Đề tài cố gắng làm rõ về những vấn đề cơ bản nhất như các yêu cầu lịch sử cho sự ra đời của các trung tâm chính trị thứ hai; dựa trên cơ sở những tư liệu đã tiếp cận được, nhóm thực hiện
Trang 1Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Huỳnh Ngọc Quang, Lớp Lịch sử thế giới, Khóa 2013 - 2017 Thành viên: Nguyễn Văn Lâm, Lớp Lịch sử thế giới, Khóa 2013 - 2017 Người hướng dẫn: TS Phạm Thị Ngọc Thu, Giảng viên khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 2
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU 02
3 Mục tiêu nghiên cứu 14
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 15
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 16
NỘI DUNG
Chương 1 Cơ sở hình thành các trung tâm chính trị thứ hai trong
1.1 Tổng quan về vấn đề trung tâm chính trị 18
1.2 Cơ sở hình thành các trung tâm chính trị thứ hai trong lịch sử
1.3 Các triều đại tồn tại hai trung tâm chính trị trong lịch sử Việt Nam 27
Chương 2 Tìm hiểu về trung tâm chính trị Thiên Trường thời Trần 30
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của trung tâm chính trị
Trang 3
2.2 Đặc điểm của trung tâm chính trị Thiên Trường 33
2.3 Vai trò của trung tâm chính trị Thiên Trường 39
2.4 Nhận xét, đánh giá về trung tâm chính trị Thiên Trường 50
Chương 3 Tìm hiểu về trung tâm chính trị Lam Kinh thời Lê sơ 53
3.1 Quá trình hình thành và phát triển của trung tâm chính trị
Chương 4 Tìm hiểu về trung tâm chính trị Dương Kinh thời Mạc 78
4.1 Quá trình hình thành và phát triển của trung tâm chính trị
KẾT LUẬN 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 112
Trang 41
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Kể từ khi nhà Lý (1009 - 1225) dời đô về Thăng Long năm 1010, kinh đô này
đã trở thành trái tim của đất nước, nơi hội tụ những tinh hoa, thành tựu phát triển của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử Tuy nhiên, bên cạnh kinh đô Thăng Long, một số triều đại còn xây dựng nên những trung tâm chính trị thứ hai ở vùng đất phát tích của vương triều Các trung tâm chính trị này có vị trí và vai trò quan trọng về nhiều mặt, cùng với kinh đô Thăng Long thể hiện bộ mặt phát triển của đất nước qua các triều đại khác nhau Đề tài của chúng tôi được hình thành dựa trên sự kết nối ba trung tâm chính trị Thiên Trường thời Trần, Lam Kinh thời Lê sơ và Dương Kinh thời Mạc trên một dòng chảy xuyên suốt của lịch sử
Đề tài cố gắng làm rõ về những vấn đề cơ bản nhất như các yêu cầu lịch sử cho
sự ra đời của các trung tâm chính trị thứ hai; dựa trên cơ sở những tư liệu đã tiếp cận được, nhóm thực hiện hiện đề tài dựng lại bức tranh lịch sử khái quát về quá trình hình thành và phát triển của các trung tâm chính trị này, tìm hiểu những đặc điểm nổi bật nhất và cuối cùng là chỉ ra vai trò của các trung tâm này đối với triều đại phong kiến nói riêng và đất nước nói chung Công trình bước đầu có sự so sánh đối chiếu để làm
rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa các trung tâm này với nhau, giữa các trung tâm này với kinh đô Thăng Long và mở rộng so sánh với một số trường hợp tồn tại nhiều trung tâm chính trị trong lịch sử thế giới
Trang 52
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, có không ít triều đại khi thiết lập được quyền lực ở Thăng Long thì cũng đồng thời xây dựng một trung tâm chính trị ở vùng đất phát tích của triều đại, còn được gọi là “kinh đô thứ hai” bên cạnh kinh đô chính thức là Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh Hiện tượng này của lịch sử được lặp đi lặp lại qua các triều đại khác nhau, điều đó chứng tỏ đây không chỉ là mong muốn chủ quan của các triều đại mà nó còn phù hợp với nhu cầu của đất nước thời kỳ
đó và quy luật phát triển của lịch sử
Các trung tâm chính trị thứ hai đó trong quá trình tồn tại và phát triển đã thể hiện vai trò nhất định trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tinh thần của các triều đại phong kiến nói riêng và của đất nước Đại Việt nói chung Phủ Thiên Trường thời Trần, Lam Kinh thời Lê sơ, Dương Kinh thời Mạc đã trở thành một trong những thành
tố không thể thiếu khi nghiên cứu về lịch sử các triều đại phong kiến nói riêng và lịch
sử chế độ phong kiến Việt Nam nói chung
Các triều đại phong kiến Việt Nam trong quá trình kiến thiết nên các trung tâm chính trị thứ hai cũng đồng thời hội tụ về đây những tinh hoa giá trị tốt đẹp về mặt vật chất lẫn tinh thần của đất nước Đại Việt khi đó, do đó các trung tâm chính trị này là một trong những nơi thể hiện rõ rệt bộ mặt văn hóa của một đất nước có bề dày lịch sử lâu đời, là yếu tố quan trọng kết cấu nên nền văn minh Đại Việt huy hoàng trong quá khứ Ngày nay, tại các khu vực từng là trung tâm chính trị một thời của đất nước đó là nơi còn lưu giữ nhiều hiện vật, di tích, di vật có giá trị to lớn về văn hóa và lịch sử Các di tích này hiện nay đã và đang được các nhà khoa học kết hợp với các cơ quan chức năng tiến hành công tác điều tra, nghiên cứu, khai quật, tôn tạo và phục dựng trên nhiều mức độ khác nhau Đây là việc làm có nghĩa to lớn trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị tinh thần của dân tộc, khơi dậy niềm tự hào về lịch sử và văn hóa của đất nước, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 6và đặc biệt là với kinh đô Thăng Long Nhưng theo những tài liệu chúng tôi tiếp cận được, vẫn còn chưa có một công trình nào thực sự đi sâu vào hệ thống hoá như một đối tượng nghiên cứu xuyên suốt và thống nhất Trên cơ sở nhận thấy có thể đi vào tìm
hiểu và nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu một số trung tâm chính trị thứ hai trong lịch sử Việt Nam: Thiên Trường thời Trần, Lam Kinh thời Lê sơ, Dương Kinh thời Mạc” làm đề tài nghiên cứu khoa học của
nhóm mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đối tượng của đề tài là ba trung tâm chính trị tồn tại trong ba thời kỳ lịch sử khác nhau nên chúng tôi quyết định tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu đề tài theo từng trung tâm chính trị
a Lịch sử nghiên cứu về Thiên Trường
Biên chép của các sử gia thời phong kiến
“Đại Việt sử ký toàn thư” là sử liệu quan trọng nhất ghi chép về Thiên Trường
Trong bộ sử này Ngô Sĩ Liên đề cập đến nhiều vấn đề như một số mốc thời gian quan trọng của trung tâm chính trị này, một số công trình xây dựng quan trọng nhất, sử liệu này còn cho thấy vai trò của Thiên Trường như là một căn cứ chiến lược quan trọng của nhà Trần trong ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, trực tiếp và gián tiếp đề cập đến tầm quan trọng của Thiên Trường như một “kinh đô thứ hai” qua các ghi chép
về hành trạng của các Thái thượng hoàng và các vua nhà Trần trong mối tương quan với Thiên Trường
“Đại Việt sử lược” là bộ sử của một tác giả khuyết danh, được viết vào khoảng
cuối thời nhà Trần Tác phẩm đề cập đến nhiều thông tin quan trọng về sự nổi lên của
họ Trần trong những năm cuối thời Lý, cho thấy vùng đất Tức Mặc - Mỹ Lộc đầu thế
Trang 74
kỷ XIII đã trở thành căn cứ hoạt động và trung tâm quyền lực quan trọng của họ Trần, thành nơi chốn đi về của thế lực Trần Tự Khánh - Trần Thừa
“An Nam chí lược” của Lê Tắc thời nhà Trần trong mục Quận - ấp có miêu tả
cảnh đẹp của hành cung Thiên Trường
“Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú khi bàn về chế độ Thái
thượng hoàng nhà Trần đã cho thấy được tầm quan trọng của phủ Thiên Trường
Các tài liệu khảo cổ học
Năm 1975 tại chùa Đệ Tứ, phường Lộc Hạ, các nhà khảo cổ lần đầu phát hiện được sân gạch vuông trang trí hoa cúc dây còn khá nguyên vẹn, đây là bước mở đầu
cho các phát hiện và nghiên cứu về di tích Trần trên đất Thiên Trường xưa
Nguyễn Quốc Hội, Nguyễn Xuân Năm, Trần Đăng Ngọc trong “Đào thám sát bãi Hạ Lan, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định” in trong Những phát hiện mới về
Khảo cổ học, Nxb Khoa học Xã hội, 1996 đã giới thiệu đôi nét về đồ gốm sứ có niên đại Trần khai quật được ở khu vực hành cung Thiên Trường
Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1997, Nxb Khoa học Xã hội,
1998 có bài viết của Nguyễn Quốc Hội và Nguyễn Xuân Năm với tựa đề “Những viên gạch thời Trần có in nổi chữ Hán” Qua đó, các tác giả cho thấy sự phát triển của nghề
sản xuất gốm xây dựng trong khu vực Thiên Trường
Bùi Minh Trí, Nguyễn Xuân Năm, Nguyễn Quốc Hội trong bài viết “Trung tâm gốm Thiên Trường - Tức Mặc (Nam Định) sau một chuyến điều tra ngắn” in trong
Những phát hiện về khảo cổ học năm 1998, Nxb Khoa học Xã hội, 1999 đã đưa ra những minh chứng về trung tâm sản xuất gốm ở Thiên Trường thời Trần
Trong bài “Tấm bia chùa Quỳnh Đô - Đệ Nhì (Nam Định)”, in trong Những phát
hiện mới về khảo cổ học năm 1999, Nxb Khoa học Xã hội, 1999, Hồ Đức Thọ, Dương Văn Vượng đã đưa ra giả thiết về vị trí đóng quân của đội quân có hiệu là Đệ Nhị Đô, trấn giữ phía đông bắc khu vực cung Trùng Quang của hành cung Thiên Trường
“Khảo sát đoạn Quốc lộ 10 trước khi khởi công chạy qua các xã có di tích Trần
ở thành phố Nam Định” là bài viết của tác giả Nguyễn Quốc Hội, in trong Những phát
Trang 85
hiện mới về khảo cổ học năm 2000, Nxb Khoa học Xã hội, 2001 đã cung cấp cứ liệu
để xác định phạm vi của hành cung Thiên Trường
Trong bài “Sưu tầm và đào thám sát khu vực đền Trần – chùa Phổ Minh (thành phố Nam Định)” in trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2003, Nxb Khoa
học Xã hội, 2004, Trần Đăng Ngọc và Nguyễn Quang Hải đưa ra giả thuyết về hoạt động thương mại từng diễn ra tại phủ Thiên Trường
Tống Trung Tín và Hà Văn Cẩn trong bài “Thám sát khảo cổ học tại Nam Định năm 2006”, in trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2006, Nxb Khoa học
Xã hội, 2007 bước đầu xác định mối liên hệ cũng như chức năng cụ thể của từng địa điểm khảo sát trong hệ thống hành cung Thiên Trường xưa
