thu âm chuyên về lĩnh vực này để thực hiện phần lồng tiếng hay phụ đề cho phim Quá trình lồng tiếng không có nhiều khác biệt so với quá trình lồng tiếng cho anime Điểm khác biệt lớn nhất là người biên tập và diễn viên lồng tiếng phải tốn nhiều công sức hơn để
có thể truyền tải một cách đầy đủ nhất nội dung, cảm xúc, nét văn hóa nước ngoài trong một bộ phim ngoại nhập và được khán giả đón nhận
2.3 Hệ thống đào tạo diễn viên lồng tiếng
Nghề diễn viên lồng tiếng ở Nhật Bản hiện nay được xem là một nghề rất có cơ hội phát triển tuy vẫn mang tính cạnh tranh cao và không quá ổn định cũng như các nghành nghệ thuật khác Trên thực tế, không phải chỉ cần đi thử giọng hoặc đơn giản chỉ tham gia một khóa học là có thể trở thành một diễn viên lồng tiếng Hiện nay ở Nhật Bản, hệ thống đào tạo diễn viên lồng tiếng, với hàng trăm các trường học, trung tâm trên khắp nước Nhật, là một lộ trình rõ ràng Học viên có thể tìm thông tin của bất cứ một khóa học hay trường học đào tạo diễn viên lồng tiếng nào qua Internet, tạp chí, sách báo Người học có thể dựa vào kiến thức và năng lực của bản thân để chọn điểm xuất phát, nhưng trên cơ bản sẽ không bị hoang mang và lạc đường
Để trở thành một diễn viên lồng tiếng chuyên nghiệp, đầu tiên phải có được vị trí trong các công ty quản lý hoạt động trong lĩnh vực lồng tiếng qua việc thử giọng cho các nhân vật Anime, phim ảnh Thậm chí khi đã đầu quân cho các công ty quản lý, vẫn
sẽ có rất nhiều buổi thử giọng, kiểm tra cần phải vượt qua, vì thế những người mới không có kinh nghiệm rất khó có khả năng để đậu Để thành công trong các buổi thử
Trang 28cơ bản Đối với trường chuyên môn, những người mới hoàn toàn không có kinh nghiệm
có thể học từ những kỹ năng nền cơ bản cho đến những kỹ năng áp dụng thực tiễn; phương pháp giảng dạy cố định và được chuyên môn hóa, nên việc tốt nghiệp các trường này được công nhận và có thể ghi vào sơ yếu lí lịch; thời gian học tập kéo dài từ 1 đến
2 năm, học phí dao động trong khoảng 500.000 yên đến 2.000.000 yên Đối với trường đào tạo diễn viên lồng tiếng, đây là nơi chủ yếu tập trung đào tạo các kỹ thuật chuyên môn, bằng nhận được sau khi hoàn thành khóa học không phải là bằng chính thức như
ở trường chuyên môn; các quy định đều là bí mật nội bộ và chương trình giảng dạy mang tính tự do rất cao, học phí so với trường chuyên môn cũng thấp hơn, khoảng 200.000 yên đến 500.000 yên; có nhiều trường cho học viên tự chọn thời gian tham gia khóa học nên thích hợp cho mọi đối tượng, nhất là những sinh viên vừa học ở trường vừa muốn học những kỹ năng chuyên môn của diễn viên lồng tiếng Ngoài ra, các sinh viên chuyên nghành kịch nghệ của các trường đại học, với kiến thức nền của việc diễn xuất cũng có thẻ trở thành một diễn viên lồng tiếng Thêm vào đó, số lượng trường phổ thông trung học chuyên về truyền thông có mở lớp đào tạo diễn viên lồng tiếng cũng ngày một tăng
Sau khi tốt nghiệp, hoặc trong khi vừa học những khóa học đào tạo cơ bản nêu trên, học viên vừa có thể tham gia thi tuyển và học ở các trung tâm rèn luyện kỹ năng diễn viên lồng tiếng (seiyuu youseijo 声優養成所) Để được học ở các trung tâm rèn luyện, thí sinh sẽ phải vượt qua những bài thi đầu vào bao gồm nhiều phần như kiểm tra sơ yếu lí lịch, phỏng vấn, bài thi viết (chủ yếu để kiểm tra khả năng quốc ngữ có thể đọc hiểu và nắm bắt rõ ràng những tình huống được viết ở kịch bản) và thực hành Hình thức thi sẽ khác nhau đối với từng trung tâm đào tạo Tuy là thi đầu vào của một trung tâm rèn luyện diễn viên lồng tiếng, nhưng phần kỹ thuật cá nhân không bị đưa ra yêu cầu cao hoặc quá chú trọng một cách đặc biệt Vì vậy, điều quan trọng là thí sinh phải
