1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du lịch văn hóa tại đảo jeju

109 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm làm rõ du lịch văn hóa ở đảo Jeju, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu các vấn đề như: hệ thống các điểm đến để tham quan du lịch văn hóa, cơ sở vật chất và tình hình quảng bá, phát t

Trang 1

Sinh viên thực hiện :

Chủ nhiệm: Nguyễn Hoàng Diệu Đang Hàn 1 2014 - 2018 Thành viên: Phan Thị Mỹ Kiều Hàn 1 2014 - 2018

Đỗ Thị Thanh Mai Hàn 1 2014 - 2018 Người hướng dẫn: ThS Dương Đức Minh

(Giảng viên Bộ môn Du lịch - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn)

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 3 NĂM 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Không có công việc nào thành công mà không có sự nỗ lực hết mình của một nhóm người đầy tâm huyết Do đó, tôi cần phải cảm ơn rất nhiều người và các đơn vị, tổ chức vì

sự giúp đỡ quý báu của họ đối với bài nghiên cứu khoa học này

Cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện tốt nhất chúng tôi hoàn thành bài nghiên cứu khoa học này bằng việc phê duyệt đề tài, hỗ trợ kinh phí cũng như tổ chức một lớp tập huấn về việc nghiên cứu khoa học

Cảm ơn Ban chủ nhiệm và Hội đồng khoa học Khoa Hàn Quốc học đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, từ việc phê duyệt đề tài cho đến việc tìm tài liệu, thông tin liên quan đến công trình nghiên cứu Chúng tôi thật sự trân trọng những lời góp

ý thẳng thắn và chân thành từ Thầy Cô để bài làm của chúng tôi hoàn chỉnh hơn

Cảm ơn thầy Dương Đức Minh – giáo viên hướng dẫn đề tài của chúng tôi đã hỗ trợ

và hướng dẫn nhiệt tình cho đề tài trong suốt thời gian qua Cảm ơn thầy Nguyễn Trung Hiệp đã theo sát và giúp đỡ trong những lúc chúng tôi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn tài liệu

Và cuối cùng, xin cảm ơn các Công ty Du lịch, Thầy Cô ở Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn và những cá nhân đã dành chút thời gian quý báu để cho chúng tôi phỏng vấn về các vấn đề cần thiết trong đề tài

Trang 3

MICE: Du lịch Công vụ (Meeting, Incentive, Conference, Exhibition, Event)

NCKH: Nghiên cứu khoa học

NXB: Nhà xuất bản

Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

UBND: Ủy ban Nhân dân

UNESCO: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

VHTTDL: Văn hóa Thể thao và Du lịch

WTO: World Tourism Organization - Tổ chức Du lịch thế giới

Trang 4

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH ẢNH

Hình 1 1: Jeju Tourism Growth 39

Hình 2 1:Nhà truyền thống ở Jeju 43

Hình 2 2: Bảo tàng quốc gia Jeju 43

Hình 2 3: Bảo tàng O'Sullo 45

Hình 2 4: Trải nghiệm pha trà ở bảo tàng 46

Hình 2 5: Ngôi nhà của Họa sĩ Lee Joong Seop 47

Hình 2 6: Bảo tàng Lee Joong Seop 47

Hình 2 7: Bảo tàng Nghệ thuật đương đại Jeju 48

Hình 2 8: Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên và Dân tộc Jeju 48

Hình 2 9: Bảo tàng giới tính và sức khỏe 49

Hình 2 10: Gấu Teddy mặc đồ truyền thống trong bảo tàng 50

Hình 2 11: Bảo tàng Chocolate 51

Hình 2 12: Nhà truyền thống trong bảo tàng Giáo dục Jeju 51

Hình 2 13: Bảo tàng Chiến tranh, Lịch sử và Hòa bình Jeju 52

Hình 2 14: Công viên tình yêu 53

Hình 2 15:Toàn cảnh công viên đá nhìn từ trên cao) 54

Hình 2 16: Tượng đá Ông ở khuôn viên của công viên đá 54

Hình 2 17: Công viên Mini Mini Jeju 55

Hình 2 18: Lâu đài kính Jeju 55

Hình 2 19: Lễ hội lửa 59

Hình 2 20:Lễ hội hoa anh đào 60

Hình 2 21: Cánh đồng hoa cải dầu 61

Hình 2 22: Món thịt lợn đen 62

Hình 2 23: Món chim trĩ 62

Hình 2 24: Món Dom – hoe 62

Hình 2 25: Món thịt ngựa 62

Hình 2 27: Món cháo bào ngư 63

Hình 2 26: Món cá thu 63

Hình 2 28: Món Sora 64

Trang 5

Hình 2 29: Trang phục của người dân Jeju 64

Hình 2 30: Hải nữ 65

Hình 2 31: Hình ảnh bà Lee Moo Nyeo 67

Hình 2 32: Khách thăm quan làng dân tộc Seongeup – Bối cảnh quay phim “Nàng Dae Jang Geum” 74

Hình 2 33: Hòn đá cô đơn 75

Hình 2 34: Khách sạn xa hoa Pyoseon Haevichi trong phim “Mật danh Iris” 75

Hình 2 35: Cánh đồng hoa cải trong phim Boy Over Flower 76

Hình 2 36: Ngôi nhà All In House 76

Hình 2 37: Trường đua ngựa trong phim Jeju Island Gatsby 77

Hình 2 38: Bãi chôn cất rác thải tại Jeju 79

Hình 3 1: Lễ hội Đất Phương Nam 87

Bảng 3 1:Bảng số lượng khách đến du lịch ở Jeju trong năm 2015 84

Trang 6

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH ẢNH

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1 Văn hóa 11

1.1.1 Khái niệm 11

1.1.2 Các loại hình văn hóa 12

1.1.3 Các đặc trưng và chức năng của văn hóa 13

1.2 Du lịch 14

1.2.1 Khái niệm 14

1.2.2 Các loại hình du lịch 16

1.2.3 Các loại tài nguyên du lịch 16

1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa 17

1.3.1 Văn hóa là nguồn lực để phát triển du lịch 18

1.3.2 Văn hóa là mục tiêu phát triển của du lịch 18

1.4 Du lịch văn hóa 19

1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển 19

1.4.2 Cơ sở lý luận về định nghĩa, phân loại và nguyên lý 21

1.4.2.1 Định nghĩa 21

1.4.2.2 Các loại hình du lịch văn hóa 22

1.4.2.3 Các nguyên lý cơ bản của du lịch văn hóa 24

1.5 Tổng quan về đảo jeju 25

1.5.1 Điều kiện tự nhiên 25

1.5.1.1 Diện tích 25

1.5.1.2 Khí hậu 26

1.5.1.3 Địa hình 27

1.5.1.4 Sinh vật: 30

1.5.2 Điều kiện xã hội 32

1.5.2.1 Lịch sử dân cư 32

Trang 7

1.5.2.2 Tôn giáo 36

1.5.2.3 Phương ngữ 38

1.5.3 Tình hình kinh doanh du lịch ở đảo Jeju 39

Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở ĐẢO JEJU 42

2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa 42

2.1.1 Làng dân tộc Seongup (성읍) 42

2.1.2 Hệ thống các bảo tàng 43

2.1.2.1 Bảo tàng quốc gia Jeju 43

2.1.2.2 Bảo tàng O’Sulloc (오설록) 45

2.1.2.3 Bảo tàng Lee Joong Seop (이중섭) 47

2.1.2.4 Bảo tàng Nghệ thuật đương đại Jeju 48

2.1.2.5 Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên và Dân tộc Jeju 48

2.1.2.6 Bảo tàng giới tính và sức khỏe 49

2.1.2.7 Bảo tàng gấu nhồi bông Teddy 50

2.1.2.8 Bảo tàng Chocolate 51

2.1.2.9 Bảo tàng giáo dục Jeju 51

2.1.2.10 Bảo tàng Chiến tranh, Lịch sử và Hòa bình Jeju 52

2.1.3 Hệ thống các công viên 53

2.1.3.1 Công viên tình yêu 53

2.1.3.2 Công viên đá Jeju 54

2.1.3.3 Công viên Mini Mini Jeju 55

2.1.3.4 Lâu đài kính Jeju 55

2.1.4 Kiểu nhà truyền thống 56

2.1.5 Phong tục 57

2.1.6 Lễ hội 59

2.1.6.1 Lễ hội lửa 59

2.1.6.2 Lễ hội hoa anh đào 60

2.1.6.3 Lễ hội hoa cải dầu 61

2.1.7 Ẩm thực 61

2.1.8 Trang phục 64

2.1.9 Nghề lặn biển 65

Trang 8

2.1.9.1 Lịch sử 65

2.1.9.2 Haenjeo (해녀 – Hải nữ) 66

2.1.9.3 Thực trạng hiện nay 66

2.1.9.4 Haenjeo đang dần mất đi 68

2.2 Cơ sở vật chất hạ tầng và nguồn nhân lực 68

2.2.1 Cơ sở vật chất hạ tầng 68

2.2.1.1 Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải 69

2.2.1.2 Cơ sở vật chất – kỹ thuật 69

2.2.1.3 Cơ sở phục vụ ăn uống và lưu trú 70

2.2.1.4 Cơ sở thể thao và cơ sở y tế 71

2.2.2 Nhân lực 71

2.3 Vấn đề quảng bá du lịch văn hóa ở đảo Jeju 72

2.3.1 Chính sách quảng bá du lịch văn hóa ở đảo Jeju của chính phủ Hàn Quốc 72

2.3.2 Quảng bá du lịch văn hóa ở đảo Jeju thông qua các hoạt động nghệ thuật (Hàn lưu) 73

2.3.2.1 Thông qua các phim ảnh 73

2.3.2.2 Các chương trình thực tế 77

2.4 Bất cập trong du lịch văn hóa ở đảo Jeju 78

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHO DU LỊCH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ JEJU 81

3.1 Du lịch văn hóa ở Việt Nam 81

3.1.1 Tình hình du lịch văn hóa ở Việt Nam 81

3.1.2 Sự đa dạng trong văn hóa Việt Nam – tiềm năng du lịch văn hóa 81

3.1.3 Sơ nét về thực trạng phát triển du lịch văn hóa 82

3.2 Những ưu điểm của du lịch văn hóa ở đảo Jeju có thể áp dụng cho du lịch văn hóa ở Việt Nam 83

3.2.1 Bài học kinh nghiệm về khắc phục tính thời vụ trong phát triển du lịch văn hóa ở Jeju áp dụng cho Việt Nam 83

3.2.2 Những ưu điểm trong xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng và nguồn nhân lực có thể áp dụng cho du lịch văn hóa ở Việt Nam 86