Hà Văn Cẩn, Hoàng Văn Cương trong “Kết quả thám sát khảo cổ học tại khu văn hoá Trần - Tức Mặc (Nam Định)” in trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm
2008, Nxb Từ điển Bách khoa, 2009 đã cho thấy giá trị của các dấu tích kiến trúc, là
cơ sở để phác hoạ quy mô của hành cung cũng như phạm vi của từng khu vực trong hành cung xưa
Các nhà nghiên cứu hiện đại
Sách “Mỹ thuật thời Trần” của tập thể nhiều tác giả do Nguyễn Đức Nùng làm
chủ biên được Nxb Văn hóa ấn hành năm 1977, từ trang 14 đến trang 16 đã đề cập đến Thiên Trường như một kinh đô thứ hai của đất nước ta thời bấy giờ, sách đã đề cập đến hàng loạt các công trình và địa danh gợi lên hình ảnh của một thủ phủ có quy mô rộng lớn và sầm uất Bên cạnh đó, tác phẩm đã đi vào nghiên cứu dưới góc độ nghệ thuật một số di tích và di vật còn lại trên đất Thiên Trường như bộ cánh cửa chùa Phổ Minh (từ trang 36 đến trang 37), công trình tháp và chùa Phổ Minh (từ trang 41 đến trang 43)
Các bài viết “Vai trò của đô thị Thiên Trường đối với kinh đô Thăng Long thời Trần” (tháng 12/2007), “Chiến lược phòng thủ đất nước qua hệ thống thái ấp thời Trần (thế kỷ XIII - XIV)” (tháng 2/2003) in trong tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đến các tác phẩm “Thái ấp - điền trang thời Trần (thế kỷ XIII - XIV)”, Nxb Khoa học xã hội,
2002 và “Kinh tế, xã hội thời Trần (thế kỷ XIII - XIV)” tác giả Nguyễn Thị Phương Chi
Trang 9Trường đối với sự nghiệp nhà Trần, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế mà trước hết là nông nghiệp, quá trình phát triển từ Hành cung Tức Mặc - Thiên Trường (thế kỷ XIII - XIV) đến Doanh trấn Vị Hoàng rồi Đô thị Vị Hoàng (thế kỷ XVIII - XIX) là tiền đề trực tiếp
để hình thành nên thành phố Nam Định thời cận hiện đại, phân tích vai trò của vùng đất Thiên Trường - Vị Hoàng trong suốt chiều dài phát triển của đất nước
Trong bài “Từ quý hương Tức Mặc đến hành cung Thiên Trường - quá trình lịch
sử, tự nhiên và tâm thế của vương triều Trần - Đại Việt thế kỷ XIII” đăng trong Tạp chí
Nghiên cứu Lịch sử số 1/2012, tác giả Nguyễn Hải Kế đã đánh giá sơ lược về vai trò của vùng đất này đối với sự nghiệp nhà Trần qua ba giai đoạn: thời kỳ đêm trước của hành cung Tức Mặc - Thiên Trường, thời kỳ Hành cung Tức Mặc và thời kỳ Hành cung Thiên Trường
Tác giả Vũ Đại An trong Luận văn Thạc sĩ Khu vực học “Quần thể khu di tích Hành cung Tức Mặc - Thiên Trường” đã giới thiệu khái quát về sự hình thành và phát
triển, quy mô diện mạo cũng như vị trí vai trò của Hành cung Tức Mặc - Thiên Trường đối với sự nghiệp của vương triều Trần Trong luận văn của mình, tác giả cũng nêu ra yêu cầu khoanh vùng bảo vệ các di tích nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị to lớn
của khu di tích
b Lịch sử nghiên cứu về Lam Kinh
Biên chép của các sử gia thời phong kiến
“Đại Việt sử ký toàn thư” của các sử thần triều Lê là bộ sử đầu tiên ghi chép về
Lam Kinh Bộ sử này đã đề cập đến thời điểm khởi dựng Lam Kinh, xây dựng mới và trùng tu các công trình từ thời vua Lê Thái Tông đến vua Lê Hiến Tông Qua ghi chép
Trang 107
về sự quan tâm đặc biệt của các vua nhà Lê sơ dành cho vùng đất này, với việc cho xây dựng các công trình kiến trúc quy mô, những lần về Lam Kinh của các đời vua đã cho thấy vị trí và vai trò quan trọng của Lam Kinh đối với nhà Lê sơ, nhất là dưới góc
độ tinh thần tâm linh
Một số bộ sử khác cũng đề cập đến Lam Kinh Lê Quý Đôn trong “Đại Việt thông sử” có nhắc tới việc di tích Lam Kinh được nhà Mạc sửa chữa và hành lễ “xuân thu nhị kỳ” “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú miêu tả về địa thế và
một số kiến trúc, lăng mộ cùng sông suối, hồ khu vực Lam Kinh, Lam Kinh được đối sánh với Thăng Long
“Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn thì nêu vị trí, kiến
trúc, lăng mộ, các điện thờ, di tích ở khu vực Lam Kinh
Ngoài ra, Lam Kinh còn được nhắc đến trong một số tác phẩm về văn - sử học
dưới hai thời Lê - Nguyễn như “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ, “Tang thương ngẫu lục” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, “Quốc triều chính biên toát yếu” của
Cao Xuân Dục Trong các tác phẩm kể trên, dù được nhắc đến một cách gián tiếp hay trực tiếp, song đều phản ánh vị trí đặc biệt quan trọng của Lam Kinh trong lịch sử nhà Hậu Lê và dấu ấn sâu đậm của Lam Kinh trong tâm thức dân gian
Nghiên cứu của các học giả người Pháp (1905 - 1954)
Di tích Lam Kinh bắt đầu được chú ý nghiên cứu từ những năm đầu thế kỷ XX với sự quan tâm của các học giả người Pháp
- Lần đầu tiên Lam Kinh được đề cập đến trong công trình nghiên cứu của Cadière vào năm 1905 Trong công trình của mình, Cadière đã nhắc đến 8 mộ của các vua và hoàng hậu nhà Lê ở Lam Kinh, xác định chủ nhân và vị trí của từng ngôi mộ
- Từ năm 1931 - 1935, Gaspardone tiến hành nghiên cứu về hệ thống bia mộ Lam Kinh Ông đã phát hiện được 7 tấm bia ở Lam Kinh, năm 1935 công bố trong
công trình “Các tấm bia của Hoàng gia ở Lam Sơn”
- Năm 1942, trong chương trình khảo sát các di tích khảo cổ ở Thanh Hóa, Bezacier đã tiến hành khảo sát các vết tích kiến trúc và hệ thống lăng mộ ở Lam Sơn,
Trang 118
đợt 1 vào tháng 5 và đợt 2 vào tháng 12 Trong đợt khảo sát này, Bezacier đặc biệt chú
ý đến hệ thống lăng mộ của các vua và hoàng hậu triều Lê sơ Ông đề cập đến 7 ngôi
mộ, trong đó có 5 mộ vua và 2 mộ hoàng hậu, bên cạnh đó ông còn khảo sát các mộ vua thời Lê trung hưng phân bố ở dọc sông Chu Trong đợt khảo sát này, Bezacier đã khai quật mặt bằng hiện trạng trung tâm di tích Lam Kinh Đây là tư liệu rất quan trọng để tiếp cận nghiên cứu và bổ sung đầy đủ hơn mặt bằng tổng thể trung tâm Lam Kinh
Kết quả nghiên cứu của các học giả người Pháp trong giai đoạn đầu thế kỷ XX ở
di tích Lam Kinh có vai trò rất quan trọng, đây là nền tảng ban đầu để phục dựng mặt bằng khu di tích Lam Kinh và là cơ sở để các nhà nghiên cứu Việt Nam tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn
Các nhà nghiên cứu Việt Nam (từ 1954 đến nay)
Trên cơ sở kế thừa thành quả của các học giả người Pháp, các nhà nghiên cứu Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX đã có nhiều bước tiến mới trong các công trình nghiên cứu về Lam Kinh
Giai đoạn trước năm 1995 đã có 4 đợt khảo sát và khai quật khảo cổ học của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Viện Khảo cổ học, Viện Mỹ thuật và trường Đại học Mỹ thuật
Hà Nội
Từ tháng 12/1973 đến tháng 3/1974, đoàn cán bộ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam do Nguyễn Mạnh Lợi, Quang Văn Cậy và Trịnh Căn đã tiến hành khảo sát và khai quật khảo cổ học tại khu di tích Lam Kinh nhằm tìm hiểu các kiến trúc bị vùi lấp trong khu vực chính điện và sưu tầm hiện vật phục vụ trưng bày thời kỳ nhà Lê Từ kết quả khai quật các tác giả đã đi đến nhận định khái quát về quy mô và kiến trúc di tích như
Chính Điện, Nghi Môn, các tòa Thái Miếu Kết quả được công bố trong bài viết “Khai quật di tích Lam Kinh (Thanh Hóa)” in trong Những phát hiện mới về khảo cổ học
năm 1975
Năm 1978, Viện Khảo cổ học và Viện Mỹ thuật đã tiến hành khảo sát tại di tích Lam Kinh Năm 1989, trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội cũng tiến hành khảo sát về
Trang 129
kiến trúc và điêu khắc ở Lam Kinh Về cơ bản, hiện trạng di tích được các tác giả đề cập không có gì khác biệt so với trước đó
Sách “Mỹ thuật thời Lê sơ” của tập thể nhiều tác giả do Nguyễn Đức Nùng làm
chủ biên được Nxb Văn hóa ấn hành năm 1978, từ trang 14 đến trang 17 đã giới thiệu
sơ lược về Lam Sơn - Lam Kinh và hàng loạt công trình kiến trúc ở trung tâm Lam Kinh Bên cạnh đó, cuốn sách đã trình bày và nghiên cứu dưới góc độ nghệ thuật nhiều công trình ở Lam Kinh như các lăng mộ (từ trang 25 đến trang 27) và các tượng ở các lăng mộ (từ trang 35 đến trang 36)
Trong sách “Di tích Lam Kinh” do Nhà xuất bản Thanh Hóa ấn hành năm 1982,
hai tác giả Nguyễn Hảo - Xuân Long dựa trên các công trình nghiên cứu khảo cổ học của các học giả người Pháp, một số báo cáo khai quật khảo cổ học thời kỳ và các tư liệu chính sử đó đã nêu lên vai trò của đất và người Lam Sơn trong những năm đầu cuộc khởi nghĩa cũng như tổng quan khu di tích Lam Kinh trên góc nhìn nghệ thuật và văn hóa
Từ năm 1996 đến năm 2003, để phục vụ cho việc trùng tu tôn tạo di tích Lam Kinh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với Ban Quản lý Di tích Lịch sử Lam Kinh tiến hành 6 đợt nghiên cứu khảo cổ học tại trung tâm di tích Lam Kinh Công việc nghiên cứu đã đạt được những thành tựu đáng kể, là cơ sở góp phần khôi phục một cách đầy đủ diện mạo tổng thể khu trung tâm di tích Lam Kinh Qua các đợt khai quật nghiên cứu, đã phát hiện 28 di tích ở Lam Kinh: Chính Điện, Thái Miếu, Sân Rồng, Nghi Môn, Tả Vu, Hữu Vu, Tây Thất, Đông Trù, Cây đa bà Lụa, Cầu Bạch, Sông Ngọc, Hồ Bán Nguyệt, La thành, Thành Nội - Ngoại, Bờ lũy, Giếng Ngọc, Lăng vua
Lê Thái Tổ, Lăng vua Lê Thái Tông, Lăng vua Lê Nhân Tông, Lăng vua Lê Thánh Tông, Lăng vua Lê Hiến Tông, Lăng vua Lê Túc Tông, Lăng Hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao, Lăng Hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Huyên, Cánh đồng Boọng, Hồ Tây, đập nước, Kênh dẫn nước Các kết quả nghiên cứu được các tác giả công bố trong các bài viết in trong các tập Những phát hiện mới về khảo cổ học từ năm 1996 đến 2003 Đây
là cơ sở quan trọng để có thể phục dựng lại mặt bằng khu di tích Lam Kinh cũng như các nghiên cứu khác về vị trí và vai trò của Lam Kinh trong lịch sử
Trang 1310
Tác giả Nguyễn Văn Đoàn với Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Khảo cổ học mang
tên “Khu di tích trung tâm Lam Kinh (Thanh Hóa)” năm 2004 là một công trình