Trang 29truyền tải được nhiệt huyết và quyết tâm của mình trong bài thi Tuy nhiên, những hành
vi quá lố nhằm thể hiện bản thân vẫn là cấm kị Thí sinh cần thể hiện được tinh thần sẵn sàng nổ lực hết mình và những mặt tốt nhất của bản thân với giám khảo
So với những trường đào tạo cơ bản thì ở đây hầu như chỉ đào tạo những kỹ năng
áp dụng thực tiễn để học viên chuẩn bị thử vai ở các công ty quản lý diễn viên lồng tiếng Có hai loại hình trung tâm rèn luyện kỹ năng Một là loại hình trung tâm dưới quyền điều hành của các công ty quản lý hoặc các công ty thu âm muốn trực tiếp đào tạo diễn viên lồng tiếng, hai là các trung tâm hoạt động độc lập nhưng vẫn có mối liên
hệ với một số công ty quản lý khác nhau Học phí thay đổi dựa theo số ngày học một tuần của học viên, thông thường dao động trong khoảng 150000 yên đến 500000 yên
Cả khóa học được phân từ cơ bản đến nâng cao tùy theo mỗi trung tâm rèn luyện và thành tích thi đầu vào của học viện Nội dung học chủ yếu là những kỹ năng áp dụng thực tế Ngoài những kỹ năng cơ bản như cách phát âm, cách đọc câu một cách lưu loát, cách hô hấp bằng bụng, Việc rèn luyện về mặt thể chất cũng được chú trọng trong khóa học Học viên sau khi thông qua các lớp cơ bản, hoặc có thành tích thi đầu vào tốt
có thể tham gia học các lớp nâng cao hơn với những nội dung như rèn luyện tính diễn cảm, học ngâm thơ, kỹ thuật diễn sân khấu, cách đọc theo kiểu tường thuật, thông báo, Đòi hỏi đối với một diễn viên lồng tiếng không chỉ đơn thuần là có thể nói một cách rõ ràng, diễn cảm Hiện tại, diễn viên lồng tiếng còn có thể được yêu cầu góp giọng vào nhạc phim, tham gia các chương trình trò chuyện trực tuyến trên tivi hay radio, các liveshow quảng bá cho Anime, các vở nhạc kịch, Vì vậy, học viên khi còn học ở các trung tâm rèn luyện phải được trau dồi thành một người đa năng, từ khả năng ca hát đến diễn suất sân khấu, diễn suất hình thể, thậm chí một số bộ môn múa khác nhau Quá trình này kéo dài từ một đến ba năm tùy vào thực lực của học viên trước khi họ có thể thành công trong các buổi thử vai để đậu vào các công ty quản lý Ngoài giờ học với giảng viên trên lớp, ở Nhật Bản không khó để tìm được các diễn đàn hướng dẫn, các ứng dụng máy tính, điện thoại hỗ trợ cho việc luyện giọng cá nhân của học viên Sau khóa học ở các trung tâm rèn luyện kỹ năng này, học viên đã được trang bị đủ để tham gia thử vai cho các công ty quản lý Đây có thể được xem là giai đoạn nước rút và quan
Trang 30họ chính thức là thành viên của Hiệp hội diễn viên Nhật Bản - một hiệp hội về quyền lợi lao động dành cho các diễn viên ở Nhật Bản, bao gồm cả diễn viên lồng tiếng Sau
đó, họ có thể tiếp tục thử vai cho các nhân vật dưới danh hiệu một diễn viên lồng tiếng chuyên nghiệp với nhiều cơ hội hơn.26
Hình 3: Lớp học diễn xuất ở Học viện giải trí truyền thông tại quận Ebisu, Tokyo
Nguồn: video youtube của Rocketnews24; giây thứ 15
Trang 312.4 Công việc của diễn viên lồng tiếng