3.2.3 Những ưu điểm quảng bá có thể áp dụng cho du lịch văn hóa ở Việt Nam

88

KẾT LUẬN 92

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC 1: HÌNH ẢNH i PHỤ LỤC 2: NỘI DUNG PHỎNG VẤN iii

Trang 10

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Từ năm 1992, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu thiết lập mối quan hệ ngoại giao Hai nước đã có những chính sách hợp tác trong nhiều lĩnh vực để cùng nhau phát triển, từ công nghiệp, dịch vụ đến y tế, giáo dục, hầu hết chúng đều được các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư Cùng với sự phát triển của các lĩnh vực khác, du lịch cũng đã nhận được nhiều sự quan tâm song phương của cả hai nước Hàng năm, có rất nhiều người dân Việt Nam chọn Hàn Quốc là điểm du lịch cho chuyến tham quan của họ Trong số các điểm du lịch nổi tiếng ở Hàn Quốc, đảo Jeju được xem là điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch Việt Nam Thấy được tính cấp thiết của vấn đề du lịch ở đảo Jeju, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu chuyên sâu hơn về Du lịch Văn hóa ở đảo Jeju

Bài nghiên cứu của chúng tôi gồm 3 phần:

‐ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn: ở chương này, chúng tôi làm rõ các khái niệm văn hóa và du lịch, từ đó giải thích khái niệm du lịch văn hóa Và trên cơ sở đó, chúng tôi phân tích mối quan hệ mật thiết giữa du lịch và văn hóa, từ đó làm tiền đề lý luận để nghiên cứu sâu hơn về du lịch văn hóa ở đảo Jeju Tiếp theo, chúng tôi tiến hành nghiên cứu khái quát những yếu tố điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, tình hình kinh doanh du lịch,… ở đảo Jeju Từ khái quát trên, chúng tôi sẽ có những cái nhìn tổng quan về Jeju, từ đó làm tiền đề để phân tích cụ thể vị trí và chức năng của Du lịch văn hóa trong tổng thể các yếu tố cấu thành Hòn đảo Du lịch – Jeju

‐ Chương 2: Thực trạng khai thác và phát triển du lịch văn hóa ở đảo Jeju Nhằm làm rõ du lịch văn hóa ở đảo Jeju, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu các vấn đề như: hệ thống các điểm đến để tham quan du lịch văn hóa, cơ sở vật chất và tình hình quảng bá, phát triển nguồn tài nguyên du lịch văn hóa, ẩm thực, các nghề truyền thống, các lễ hội,…Từ đó mang đến cái hình chi tiết về tài nguyên văn hóa và tình hình du lịch văn hóa

ở đảo Jeju Song song đó, chúng tôi trình bày một số điểm bất cập trong việc phát triển và thực trạng du lịch văn hóa ở đảo Jeju

‐ Chương 3: Một số kiến nghị cho du lịch văn hóa ở Việt Nam nhìn từ Jeju Chúng tôi phân tích những điểm mạnh trong việc kinh doanh du lịch văn hóa ở đảo Jeju, từ đó rút

Trang 11

ra những bài học có thể áp dụng vào việc phát triển du lịch văn hóa ở các hòn đảo tương

tự Jeju nói riêng và du lịch văn hóa ở Việt Nam

Tóm lại, bài nghiên cứu này làm rõ hơn về du lịch văn hóa và đặc biệt là du lịch văn hóa tại đảo Jeju, từ đó rút ra một số bài học nhằm cải thiện tình hình du lịch văn hóa ở Việt Nam

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Cuộc sống ngày càng hiện đại thì nhu cầu vui chơi giải trí con người ngày càng nâng cao Theo đó các hoạt động du lịch cũng ngày càng được quan tâm Hàn Quốc là quốc gia được biết đến với làn sóng Hallyu, những khung cảnh tuyệt đẹp của đất nước này cũng được quảng bá thông qua những bài hát, những bộ phim Những năm gần đây, du lịch Hàn Quốc trở thành một trong những ngành du lịch thu hút nhất thế giới Để tìm hiểu sâu hơn về sự phát triển này nhóm đã chọn đề tài nghiên cứu du lịch tại đảo Jeju - hòn đảo không chỉ nổi tiếng ở Hàn Quốc mà trở thành địa điểm trăng mật thu hút nhất Châu Á Tốc độ tăng trưởng nhờ hoạt động du lịch ở đây gần như gấp đôi so với các ngành khác Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu du lịch trên hòn đảo thì cũng đã có rất nhiều công trình có giá trị Jeju không chỉ được “trời phú” cho nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, hòn đảo biệt lập chỉ rộng khoảng 1800km2 lại mang một nền văn hóa đặc sắc không dễ tìm thấy được ở bất cứ đâu Được mệnh danh là quốc gia “xuất khẩu văn hóa” lớn nhất thế giới, những giá trị văn hóa luôn được Hàn Quốc khai thác hóa tối ưu trong mọi hoạt động trong đó có du lịch Chính vì vậy nhóm đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Du lịch văn hóa ở đảo Jeju” để tìm hiểu về sự phát triển du lịch đặc biệt là du lịch văn hóa nơi đây, làm thế nào mà Jeju lại có được sự phát triển mạnh mẽ như vậy từ đó học hỏi kinh nghiệm để Việt Nam hướng tới phát triển nền du lịch năng động hiện đại nhưng vẫn mang đặc trưng văn hóa riêng biệt

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài:

Năm 2007, UNESCO công nhận Jeju là di sản thiên nhiên thế giới Từ đó, cái tên Jeju không còn xa lạ gì đối với bạn bè quốc tế Jeju trở thành một đề tài hấp dẫn trong các bài báo, tạp chí, mặt sách, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước Đặc biệt, Jeju còn là một hòn đảo được nhiều nhà khoa học chú ý đến để chọn làm đối tượng nghiên cứu Không những được nghiên cứu về các vấn đề tự nhiên như: sinh vật, rừng, biển, đất đai, mà Jeju còn được nghiên cứu về những khía cạnh văn hóa – xã hội như: lịch sử, con người, ngôn ngữ, phong tục, lễ hội,

Trang 13

Tài liệu tiếng Việt:

Trong nước, Jeju được biết đến thông qua các bài báo, tạp chí, cẩm nang du lịch là chủ yếu Bên cạnh đó, cũng có nhưng công trình nghiên cứu hay đầu sách có đề cập đến du

lịch ở Jeju như công trình“Cẩm nang du lịch Hàn Quốc” của tác giả Cho Myeong Sook

(NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2011) Nhưng những công trình ấy không đào sâu vào việc nghiên cứu riêng lẻ Jeju Những tài liệu liên quan đến văn hóa Jeju hay du lịch văn hóa ở Jeju rất khan hiếm Đa phần nội dung của những quyển sách viết về Jeju (bằng tiếng Việt) đều chỉ đề cập đến những điểm đến nổi tiếng hay vẻ đẹp của thiên nhiên hùng

vĩ ở Jeju

Tài liệu tiếng nước ngoài:

Tính tới thời điểm hiện tại có hơn 100 đầu sách và hàng trăm bài báo, luận văn, luận

án viết về đảo Jeju Trong giới hạn đề tài này, nhóm nghiên cứu sẽ tóm lược một số công trình nghiên cứu về đảo Jeju được thực hiện bởi các tác giả trong và ngoài nước (Hàn

Quốc) ghi chép lại bằng tiếng Anh

Quyển sách Jeju Island Geopark – A Volcanic Wonder of Korea (Công viên địa lý Jeju - một kỳ quan núi lửa của Hàn Quốc) (tác giả: Kyung Sik Woo, Young Kwan Sohn,

Seok Hoon Yoon, Ung San Ahn, Andy Spate, NXB Springer, 2013) đã mang đến cho đọc giả một cái nhìn tổng quan về đảo Jeju trong hầu hết các khía cạnh Quyển sách trình bày một cách hệ thống các vấn đề như: khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, hệ thống sinh thái, lịch sử (cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại), địa chất, các điểm tham quan du lịch, kinh

tế, tình hình phát triển, Có thể nói tính đến thời điểm hiện tại, quyển sách này là quyển sách (bằng tiếng anh) nghiên cứu đầy đủ và tổng quan nhất về đảo Jeju Thông qua đó chúng ta sẽ được sở hữu một khối kiến thức rộng lớn về những nhân tố kiến tạo nên vẻ đẹp ở Jeju Hơn nữa, các tác giả đã giải thích và trình bày rõ ràng các yếu tố từ tự nhiên đến kinh tế văn hóa- xã hội làm cho người đọc dễ dàng nắm bắt những thông tin cần thiết

về đảo Jeju Đây là một quyển sách rất bổ ích dành cho những người muốn tìm hiểu về

tổng quan của đảo Jeju Ngoài ra, Jeju Island: Reaching to the core of Beauty (Đảo Jeju: Chạm vào cốt lỗi của cái đẹp) của tác giả Anne Hilty đã miêu tả vẻ đẹp của Jeju một cách rất chân thật và sinh động qua lời tự sự của tác giả

Trang 14

Bên cạnh đó còn có những kết quả nghiên cứu về các vấn đề cụ thể liên quan đến Jeju

Điển hình như Moon Tides: Jeju Island Grannies of the sea và Jeju language and Tades from the Edge of the Korean Peninsula Moon Tides: Jeju Island Grannies of the sea (Thủy triều: Những người đàn bà biển khơi trên đảo Jeju) (Tác giả: Sunoo, Brenda Paik,

NXB.Seoul Selection, 2011) là quyển sách đầu tiên do người nước ngoài viết về công việc lặn để đánh bắt thủy sản, hải sâm, rong biển, của người phụ nữ ở đảo Jeju Quyển sách mang đến cho người đọc cái nhìn chân thật về cuộc sống và công việc của những người phụ nữ ở đây thông qua các thông tin và hình ảnh được ghi nhận lại trong quá trình làm việc của họ Đặc biệt, quyển sách này còn ghi chép lại lời tự sự của những nữ thợ lặn tài ba Vậy nên chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về công việc và cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của họ Và chỉ có những người nữ thợ lặn ở Jeju ấy mới có thể làm nên điều kì diệu như vậy