nghiên cứu quan trọng về khu di tích Lam Kinh Với tư cách là người tham gia trực tiếp vào cả 6 đợt khảo sát và khai quật khảo cổ học do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với Ban Quản lý Di tích Lịch sử Lam Kinh tiến hành trong những năm 1996
- 2003, trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây, kết hợp với những ghi chép trong chính sử và qua các tài liệu khác, tác giả đã có một công trình nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về khu di tích này, từ đó đưa ra nhiều nhận định và đánh giá về vị trí và vai trò của khu di tích trên các phương diện khảo cổ học, lịch sử, văn hóa Đặc biệt tác giả còn tiến hành so sánh khái quát Lam Kinh với các công trình và di tích trong bối cảnh đồng đại và lịch đại, trong đó có đối chiếu so sánh với Thiên Trường và Dương Kinh Luận án cũng đề xuất kiến nghị về việc bảo tồn và phục dựng từng phần khu trung tâm Lam Kinh
Luận văn Thạc sĩ Khoa học văn hóa mang tên “Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của các lăng mộ triều Lê sơ ở Lam Kinh” của tác giả Lê Tạo là một công trình nghiên
cứu về khu di tích Lam Kinh chủ yếu trên góc độ nghệ thuật và văn hóa
Bài viết “Lam Kinh: một dự án phục hồi tôn tạo còn đầy trăn trở” của tác giả
Phạm Quốc Quân đăng trên Tạp chí Xưa và nay số 355 (5.2010) đã đưa ra nhiều boăn khoăn, trăn trở về công tác tôn tạo và phục hồi các công trình kiến trúc trong khu di tích Lam Kinh và một số gợi ý về hướng đi cho công việc này
c Lịch sử nghiên cứu về Dương Kinh
Biên chép của các sử gia phong kiến
Do vấn đề quan điểm chính thống thời phong kiến, trong đó nhà Mạc bị các sử gia các triều đại Lê - Nguyễn coi là “ngụy triều”, nên tư liệu về nhà Mạc nói chung và
về Dương Kinh nói riêng không nhiều “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” là các bộ sử chính thống của các nhà nước Lê - Trịnh, Nguyễn
vốn đối lập với nhà Mạc nên sự ghi chép không đầy đủ và lời bình thường mang tư
tưởng thù địch “Lịch triều hiến chương loại chí” là một tập hợp các thể chế chính trị,
kinh tế, văn hóa trong lịch sử nước ta của nhà sử học Phan Huy Chú thì gần như bỏ
qua nhà Mạc Nguồn sử liệu đầy đủ và tin cậy nhất viết về nhà Mạc là “Đại Việt thông
Trang 1411
sử” của Lê Quý Đôn Với mong muốn ghi lại đầy đủ hơn về quá khứ của dân tộc, Lê
Quý Đôn đã cố gắng sưu tập những sử liệu còn lại về nhà Mạc, dưới tiêu đề là
“Nghịch thần truyện”
“Đại Việt sử ký toàn thư” của các sử thần triều Lê hầu như không ghi chép nhiều
về Dương Kinh, chỉ nói về Dương Kinh một cách rất sơ lược “Lấy một xó đất Hải Dương gọi là Dương Kinh”1
Trong “Đại Việt thông sử”, Lê Quý Đôn đã cho biết nhiều thông tin quan trọng
về Dương Kinh như một số công trình xây dựng và vai trò quan trọng của Dương Kinh, nhất là dưới hai đời vua Mạc Thái Tổ và Mạc Thái Tông
“Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết về phạm vi
và địa giới hành chính của Dương Kinh
Các tài liệu khảo cổ học
Việc nghiên cứu di tích Mạc ở Dương Kinh và vùng phụ cận mới được triển khai mạnh từ thập kỷ 80 đến nay Người lưu tâm và mở đầu cho việc nghiên cứu nghệ thuật Mạc chính là cố họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, nguyên Viện trưởng Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Đến năm 1966, dưới sự lãnh đạo của ông, Bảo tàng này đã bắt đầu giới thiệu và đặt vấn đề cần chú ý đến các di tích Mạc
Trong trào lưu nghiên cứu ngày một chú trọng hơn đến di tích thời Mạc, miền đất Dương Kinh và vùng phụ cận cũng được đặc biệt chú ý Thời gian đầu, hầu hết các nhà nghiên cứu đều nghĩ rằng do bị nhà Trịnh tàn phá cho nên khó có thể tìm thấy gì ở Dương Kinh Các bài đã viết về Dương Kinh chỉ thông qua một số ghi chép của sử sách
Là cơ quan phụ trách các di tích ở Hải phòng, Bảo tàng Hải Phòng là cơ quan đầu tiên chú trọng tới việc điều tra, phát hiện, sưu tầm các di tích ở khu vực Dương Kinh và vùng phụ cận Từ các thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ XX, Bảo tàng Hải Phòng đã phát hiện chùa Nhân Trai, ở xã Đại Hà, vốn xưa nằm trong vùng đất Dương Kinh Chùa còn rất nhiều di vật thời Mạc, một chân tảng đá chạm rồng ở đây đã được thu thập về bảo tàng và được giới thiệu vào năm 1984
1 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 174
Trang 1512
Năm 1987, một phát hiện quan trọng: hai con nghê đồng được tìm thấy ở gò Đầm Phủ, Xóm Đương, xã Ngũ Đoan tức là ở ngay lòng đất Dương Kinh Phát hiện này được công bố trong tập Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1987 Kể từ đó, các cán bộ bảo tàng Hải Phòng đã liên tục tiến hành điều tra nghiên cứu khu vực Cổ Trai ở
xã Ngũ Đoan
Năm 1991 - 1992, Bảo tàng Hải phòng phối hợp với cán bộ Viện Khảo cổ học, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam điều tra nghiên cứu khu vực Gò Gạo, đã thấy nhiều gạch ngói, đồ gốm Mạc Những kết quả này đã được công bố trong tập Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1991
Tiếp đó năm 1995 và 1996 cũng các cán bộ trên đây lại trở lại mở rộng diện điều tra sang khu di tích Mả Lăng, di tích Bến Tường và tiến hành sưu tập, thăm dò các di vật dưới lòng đất Kết quả đã bước đầu hoạch định được quy mô của Dương Kinh xưa
và thu được một số di vật khác Kết quả được công bố trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1996
Cùng với nghiên cứu khu vực Dương Kinh, các cán bộ khảo cổ học còn mở rộng diện điều tra sang toàn bộ vùng phụ cận Dương Kinh trong khu vực thành phố Hải Phòng Kết quả đã phát hiện hàng loạt chùa tháp và di chỉ có niên đại hoặc phong cách thời Mạc Năm 1984, phát hiện bệ đá hoa sen hình hộp Mạc ở chùa Trung Hành (Hưng Khánh Tự), huyện An Hải Năm 1987 tiếp tục tìm thấy thêm tượng vua Mạc bằng đá ở đây Năm 1985, phát hiện một hệ thống tượng ở chùa Thiên Phúc, Trà Phương, huyện Kiến Thụy Năm 1986 phát hiện các tượng đá ở chùa Trúc, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên Các phát hiện mới này lần lượt được công bố trong Những phát hiện mới về khảo cổ học các năm 1984, 1985, 1986 và 1987
Năm 1991 phát hiện bến gốm Làng Cũ ở đảo Cát Bà thuộc thế kỷ XVI, di tích cảng cổ ở An Quý, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo Kết quả được công bố trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1991
Năm 1992, phát hiện chùa Hòa Liễu (Kiến Thụy) Tượng vua Mạc ở chùa Lôi Động, huyện Thủy Nguyên, một số di vật Mạc ở chùa Minh Phúc, huyện Tiên Lãng, đồng thời tiến hành đào thăm dò di chỉ An Quý đã phát hiện năm trước Kết quả đào
đã cho thấy đây là một di chỉ bến bãi có nhiều gốm men thuộc thế kỷ XVI Cũng năm
Trang 1613
ấy Bảo tàng Hải Phòng và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam còn phát hiện di chỉ Minh Thị,
xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng cũng có rất nhiều gốm men thuộc các thế kỷ XVI - XVIII Kết quả được công bố trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1992 Năm 1993, Bảo tàng Hải Phòng tiến hành thăm dò quy mô hơn khu di tích ở xã Toàn Thắng đã phát hiện năm trước và thu được rất nhiều di vật quý Một loạt chùa và tượng Mạc được phát hiện cùng năm: chùa Hà Lân, chùa Bạch Đa, chùa Đại Trà Năm
1995, Bảo tàng Hải phòng đào thám sát di chỉ An Quý lần thứ hai Năm 1996, tiếp tục phát hiện thêm các di tích Mạc ở chùa Bách Phương (huyện An Lão), chùa Chiêu Tường Các phát hiện này đã được công bố trong Những phát hiện mới về khảo cổ học trong các năm đó
Như vậy, chỉ trong vòng khoảng 10 năm, khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện được nhiều di tích, di vật quý thời Mạc ở Dương Kinh và các vùng phụ cận, góp phần tích cực vào việc nghiên cứu thời Mạc nói chung và Dương Kinh nói riêng Trên cơ sở
đó, bắt đầu có một số bài viết về vùng đất Dương Kinh Chu Quang Trứ đã giới thiệu một bài chung về các tượng ở các chùa Thiên Phúc (Trà Phương), Thiên Phúc (Hòa
Liễu), Trung Hành và Bạch Đa trong bài viết “Qua một số tượng mới phát hiện, hiểu thêm về mỹ thuật thời Mạc” đăng trong Tạp chí Khảo cổ học số 4 năm 1993
Tóm lại, cho đến nửa đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các phát hiện về các di tích
và di vật ở khu vực Dương Kinh khá nhiều nhưng hầu hết các bài viết mới chỉ dừng ở dạng các thông báo khoa học ngắn và sơ lược Một số công trình công phu hơn nhưng chỉ đi vào một vài khía cạnh của di tích Dương Kinh như gốm hay tượng đá
Các nhà nghiên cứu hiện đại
“Nhà Mạc và dòng họ Mạc trong lịch sử” là kỷ yếu của cuộc Hội thảo khoa học
về Vương triều Mạc trên quê hương Kiến Thụy do UBND Thành phố Hải Phòng phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử và Viện Sử học Việt Nam tổ chức năm 1994 Kỷ yếu đã đánh giá lại toàn diện, có cái nhìn mới về một số vấn đề và một số nhân vật trong lịch
sử nhà Mạc và vai trò của nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam Trong đó tham luận “Một
số công thần vương triều Mạc ở huyện Nghi Dương xưa” của tác giả Hải Đoan đã cho
thấy vai trò quan trọng của một số danh thần võ tướng xuất thân từ vùng đất Dương Kinh đối với sự hình thành và phát triển của nhà Mạc
Trang 17Năm 1994, nhà nghiên cứu Đinh Khắc Thuân xuất bản cuốn sách “Văn bia thời Mạc” Đây là một công trình quy mô sưu tập, khảo cứu và dịch chú 165 bản văn bia
thời Mạc được lưu trữ trong Viện nghiên cứu Hán Nôm và tư liệu điền dã của chính tác giả Đây là nguồn tư liệu vô cùng quan trọng bổ sung những khiếm khuyết của chính sử, giúp hiểu rõ hơn về lịch sử nhà Mạc, trong đó có vùng đất Dương Kinh Trên
cơ sở đó năm 2001 cuốn sách “Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia” ra đời, đây