Ở Nhật Bản, khi nhắc tới thuật ngữ “seiyuu 声優” - diễn viên lồng tiếng, người nghe đầu tiên rất dễ liên tưởng đến công việc lồng tiếng cho Anime hay phim truyền hình ngoại nhập Trên thực tế, trong tổng số 40 người mà chúng tôi khảo sát, có đến 38 người trả lời sẽ nghĩ đến công việc lồng tiếng cho Anime đầu tiên khi nghe đến từ
“seiyuu” Ngoài ra, một người đã qua đào tạo để trở thành một diễn viên lồng tiếng còn
có thể hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực như : ca sĩ, kịch nghệ sân khấu, lồng tiếng các nhân vật trong game, tham gia vào các chương trình radio, phát thanh viên, MC, những lĩnh vực cần đến sự điêu luyện của giọng nói Ở thời điểm nền công nghiệp âm nhạc ở Nhật đang có mối liên hệ chặt chẽ với công nghiệp sản xuất Anime như hiện nay, đĩa nhạc BGM (nhạc nền) hay các bài hát chủ đề vẫn được bày bán và yêu thích ngay cả khi bộ Anime đã kết thúc27 Điều này đã mở ra cơ hội hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc và trở thành các ca sĩ thần tượng của diễn viên lồng tiếng Vì vậy, họ ngay khi còn trong quá trình đào tạo đã được trang bị kiễn thức, kỹ năng để vừa có thể hoạt động trong nghành lồng tiếng vừa có thể trở thành một ca sĩ
27 Nguồn: edit bởi Toru Mitsui, 2014, Made in Japan - Studies in Popular Music, nxb Routledge, trang 195
Trang 32Hiện nay, công việc của một diễn viên lồng tiếng phim ở Nhật không đơn thuần chỉ là đứng trong các phòng thu âm và sử dụng giọng nói của mình, họ còn góp giọng vào nhạc phim, tham gia các buổi biểu diễn tuyên truyền trên truyền hình hay radio, các chương trình trò chuyện trực tiếp Những diễn viên lồng tiếng thành công trong lĩnh vực âm nhạc ở Nhật Bản có thể trở thành thần tượng âm nhạc, được phát hành album riêng và những buổi liveshow của riêng mình Ví dụ như Nana Mizuki, người lồng tiếng cho Hinata Hyuuga trong bộ Anime nổi tiếng Naruto, đã từng được chọn làm ca sĩ cho chương trình Kouhaku Uta Gassen của đài NHK - một chương trình ca nhạc nổi tiếng
ở Nhật Số lượng diễn viên lồng tiếng thành công xuất phát từ các thần tượng âm nhạc cũng không ít Theo Hazama Keisuke - trợ lý chủ tịch của Hiệp hội các công ty điều hành và kinh doanh Seiyuu Nhật Bản, dựa vào sự bùng nổ của ngành công nghiệp anime
và sự đa dạng hóa các lĩnh vực mà một diễn viên lồng tiếng có thể hoạt động, số lượng diễn viên lồng tiếng từ 200 đến 300 người vào 50 năm trước hiện nay đã tăng đến khoảng 60.000 người28
28 Nguồn: báo điện tử Nikkei Plus1, 22/6/2010,
http://style.nikkei.com/article/DGXDZO09456470Y0A610C1W02100
Trang 33có công việc làm thêm để bổ sung thu thập Có rất ít người có thể trở thành một diễn
29 Nguồn: http://seiyuu.kakkokari.net/course/income/
Trang 34viên lồng tiếng toàn thời gian Đó là một trong những lý do những diễn viên lồng tiếng
có xu hướng muốn tham gia vào ngành âm nhạc hay kịch nghệ Để đảm bảo lương của diễn viên lồng tiếng không xuống thấp đến mức vô lý, Japan Actor Union - Hiệp hội diễn viên Nhật Bản thành lập một bảng xếp hạng diễn viên lồng tiếng dựa vào lĩnh vực hoạt động, kỹ năng và độ nổi tiếng của họ Bảng xếp hạng này sẽ quyết định mức lương
cơ bản của những diễn viên lồng tiếng dựa vào vị trí trong bảng xếp hạng của họ Những công ty quản lý hoặc Anime Studio không đủ kinh phí sẽ có xu hướng sử dụng những diễn viên lồng tiếng ở vị trí thấp hơn trong bảng xếp hạng30