Quyển sách thứ hai đã đề cập đến ở trên là Jeju language and Tades from the Edge of the Korean Peninsula (Phương ngữ Jeju và những truyện kể từ rìa của bán đảo Hàn Quốc) (Tác giả: Jieun Kiaer, NXB.LINCOM GmbH, 2014) là quyển sách đầu tiên được

viết bằng tiếng anh nghiên cứu về phương ngữ ở đảo Jeju – một vấn đề tuy rất gần gũi nhưng mới mẻ trong văn hóa Jeju Tác giả đã mang đến cho người đọc một cái nhìn thú vị

về một loại ngôn ngữ khá đặc biệt của Hàn Quốc

Ngoài ra còn có những quyển sách hình và tạp chí, tập san, cẩm nang du lịch đem đến cho chúng ta một Jeju hùng vĩ, hoang sơ nhưng không kém phần hiện đại thông qua

những ảnh chụp tại Jeju Có thể kể đến như: Beautiful Jeju (Tác giả: Daniel J.Kojetin) có hơn 160 trang ảnh được ghi chép lại trong quá trình sinh sống tại đảo Jeju của tác giả

Bên cạnh đó, Jeju còn được bạn bè quốc tế biết đến qua các ấn phẩm của những nhà

nghiên cứu trên toàn thế giới có thể kể đến Jeju-do (Jeju Island), South Korea (tác giả: John Wiley & Sons, 2012) và Curse of Jeju Island (tác giả: Ronnie Ng, NXB Singapore,

Candid Creation Pub, 2007)

Đặc biệt, có nhiều tài liệu tiếng Hàn Quốc viết về các vấn đề ở đảo Jeju Cụ thể Jeju được đề cập với mật độ dày đặc hơn trên các đầu sách, tạp chí và những công trình nghiên

cứu Một số ví dụ điển hình như sau:

Trang 15

Cuốn sách 제주도비밀코스여행 (tác giả:최상희 (Choi Sang Hee), NXB 서울: 웅진씽크빅 (Seoul: Woong Jin Think Big), 2009) được coi như một cuốn nhật ký ấn tượng về 700 ngày khám phá hòn đảo, trải nghiệm cuộc sống cũng như đồng cảm với những con người nơi đây Bởi vì tác giả vốn là một phóng viên tạp chí rời bỏ thành phố nhộn nhịp đang sinh sống để đến thăm và ở lại trên đảo Jeju trong vòng hai năm Tác giả

đã sống, ngắm nhìn cũng như khám phá ra những tâm trạng ẩn, tính cách bất thường của hòn đảo qua các mùa khiến người đọc có thể cảm nhận được vẻ đẹp của Jeju cách chân thực nhất Cuốn sách không chỉ giới thiệu những địa điểm du lịch nổi tiếng mà còn cung cấp những kiến thức về những địa điểm ít được đề cập trong các tour du lịch, hay những góc khác của hòn đảo, những hướng dẫn, kinh nghiệm hữu ích khi đến đây,… để mang lại hơi thở mới cho những chuyến đi đến hòn đảo này.1

제주역사기행 (Tác giả: 이영권 (Lee Yeong Kwon), NXB 서울: 한겨레신문사

(Seoul: Nhà xuất bản dân tộc Hàn Quốc), 2004) là cuốn sách sống động viết về lịch sử đảo Jeju từ thời sơ khai Tác giả vốn là một giáo viên lịch sử được sinh ra tại hòn đảo Cùng với tình yêu dành cho hòn đảo, thông qua cuốn sách này, người đọc có thêm nhiều hiểu biết về những khía cạnh, những sự kiện lịch sử, những biến cố đau thương mà Jeju từng phải trải qua Jeju ở đây không chỉ đơn thuần được nhìn dưới con mắt là một hòn đảo bình thường nhưng được xem xét trong mối quan hệ với lĩnh vực chính trị, văn hóa, địa lí, Nghiên cứu về lịch sử cũng chính là nghiên cứu cội nguồn xa xôi của văn hóa nên

cuốn sách này chắc chắn ít nhiều sẽ có giá trị đối với công trình nghiên cứu của chúng tôi

Tác giả Kim Eui Geun (김의근) với bài nghiên cứu tài nguyên du lịch văn hóa đá ở Jeju in trên tạp chí do hiệp hội du lịch Jeju xuất bản năm 2006 Tác giả đã giới thiệu về văn hóa đá ở đảo Jeju, các loại hình văn hóa đá, những trường hợp sử dụng tài nguyên du lịch văn hóa đá ở đây.2

      

1 제주여행, 비밀코스찾기, http://m.blog.naver.com/lucyfam/50100735089

http://www.riss.kr/search/detail/DetailView.do?p_mat_type=1a0202e37d52c72d&control_no=5a8fd086e61b02aeffe 0bdc3ef48d419

Trang 16

Tác giả Song Sung Jin (송성진) với bài viết “Kế hoạch phát triển đảo Jeju” đăng trên

tạp chí do Hiệp Hội du lịch Jeju xuất bản năm 2006 đã đưa ra những lý thuyết nền tảng của ngành công nghiệp du lịch bao gồm định nghĩa và vai trò của du lịch, đặc điểm ngành công nghiệp du lịch cũng như những yêu cầu pháp lý của những Đạo luật xúc tiến du lịch.1

Lee Suk Gyeong (이숙경) – tác giả bài luận văn tốt nghiệp 지역문화 유산을활용한

미술감상교육 trình bày nội dung giới thiệu về đảo Jeju, sự hình thành và đặc điểm văn

hóa đảo và cuối cùng là giới thiệu về di sản văn hóa ở đây.2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:

Để thực hiện đề tài nay chúng tôi có bốn mục tiêu chính:

 Tìm hiểu cơ sở lí luận về du lịch văn hóa

 Khái quát đặc điểm của đảo Jeju

 Tình hình khai thác và phát triển du lịch văn hóa tại Jeju

 Bước đầu đề xuất giải pháp và hướng áp dụng những bài học kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa tại Jeju cho du lịch Việt Nam

Để thực hiện các mục tiêu trên đây, chúng tôi đã đưa ra những nhiệm vụ cụ thể:

 Phân loại các loại tài nguyên du lịch, từ đó xác định tài nguyên nào là tài nguyên

du lịch văn hóa

 Tổng hợp các tư liệu, tài liệu, thông tin liên quan đến du lịch văn hóa ở đảo Jeju

 Xác định những ưu điểm, thế mạnh, định hướng phát triển và giữ gìn du lịch văn hóa tại Jeju; đồng thời, có sự so sánh với Việt Nam Để đưa ra các phương hướng (mang tính đóng góp) để phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam

      

http://www.riss.kr/search/detail/DetailView.do?control_no=b9552966e087382cffe0bdc3ef48d419&p_mat_type=1a0 202e37d52c72d&p_submat_type=&fulltext_kind=&t_gubun=&convertFlag=Y&naverYN=&outLink=&colName=r e

http://www.riss.kr/search/detail/DetailView.do?p_mat_type=be54d9b8bc7cdb09&control_no=df7ea16fd2c102d5ffe 0bdc3ef48d419

Trang 17

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phỏng vấn sâu: khảo sát, phỏng vấn những người đã từng đến và trãi

nghiệm du lịch ở đảo Jeju (người Việt Nam và những người Hàn Quốc đang sinh sống tại TP.HCM) để có thể nắm bắt các đặc điểm về văn hóa du lịch ở đây Bằng phương pháp này chúng tôi thu thập được các thông tin như: các địa điểm du lịch văn hóa thường được giới thiệu qua các tour du lịch, những trải nghiệm thực tế của những người đã từng đến Jeju, mức độ hài lòng của khách du lịch, và những bất cập trong việc phát triển du lịch văn hóa ở Jeju

Đối tượng phỏng vấn Số lượng Nội dung phỏng vấn chủ yếu

Người Hàn Quốc đã từng đến Jeju 5

Tìm hiểu sâu về văn hóa ở Jeju và định vị tầm quan trọng của Jeju đối với đất nước Hàn Quốc

Người Việt Nam đã từng đến Jeju 5

Tìm hiểu về những trải nghiệm du lịch văn hóa ở Jeju, mức độ hài lòng và những bất cập (nếu có)

Hướng dẫn viên du lịch đã từng

Tìm hiểu (chi tiết) các địa điểm du lịch văn hóa thường được giới thiệu cho du khách Việt Nam

Công ty du lịch có tour đi Jeju 5

Tìm hiểu số lượng tour và du khách đến Jeju mỗi năm, thời gian nhiều khách nhất

và những khó khăn gặp phải

Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp: thông qua những nguồn tài liệu đáng

tin cậy như báo chí, sách ngoại văn và thông tin từ những websites uy tín của chính phủ Hàn Quốc, chúng tôi sẽ thu thập và chọn lọc những thông tin về du lịch văn hóa ở đảo Jeju một cách thật đầy đủ và chính xác Phương pháp này là phương pháp chủ đạo trong công trình nghiên cứu này Do không có điều kiện trải nghiệm thực tế loại hình du lịch văn hóa ở Jeju cho nên chủ yếu những thông tin của công trình nghiên cứu này đều được

Trang 18

thu thập từ sách, báo, tạp chí, những bài NCKH trước đó, hay những trang mang điện tử của chính phủ,…Và có lẽ đây cũng là một khuyết điểm của công trình này

Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết: sắp xếp các tài liệu thu thập được thành một hệ thống khoa học dựa trên những đặc tính riêng của mỗi chương mục

Phương pháp lịch sử: tìm hiểu về lịch sử của đảo Jeju Qua đó hiểu hơn về bản sắc

dân tộc trong cộng đồng dân cư ở địa phương và quá trình chuyển mình của đảo Jeju từ thuở còn ban sơ đến nay

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài:

Hiện nay, ngày càng có nhiều người đi du lịch không chỉ để khám phá phong cảnh đẹp

ở các nơi trên thế giới mà họ ngày càng có nhiều nhu cầu đi du lịch không chỉ ngắm cảnh

mà còn học hỏi, tìm hiểu phong tục, tập quán cũng như là nền văn hóa ở nơi đó Vì thế, đề tài của chúng tôi tiến hành nghiên cứu du lịch văn hóa ở đảo Jeju với đối tượng, phạm vi

và giới hạn của đề tài nghiên cứu như sau:

 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là du lịch văn hóa ở đảo Jeju của Hàn Quốc và cũng như là các tài nguyên du lịch văn hóa

 Chủ thể nghiên cứu là những người tham gia vào loại hình du lịch văn hóa ở đảo Jeju, bao gồm du khách tham quan, du lịch, các công ty lữ hành tổ chức tour,

 Không gian nghiên cứu (giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài) là đảo Jeju Hàn Quốc