là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về nhà Mạc Tác giả Đinh Khắc Thuân dựa trên ba nguồn tư liệu chủ yếu là thư tịch cổ, phả hệ và văn khắc đã có một sự nhìn nhận và đánh giá tương đối toàn diện và khách quan đối với sự nghiệp của nhà Mạc, đặc biệt trên ba vấn đề: vấn đề “ngụy triều”, sự kiện đầu hàng và vấn đề trả lại đất cho nhà Minh Tác phẩm thể hiện những thành tựu của nhà Mạc trên các lĩnh vực tổ chức chính quyền, kinh tế, văn hóa Trong các trang 170 đến 175 phần nói về Dương Kinh tác giả đã trình bày về quá trình hình thành, phát triển cũng như vai trò của Dương Kinh đối với nhà Mạc
“Góp phần đổi mới quan điểm đánh giá Vương triều Mạc” của tác giả Mạc
Đường xuất bản năm 2005, là một cuốn sách tập hợp các công trình nghiên cứu về nhà Mạc, trong đó có cả các gia phả dòng họ Mạc, đã đánh giá lại một cách toàn diện nhà Mạc trong tiến trình lịch sử của mình trong cả hai thời kỳ ở Thăng Long cũng như thời
kỳ ở Cao Bằng Nhờ sử dụng tiếp thu nhiều tư liệu mới mà có cái nhìn khách quan về
vương triều này Trong đó có bài trả lời phỏng vấn “Dương Kinh của nhà Mạc tại Hải
Trang 1815
Phòng, kinh đô “hướng ngoại” đầu tiên của Việt Nam” của giáo sư Trần Quốc Vượng
khẳng định về giá trị, quy mô và ý nghĩa của Dương Kinh
3 Mục tiêu nghiên cứu
Chọn đề tài này, chúng tôi đặt mục tiêu làm nổi bật một số vấn đề cơ bản sau đây
- Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển và suy vong của các trung tâm chính trị thứ hai dưới thời nhà Trần, nhà Lê và nhà Mạc
- Phân tích đặc điểm và vai trò của các trung tâm chính trị thứ hai này trong lịch
sử
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
Về phương pháp nghiên cứu, hai phương pháp cơ bản được sử dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử được vận dụng để trình bày tiến trình lịch sử về quá trình hình thành, phát triển và suy vong của các trung tâm chính trị thứ hai Bên cạnh phương pháp lịch sử còn giúp so sánh, đối chiếu sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm và vai trò giữa các trung tâm chính trị thứ hai với nhau và với kinh đô Thăng Long Phương pháp logic được vận dụng để tìm ra vai trò trên các lĩnh vực qua đó rút
ra những đánh giá về tính chất và vị thế của các trung tâm chính trị thứ hai này
Bên cạnh đó, đề tài này còn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành như khảo cổ học, văn học, chính trị học nhằm làm sáng tỏ hơn một số vấn đề trong quá trình nghiên cứu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Là quá trình hình thành, đặc điểm và vai trò của một số trung tâm chính trị thứ hai trong lịch sử Việt Nam: Thiên Trường nhà Trần, Lam Kinh nhà Lê sơ, Dương Kinh nhà Mạc
Trang 1916
Phạm vi nghiên cứu về không gian: đề tài giới hạn trong phạm vi tồn tại của
các trung tâm chính trị này, cụ thể là: Thiên Trường thời nhà Trần ở địa bàn thành phố Nam Định, các xã phía nam huyện Mỹ Lộc, huyện Nam Trực thuộc tỉnh Nam Định hiện nay; Lam Kinh thời Lê sơ ở địa bàn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa ngày nay; Dương Kinh thời nhà Mạc ở địa bàn thành phố Hải Phòng và một số vùng phụ cận thuộc các tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh hiện nay
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: chủ yếu là ba triều đại: nhà Trần (1226 -
1400), nhà Lê sơ (1428 - 1527), nhà Mạc (1527 - 1592) cũng chính là thời gian tồn tại của các trung tâm chính trị thứ hai này
6 Đóng góp mới của đề tài
Qua những tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được, nhóm tác giả đề tài cố gắng hệ thống hoá tài liệu nhằm phục dựng lại bức tranh toàn cảnh về các trung tâm chính trị thứ hai đã từng xuất hiện trong các thời kỳ nhà Trần, nhà Lê và nhà Mạc Đề tài của chúng tôi có một số đóng góp nhỏ trong việc bước đầu đánh giá về các đặc điểm và nhất là về vị trí vai trò của các trung tâm chính trị này trong một cách nhìn có hệ thống
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa lý luận:
Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề quan trọng về các trung tâm chính trị thứ hai trong lịch sử Việt Nam, qua đó làm sâu sắc thêm những hiểu biết về các lịch sử các triều đại nói riêng và lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam nói chung Bên cạnh đó, căn cứ vào kết quả của đề tài, có thể tiếp tục mở rộng thêm vấn đề nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu về các trung tâm chính trị trong lịch sử Việt Nam nói riêng và lịch sử thế giới nói chung
Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài mở rộng hiểu biết về các công trình và thành tựu mà tiền nhân đã sáng tạo nên trong suốt chiều dài xây dựng và phát triển đất nước, qua đó khơi dậy ý thức bảo tồn di sản văn hóa cũng như lòng tự hào dân tộc
Trang 2017
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài bao gồm phần mở đầu, phần kết luận và nội dung gồm 4 chương như sau: Chương 1 : Cơ sở hình thành các trung tâm chính trị thứ hai trong lịch sử Việt Nam
Chương 2 : Tìm hiểu về trung tâm chính trị Thiên Trường thời Trần
Chương 3 : Tìm hiểu về trung tâm chính trị Lam Kinh thời Lê sơ
Chương 4 : Tìm hiểu về trung tâm chính trị Dương Kinh thời Mạc
Ngoài ra trong đề tài còn có mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục
Trang 211.1.1 Khái niệm trung tâm chính trị thứ hai
Khi đề cập đến trung tâm chính trị quan trọng nhất của một quốc gia, người ta thường nghĩ ngay đến thủ đô trong thời hiện đại, và kinh đô dưới thời phong kiến Thủ
đô được Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa như sau: “Thủ đô là thành phố đứng hàng đầu của một quốc gia, trung tâm của đất nước về chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - kĩ thuật Nơi làm việc của chính phủ và các cơ quan trung ương Ở nhiều nước, thủ đô được coi là đơn vị hành chính có chế độ quản lí đặc biệt”1 Còn khái niệm kinh
đô, theo GS TS Nguyễn Quang Ngọc: “Kinh đô là trung tâm chính trị, hành chính,
quân sự, kinh tế và văn hóa của đất nước Dời đô và định đô là công việc có ý nghĩa trọng đại không chỉ phản ánh nhu cầu của triều đại, đất nước và xã hội, mà còn là thước đo trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, văn minh của một đất nước, một vương triều”2
Như vậy, đối với thủ đô/kinh đô của một quốc gia, chính trị là chức năng quan trọng nhất, được đặt lên hàng đầu Thủ đô/kinh đô thường là nơi đặt phần lớn hoặc tất
cả các cơ quan quyền lực chính của một quốc gia, từ nơi đây các chính quyền nhà nước thực thi chức năng chính trị của mình trong việc quản lý và điều hành đất nước Đặc biệt dưới thời phong kiến, kinh đô có vai trò rất quan trọng, có thể ví như trái tim của vương triều, gắn bó chặt chẽ với vận mệnh của từng triều đại Sự hưng suy của các triều đại đều được thể hiện rất rõ qua hình ảnh nơi kinh đô Do đó, khi nghiên cứu về một vương triều nói riêng và lịch sử của một đất nước nói chung, người ta thường chú
ý đến kinh đô như một trong những thành tố cơ bản để quan tâm nghiên cứu Ở Việt Nam dưới thời phong kiến, vai trò của kinh đô được biểu hiện rất rõ ràng và cũng mang những đặc trưng tiêu biểu của từng triều đại phong kiến Khi còn đóng đô ở Hoa
1 Từ điển Bách khoa Việt Nam đăng trên website: http://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn/
2 GS TS Nguyễn Quang Ngọc, “Từ Văn Lang đến Thăng Long - quá trình tìm chọn kinh đô muôn đời của đất nước”, Bài đăng trên báo Nhân dân ngày 3 tháng 8 năm 2010
Trang 2219
Lư thì kinh đô chỉ là trung tâm chính trị và là địa điểm mang tính chiến lược phòng thủ
về mặt quân sự, nhưng từ khi nhà Lý được thành lập và dời đô về Thăng Long, thì kinh đô này đã trở thành một trung tâm về nhiều mặt, thể hiện giai đoạn phát triển lên đến đỉnh cao của chế độ phong kiến Việt Nam
Trung tâm chính trị là một danh từ ghép do hai danh từ “trung tâm” và “chính trị” kết hợp với nhau tạo thành Đó là sự phối hợp giữa một danh từ có ý nghĩa khái quát là “trung tâm” và một danh từ khác là “chính trị” có ý nghĩa hạn định Để tiếp cận khái niệm này, chúng ta đi từ hai thành tố của nó là “trung tâm” và “chính trị”
Trung tâm (center, centre) có nguyên thể chữ Hán là 中心 Trong đó 中 có nghĩa
là “ở giữa/ở bên trong” và 心 có nghĩa là “tim/lòng” Danh từ trung tâm theo từ điển
có 3 nghĩa: thứ nhất, nơi ở giữa một vùng nào đó, thường là nơi dân cư tập trung đông đúc nhất; thứ hai, nơi tập trung những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó, có ảnh hưởng lớn đối với những nơi khác; thứ ba, cơ quan phối hợp những hoạt động nghiên cứu hoặc dịch vụ trên một lĩnh vực nào đó1 Căn cứ vào đề tài nghiên cứu và cách tiếp cận khái niệm trong mối quan hệ liên kết với thành tố đi cùng với nó là chính trị,
chúng tôi quyết định chọn sử dụng nghĩa thứ hai, là “nơi tập trung những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó, có ảnh hưởng lớn đối với những nơi khác”
Còn chính trị (politic, politique) là một lĩnh vực phức tạp của đời sống xã hội có giai cấp, từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về chính trị Theo quan điểm của phương Đông, thì chính trị nguyên thể là 政治, trong đó 政 là “đúng đắn,
hợp lý” và 治 là “cai trị, quản lý” Như vậy, chính trị là sự quản lý hợp lý, đúng đắn
lên một cộng đồng xã hội nào đó Theo quan điểm của phương Tây, chính trị có gốc từ nguyên trong tiếng Hy Lạp là politica nghĩa là công việc liên quan đến nhà nước
Trong đó, poli- là thành phố và -tica là quản lý Như vậy chính trị là công việc quản lý
nhà nước2
Như vậy, trung tâm chính trị có thể được hiểu một cách khái quát như sau: Trung tâm chính trị là nơi diễn ra các sinh hoạt chính trị quan trọng của một đất nước, có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý nhà nước, do đó mà có được vị thế chính trị đặc biệt và tạo ra được một uy thế chính trị nhất định trong quốc gia đó Các đặc điểm
1 Từ điển Soha Tra từ đăng trên http://tratu.soha.vn
2 PGS TS Hoàng Văn Việt (2009), Bài giảng Chính trị học đại cương, ĐHKHXH & NV TP Hồ Chí Minh, tr 1