Tuy thu nhập không cao, nhưng nghề diễn viên lồng tiếng vẫn được xem là một nghề hấp dẫn hiện nay ở Nhật Bản Nguyên nhân là dựa vào sự bùng nổ của ngành công nghiệp Anime Nhật Bản trên khắp thế giới, thêm vào đó là phim ngoại lồng tiếng càng ngày càng được đón nhận tích cực ở Nhật, nhu cầu về nhân lực của ngành diễn viên lồng tiếng ngày càng tăng Bên cạnh đó, lĩnh vực mà một diễn viên lồng tiếng đã qua đào tạo chuyên nghiệp ngày nay có thể hoạt động rất rộng, do đó khối lượng công việc cũng được bảo đảm hơn Cơ hội để phát triển tài năng, trở nên nổi tiếng và được cộng đồng yêu mến cũng là một trong những lý do thu hút những người trẻ tuổi trở thành diễn viên lồng tiếng
2.5 Ý kiến về ngành lồng tiếng phim hiện tại ở Nhật Bản thông qua khảo sát thực tế
Để có thể xác nhận và hiểu rõ hơn những thông tin đã tìm hiểu được, chúng tôi
đã thực hiện khảo sát thực tế bằng bảng hỏi đối với 40 người Nhật Bản trong độ tuổi từ
15 đến 35 tuổi, trong đó có 25 người từ 15-23 tuổi, 12 người từ 23-35 tuổi và 1 người trên 35 tuổi Trong 40 người, có 38 người biết tiếng Anh và 33 trong số đó có khả năng nghe hiểu những đoạn hội thoại cơ bản Tuy hạn chế về số lượng người tham gia khảo sát do khó khăn về vấn đề liên lạc và thời gian, chúng tôi vẫn thu được một số kết quả nhất định
Trên tổng quát, đầu tiên về vấn đề liên quan đến nghề diễn viên lồng tiếng ở Nhật Bản Hơn phân nữa (55%) số người được khảo sát đồng ý diễn viên lồng tiếng hiện nay được đối xử như một thần tượng, 7 trên 40 người có 1 hoặc nhiều hơn diễn viên lồng
30 Nguồn: edit bởi Toru Mitsui, 2014, Made in Japan - Studies in Popular Music, nxb Routledge, trang 200
Trang 35tiếng mà họ yêu thích Tuy nhiên, 62,5% số người khảo sát cho rằng diễn viên lồng tiếng hiện tại là một nghề khó sống và đến 95% từ chối việc trở thành diễn viên lồng tiếng nếu có thể Điều này có thể giải thích bằng mức lương khá thấp của diễn viên lồng tiếng Nhật Bản hiện nay
Tiếp theo, chúng tôi đưa ra giả thuyết về những yếu tố cơ bản của phần lồng tiếng có thể ảnh hưởng đến ý kiến của người xem về một bộ phim Có 87,5% số người khảo sát đồng ý giọng nói của nhân vật có ảnh hưởng lớn đến chất lượng bộ phim Khác với suy nghĩ của chúng tôi, yếu tố giọng vùng miền không có ảnh hưởng lớn đến người xem khi 75% số người khảo sát sẽ không ngưng xem phim cho dù giọng nhân vật không phù hợp với giọng vùng miền của họ Đối với sự cường điệu thái quá trong diễn xuất giọng nói của phần lồng tiếng, đây là yếu tố có thể làm một bộ phim trở nên “trẻ con”,
“mất tự nhiên” ở Việt Nam Mặt khác, ở Nhật Bản, cũng có đến 27,5% số người khảo sát có ý kiến không thích sự cường điệu thái quá đó, nhưng 52,5% không đồng ý với ý kiến trên
Để có thể cụ thể hơn đánh giá của người xem về chất lượng lồng tiếng phim ở Nhật Bản hiện tại, chúng tôi chọn ra một số bộ Anime và phim ngoại lồng tiếng Nhật (gồm 2 phim, một hoạt hình và một phim chiếu rạp người đóng) và tiến hành khảo sát chi tiết về ý kiến của người xem đối với chất lượng của từng phim
Về Anime, 3 bộ Anime nổi tiếng và phổ biến được chọn là: Doraemon, One Piece, Cardcaptor Sakura Trong đó Doraemon và One Piece là 2 bộ anime dài tập được chiếu kéo dài trong nhiều năm đến tận ngày nay, Cardcaptor Sakura có số tập ít hơn và