 Thời gian nghiên cứu là những năm gần đây (cụ thể là trong khoảng 20 năm gần đây)

6 Đóng góp mới của đề tài:

Jeju là một hòn đảo du lịch rất nổi tiếng của Hàn Quốc Vì vậy, Jeju nghiễm nhiên trở thành một đề tài nghiên cứu hấp dẫn đối với những ai yêu mến và quan tâm nơi đây Trong mục sơ lược về tình hình nghiên cứu chúng tôi đã đề cập đến một số đầu sách viết

về Jeju trong rất nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, đa phần nghiêng về nghiên cứu tự nhiên (đất đai, khí hậu, rừng, biển, thực vật, động vật,…) và số ít còn lại là nghiên cứu về các khía cạnh xã hội như: nghề lặn biển, phương ngữ,… Tương tự như vậy, khi nghiên cứu về du

Trang 19

lịch, các tác giả chủ yếu đánh mạnh vào du lịch tự nhiên nhằm lột tả vẻ đẹp hoang sơ, kì

bí nơi đây Song, bên cạnh du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa ở Jeju cũng là một hình thức được nhiều khách tham quan lựa chọn Tuy nhiên số lượng các bài nghiên cứu về khía cạnh này rất ít Nhận thấy được tính cấp thiết và mới mẻ của du lịch văn hóa ở đảo Jeju, chúng tôi đã chọn khía cạnh này để làm đề tài nghiên cứu nhằm mang lại cái nhìn chi tiết hơn về loại hình du lịch văn hóa ở Jeju Và đây cũng là điểm mới của đề tài này

7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn:

Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu về du lịch đảo Jeju - đặc biệt là văn hóa nơi đây, nhằm mục đích đóng góp một phần vào việc tìm hiểu văn hóa nước Hàn Quốc trong bối cảnh giao lưu hợp tác về văn hóa - kinh tế giữa hai nước Việt Nam - Hàn Quốc

Ngoài ra, đối với sinh viên Hàn Quốc học, nghiên cứu khoa học này có thể làm tài liệu cho những môn học liên quan đến du lịch Hàn Quốc nói chung và du lịch đảo Jeju nói riêng

Không những thế, các bạn sinh viên khoa Du lịch có thể dùng bài nghiên cứu này làm tài liệu tham khảo về hình thức du lịch độc đáo, hấp dẫn này Từ đó tiếp nhận những ưu điểm để áp dụng vào tình hình du lịch nước nhà

Bài nghiên cứu khoa học này còn có thể làm tài liệu tham khảo cho các Công ty Du lịch - Lữ hành Song, dựa vào đó họ có thể xây dựng các chương trình du lịch hợp lý và khoa học hơn

Hơn nữa, bài nghiên cứu này có thể trở thành một tài liệu đáng tin cậy cho những du khách có nhu cầu tìm hiểu du lịch văn hóa ở Jeju trước khi quyết định chọn Jeju là điểm đến du lịch của họ Nếu may mắn được đăng trên các tạp chí du lịch văn hóa, thì bài nghiên cứu này đóng vai trò là đại sứ mang Hàn Quốc nói chung và Jeju nói riêng đến gần với người dân Việt Nam hơn

Trang 20

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Văn hóa

1.1.1 Khái niệm

Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh “Cultus” mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo từ: “Cultus Agri” là “gieo trồng ruộng đất” hay “Cultus Animi” là “gieo trồng tinh thần”

Năm 1952, trong quyển sách “Culture, a critical review of concept and definitions” (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa) của A.L

Kroeber và Kluckhohn đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau Cho tới nay, người ta đã thống kê có khoảng hơn 400 khái niệm về văn hóa Mỗi khái niệm phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề cần nghiên cứu của các học giả Đứng trên lập trường là một nhà nhân học, Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã định nghĩa văn hóa như sau: “văn hóa hay văn minh hiểu theo

nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể kết hợp gồm: kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được” 1 Song, William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào đã thể hiện qua: các thiết chế, tập tục, phản ứng, cư xử,…nhằm nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị2 Hay, định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của văn hóa do Pitirim-Alexandrovich Sorokin (1889

- 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học

Harvard trình bày như sau: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo

ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau3 Theo đó, năm 2002, UNESCO

đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay

      

1 Shaefer, T Richard, Xã hội học (2003) - Nhà xuất bản Thống kê, tr.99

2 Macionis, J Jonhn, Xã hội học (1987) - Nhà xuất bản Thống kê, tr.102

3 Macionis, J Jonhn, Xã hội học (1987) - Nhà xuất bản Thống kê, tr.108 

Trang 21

một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin 1

Ở Việt Nam cũng có rất nhiều học giả đưa ra khái niệm văn hóa như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm,… Song, để phù hợp với mục đích của bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm của Trần Ngọc Thêm Khái niệm ấy được

phát biểu như sau: văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội 2

Qua đó có thể hình dung văn hóa chính là thành tựu được gầy dựng từ xã hội loài người Hàng loạt giá trị vật chất và phi vật chất được kết tinh thông qua quá trình tác động của con người đến môi trường tự nhiên hoặc được nảy sinh từ chính mối quan hệ tương

tác qua lại giữa con người với nhau trong đời sống xã hội đều được xem là văn hóa

1.1.2 Các loại hình văn hóa

1.1.2.1 Văn hóa vật chất (văn hóa vật thể)

Văn hóa vật chất là các giá trị văn hóa tồn tại một cách hữu linh, con người có thể nhận biết một cách cảm tính, trực tiếp qua các giác quan (cung điện, chùa tháp, hiện vật trưng bày trong bảo tàng, thắng cảnh thiên nhiên…) có giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học được cộng đồng dân tộc, nhân loại thừa nhận

Đó là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và giá trị thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người Văn hóa vật thể quan tâm nhiều đến chất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống của con người 3 Văn hóa vật thể được khái quát hóa bằng nhiều phương pháp khác nhau tạo nên những giá trị văn hóa cao trong nền văn hóa của dân tộc Đặc biệt là trong nền văn       

1 http://www.unesco.org

2 GS.TS Trần Ngọc Thêm (1999), “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, NXB Giáo Dục, tr.10

3 “Các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể”, the-va-phi-vat-the-687371.html  

Trang 22

http://tailieu.vn/doc/luan-van-tot-nghiep-de-tai-cac-di-san-van-hoa-vat-hóa tinh thần cho con người biết tận dụng và phát huy một cách toàn diện Bên cạnh đó còn nâng cao được các giá trị phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế cho đất nước

Văn hóa vật chất và phi vật chất liên quan chặt chẽ với nhau Khảo sát một nền văn hóa có thể thấy văn hóa vật chất phản ánh những giá trị văn hóa mà nền văn hóa đó coi là quan trọng

1.1.2.2 Văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể)

Văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác Bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống,

lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa

ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác 1

1.1.3 Các đặc trưng và chức năng của văn hóa 2

1.1.3.1 Tính hệ thống

Văn hóa là nền tảng của xã hội Vì vậy, trước hết văn hóa phải có tính hệ thống Nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa, phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó Nhờ có

tính hệ thống mà văn hóa đã thực hiện được chức năng tổ chức xã hội

1.1.3.2 Tính giá trị

Văn hóa là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Tùy theo mục đích, ý nghĩa, thời gian mà người ta có các giá trị văn hóa khác nhau Song, nhờ đặc trưng giá trị,

văn hóa đã thực hiện được chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được

trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự phát triển của xã hội

      

1 Theo Luật di sản văn hóa

2 Trần Ngọc Thêm (1999), “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, NXB Giáo Dục, tr.11 – tr.13. 

Trang 23

Văn hóa là một thứ “gien” xã hội di truyền phẩm chất con người lại cho các thế hệ mai

sau Do đó, văn hóa thực hiện chức năng giáo dục thông qua truyền thống văn hóa

Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ nghi,… Bằng những truyền thống được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người Từ chức năng giáo dục, văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử

1.2 Du lịch

1.2.1 Khái niệm

Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “ Tonus” với

ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hóa thành “Tornus” và sau đó thành

“Tour” (tiếng Pháp) nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi Theo Robert Lanquar (năm 1980) từ “Tourist” lần đầu xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc

tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng mà không dịch nghĩa

Ngày nay du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến ở hầu hết các quốc gia Tuy nhiên cho đến nay thì nhận thức về du lịch vẫn chưa thống nhất Do hoàn cảnh

và góc độ nghiên cứu khác nhau, có rất nhiều định nghĩa về du lịch do các cá nhân tổ chức phi chính phủ công bố trong nhiều nguồn tài liệu khác nhau

 Theo Viện Hàn Lâm quốc tế về du lịch: “Du lịch là tập hợp các hoạt động mang tính tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình là công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch”

Trang 24

 Trong Tiếng Việt thuật ngữ du lịch được dịch qua âm Hán- Việt : du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải 1

 Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, khái niệm du lịch gồm hai thành phần riêng biệt:

o Theo định nghĩa thứ nhất: Du lịch là hoạt động của cá nhân hay tập thể trong thời gian rảnh rỗi đi đến và ở lại những nơi nằm bên ngoài khu vực lưu trú thường xuyên trong hơn 24 giờ, có tiêu tiền, lưu trú qua đêm và có

sự trở về, nhằm mục đích giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, công tác, chữa bệnh, tôn giáo… và thông qua các hoạt động du lịch đó con người có thể tham quan, khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm, hoặc hành nghề hay nhiều mục đích khác nữa

o Theo định nghĩa thứ hai: Du lịch là một hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận,

là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về mọi mặt nhằm nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích, truyền thống lịch

sử dân tộc, góp phần tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài

là tình hữu nghị với dân tộc mình Đây được coi là một hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ Bao gồm các hoạt động xây dựng, tiếp thị quảng bá, bán và thực hiện chương trình du lịch cùng các dịch vụ du lịch đính kèm

 Tại hội nghị lần thứ 27 (năm 1993) của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) đưa ra

khái niệm du lịch “ Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên (ususal enviroment) của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi vui chơi giải trí hay các mục đích khác để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục

ít hơn một năm” 2

Tựu chung lại, thuật ngữ du lịch có thể được hiểu ở hai nội hàm Một nội hàm với ý nghĩa là động từ - hoạt động di chuyển ra khỏi khu vực lưu trú thường xuyên vì mục đích nào đó và một nội hàm với ý nghĩa là danh từ - hoạt động kinh tế tổng hợp mang tính xã hội hóa đem lại hiệu quả kinh tế cao