Trang 2320
về mặt chính trị bao gồm vai trò, vị thế và uy thế chính trị là những đặc điểm quan trọng nhất của các trung tâm chính trị, và cũng là cơ sở để tiến hành nhận dạng và phân biệt các trung tâm chính trị trong lịch sử Các nhu cầu về mặt chính trị quyết định
sự hình thành và phát triển của các trung tâm này, và thường khi nhu cầu đó không còn nữa, thì các trung tâm chính trị này cũng bị suy tàn theo Ngoài yếu tố chính trị ra, thì tùy vào điều kiện cụ thể mà các trung tâm chính trị có thể có sự phát triển và vai trò trên một số lĩnh vực khác như quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục Thủ đô/kinh đô là dạng trung tâm chính trị điển hình nhất và quan trọng nhất của một quốc gia
Trên cơ sở đó, trung tâm chính trị thứ hai mà chúng ta nghiên cứu có thể được định nghĩa như sau: Trung tâm chính trị thứ hai là một trong những nơi diễn ra các sinh hoạt chính trị quan trọng của đất nước, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức
bộ máy nhà nước cũng như việc vận hành hệ thống chính trị và thực hiện quyền lực của nhà nước phong kiến, do đó mà có được vị thế và uy thế chính trị nhất định đối với vương triều và đất nước đương thời Bên cạnh đó trung tâm chính trị thứ hai còn có sự phát triển và vai trò trên một số lĩnh vực khác ngoài chính trị Gọi là trung tâm chính trị thứ hai vì nó ra đời và tồn tại bên cạnh trung tâm chính trị thứ nhất và quan trọng nhất, chính là kinh đô Thăng Long Xét về các mặt vai trò, vị thế và uy thế chính trị, các trung tâm chính trị thứ hai tuy không bằng được kinh đô Thăng Long, nhưng quan trọng và nổi trội hơn hẳn các địa phương còn lại Các trung tâm chính trị thứ hai như Thiên Trường thời Trần, Lam Kinh thời Lê sơ, Dương Kinh thời Mạc là sản phẩm của các triều đại phong kiến Việt Nam, thể hiện những tính toán và sắp xếp về chiến lược của các vương triều phong kiến để củng cố chính quyền trung ương vững mạnh và giữ vững quyền thống trị của triều đại - dòng họ
1.1.2 Vài nét về sự tồn tại hai hay nhiều trung tâm chính trị ở một quốc gia trong lịch sử thế giới
Trong lịch sử thế giới, sự tồn tại hai hay nhiều trung tâm chính trị trong một quốc gia không phải là điều mới mẻ Ở Tây Á, dưới triều đại Achaemenes (690 - 328 TCN) của đế quốc Ba Tư cổ đại, từ sau khi thành lập đế quốc này không ngừng bành trướng lãnh thổ và xâm chiếm nhiều quốc gia khác nhau Đến thời hoàng đế Darius I (522 -
485 TCN) đã cho cho xây dựng 4 kinh đô là Babylon, Susa, Ectabana và Persepolis,
Trang 2421
trong đó Persepolis là kinh đô chính của đế quốc Trong lịch sử Babylon đã từng là kinh đô của Vương quốc Babylon (thuộc Iraq hiện nay) và Ecbatana đã từng là kinh đô của Đế quốc Media (thuộc tây bắc Iran hiện nay), hai quốc gia này đều bị người Ba Tư chinh phục, việc đặt các kinh đô của mình ở đây thể hiện sự quá trình mở rộng lãnh thổ của đế quốc Ba Tư
Tại Đông Á, chế độ nhiều trung tâm chính trị đã tồn tại ở nhiều nước ở khu vực này qua nhiều thời kỳ lịch sử Ở Trung Quốc, thời nhà Chu (thế kỷ XI - 256 TCN) khi giành được thiên hạ, bên cạnh kinh đô chính thức là Hạo Kinh hay còn gọi là Tông Chu, Chu Vũ Vương còn cho xây dựng một kinh đô phụ ở Lạc Ấp (còn gọi là Đông
Đô hay Thành Chu) Đến thời Chu Bình Vương (770 - 720 TCN) đã chính thức dời đô
về Lạc Ấp Đến thời nhà Tùy (581 - 618), bên cạnh kinh đô Đại Hưng (tức Trường An) còn có Đông Đô Lạc Dương Thời nhà Đường (618 - 907) cũng tương tự như vậy, bên cạnh Tây Kinh Trường An còn có Đông Kinh Lạc Dương tồn tại song song với nhau Nhà Liêu (916 -1125) và nhà Kim (1115 -1234), các triều đại ngoại tộc thống trị miền bắc Trung Quốc đều đặt 5 kinh đô Năm kinh đô của nhà Liêu: Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ, Trung Kinh Đại Định phủ, Đông Kinh Liêu Dương phủ, Nam Kinh Tích Tân phủ, Tây Kinh Đại Đồng phủ trong đó kinh đô chính thức ở Thượng kinh Lâm Hoàng phủ Nhà Kim có 5 kinh đô: Thượng Kinh Hội Ninh phủ, Đông Kinh Liêu Dương phủ, Bắc Kinh Lâm Hoàng phủ, Tây Kinh Đại Đồng phủ, Trung Đô Đại Hưng phủ, Nam Kinh Khai Phong phủ, trong đó kinh đô chính thức lần lượt được được đặt tại Thượng Kinh và Trung Đô, trong khi các kinh đô còn lại là bồi đô (kinh đô phụ) Thời nhà Minh (1368 - 1644) cũng đặt hai kinh đô là Bắc Kinh và Nam Kinh, trong đó Bắc Kinh là kinh đô chính thức còn Nam Kinh là bồi đô
Ở Triều Tiên, sau khi thống nhất được Tam Quốc, triều đình Tân La Thống nhất (668 - 935) đã đã thành lập 5 kinh đô phụ (tiểu kinh) để chính quyền trung ương gia tăng sự kiểm soát hành chính đối với vương quốc được mở rộng Vương quốc Bột Hải (một quốc gia khác của người Triều Tiên tồn tại ở vùng đông bắc Trung Quốc hiện nay trong thời gian từ năm 698 đến năm 926) cũng xây dựng 5 kinh đô, trong đó Thượng Kinh là kinh đô chính thức, các kinh đô còn lại đều là bồi đô Vương triều Cao Ly (918 - 1392) sau khi thống nhất được Hậu Tam Quốc, cũng xây dựng 4 kinh
đô, trong đó Bình Nhưỡng là kinh đô phương Tây, Hán Thành là kinh đô phương
Trang 25Tóm lại, sự tồn tại một lúc nhiều trung tâm chính trị là vấn đề đã xuất hiện khá nhiều trong lịch sử thế giới, đặc biệt là tại khu vực Đông Á, nơi Việt Nam cũng là một
bộ phận Tuy nhiên, ngoại trừ trường hợp ngoại lệ là Nhật Bản khi hai trung tâm chính trị tồn tại dựa trên nền tảng chế độ phân quyền phù hợp với đặc thù lịch sử của Nhật Bản; thì nhìn chung, sự hình thành và tồn tại của chế độ nhiều trung tâm chính trị trong lịch sử các nước Đông Á cổ trung đại không thể hiện cho xu thế phân quyền Sự tồn tại của các trung tâm này trong những triều đại tập quyền cao độ, như ở Trung Quốc thời nhà Đường, nhà Minh hay lịch sử Triều Tiên như dưới thời Tân La thống nhất và vương triều Cao Ly chứng tỏ đây chỉ là sự thay đổi cách tổ chức của xu thế chính trị tập quyền nhằm tăng cường sự quản lý về hành chính và chính trị đối với quốc gia, đảm bảo cho chính quyền trung ương được củng cố vững chắc
1.2 Cơ sở hình thành các trung tâm chính trị thứ hai trong lịch sử Việt Nam 1.2.1 Yêu cầu củng cố chính quyền trung ương vững mạnh
Sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc, nước ta đã giành được quyền tự chủ dưới thời
họ Khúc (905 - 930) và Dương Đình Nghệ (931 - 937), rồi tiến lên giành được độc lập hoàn toàn sau trận thắng Bạch Đằng lịch sử vào năm 938 Đất nước ta bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng và phát triển về mọi mặt Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, thống nhất là xu hướng chủ đạo nhưng xu hướng phân ly cát cứ vẫn tồn tại
Xu hướng đó thể hiện rõ nhất trong thời kỳ đầu đất nước ta mới giành lại được nền độc lập, chính quyền trung ương vẫn còn non yếu và đang trên đường xây dựng và củng cố
về mọi mặt
Trang 2623
Ngay sau khi vua Ngô Quyền (939 - 944) qua đời, đất nước đã rơi vào một cục diện chia cắt cát cứ giữa các hào trưởng địa phương mà sử gọi là “loạn 12 sứ quân” Trong suốt thời kỳ Đinh, Tiền Lê và trong giai đoạn đầu thời Lý, triều đình phong kiến trung ương luôn phải đối phó với các cuộc nổi dậy mang xu hướng cát cứ của các thế lực phong kiến và các tù trưởng địa phương Các vua nhà Lý đã phải sử dụng chính sách kimi, đưa nhiều công chúa gả cho các thổ tù miền núi để ràng buộc họ Cuối thời
Lý, đất nước lại cảnh chia cắt và loạn lạc bởi sự nổi lên của các thế lực phong kiến địa phương Ở khu vực Thái Bình, Nam Định có thế lực họ Trần do Trần Lý và sau đó là Trần Tự Khánh, Trần Thừa, Trần Thủ Độ đứng đầu; ở khu vực Hải Phòng, Hải Dương
có họ Đoàn do Đoàn Thượng đứng đầu; ở khu vực Bắc Giang có họ Nguyễn do Nguyễn Nộn đứng đầu Cuối cùng họ Trần là thế lực mạnh nhất đã dần đánh bại các thế lực cát cứ khác và lật đổ nhà Lý để lập ra nhà Trần
Trong quá trình xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước trung ương tập quyền chống lại xu thế cát cứ của các thế lực phong kiến đã dẫn đến việc xuất hiện trung tâm chính trị thứ hai như là một nhu cầu thiết yếu để hỗ trợ cho trung tâm chính trị thứ nhất
là kinh đô Thăng Long Trong tầm nhìn và tính toán về chính trị của vương triều phong kiến, các trung tâm chính trị thứ hai phải là căn cứ dự phòng cho vua, hoàng tộc
và triều đình để có thể ứng phó kịp thời khi xảy ra những biến động chính trị ở Thăng Long Bên cạnh đó, đối với các triều đại thực hiện chế độ Thái thượng hoàng, thì đây còn là nơi các Thượng hoàng lui về an trí sau khi nhường ngôi cho con, để cùng điều hành chính sự
Cùng với tầm nhìn và tính toán mang tính chiến lược như vậy, nơi phát tích của các triều đại là địa điểm lý tưởng nhất cho sự thành lập nên các trung tâm chính trị thứ hai Hương Tức Mặc của nhà Trần, đất Lam Sơn của nhà Lê sơ, đất Cổ Trai của nhà Mạc là chốn quê hương bản quán, nơi các dòng họ này đã xây dựng được uy tín chính trị vững chắc, nắm được lòng dân, đó là nền tảng vững chắc để rồi từ đó họ tiến lên giành lấy đế quyền Hương Tức Mặc của nhà Trần và đất Cổ Trai của nhà Mạc đều nằm ở những vị trí chiến lược của đất nước, ở vùng duyên hải phía đông nam và đông bắc đồng bằng Bắc Bộ nơi của nhiều, dân đông, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - văn hóa về mọi mặt Lam Sơn của nhà Lê sơ là vùng đất có địa thế vô cùng hiểm yếu ở
Trang 27Bộ Lĩnh đặt vạc dầu và cũi hổ ở sân triều để trừng phạt phạm nhân, Lê Hoàn hay xử phạt đánh roi những ai làm phật ý mình, Lê Long Đĩnh lấy việc giết người làm trò vui Chính quyền nhà nước trong thời kỳ này chưa được tổ chức quy củ theo chế độ phong kiến
Bắt đầu từ thời nhà Lý (1009 - 1225) mới xác lập được bộ máy nhà nước phong kiến quy củ, nề nếp, đưa đất nước vào thời kỳ phát triển ổn định Thể chế chính trị của nhà Lý dần được hoàn thiện trong các thế kỷ XI - XIII là một chế độ chính trị ổn định