đã kết thúc Cả 40 người trả lời khảo sát đều đã xem qua Doremon, 27/40 người trả lời khảo sát đã xem qua One Piece và 19/40 người đã xem qua Cardcaptor Sakura Kết quả đánh giá chất lượng như sau:
Doraemon One Piece Cardcaptor Sakura
1 Giọng nói Seiyuu
phù hợp với tính
cách nhân vật
87,5% số người đồng ý
92,6% số người đồng ý
89,5% số người đồng ý
89,5% số người đồng ý
Trang 3689% số người đồng
ý
84,2% số người đồng ý
84,2% số người đồng ý
84,2% số người đồng ý
Bảng 1: Kết quả đánh giá về chất lượng lồng tiếng của 3 bộ anime Doraemon, One
Piece, Cardcaptor Sakura thông qua khảo sát
Theo bảng 1, những yếu tố chất lượng của phần lồng tiếng các anime từ mục 1 đến 5 được đánh giá khá tốt khi số lượng người đồng ý luôn từ 75% trở lên, còn lại hầu hết đều là không có ý kiến Số lượng người đánh giá tiêu cực về chất lượng của các anime này hầu như không đáng kể: 1 người không đồng ý với ý kiến “Doraemon và One Piece có đội ngũ diễn viên lồng tiếng đa dạng”; 1 người không đồng ý với kiến
“Cardcaptor Sakura có biểu cảm, diễn xuất của giọng nói nhân vật ấn tượng, thu hút” Thêm vào đó, phần lồng tiếng của 3 bộ anime điển hình này đều làm cho hầu hết người xem cảm thấy hài lòng Điều này chứng minh phần lồng tiếng anime ở Nhật Bản nhận được sự yêu thích của đông đảo người xem và có chất lượng được đánh giá khá tốt
Trang 37Phim ngoại nhập lồng tiếng cũng rất phổ biến ở Nhật khi có đến 37 trên 40 người khảo sát đã xem qua phim nước ngoài lồng tiếng Có 89,2% số người đó đồng ý rằng giọng nói của diễn viên lồng tiếng cho nhân vật ảnh hưởng lớn đến chất lượng của bộ phim Mặc dù 48,6% số người trả lời khảo sát không đồng ý với ý kiến “thích xem phim lồng tiếng hơn phim phụ đề”, nhưng con số 35%, tức cứ 10 người thì có 3 người thích phim lồng tiếng hơn, cũng là một con số đáng kể Có 78,4% khán giả không chỉ xem bản lồng tiếng của các phim hoạt hình Chúng tôi đưa ra những giả định về những lý do tại sao người xem muốn hoặc không muốn xem phim ngoại nhập lồng tiếng và tiến hành khảo sát Hai lý do chính nhất khiến người xem muốn xem phim lồng tiếng là vì họ không hiểu ngôn ngữ gốc và phần phụ đề có những hạn chế làm khán giả không nắm được toàn nội dung phim: 48,6% số người khảo sát trả lời rằng họ xem bản lồng tiếng
vì không hiểu ngôn ngữ gốc, 51,4% vì lý do không đọc kịp chữ của phụ đề
4 lý do mà chúng tôi đưa ra nhằm giải thích cho việc khán giả không muốn xem phim lồng tiếng là: giọng lồng tiếng không phù hợp với nhân vật (62,2% số người trả lời khảo sát không đồng ý, 24,3% đồng ý), muốn rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ (46% số người trả lời khảo sát đồng ý, 37,8% không đồng ý), muốn nghe giọng của diễn viên yêu thích (59,5% số người trả lời khảo sát không đồng ý, 27% đồng ý), khó chịu khi phần lồng tiếng không phù hợp với cử động môi của nhân vật (21,6% số người trả lời khảo sát không đồng ý, 62,2% đồng ý) Từ số liệu thu được cho thấy, 2 lý do nổi bật khiến người xem không muốn xem phim lồng tiếng là vì khán giả muốn rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ và cảm thấy khó chịu khi phần lồng tiếng không khớp với cử động môi của nhân vật Việc lý do không xem phim lồng tiếng vì “muốn nghe giọng nói của diễn viên yêu thích” có đến 59,5% số người không đồng ý chứng minh việc các diễn viên lồng tiếng trong nước có khả năng thỏa mãn phần lớn khán giả xem phim Vậy có thể