      

1 Nguyễn Minh Tuệ, Địa lí du lịch, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2013, tr5

2 Nguyễn Minh Tuệ, Địa lí du lịch, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2013, tr6

Trang 25

Ngày nay du lịch cùng với tính toàn cầu của nó đã trở thành nhu cầu thiết yếu của người dân các nước kinh tế phát triển Du lịch cũng là tiêu chí để đánh giá đúng mức sống của dân cư nước đó

1.2.2 Các loại hình du lịch

Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ thuộc tiêu chí đưa

ra Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây :

 Phân chia theo môi trường tài nguyên: du lịch thiên nhiên, du lịch văn hoá

 Phân loại theo mục đích chuyến đi:du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch thể thao, du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo, du lịch nghiên cứu (học tập), du lịch hội nghị, du lịch thể thao kết hợp, du lịch chữa bệnh, du lịch thăm thân, du lịch kinh doanh, du lịch MICE (loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo triển lãm tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho đối tác )

 Phân loại theo lãnh thổ hoạt động: du lịch quốc tế, du lịch nội địa

 Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: du lịch miền biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê

 Phân loại theo phương tiện giao thông: du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịch bằng tàu hoả, du lịch bằng tàu thuỷ, du lịch máy bay

 Phân loại theo loại hình lưu trú: khách sạn, nhà trọ thanh niên, camping, bungalow (nhà gỗ một tầng)

 Phân loại theo lứa tuổi du lịch: du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch trung niên, du lịch người cao tuổi

 Phân loại theo độ dài chuyến đi: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày

 Phân loại theo hình thức tổ chức: du lịch tập thể, du lịch cá nhân

 Phân loại theo phương thức hợp đồng: du lịch trọn gói, du lịch từng phần

1.2.3 Các loại tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ

Trang 26

Tài nguyên du lịch gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân văn có thể được sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn những nhu cầu của du khách

Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa

Trước tiên có thể khẳng định du lịch được con người sáng tạo nên Vì thế du lịch cũng được xem là hành vi văn hóa Hay nói cách khác, du lịch nảy sinh từ đời sống xã hội và làm gia tăng chuỗi giá trị của văn hóa Cũng có thể diễn đạt rằng du lịch chất chứa những giá trị làm phong phú hơn những vốn quý được xã hội loài người sáng tạo, gìn giữ và trao truyền qua hàng nghìn năm nay

Đồng thời du lịch lại khai thác chính các giá trị văn hóa (vật thể, phi vật thể) để phục

vụ cho du khách Việc khai thác các giá trị văn hóa trong phát triển du lịch là điều dễ cảm nhận và xuất hiện một cách phổ biến ở bất kỳ lãnh thổ du lịch nào trên thế giới nói chung

và Việt Nam nói riêng

Bên cạnh đó, thông qua hoạt động du lịch các nền văn hóa trên thế giới có cơ hội xích lại gần nhau Du khách từ phương xa có cơ hội tiếp cận được những giá trị văn hóa của

điểm đến Vì thế, có thể ví sánh thông qua hoạt động du lịch “văn hóa đã được xuất khẩu tại chỗ” Nhưng chính du khách cũng chuyển tải những những giá trị văn hóa của chính

dân tộc mình trong quá trình tiếp xúc và trao đổi với người dân địa phương Điều đó cũng

có nghĩa là thông qua hoạt động du lịch việc “nhập khẩu văn hóa” được hình thành

Trang 27

1.3.1 Văn hóa là nguồn lực để phát triển du lịch

Du lịch và văn hóa luôn gắn bó mật thiết và khắng khít với nhau Thực tế cho thấy, phần lớn tài nguyên du lịch là các giá trị, thành tựu hay công trình văn hóa Bên cạnh đó, những truyền thống văn hóa được hình thành lâu đời trong tiến trình lịch sử của một vùng địa phương hay dân tộc cũng là một tài nguyên du lịch “đắt giá”

Như phần trên đã trình bày, văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Văn hóa vật thể có thể kể đến là: di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, đền miếu, chùa chiền hay những hiện vật văn hóa,… Văn hóa phi vật thể bao gồm các lễ hội, phong tục tập quán địa phương, các hình thức nghệ thuật biểu trưng,… Có thể thấy, hết thảy tất cả những sản phẩm văn hóa kể trên đều là nguồn tài nguyên của du lịch văn hóa Như vậy, chính văn hóa là nguồn lực hùng hậu nhất của du lịch Khách du lịch, đa phần, họ sẽ cảm thấy thích thú hơn với những tài nguyên văn hóa ở nơi họ đến, bởi lẽ văn hóa luôn có sức hút mạnh mẽ đối với người đi du lịch

1.3.2 Văn hóa là mục tiêu phát triển của du lịch

Văn hóa và du lịch có mối quan hệ biện chứng với nhau Bản sắc văn hóa được gìn giữ thông qua các hoạt động kinh doanh du lịch Song, phát huy bản sắc văn hóa cũng có một vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch Cốt lõi của việc kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng là thu lợi nhuận Có nhiều phương thức để mang lại lợi nhuận Và phát huy bản sắc văn hóa như phong tục, tập quán, truyền thống, lễ hội,…trong kinh doanh du lịch là một trong những phương thức đó

Để có hiệu quả trong kinh doanh du lịch, ngoài việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu về cơ sở vật chất của mình thì quan trọng hơn là chiếm được cảm tình của khách thông qua việc phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa

Khi du lịch đóng vai trò là một ngành kinh tế có định hướng phát triển bền vững thì việc bảo tồn các giá trị văn hóa được thực thi một cách hợp lý thông qua việc sử dụng các nguồn thu từ du lịch để gìn giữ và phát huy các giá trị của hệ thống di sản văn hóa Ngược lại nếu ngành kinh tế du lịch của điểm đến được định hướng phát triển không bền vững và

Trang 28

thực dụng thì chính ngành kinh tế du lịch sẽ đem lại rất nhiều rủi ro làm tổn thương thậm chí làm biến mất các giá trị của hệ thống di sản văn hóa

Mỗi quốc gia, vùng miền đều có một nét văn hóa riêng, một phần nào đó thể hiện trong cách ứng xử và giao tiếp của con người Để du khách có thể hài lòng thì người làm

du lịch phải hình thành cho mình một phong cách giao tiếp và ứng xử mang cốt cách riêng, thể hiện nét đặc trưng văn hóa của mình

Trang phục truyền thống cũng là yếu tố góp phần tạo cho khách cảm giác thoải mái khi sử dụng dịch vụ và thể hiện sự tôn trọng đối với khách Và nó cũng là điều không thể thiếu trong các lễ hội truyền thống, giúp làm nổi bật văn hóa của từng vùng khác nhau

1.4 Du lịch văn hóa

1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển 1

Vào thời của Thomas Cook – người đặt nền móng cho hoạt động kinh doanh lữ hành hiện đại – sự chú ý của dư luận không chỉ tập trung vào những tour du lịch trọn gói của hãng lữ hành Leicester mà từ những chuyến du lịch ấy, tri thức có được thông qua các chuyến đi được phục vụ vào mục đích chính trị và quân sự cho các nhà cầm quyền đương thời trong hoạt động xâm chiếm và khai thác lãnh thổ

Mục đích thật sự của hoạt động du lịch đã bị xâm hại nghiêm trọng Nhiều người cho rằng, cái gọi là du lịch thẩm mĩ hay du lịch “lịch sự” đã trở thành mục tiêu phấn đấu của những người yêu mến du lịch với ý nghĩa chân chính Người ta đề cao hình thức du lịch trên cơ sở tận hưởng cái đẹp và bảo vệ cái đẹp cho cộng đồng địa phương

Tuy nhiên, tìm hiểu từ góc độ văn hóa lịch sử, có lẽ cái gọi du lịch văn hóa đã ra đời trong thời kì La Mã cổ đại Những nhà quý tộc, chức sắc tôn giáo với các chuyến đi mơ ước về Hy Lạp, Ai Cập, đó cũng là mục tiêu phấn đấu trong cuộc đời của họ Thời bấy giờ, họ gọi là Grand Tour – “chuyến đi lớn”2 Những chuyến đi tìm hiểu lịch sử, văn hóa, tôn giáo phát triển khá nhanh từ khoảng thế kỉ XV Ở Anh, đến thế kỉ XVII, Grand Tour mới được chú ý tới, nhưng sau đó nó được chuyển thể khá nhiều thành Romantic Grand

      

1 Trần Anh Dũng, “Du lịch văn hóa đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn văn hóa học”, tr8-tr13. 

2 Tower (1985), “The Grand Tour: the key phrase in the history of tourism”, Annals of tourism. 

Trang 29

Tour – “chuyến đi lãng mạn lớn” Mục đích của hai chuyến đi này cũng khác nhau Nếu chuyến Grand Tour chỉ tập trung tham quan, tìm hiểu về thế giới văn hóa cổ xưa thì Romantic Grand Tour dành nhiều thời gian để quan tâm đến những cảnh quan đẹp và những sinh hoạt văn hóa của người dân bản địa Dù có sự khác nhau về nội dung nhưng trong những chuyến đi đó người ta vẫn thấy rằng chính nhu cầu muốn tìm hiểu, thưởng thức những giá trị văn hóa vật chất và phi vật chất của con người là nguyên nhân dẫn đến

sự xuất hiện và phát triển của loại hình du lịch văn hóa

Loại hình du lịch văn hóa này bị gián đoạn trong thời kì đế chiến thứ nhất và thứ hai Sau đó, cả ngành du lịch đều vực dậy và phát triển mạnh mẽ Trong thời gian gian đầu, du lịch biển với tiêu chí 3S (sun – mặt trời, sea – biển, sand - cát) luôn là lựa chọn ưu tiên hàng đầu của du khách Tuy nhiên, từ khoảng 1980 trở đi, các bãi biển luôn chứa một lượng khách quá tải, sự đông đúc này khiến nhiều du khách cảm thấy mệt mỏi Chính vì thế họ chuyển sang xu hướng mới, đó là các tour du lịch tham quan di tích thắng cảnh để thưởng thức và trải nghiệm văn hóa, có không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng1

Từ năm 1990 đến năm 2000 là thời gian phát triển khá nhanh của ngành du lịch thế giới nói chung và của loại hình du lịch văn hóa nói riêng Đến năm 2005, theo thống kê của WTO, châu Âu đã đón 444 triệu lượt khách quốc tế và con số này dự đoán sẽ tăng lên