và thống nhất, trên có vua, dưới vua là hệ thống chính quyền nhà nước thống nhất từ trung ương tới địa phương Điều hành hệ thống chính quyền nhà nước thống nhất của nhà Lý là đội ngũ quan chức đông đảo được tuyển chọn bằng nhiều hình thức khác nhau Để bảo vệ vững chắc nhà nước quân chủ thống nhất và quốc gia Đại Việt non trẻ, nhà Lý đã xây dựng một lực lượng quốc phòng vững mạnh và một nền pháp chế phù hợp
Nhà Trần (1225 - 1400) thành lập vẫn đóng đô ở Thăng Long, tiếp tục mở rộng
và phát triển sự hưng thịnh có từ đời nhà Lý Nhà Trần thực hiện chế độ Thái thượng hoàng, các vua nhà Trần thường nhường ngôi sớm cho con để lui về làm Thái thượng hoàng, tuy nhiên vẫn cùng với vua mới tiếp tục điều hành chính sự Để củng cố vương quyền, nhất là trong thời kỳ đầu, nhà Trần đã thực hiện một nền chuyên chính - dân
Trang 2825
chủ dòng họ1 Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy quan lại và các đơn vị hành chính thời Trần được hoàn chỉnh và chặt chẽ hơn thời Lý, nhà nước phong kiến chuyên chế trung ương tập quyền được củng cố
Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi lên ngôi vua, sáng lập ra nhà
Lê sơ (1428 - 1527) Các vua thời Lê sơ đã kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung, mang tính quan liêu chuyên chế Đến thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), nó đạt tới đỉnh cao, trở thành một nhà nước toàn trị, cực quyền Đây là một bước ngoặt lịch
sử, một sự chuyển đổi mô hình, từ nền quân chủ quý tộc thời Lý - Trần mang đậm tính Phật giáo sang một nền quân chủ quan liêu Nho giáo Đông Á Hệ thống chính trị được xây dựng hoàn thiện dưới thời Lê sơ tiếp tục được nhà Mạc (1527 - 1592) kế thừa Như vậy, cùng với sự phát triển của đất nước, thì các cơ quan, bộ máy nhà nước phong kiến cùng với các cơ chế vận hành ngày càng được hoàn thiện và củng cố Bộ máy và thể chế nhà nước phong kiến càng được hoàn thiện, thì những yêu cầu và nhiệm vụ được đặt ra ngày càng nhiều, kinh đô Thăng Long tự mình khó có thể đảm đương hết mọi vai trò và nhiệm vụ chính trị được đặt ra Trong quá trình đó, nảy sinh
ra nhu cầu về một trung tâm chính trị có thể chia sẻ vai trò và nhiệm vụ chính trị cho kinh đô Thăng Long Nhu cầu mở rộng và củng cố hệ thống chính trị là một trong những nguyên nhân cho sự ra đời của các trung tâm chính trị thứ hai trong lịch sử Việt Nam
1.2.3 Yêu cầu về một “kinh đô dự bị” khi chiến tranh xảy ra
Mặc dù đã thoát khỏi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, nhưng nền độc lập của quốc gia Đại Cồ Việt - Đại Việt non trẻ vẫn luôn bị đe dọa Đứng trước sự uy hiếp thường trực của các triều đại phong kiến phương Bắc vốn luôn đầy dã tâm và tham vọng, các triều đại Việt Nam luôn luôn có tinh thần cảnh giác cao độ Chính quyền Đại
Cồ Việt dưới các thời Đinh - Tiền Lê đã chú ý xây dựng một đạo quân đông và mạnh Dưới thời nhà Lý, quân đội gồm có quân bộ và quân thủy, có kỷ luật nghiêm minh và được huấn luyện chu đáo Triều đình lập ra khu Giảng Võ phía tây kinh thành Thăng Long để luyện tập, giảng dạy cho các tướng lĩnh và binh lính Từ thời Lý, nhà nước đã
1 Nguyễn Quang Ngọc (2010), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr 78
Trang 29các tác phẩm Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư làm tài liệu huấn luyện
tướng sĩ Đến thời Lê sơ, quân đội được tổ chức chặt chẽ và huấn luyện chu đáo nhằm bảo vệ vững chắc nền độc lập và chủ quyền quốc gia Vua Lê Thánh Tông nhiều lần ra lệnh cho các tướng trấn thủ biên giới phải nâng cao cảnh giác để đề phòng mọi bất trắc Năm 1467, nhà vua sắc dụ quan Trấn thủ và Phó Tổng binh các vệ ở các xứ An
Bang, Lạng Sơn, Tuyên Quang rằng: “Các ngươi chức vụ đứng đầu một phương, khống chế cả cõi biên thùy, phải phòng bị điều bất trắc, để ngăn ngừa giặc ngoại xâm Cần phải khuyên bảo các tướng hiệu răn đe quân lính, không được quen thói cũ, bỏ trốn về nhà, để trống vị trí phòng thủ, kẻ nào trái lệnh thì trị tội nặng hơn luật thường”1
Trong thời kỳ chính quyền phong kiến còn non yếu, các vương triều Đinh - Tiền
Lê đã lựa chọn đóng đô tại vùng đất hiểm Hoa Lư thuận lợi cho việc phòng thủ Sự kiện dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long của vua Lý Thái Tổ đã thể hiện sự tự tin vào sức mạnh giai cấp và của dân tộc của giai cấp phong kiến Việt Nam trong thời kỳ phát triển của nó Từ khi định đô tại Thăng Long, quốc gia Đại Việt không ngừng phát triển về mọi mặt, mở ra một thời kỳ huy hoàng trong lịch sử dân tộc Nhưng kinh đô Thăng Long cũng bộc lộ những điểm yếu của nó, nhất là về mặt phòng thủ quân sự Nhận xét về vấn đề này, vua Quang Trung (1753 - 1792) đã từng
nói: “Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa”2
Đặng Xuân Bảng (1828 - 1910) phân tích rõ hơn như sau: “đất này là nơi đồng bằng nội rộng, không có cái hiểm trở núi cao, sông to, nếu thế ở ngoài ngẫu nhiên không được vững thì kẻ địch thừa thắng tiến vào, không đầy năm sáu ngày đã đến được dưới thành, trong thành lại không có viện binh, tiến không đánh được, lui không giữ được”3 Rõ ràng vị thế Thăng Long phù hợp cho một kinh đô phát triển trong thời bình
1 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 668
2 Ngô gia văn phái (2015), Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Nxb Trẻ, tr 456
3 Dẫn theo bài viết “Tây Đô - Thăng Long: mối liên hệ lịch sử” của TS Nguyễn Thị Thúy, lấy từ website Tài
Nguyên Số của Đại học Quốc gia Hà Nội
http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/157/1/Nguyen%20Thi%20Thuy.pdf
Trang 3027
hơn là thời loạn và chiến thuật chiến tranh “đánh vu hồi” hơn là một vị trí cố thủ với chiến lược phòng thủ Thực tế cho thấy trong lịch sử Việt Nam, hầu hết các triều đại phong kiến đều phải đối mặt với các cuộc xâm lược từ các quốc gia phong kiến láng giềng, cả ở phương Bắc lẫn phương Nam, mà trong các cuộc chiến tranh này, kẻ thù đều hướng đến mục tiêu quan trọng nhất chính kinh đô Thăng Long Trong bối cảnh
đó, việc chỉ tồn tại một trung tâm chính trị duy nhất sẽ gặp nhiều bất lợi về quân sự Nhu cầu thiết yếu được đặt ra là phải xây dựng một trung tâm chính trị thứ hai như một căn cứ dự phòng, hay là “kinh đô thời chiến” để nhà vua và triều đình có thể lui về
đó nếu kinh đô Thăng Long bị vây hãm hay chiếm đóng Trung tâm chính trị này cũng được xây dựng như một nơi có thể đồn trú những đơn vị quân đội dự phòng của các triều đại để điều động khi cần thiết
1.2.4 Các yêu cầu khác của hoàng tộc
Trong tâm thức của các triều đại phong kiến Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, các sinh hoạt tinh thần, tâm linh đóng một vai trò rất quan trọng Các công trình lăng mộ, điện miếu được xây dựng ngay trên mảnh đất phát tích của vương triều
và các hoạt động mang tính chất nghi lễ, tâm linh diễn ra ở nơi đây sẽ phục vụ cho nhu cầu tinh thần của hoàng tộc và càng làm tăng cường thêm uy thế chính trị cho vương triều phong kiến Bên cạnh đó việc hình thành nên các trung tâm chính trị thứ hai sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển về kinh tế - văn hóa ở khu vực, càng tăng cường sự ổn định về chính trị của triều đại và sự thịnh vượng của đất nước
1.3 Các triều đại tồn tại hai trung tâm chính trị trong lịch sử Việt Nam
Các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê đều tồn tại tương đối ngắn ngủi, đóng vai trò
mở đầu cho quá trình phát triển của đất nước Các triều đại này đều chỉ có một trung tâm chính trị, cũng chính là kinh đô của triều đại mình Nhà Ngô (939 - 965) định đô tại Cổ Loa (nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội), vốn là kinh đô của nước ta dưới thời
An Dương Vương (208 - 179 TCN) còn hai triều đại Đinh và Tiền Lê đều đóng đô tại Hoa Lư (nay thuộc Ninh Bình)
Nhà Lý (1009 - 1225) được thành lập đã mở ra một thời kỳ ổn định và phát triển lâu dài của đất nước Trong thời gian tồn tại lâu dài hơn 200 năm của mình, nhà Lý đã
Trang 3128
có nhiều đóng góp tích cực cho dân tộc trên tất cả các lĩnh vực Dưới thời Lý, vùng đất phát tích là châu Cổ Pháp (Bắc Ninh) được các vua Lý đặc biệt quan tâm, thăng thành phủ Thiên Đức, tiến hành xây dựng các công trình có quy mô lớn như các lăng mộ và Thái Miếu và thương về nơi đây để tiến hành các hoạt động mang tính chất nghi lễ, tinh thần Tuy hầu như chỉ mang chức năng tinh thần - tâm linh, chưa có vai trò về chính trị nhưng châu Cổ Pháp - phủ Thiên Đức đã tạo ra những tiền đề cho sự hình thành của các trung tâm chính trị thứ hai trong các triều đại tiếp theo
Nhà Trần (1225 - 1400) là triều đại đầu tiên chính thức tồn tại hai trung tâm chính trị trong lịch sử Việt Nam Sau khi được thành lập, vương triều Trần ngay lập tức hướng về vùng đất phát tích là hương Tức Mặc tiến hành xây dựng các công trình ban đầu phục vụ cho mục đích tế lễ Năm 1262, hương Tức Mặc được nâng lên thành phủ Thiên Trường Thiên Trường chính thức trở thành trung tâm chính trị thứ hai của nhà Trần khi nó được chọn làm nơi các Thái thượng hoàng nhà Trần lui về ở sau khi nhường ngôi cho con Theo chế độ nhà Trần, các Thượng hoàng sau khi nhường ngôi cho con vẫn tiếp tục điều hành và quản lý đất nước, do đó Thiên Trường có vị thế và vai trò rất quan trọng dưới thời nhà Trần, có thể coi như một “kinh đô thứ hai” của đất nước khi đó Các vương triều sau hầu như ít nhiều đều dựa theo kinh nghiệm của triều Trần trong việc xây dựng các trung tâm chính trị thứ hai của mình
Nhà Lê sơ (1428 - 1527) được thành lập là kết quả của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
do người anh hùng dân tộc Lê Lợi lãnh đạo Là quê hương của Lê Lợi và nơi che chở cho nghĩa quân Lam Sơn trong những ngày đầu gian khó, sau khi nhà Lê được thành lập, mảnh đất Lam Sơn liền được đổi tên thành Lam Kinh Từ đây Lam Kinh được chọn làm nơi an táng các vua và hoàng hậu nhà Lê sơ và được quy hoạch xây dựng trở thành một quần thể công trình kiến trúc bao gồm các lăng mộ, điện miếu, thành quách phục vụ cho chức năng nghi lễ, tâm linh của vương triều Bên cạnh chức năng