717 triệu vào năm 2020 Đặc biệt, trong 444 triệu du khách có đến 85% là khách du lịch

vì mục đích trải nghiệm văn hóa2

Ngày nay, nhiều nước trên thế giới có nhiều hoạt động nhằm xây dựng và phát triển

du lịch văn hóa Điển hình như các hội nghị “Vùng du lịch văn hóa Trung Đông”, “Du lịch văn hóa châu Âu lần III”…

Với lịch sự hình thành lâu đời và quá trình phát triển đầy thử thách, du lịch văn hóa đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong ngành du lịch và trong nền kinh tế ở mỗi quốc gia Bên cạnh đó, bản thân loại hình du lịch này vẫn luôn phát triển không ngừng nghỉ và ngày càng mạnh mẽ hơn trong tương lai

      

1 Richards Gerg (1996), tlđd, tr13

2 Nguồn Hosteltur, December 2005, trích từ Luận văn thạc sĩ của Trần Anh Dũng, tlđd, trang 16

Trang 30

1.4.2 Cơ sở lý luận về định nghĩa, phân loại và nguyên lý

1.4.2.1 Định nghĩa

Cũng giống như du lịch, du lịch văn hóa có nhiều định nghĩa Mỗi nhà nghiên cứu có góc nhìn khác nhau về du lịch văn hóa, từ đó mỗi nhà nghiên cứu lại cho ra đời một định nghĩa khác nhau về du lịch văn hóa

Theo Richard Greg, “Du lịch văn hóa là sự di chuyển của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ tới những nơi có sự hấp dẫn về văn hóa với ý định tập hợp những kinh nghiệm và thông tin mới để thỏa mãn nhu cầu văn hóa của họ”1

Theo Stebbin định nghĩa rằng, “Du lịch văn hóa là sự nghiên cứu và tham gia vào những trải nghiệm văn hóa sâu sắc, mới lạ hay những trải nghiệm thẩm mĩ, trí tuệ, cảm xúc, hay những trải nghiệm tâm lý”.2

Theo Tommy D Anderson, “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch mà mục đích của nó

là khám phá các công trình kỉ niệm, di tích lịch sử, duy trì và bảo vệ chúng hay nói cách khác là giáo dục nhận thức cho cộng đồng trong công tác bảo tồn các đối tượng của du lịch văn hóa Loại hình du lịch này thực tế là sự phản ánh cho những nỗ lực vì nhu cầu duy trì và bảo vệ con người bởi các lợi ích về kinh tế, văn hóa, xã hội mà nhu cầu đó mang lại”3 Thông qua khái niệm này có thể thấy được mục đích yếu tố giáo dục và nâng cao nhận thức cho du khách trong việc tiếp cận, hiểu và nâng cao nhận thức để góp sức trong công tác bảo tồn các giá trị của hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn

Định nghĩa về du lịch văn hóa của ECTN, bằng một cách ngắn gọn có thể định nghĩa

du lịch văn hóa là du lịch dựa trên nguồn tài nguyên văn hóa bản địa, bao gồm truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử, danh lam thắng cảnh, xây dựng môi trường, địa điểm khảo cổ, các bảo tàng và các hoạt động văn hóa như lễ hội, triển lãm, sức cuốn hút của nghệ thuật, các hoạt động của nhà hát nhưng sự hấp dẫn này còn liên quan đến hoạt động sản xuất ban sơ, nghề thủ công, công nghệ sản xuất, lịch sử xã hội và cuộc sống của người dân bản địa

      

1 Richards Gerg (1996), tlđd, tr 13 

2 Robert A Stebbins, Identify and Cultural Tourism, Cambridge, MA: Blackwell, tr 5 

3 Lelanie K Smith , Issuse in Cultural tourism studies, PB Routledge London, 2003.

Trang 31

WTO có hai định nghĩa dành cho du lịch văn hóa Hiểu theo nghĩa hẹp, du lịch văn

hóa bao gồm “hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là văn hóa như các tour nghiên cứu, nghệ thuật biểu diễn, các tour văn hóa, du lịch tới các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác, thăm các di tích và di chỉ, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” Theo nghĩa rộng hơn, nó được định nghĩa là “toàn

bộ những hoạt động của con người bởi vì chúng thỏa mãn nhu cầu cần sự đa dạng, có xu hướng nâng tầm văn hóa của cá nhân và làm đầy lên kiến thức, kinh nghiệm và dẫn đến những cuộc gặp gỡ mới”1

Như vậy, đối tượng khai thác chính của loại hình du lịch văn hóa là hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn Du khách tham gia loại hình này với quan tâm và ưu tiên đầu tiên là tiếp cận và cảm nhận các giá trị văn hóa (vật thể, phi vật thể, đôi khi đan xen cả hai hình thức này) Thông qua việc tìm hiểu các giá trị văn hóa du khách sẽ có cơ hội nâng cao nhận thức của bản thân và đóng góp vào công tác bảo tồn các giá trị của di sản văn hóa tại các điểm đến mà du khách có cơ hội tiếp cận Một trong những nhân tố tích cực đóng vai trò rất quan trọng trong việc kế thừa, gìn giữ, trao truyền và chuyển tải các giá trị văn hóa đặc sắc đến du khách chính là người dân địa phương

Không chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm các nhà nghiên cứu còn xây dựng các nội dung rất thú vị liên quan đến loại hình du lịch văn hóa

1.4.2.2 Các loại hình du lịch văn hóa

Nhà nghiên cứu Chris Rojek chia du lịch văn hóa thành bốn nhóm cơ bản sau:

 Nhóm một: Du lịch văn hóa vùng di sản bao gồm tất cả những chuyến du lịch tham quan di sản thiên nhiên, di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể)

 Nhóm hai: Du lịch văn hóa thắng cảnh nhân văn gồm tất cả những chuyến du lịch thăm lại những khu di tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà của các anh hùng lịch

sử dân tộc, thăm quan nơi làm việc của các vĩ nhân

      

1 http://113.171.224.241/videoplayer/publi_wh_papers_01_vi.pdf?ich_u_r_i=d9c71be655463e2395f1740f85216b1f& ich_s_t_a_r_t=0&ich_e_n_d=0&ich_k_e_y=1645018931751563322488&ich_t_y_p_e=1&ich_d_i_s_k_i_d=2&ich_ u_n_i_t=1)

Trang 32

 Nhóm ba: Du lịch văn hóa những điểm đen là loại du lịch văn hóa đem lại cảm

giác xúc động mạnh như: tham quan khu thảm sát trong chiến tranh, tham quan khu xảy

ra tai nạn của các nhân vật nổi tiếng, hay nơi xảy ra vụ đắm tàu lịch sử, nơi chôn xác trong chiến tranh

 Nhóm bốn: Du lịch văn hóa công viên chuyên đề gồm những chuyến tham quan các công viên văn hóa chuyên đề như: Công viên nước, công viên hoa, công viên tranh nghệ thuật, công viên điêu khắc, công viên tình yêu, công viên nghệ thuật hóa trang…

Từ bốn nhóm căn bản trên, ta có các loại hình văn hóa du lịch tiêu biểu như sau:

 Thứ nhất: Về loại hình du lịch văn hóa cảm xúc là những sản phẩm khai thác các đặc tính thẩm mỹ phi vật thể thông qua các giác quan như: màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hương vị, tiếng động những thành tố tạo thành cái cội nguồn văn hóa của vùng, dân tộc hay quốc gia Những thành tố này sẽ tạo nên một vùng cảm xúc mạnh mẽ đối với du khách và để lại cho họ những kí ức đẹp về chuyến đi

 Thứ hai: Du lịch văn hóa sự kiện và lễ hội là những sản phẩm du lịch tận dụng sự kiện và lễ hội để xây dựng chương trình tour sao cho khách du lịch có thể trải nghiệm và hòa mình vào không khí của lễ hội một cách hợp lý nhất

 Thứ ba: Du lịch văn hóa di sản là sản phẩm lấy những giá trị văn hóa, lịch sử có trong di sản để cho khách thưởng thức Các nước phát triển đã đầu tư xây dựng những phim tư liệu về lịch sử hình thành và các sự kiện có liên quan đến di sản, di tích để cho khách tham quan, thưởng thức

 Thứ tư: Du lịch “Con đường văn hóa” là sản phẩm lấy “con đường văn hóa” làm hành trình của chuyến tham quan Ở mỗi điểm dừng trên con đường ấy là những minh chứng cho một thời kỳ hưng thịnh hay suy tàn của một nền văn hóa nào đó

 Thứ năm: Du lịch văn hóa hiện đại là sản phẩm khai thác các giá trị văn hóa lịch sử hiện đại bao gồm vật thể và phi vật thể như: các công trình thế kỷ, di sản thế giới hiện đại (modern world heritage), các lễ hội chuyên đề, sự kiện âm nhạc, chính trị, tôn giáo, văn hóa, thể thao… để xây dựng chương trình tham quan hấp dẫn du khách

Trang 33

 Thứ sáu: Du lịch văn hóa nông thôn là sản phẩm được xây dựng dựa vào các yếu tố sinh hoạt văn hóa nông thôn của vùng, để tạo cơ hội cho khách có thời gian trải nghiệm cuộc sống của vùng nông thôn nơi họ đến

 Thứ bảy: Du lịch văn hóa nghệ thuật ăn ngon là sản phẩm được xây dựng trên cơ

sở khai thác những nét tinh hoa ẩm thực truyền thống của vùng hoặc quốc gia tạo cho khách cơ hội nghiên cứu, thưởng thức những món ăn đặc sản truyền thống

 Thứ tám: Du lịch văn hóa ngôn ngữ là sản phẩm du lịch văn hóa dành cho những khách du lịch muốn tìm hiểu nghiên cứu một ngôn ngữ lạ nào đó đang tồn tại ở quốc gia

họ muốn đến Hình thức tour du lịch này là xây dựng một chương trình tour giao lưu với dân bản địa để học hỏi nghiên cứu ngôn ngữ

 Thứ chín: Du lịch văn hóa làng nghề truyền thống là sản phẩm du lịch khai thác các giá trị của làng nghề truyền thống, tạo cho khách cơ hội giao lưu học hỏi cách làm và mua những sản phẩm ấy

1.4.2.3 Các nguyên lý cơ bản của du lịch văn hóa 1

Hội đồng quốc tế về những công trình kỷ niệm và khu di tích ICOMOS đã đưa ra các nguyên lý của du lịch văn hóa tại Mexico vào năm 1999

Nguyên lý một: Du lịch quốc tế và du lịch nội địa là những phương tiện tiên phong cho sự trao đổi văn hóa, trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tạo cơ hội cho cộng đồng địa phương cũng như khách tham quan những kiến thức để hiểu rằng văn hóa và di sản của cộng đồng là ưu tiên hàng đầu

Nguyên lý hai: Mối quan hệ giữa những nơi có di sản và du lịch thì năng động và có thể liên quan đến các xung đột giá trị Nó nên được quản lý theo cách bền vững cho các thế hệ hiện tại và tương lai

Nguyên lý ba: Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và hoạch định du lịch cho những nơi có

di sản phải đảm bảo rằng trải nghiệm của du khách sẽ được thỏa mãn, thú vị và đáng giá Nguyên lý bốn: Cộng đồng địa phương và người bản xứ nên được liên giới trong kế hoạch bảo tồn và phát triển du lịch

      

1 Lelanie K Smith (2003), “Issuse in Cultural tourism studies”, PB Routledge London, p.31.

Trang 34

Nguyên lý năm: Du lịch và các hoạt động bảo tồn nên tạo ra lợi ích cho cộng đồng Nguyên lý sáu: các chương trình du lịch, công tác nên bảo vệ và nâng cao những đặc trưng của những di sản văn hóa và tự nhiên

1.5 Tổng quan về đảo jeju

1.5.1 Điều kiện tự nhiên

Jeju là một hòn đảo biệt lập phía Tây Nam của đại lục Hàn Quốc Nó cách Mokpo 154

km, cách Busan 304 km, cách đảo Tsushima của Nhật Bản 255,1 km Về phía đông, Jeju đối diện với đảo Tsushima và quận Nagasaki của Nhật Bản với các biển phía nam và biển Đông Hải ở giữa Về phía tây, Jeju đối diện với Thượng Hải, Trung Quốc và ở giữa là biển Đông Trung Quốc Về phía nam là biển Nam Trung Quốc và phía bắc là đất liền của Hàn Quốc với biển Đông ở giữa

Đảo Jeju tọa lạc ở phía Tây Nam Hàn Quốc Đặt ở trung tâm Đông Bắc Á giữa Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản đã cho nó vị trí địa chính trị quan trọng trong quá khứ Vào năm 1275 (thời Đế chế của Goryeo), toàn bộ các cơ quan đầu não của Tamna Won

đã được thành lập ở đây Trong hơn một thế kỉ, nó là trụ sở của cuộc xâm chiếm Nhật Bản Trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, nhiều cơ sở quân sự cũng được lập ở đây Bên cạnh đó, trong cuộc chiến tranh Hàn Quốc, đây cũng là nơi thành lập các trại huấn luyện quân đội đầu tiên Đó là tất cả những bằng chứng lịch sử cho thấy tầm quan trọng của vị trí đảo Jeju

Jeju nằm từ 126008’43’’Đ – 126058’20’’Đ ở kinh độ Kinh tuyến trung tâm nằm ở

126033’Đ Mokpo, Gunsan, Inchon, Manpo… đều nằm trên kinh tuyến trung tâm giống như đảo Jeju Jeju nằm ở 33011’27’’B – 33033’50’’B ở vĩ độ Đường vĩ độ trung tâm của

nó là 33022’29’’B.1

1.5.1.1 Diện tích

Tổng diện tích đảo Jeju là 1848,85 km2 và là tỉnh có diện tích nhỏ nhất của Hàn Quốc Vùng đất này phẳng và có hình bầu dục Ngọn núi Hallasan (한라산) nằm ở trung tâm       

1 http://english.jeju.go.kr/index.php/contents/culture-nature/nature/geographical/geography 

Trang 35

hòn đảo, nó cung cấp các đường cong tạo thành những vòng tròn đồng tâm, cho phép các vùng đất trồng dàn trải trên bờ biển Khu vực đồi núi cao từ 200 - 300m, có địa hình dốc nhẹ nhưng hầu hết trong số đó là đất để trống hoặc đồng cỏ Diện tích khu vực bờ biển là 1013,5 km2, chiếm 54,9% diện tích toàn vùng, chủ yếu được sử dụng để làm đất nông nghiệp hoặc khu dân cư Các khu vực miền núi giữa (200 - 500m so với mực nước biển)

có diện tích là 496,98 km2, chiếm 26,9% diện tích toàn vùng, nơi đây cũng chủ yếu là đất

để trống hoặc đồng cỏ Vùng núi thấp (500 – 1000m so với mực nước biển) với diện tích

là 253,34 km2, chiếm 13,7% diện tích toàn vùng và chủ yếu là rừng, trang trại nấm và điểm du lịch Cuối cùng là vùng núi cao trên 1000m so với mực nước biển với diện tích là 81,77 km2, chiếm 4,5% diện tích toàn vùng

Thành phố Jeju chiếm 977,98 km2, còn lại 870,87 km2 là diện tích của thành phố Seogwipo (서귀포) Diện tích của hai thành phố này thì cao hơn so với dân số của chúng, nói cách khác là mật độ dân số ở đây khá thấp, nguyên nhân là bởi vì diện tích này là bao gồm cả đất nông nghiệp, đồng cỏ, đất trống, thậm chí là các đỉnh núi.1

1.5.1.2 Khí hậu

 Nhiệt độ

Đảo Jeju là hòn đảo được bao quanh bởi biển, nó được xếp vào loại núi lửa ở vùng cận nhiệt đới Jeju có khí hậu đại dương ôn đới vì nó chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ hai dòng hải lưu Kuroshio và Tshushima Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 11,70

C, trong đó, nhiệt độ cao nhất là ở Seogwipo, nhiệt độ thấp nhất là ở Hallasan Nhiệt độ trung bình năm ở Jeju tương đối thấp so với những nơi khác có cùng vĩ độ trên Trái đất

Mùa đông ở Jeju khá ngắn và có khí hậu ấm áp so với những nơi trong đất liền Từ một quan điểm khí hậu, không có mùa đông ở Jeju, nếu mùa đông được đo như một khoảng thời gian khi nhiệt độ hằng tháng thấp nhất là dưới 0oC thì có hơn 100 ngày từ khu vực giữa và phía bắc đại lục, khoảng 50 đến 100 ngày khu vực phía nam và chỉ 17 ngày tại Jeju

      

1 http://english.jeju.go.kr/index.php/contents/AboutJeju/intro/geography 

Trang 36

 Lượng mưa

Lượng mưa hằng năm tại Jeju trong 30 năm qua được báo cáo là 2044mm cho toàn bộ đảo và 1560mm cho các khu vực ven biển Lượng mưa trung bình hằng năm tại Jeju là tương đối cao so với những nơi khác trên Trái đất có cùng vĩ độ Lí do là núi Halla ngăn chặn khối không khí có độ ẩm cao di chuyển từ biển

Khoảng 43% lượng mưa hằng năm tập trung vào tháng 6, 7, 8 tại đảo Jeju, so với 60% tại Seoul và 51% tại Taegu Hòn đảo này độc đáo ở chỗ có cái gọi là “Bracken Rainy Spell”, nó đến trước mùa gió mùa, lướt qua hòn đảo này vào mùa xuân Trong mùa mưa xuân, có một loạt các cơn mưa phùn giúp cho lượng mưa ở thời gian này cao thứ 2 trong năm, chiếm 23% lượng mưa trong năm

 Gió

Gió là một trong ba yếu tố ảnh hưởng đến khí hậu bên cạnh nhiệt độ và lượng mưa,

và đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nó Vận tốc gió trung bình ở khu vực ven biển là 3,5m/s Khu vực phía tây của hòn đảo, tập trung ở Mosuplo được phân vào khu vực có gió mạnh, đạt 4,1m/s Nói chung, vùng hay có gió mạnh nằm trong các khu vực ven biển phía đông bắc của đảo, còn khu vực có gió nhẹ thì tập trung vào phía đông nam ven biển Đảo Jeju có mưa bão thường xuyên thứ hai, trên 10m mỗi giây với 117 ngày mỗi năm Vận tốc gió trung bình hằng năm là 4,7m/s mỗi năm ở Jeju, so với 2,5m/s ở Seoul và 1,3m/s ở Junggangjin Suốt những ngày mưa bão trong 4 mùa thì mùa đông có nhiều gió nhất, chiếm 36,7%, các vị trí tiếp theo mùa xuân, mùa hè và mùa thu Sở dĩ mùa đông là mùa có những ngày nhiều gió nhất vì áp suất không khí trong mùa đông, độ chênh lệch giữa áp suất không khí của đất và của biển, là lớn hơn nhiều so với mùa hè Theo một báo cáo về theo dõi bão ở Bắc Thái Bình Dương trong 43 năm qua, chỉ ra đảo Jeju là khu vực có nhiều bão tại Hàn Quốc với 110 cơn bão đi qua.1

1.5.1.3 Địa hình

Đảo Jeju được bao phủ bằng đá phun trào - hình thành ở thời kì Cenozoic thứ 4 Hòn đảo được bao quanh bởi khu núi lửa có dốc thoai thoải ở hai mặt của nó Hallasan với       

1 http://english.jeju.go.kr/index.php/contents/culture-nature/nature/geographical/climate 

Trang 37

chiều cao 1950m nằm ở trung tâm đảo Phần còn lại của hòn đảo này dốc xuống từ đỉnh của nó Baekrokdam(백록담) nằm ở đầu Hallasan, có một miệng núi lửa với đường kính

là 700m và sâu 100m Vòng ngoài phía Tây Baekrokdam gồm các vách đá làm ra

“trachyte”, vòng ngoài phía đông gồm ngọn đồi thoải làm ra đá Ba-zan Những bãi đất thấp ở Jeju, cách xa những bãi đất cao ở Hallasan được hình thành ở những vùng đất thấp với độ dốc nhẹ, xung quanh có các xỉ núi lửa hình nón Thông thường, các xỉ núi lửa hình nón có một miệng núi lửa ở phía trên cùng của ngọn núi trong khi một đồi xỉ núi lửa thì không có Một xỉ núi lửa hình nón móng ngựa là một miệng núi lửa có một phần bị xói mòn do chảy dung nham Các đá tạo thành từ tro núi lửa đã làm ra các lớp trầm tích xốp, cũng đang phân phối rất nhiều tại các vùng núi cao phía Tây, Songaksan (송악산) tại phía Tây nam, Pyoseon (표선), Sungsan (성산)…