về tâm linh, Lam Kinh cũng giữ vai trò chính trị quan trọng, là một căn cứ vững chắc mang tính chiến lược của vương triều Lê sơ
Nhà Mạc (1527 - 1592) đã tiếp thu nhiều kinh nghiệm chính trị của các triều đại
đi trước Ngay sau khi vừa lên ngôi, Mạc Đăng Dung đã cho nâng cấp vùng đất phát tích của mình là Cổ Trai lên thành Dương Kinh và tiến hành xây dựng một loạt các công trình lăng tẩm, cung điện, Thái Miếu với quy mô của một hoàng cung Nhất là
Trang 3229
sau khi Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con, lên làm Thái thượng hoàng và lui về Dương Kinh thì nơi đây thực sự trở thành một trung tâm chính trị thứ hai của nhà Mạc
Từ Dương Kinh, Mạc Đăng Dung tiếp tục điều hành và giải quyết các công việc chính
sự quan trọng nhất dưới đời vua Mạc Đăng Doanh và đầu thời vua Mạc Phúc Hải Vai trò của Dương Kinh về mặt chính trị có nhiều điểm tương đồng với Thiên Trường dưới thời Trần
Trang 3330
Chương 2 TÌM HIỂU VỀ TRUNG TÂM CHÍNH TRỊ THIÊN TRƯỜNG THỜI TRẦN 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của trung tâm chính trị Thiên Trường
Tổ tiên nhà Trần từ đời Trần Kinh đã đến định cư ở hương Tức Mặc, tức phủ
Thiên Trường sau này Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Trước kia, tổ tiên vua là người đất Mân (có người nói là người Quế Lâm), có người tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá Vua là con thứ của Thừa, mẹ họ Lê ”1
Việc cụ Thủy tổ Trần Kinh về hương Tức Mặc thì “Phả hệ Bảo tích” tại dòng họ
Trần hương Tức Mặc, xưa là Tráng Kiện, Khang Kiện còn ghi: “ đệ viết đắc phi hữu đãi, thử xứ cô khởi dương cư, thả cận hải khẩu duyên Vĩnh Giang, công ngư trợ sinh
lý tàng tu ”2 (Người em bàn hãy chọn đây dựng nhà để ở, vì nơi đây gần biển, bên sông Vĩnh Giang có thể đánh cá kiếm sống) Ngọc phả còn nói việc họ Trần đánh cá kiếm sống ở vùng sông Hưng Yên, cứu được một ông thầy Tàu trên sông gặp nạn và được thầy Tàu đền ơn bằng cách chỉ cho ngôi đất để mả ở Thái Đường (Long Hưng - Thái Bình) hy vọng mai sau đất phát công hầu khanh tướng và do sắc đẹp mà lấy được thiên hạ Như vậy, Tức Mặc là “dương cơ” (nơi sinh sống) còn Thái Đường là “âm phần” (nơi để mồ mả) của dòng họ Trần, đây chính là hai vùng đất quan trọng nhất của
họ Trần đương thời
Từ vùng đất Tức Mặc, họ Trần phát triển thế lực và lớn mạnh nhanh chóng Vào
cuối thời nhà Lý, họ Trần đã trở thành một dòng họ lớn, có thế lực trong vùng Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Nhà Trần Lý nhờ nghề đánh cá nên giàu, người quanh vùng theo về, nhân có quân chúng, cùng nổi lên làm giặc”3 Điều mà sử cũ gọi là giặc, thực
chất là hành động thu nạp hương binh để tự vệ của các hào tộc đương thời Trong bối cảnh xã hội loạn lạc triền miên cuối thời Lý, các dòng họ lớn đều tự xây dựng lực lượng riêng cho mình với hai mục đích: thứ nhất là tiến hành tự vệ, chống lại sự cướp bóc tàn phá từ bên ngoài; thứ hai là chờ đợi cơ hội thuận tiện để phát triển thế lực và
1 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 7
2 Trường Khánh (2002), Hoàng đế triều Trần: cội nguồn - ấn tượng dân gian, Nxb Văn hóa Dân tộc, tr 43
3 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 520
Trang 3431
bước vào chính trường Họ Trần do Trần Lý, sau đó là Trần Tự Khánh, Trần Thừa và Trần Thủ Độ đứng đầu đã dựa vào vùng đất căn bản là hương Tức Mặc, không ngừng phát triển thế lực, đánh bại các thế lực cát cứ khác, khống chế triều đình nhà Lý, rồi cuối cùng đoạt lấy chính quyền thông qua một cuộc hôn nhân chính trị được dàn xếp khéo léo
Khi vương triều Trần thành lập, Trần Cảnh lên ngôi vua lấy niên hiệu là Kiến
Trung vào tháng Giêng năm Bính Tuất (1226) thì đến tháng 10 cùng năm đã “tôn cha
là Thừa làm Thượng hoàng, ở cung Phụ Thiên, phường Hà Kiều về bên tả Hễ khi nước có việc lớn, thì ở trong đó mà xem xét, quyết định”1 Do nhà vua còn nhỏ tuổi (8 tuổi) nên việc chính sự đều do Thượng hoàng quyết định, sự kiện này đánh dấu sự mở đầu của chế độ Thái thượng hoàng thời nhà Trần Ở hương Tức Mặc lúc bấy giờ đã có
hành cung và Thái Miếu, vua thường về đây làm lễ hằng năm Sử chép: “Mùa Thu, tháng 8 năm Tân Mão (1231), vua ngự đến hành cung Tức Mặc, dâng lễ hưởng ở Tiên miếu, thết yến và ban lụa cho bô lão trong hương theo thứ bậc khác nhau”2
Từ năm 1239, Thiên Trường bắt đầu được đầu tư xây dựng theo quy mô của bậc
đế vương, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa Xuân, tháng Giêng, lại cho Phùng Tá Chu chức Nhập nội thái phó Sai về hương Tức Mặc xây dựng nhà cửa, cung điện”3 Qua sử sách ta biết được Phùng Tá Chu là nhân vật đã góp công rất lớn trong việc chuyển giao quyền lực từ họ Lý sang họ Trần, có thể coi là một bậc khai quốc công thần của vương triều Trần, được nhà Trần đặc biệt tin cậy và phong đến tước Hưng Nhân Vương vào năm 1233 Việc vua Trần giao cho Phùng Tá Chu xây dựng cung Thiên Trường cho thấy sự coi trọng đặc biệt của nhà Trần đối với vùng đất căn bản này
Năm 1262, Tức Mặc từ quy mô của một “hương” được chính thức nâng cấp lên
thành “phủ” Sử chép: “Đổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường”4 Từ đây Thiên Trường chính thức trở thành đơn vị hành chính đặc biệt, có vị trí trên thực tế như “kinh
đô thứ hai” Cũng năm này (1262), phủ Thiên Trường được xây dựng quy mô hơn
trước, theo như ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Cung gọi là Trùng Quang
1 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 10
2 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 15
3 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 22
4 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 46
Trang 3532
Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi là cung Trùng Hoa Lại làm chùa ở phía tây cung Trùng Quang, gọi là chùa Phổ Minh Từ đó về sau, các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này Do đó, đặt sắc dịch hai cung để hầu hạ, lại đặt quan lưu thủ để trông coi”1 Như vậy, tới thời điểm 1262, ở Thiên Trường và Thăng Long đều có cung điện cho Thượng hoàng và nhà vua Ở Thăng Long có cung Thánh Từ và cung Quan Triều, thì ở Thiên Trường có cung Trùng Quang và cung Trùng Hoa Trần Thái Tông không ở kinh đô như cha - Trần Thừa nữa mà về ở Thiên Trường, và cũng từ đây, các Thượng hoàng sau khi nhường ngôi đều về cung Trùng Quang ở Thiên Trường đã trở thành quy định mang tính chất “luật lệ” Một bộ máy bộ máy hành chính được hình thành để phục vụ thượng hoàng và nhà vua như ghi chép
trong sử cũ là “đặt sắc dịch hai cung để hầu hạ” Những năm sau đó, Thiên Trường
còn tiếp tục được xây dựng nhiều cung điện và kiến trúc khác Nhà Trần sau một thời gian xây dựng và củng cố, nhất là sau khi giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần thứ nhất 1257, đã đi vào giai đoạn hoàn thiện và phát triển Đây chính là lúc vai trò của một trung tâm chính trị như Thiên Trường được phát huy đến mức tối đa
Về mặt tổ chức hành chính, phủ Thiên Trường được coi là một phủ quan trọng thứ hai sau kinh đô Thăng Long, theo quy định nhà Trần, đứng đầu phủ Thiên Trường
là chức An Phủ sứ Những viên quan đảm trách chức vụ này phải là người đã từng qua trị nhậm ở các địa phương khác, đủ lệ khảo duyệt thì mới được vào làm An Phủ sứ Thiên Trường Như vậy những người được giao trọng trách an phủ sứ Thiên Trường phải là người có phẩm cách tốt, từng trải và có thực tài Một trong những người tiêu biểu giữ chức vụ này là Phí Trực Ông là người có tài xét xử, đã từng xử thành công vụ
án Văn Khánh - kẻ cầm đầu đảng nghịch, được Thượng hoàng Trần Anh Tông rất khen ngợi Năm Giáp Thân 1344, triều Trần có sự thay đổi một số chức quan trong triều thì đồng thời cũng đặt ra chức Thái phủ và Thiếu phủ ở Thiên Trường Như vậy,
về mặt tổ chức hành chính, nhà Trần đã đặt Thiên Trường là một phủ rất trọng yếu Sau khi Thượng hoàng Trần Anh Tông mất (1320), Thiên Trường tuy vẫn là một trung tâm chính trị quan trọng của nhà Trần nhưng đã không còn giữ được vai trò và vị
trí như thời kỳ đầu Theo như ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư, các Thượng hoàng
1 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 46
Trang 3633
Trần Minh Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Thuận Tông đều không mất ở Thiên Trường, chứng tỏ trong giai đoạn hậu kỳ của nhà Trần, Thiên Trường đã không còn là nơi cư ngụ thường xuyên của các Thượng hoàng nhà Trần nữa Các Thượng hoàng Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông đều mất ở kinh đô Thăng Long, trong khi đó vua Trần Thuận Tông bị Hồ Quý Ly ép phải dời đô về An Tôn phủ Thanh Hóa, bị ép phải nhường ngôi cho con tức Trần Thiếu Đế rồi bị bức tử không lâu sau đó Khi không còn
là nơi cư ngụ thường xuyên của các Thượng hoàng nhà Trần, Thiên Trường đã mất đi vai trò đặc biệt về chính trị như trong giai đoạn đầu
Đầu thế kỷ XV, nhà Minh lấy danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ” đem quân sang xâm lược nước ta Sau khi đặt được ách đô hộ lên nước ta, chúng đã gây ra nhiều tội
ác, đặc biệt là tàn phá một cách có chủ đích hàng loạt công trình kiến trúc và văn hóa của dân tộc ta Thiên Trường - trung tâm chính trị thứ hai một thời của nhà Trần cũng chịu chung số phận đó Quân Minh đã tàn phá tất cả lâu đài, cung điện ở phủ Thiên Trường, những con rồng đá đặt ở trước chùa Phổ Minh bị chặt mất đầu là dấu vết còn lại về sự tàn phá đó Chúng cũng phá chiếc vạc đồng ở chùa Phổ Minh - một trong An Nam tứ đại khí của Đại Việt - để lấy đồng đúc vũ khí Ngày nay ở Thiên Trường chỉ còn lại một số dấu tích và các công trình được xây dựng lại trên nền hành cung cũ