Hệ thống lưu vực chưa được hình thành tại đảo Jeju vì đặc điểm núi lửa của nó Tại các vùng núi cao, suối nhỏ được phân phối thông qua các thung lũng bị xói mòn ở miền Bắc và miền Nam từ đỉnh Hallasan Hệ thống lưu vực phóng xạ phát triển, tập trung ở Hallasan Nguồn nước ngầm của núi chảy ra gần khu vực ven biển tại Gangjeonchun, Oedochun, Yongdochun Khu vực ven biển, bao quanh bởi những vách đá, được giới hạn

ở những khu vực Andyuk và Seoguipo, hình thành bởi đá trầm tích núi lửa và tiếp xúc với trachyt Như một ngoại lệ, khu vực Namwon và Aewol được bao phủ bởi những vách đá Ba-zan Có những vùng ven biển, nơi có cồn cát, được phân bố dày đặc để điều chỉnh hướng gió từ gió mùa đông nam thổi tới Lớp đụn cát khổng lồ được hình thành tại các khu vực ven biển phía Đông Bắc

Một loại địa hình khác có ở Jeju là Oreum (오름) “Oreum” là từ chỉ một khu vực núi lửa nhỏ có chứa một nón núi lửa, có mặt khắp nơi ở đảo Jeju Nguồn gốc của từ “Oreum”

từ một danh từ, ám chỉ một ngọn đồi nhỏ hoặc dốc thoải mà có thể dễ dàng trèo lên

Nón xỉ than đang có mặt khắp nơi từ đỉnh núi Hallasan qua đến các khu vực ven biển Trong số 368 nón xỉ than, xỉ nón có hình móng ngựa đứng đầu với số lượng 174, tiếp theo

là 120 xỉ than hình nón, 54 xỉ than hình nón tròn và 39 nón xỉ than phức hợp

Trang 38

Những khu vực có đặc điểm núi lửa, như là trong trường hợp của đảo Jeju, có thể được định nghĩa là một vùng đất hoang từ quan điểm của việc tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên Lí do là chỉ có núi lửa nên các sản phẩm như dung nham và bùn núi lửa được phân phối và có giá trị khoáng sản như vàng, bạc Các nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ và than

đá không được phát hiện tại đảo Jeju

Đảo Jeju tự hào có hang động núi lửa nổi tiếng thế giới với các thông số kĩ thuật địa lý, bao gồm cả Vilemotgul - hang động lớn nhất thế giới và Manjanggul - một trong những hang động có phong cảnh đẹp nhất thế giới Ngoài ra còn có những thông số kĩ thuật địa lí khác nhau, chẳng hạn như cao nguyên dung nham rộng lớn, “ống trong ống” và “mini hang động” trong các hòn đảo, một số trong đó hiển thị chất lượng cao

Đảo Jeju còn có dạng địa hình đầm lầy Theo Luật Bảo tồn Đầm lầy (ban hành 7/8/1999) tại Hàn Quốc, một đầm lầy hay một vùng đất ngập nước được định nghĩa là vùng đất ẩm ướt được bao phủ bằng nước ngọt hoặc nước mặn vĩnh viễn hoặc tạm thời Đầm lầy thường có ở những vùng nội địa hoặc các vùng ven biển Đầm lầy có rất nhiều chức năng giúp bảo tồn thiên nhiên nơi đảo Jeju này Đầu tiên, đầm lầy phục vụ để cung cấp các chức năng sinh thái Đầm lầy là ngôi nhà cư trú của các loài động vật có vú, động vật lưỡng cư, bò sát, côn trùng, thực vật và vi khuẩn… Nó giúp duy trì một loạt các gen

và các sinh vật sống Nếu đầm lầy tự nhiên bị phá hủy, các loại thực vật sinh sống ở đây

sẽ bị mất dần và có thể dẫn đến tuyệt chủng, đồng thời những côn trùng sống phụ thuộc vào thực vật cũng dần dần tuyệt chủng Nếu các hệ thống sinh thái của đầm lầy và môi trường sống tự nhiên xung quanh không được bảo vệ, chúng ta sẽ không thể bảo vệ ngay

cả một con chim thủy sinh từ thảm họa tự nhiên Thứ hai, đầm lầy phục vụ để cung cấp giá trị kinh tế Cá, tôm, cua đẻ trứng ở vùng đất đầm lầy gần cửa sông 80-90% hải sản là trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào căn cứ đầm lầy gần các khu vực ven biển Thứ ba, đầm lầy phục vụ để cung cấp các chức năng văn hóa Đầm lầy được sử dụng làm nơi giải trí, trong đó cung cấp cho câu cá, tắm biển, nghỉ ngơi, và các trang web tham quan cho khách du lịch Đầm lầy cũng được sử dụng nhiều hơn và nhiều hơn nữa để làm nơi nghiên cứu học tập học tập Cuối cùng, đầm lầy phục vụ để cung cấp các chức năng thuỷ lợi Bùn ven bờ sông hoặc vùng đầm lầy có tác dụng điều chỉnh nhiệt độ và độ ẩm

Trang 39

1.5.1.4 Sinh vật:

Sau đây là các số liệu về tài nguyên sinh vật ở Jeju Nhìn chung, Jeju là một hòn đảo

có số loại động thực vật vô cùng phong phú, điều này đã góp phần tạo nên sự phát triển trong ngành Du lịch ở Jeju

 Động vật

Các báo cáo đầu tiên về côn trùng tại đảo Jeju với thế giới học thuật đã được thực hiện bởi Tatum (1874) Kết quả là có 23 loại ở vùng cận nhiệt đới, 47 loại ở vùng băng giá, 19 loại côn trùng bản địa

Động vật lưỡng cư và bò sát ở đảo Jeju cũng giống những loài trong đất liền Các loài lưỡng cư được xác nhận bởi các tài liệu và các cuộc khảo sát, kết quả cho thấy, có 4 bộ và

5 họ lưỡng cư ở trên Jeju Còn về bò sát, có 4 bộ và 8 loài Những quan sát và báo cáo ở Jeju được thực hiện dựa trên 2 bộ, 5 họ và 9 loài Amphibia và 1 bộ, 5 họ và 12 loài bò sát Theo thống kê có 397 loài chim Trong 373 loài ngoại trừ những con chim đi lạc, có

100 loài là loài chim cư trú, còn lại 237 loài là loài chim di cư Có 290 loài trong đó có 61 loài chim di cư, 90 loài di trú mùa đông, 51 loài di trú mùa hè và 48 loài “strangler” được phát hiện ở đảo Jeju Do vị trí địa lý, nó cung cấp chỗ ở thích hợp cho nhiều loài di trú vào mùa đông và mùa hè Chim di cư bay qua Jeju khi thời gian đến Chúng làm tổ và bay

đi khi hoàn tất Một số trang trại, hồ chứa, khu vực ven biển là những nơi chúng thường tìm đến làm tổ Những nơi này có nhiều thức ăn và điều kiện khí hậu thích hợp cho việc làm tổ, tạo nên một thiên đường dành cho các loài chim Chim trên đảo Jeju chiếm 73,6%

so với toàn bộ bán đảo Triều Tiên

Có khoảng 4000 loài động vât có vú sống trên Trái đất Tại Hàn Quốc là có 87 loài, trong đó, có 5 bộ, 8 họ và 24 loài động vật có vú sinh sống trên đảo Jeju Một số loài động vật có vú quý hiếm như gấu nâu, heo rừng, nai, trứng hươu chỉ để lại dấu vết của chúng trong hóa thạch Lạm dụng hóa chất nông nghiệp đã phá hủy chuỗi thức ăn của động vật

Đô thị hóa nhanh chóng cũng phục vụ để hạn chế môi trường tự nhiên cho động vật, dẫn đến sự sụt giảm mạnh mẽ của các loài động vật hoang dã Một số loài động vật có vú

Trang 40

đang giảm về số lượng ở đảo Jeju như chồn Jeju, lửng cần bảo vệ đặc biệt cho sự sống còn của chúng Linh miêu gần như tuyệt chủng.1

Tổng số các loài động vật không xương sống (trừ sinh vật phù du động vật) khu vực ven biển ở Jeju là 627 loài, theo một báo cáo năm 1993 Như vậy được xem là phong phú

so với những vùng khác trong cả nước Bao gồm: bào ngư, Sulculus aquatilis, Macrochisma sinensis,…

Có một nghiên cứu rằng có khoảng 90 loài cá ở Hàn Quốc Trong số này, 100 loài cá nước ngọt, 100 loài cá là di cư, 700 loài cá biển được tìm thấy Tại khu vực ven biển đảo Jeju, dòng điện nóng và san hô sống ở ranh giới phía nam, nhiều cá sống ở đây hơn bất kì vùng nào khác, theo một báo cáo là có 300 loại cá ở đây.2

 Thực vật

Cây lá rộng không rụng (bao gồm cây hạt thông), cây lá rộng rụng lá như cây sồi Nhật Bản, cây lá kim không rụng như cây thông, và cây bụi như đỗ quyên hoàng gia được phân phối theo chiều dọc đảo Jeju Thực vật như Eulalia và bụi cây thấp cũng phát triển mạnh

ở những vùng đất thấp Hầu hết các vùng đất thấp là vùng đất trồng rừng, ngoại trừ khu cây thông đen ở vùng núi đá gần bờ biển Ngoài ra còn có hoa cúc Siberian, cây sồi trong đất trồng rừng

Có nhiều loại dương sỉ, được chia thành loại phát triển vài centimet và loại vài mét Dương sỉ được chưa thành 4 loại: lá thật và Psilopsida không có rễ; thạch tùng hình xoắn

ốc có rễ; cây bấc Scouting bao gồm đốt, luống và những chiếc lá xoay có rễ Loại cuối cùng là dương sỉ với rễ, lá và thân cây đặc biệt bao gồm những lá rộng và những kẽ lá Cây giống được phân loại thành 2: thực vật hạt trần và augiosperm Thực vật hạt trần không có bao hoa trên bông hoa, phôi nhũ được hình thành trước khi thụ tinh Bón phân không lặp lại Augiosperm có bao hoa trên hoa (có một số trường hợp không có) và mầm

ở bên trong bầu nhụy Thực vật có hạt là nhóm phát triển nhất trong hệ thống thực vật ở đây Phần lớn thực vật trên Trái đất này là cây giống, có 20 loại hạt giống cây trồng được

      

1 http://english.jeju.go.kr/index.php/contents/culture-nature/animals-plants/terrestrial 

2 http://english.jeju.go.kr/index.php/contents/culture-nature/animals-plants/marine/animals 

Ngày đăng: 25/04/2021, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w