2.2 Đặc điểm của trung tâm chính trị Thiên Trường
2.2.1 Quy mô
Qua Đại Việt sử ký toàn thư ta biết được Tức Mặc đầu thời nhà Trần là đơn vị
hành chính cấp hương Quy mô của đơn vị hành chính cấp hương đến nay vẫn chưa được các nhà sử học thống nhất Các tác giả Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh
và Phan Đại Doãn trong sách Đại cương lịch sử Việt Nam cho rằng cấp hương thời
Trần có thể tương đương với cấp huyện thời sau1, còn theo tác giả Nguyễn Thị Phương Chi thì cấp hương thời Trần có thể không bằng cấp huyện hiện nay nhưng nó có thể tương đương phạm vi bốn, năm xã2 Dù theo quan điểm nào, thì quy mô của đơn vị hành chính cấp hương thời Trần cũng khá lớn, về cơ bản là tương đương với cấp
Trang 3734
huyện sau này Năm 1262, Tức Mặc được nâng lên thành phủ Thiên Trường và sau đó
là lộ, đơn vị hành chính địa phương cao nhất của Đại Việt khi đó Như vậy quy mô của Thiên Trường khá rộng lớn Phủ Thiên Trường lúc bấy giờ là cả một vùng rộng lớn thuộc miền hữu ngạn hạ lưu sông Hồng, tương đương với thành phố Nam Định, các xã phía nam huyện Mỹ Lộc, huyện Nam Trực thuộc tỉnh Nam Định hiện nay Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi đã thống kê Thiên Trường gồm 4 huyện: Giao Thủy, Nam Chân,
Mỹ Lộc và Thượng Nguyên Hành cung Tức Mặc - Thiên Trường thuộc huyện Mỹ Lộc với hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa chính là thủ phủ của đất Thiên Trường, đó cũng chính là vùng đất lõi của nhà Trần, nơi Trần Kinh đã đưa thân tộc đến sinh sống Bao quanh hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa là các cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Lan Hoa cùng các điền trang thái ấp dành cho vương phi, công chúa và hoàng thân quốc thích trải dài trên một địa vực rộng lớn
2.2.2 Các công trình kiến trúc
Ở hương Tức Mặc trong những ngày đầu tiên nhà Trần thành lập đã xây dựng
hành cung và Thái Miếu, vua thường về đây làm lễ hằng năm Sử chép: “Mùa thu, tháng 8 năm Tân Mão (1231), vua ngự đến hành cung Tức Mặc, dâng lễ hưởng ở tiên miếu, thết yến và ban lụa cho bô lão trong hương theo thứ bậc khác nhau”1
Từ năm 1239, Thiên Trường bắt đầu được đầu tư xây dựng theo quy mô của bậc
đế vương, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Canh Tý, năm thứ 8 (1239) Mùa xuân, tháng giêng, lại cho Phùng Tá Chu chức Nhập nội thái phó Sai về hương Tức Mặc dựng nhà cửa, cung điện”2 Năm 1262, khi được nâng cấp từ “hương” lên thành “phủ”, thì phủ
Thiên Trường cũng được nhà Trần tiến hành xây dựng quy mô: “Cung gọi là Trùng Quang Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi là cung Trùng Hoa Lại làm chùa ở phía tây cung Trùng Quang, gọi là chùa Phổ Minh Từ đó
về sau, các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này Do đó, đặt sắc dịch hai cung để hầu
hạ, lại đặt quan lưu thủ để trông coi”3 Như vậy, tới thời điểm 1262, ở Thiên Trường
và Thăng Long đều có cung điện cho Thượng hoàng và nhà vua Các vua Trần sau khi
1 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 15
2 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 22
3 Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê (2000), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr.46
Trang 38Thứ nhất là bộ phận trung tâm: là khu vực tập trung các công trình quan trọng
nhất gồm hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa và chùa Phổ Minh như sử cũ đã chép, trong đó:
- Cung Trùng Quang (nay là đền Trần, Nam Định) là nơi ở chính thức của các Thái thượng hoàng
- Cung Trùng Hoa, nơi các vua Trần về chầu Thái thượng hoàng hay bái yết đền miếu
Thứ hai là bộ phận các cung thất khác: bao quanh các cung điện Trùng Quang,
Trùng Hoa còn có các cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ là nơi các cung phi, quan lại, sai dịch ở và hệ thống dinh thự của các quý tộc Trần như: Bảo Lộc của An Sinh vương Trần Liễu, Cao Đài của Thượng tướng Trần Quang Khải, Lựu Phố của Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ Với việc xây dựng hàng loạt các cung điện ở quê
cũ, nhà Trần đã biến Tức Mặc - Thiên Trường trên thực tế trở thành kinh đô thứ hai, một trong những cơ quan đầu não của Đại Việt, một trung tâm chính trị - văn hóa sau kinh đô Thăng Long, dù nơi đây chưa bao giờ có danh xưng kinh đô như Lam Kinh dưới thời Lê sơ hay Dương Kinh dưới thời Mạc sau này
Thứ ba là bộ phận kinh tế, văn hóa phục vụ hành cung Trước hết là các công
trình kinh tế phục vụ cho nhu cầu của bộ phận đông đảo hoàng gia và quan lại Trần, bao gồm các công trình như Kho Nhi: khu chăn nuôi, chế biến thực phẩm, Cồn Cũi: khu vực chăn nuôi bò lợn Bên cạnh đó còn có khu làm đồ gốm ở thôn Bối, xã Mỹ Thịnh, ngoại thành Nam Định ngày nay Đồ gốm sản xuất ở đây có chữ “Thiên Trường phủ chế” hay “Vĩnh Ninh trường”
Vây quanh cung phủ là một số vườn: vườn hoa mang tên Phù Hoa (sau này là làng Phù Nghĩa), vườn Liễu hay Hoa Nha sau đổi thành là Liễu Nha, vườn lựu hay
Trang 3936
Lựu Phố Các vườn này là nơi trồng hoa, ươm hoa và cây cảnh cho vương phủ Năm
1281 năm thứ 4 đời vua Trần Nhân Tông, Nhà vua cho xây dựng ở làng Văn Hưng một khu trường học, đây còn là nơi giảng văn, bình thơ Chính ở nơi đây đến đời Trần Nghệ Tông (1370 - 1371) nhà vua mở khoa thi hội, thi đình Ngoài ra còn có một số công trình khác như Vườn Dinh, Vườn Quan, Cảnh Phú (dinh thự của các quan, nơi quan tập trung trước khi vào bái kiến Thượng hoàng; Ao Bến trên bờ sông Vĩnh Giang, hồ Bến Đinh, căn cứ thuỷ quân của nhà Trần
Tức Mặc xưa có cương vực khá rộng lớn, nó có Vĩnh Giang uốn lượn thông với sông Nhị vừa nối với Vị Hoàng Dòng sông này chảy áp sát với cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa, chùa Phổ Minh lại men theo các hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ bao quanh cung điện, phủ đệ cũng như công trình tôn giáo, tín ngưỡng của hoàng tộc Trần Vĩnh Giang vừa là đường giao thông thủy nối Thăng Long với Tức Mặc để các vua lui tới chầu hầu, yết kiến, hoặc để Thái thượng hoàng về kinh sư xem xét tình hình chính sự Vĩnh Giang còn được tạo thành dòng sông mà hai bên bờ
có vườn lựu, vườn đào, vườn quất vàng để Thượng hoàng cùng hoàng tộc và quần thần
du ngoạn
Đất Thiên Trường vốn đã là nơi có phong cảnh núi sông hữu tình, lại được bàn
tay con người xây dựng nên nhiều công trình hùng vĩ tráng lệ không kém gì kinh đô Thăng Long Lê Tắc trong An Nam chí lược đã mô tả cảnh đẹp như tiên của hành cung
Thiên Trường: “Thiên Trường phủ: Tên cũ là Tức Mặc hương, nơi phát tích họ Trần đến khi họ Trần được nước, xây một hành cung tại đó, mỗi năm đến một lần, để tỏ ra
là không bỏ quên chỗ phát tích của ông bà, rồi đổi tên là Thiên trường phủ, chỗ ấy có nước thủy triều chảy quanh thành, hai bên bờ mọc nhiều cây hoa, khí thơm ngát người, họa thuyền qua lại, giống như cảnh tiên vậy”1
Hiện vùng đất Thiên Trường xưa còn lại được hai di tích đặc biệt quý được xây dựng từ thời Trần, đó là tháp Phổ Minh và sân cung Đệ Tứ Tháp Phổ Minh cao 19,5
m gồm 14 tầng, bên trong có “xá lỵ” - di hài của đức vua Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là vị sư tổ của thiên phái Trúc Lâm của Việt Nam Cung Đệ Tứ thuộc hành cung
1Lê Tắc (2002), An Nam chí lược, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr 56
Trang 4037
Thiên Trường được các vua Trần xây dựng từ thế kỷ XIII dành cho vương phi, công chúa, hoàng thân quốc thích nghỉ ngơi Về sau, trên nền công trình này, dân sở tại dựng chùa thờ Phật, thờ Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật và tướng quân Phạm Ngũ Lão là những danh tướng có công lớn trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông Chùa cách trung tâm thành phố Nam Định khoảng 2 km về phía đông Cuối năm 1975, đầu năm 1976, các cuộc khai quật và khảo sát tại sân chùa đã phát hiện được nhiều di tích quý giá, đặc biệt là hai sân lát gạch thuộc cung Đệ Tứ cũ Sân mặt trên lát gạch vuông có cạnh 34 cm, màu sắc đỏ tươi, họa tiết là những hoa dây cách điệu Sân giữa lát gạch vuông có cạnh hơn 30 cm, trên mặt tạo hình hoa cúc cách điệu, xung quanh có đường tròn viền hoa chanh rất công phu, cho thấy nét đặc sắc của nghệ thuật tạo hình thời Trần
Đặc biệt, từ tháng 6 đến tháng 12/2006, Sở Văn hoá - Thông tin đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành thám sát khai quật khu vực các di tích Hậu Bồi, Vạn Khoảnh, Đệ Tam Tây, Lựu Phố và khu vực cánh đồng giữa chùa Phổ Minh và đền Trần với tổng diện tích là 2100m2 Kết quả, đã phát hiện hàng vạn di vật có niên đại và tầng văn hoá kéo dài từ thế kỷ XIII - XIX như: gạch lát nền hình vuông có chữ
“Vĩnh Ninh Trường”, các loại ngói mũi lá, ngói mũi sen kép, mũi sen đơn, ngói cong; dấu tích các bờ đá kè, nền sân, nền gạch, xuất lộ dấu tích kiến trúc mới như dải “hoa chanh”, các ô vuông bát giác dạng “bồn hoa”, các móng trụ bước đầu nhận diện về kiến trúc cung Trùng Hoa của các vua Trần Với hiện trạng nói trên, các di tích vừa được phát hiện có ý nghĩa khoa học rất lớn Theo GS.TS Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội đồng bảo vệ di sản: Những di tích, di vật được phát hiện qua đợt khai quật có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, là cơ sở khoa học khẳng định Hành cung Thiên Trường là kinh đô thứ hai của nhà Trần sau Thăng Long.1
2.2.3 Tính chất
Với các cung điện, công trình khác được xây dựng với quy mô và tính chất đế vương, Thiên Trường hiện lên với một vẻ đẹp đầy vương giả Trong bài thơ Hỗ giá Thiên Trường thi sự, nhà thơ đương thời là Phạm Sư Mạnh không chỉ mô tả cảnh đẹp Thiên Trường mà còn cho thấy khí thế và tính chất đế vương của vùng đất này:
1
http://www.namdinh.gov.vn/Home/NamDinh/Tunhienxahoi/2007/1225/The-dung-hanh-cung-Thien-Truong.aspx