Công trình nghiên cứu khảo sát một bộ phận của quá trình này, đó chính là sự chuyển biến trong nhận thức chung của xã hội Việt Nam giai đoạn 1995 - 2000 về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và t
Trang 1CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2016
Tên công trình: NHẬN THỨC CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM VỀ
QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1995 – 2000
THÔNG QUA TRƯỜNG HỢP BÁO SÀI GÒN GIẢI PHÓNG
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Võ Thị Ánh Tú, CLC QH11-13, 2013 – 2017 Thành viên: Nguyễn Huy Hoàng, CLC QH11-13, 2013 – 2017
Nguyễn Đức Minh Nguyệt, CLC QH11-13, 2013 – 2017 Nguyễn Quỳnh Như, CLC QH11-13, 2013 – 2017 Mai Thúy Quỳnh, CLC QH11-13, 2013 – 2017
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Hoàng Cẩm Thanh, giảng viên khoa Quan hệ Quốc tế
Trang 3CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 19
1.1 LƯỢC SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ TRƯỚC VÀ SAU BÌNH THƯỜNG HOÁ NĂM 1995 19
1.1.1 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trước bình thường hoá năm 1995 19
1.1.2 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ 1995 đến 2015 21
1.1.2.1 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2000 23
1.1.2.2 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 2000 – 2015 26
1.2 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 – 2001 28
1.2.1 Nghị quyết của các kỳ Đại hội VII, VIII, XIX trong giai đoạn 1995 – 2001 về chính sách đối ngoại 29
1.2.1.1 Nghị quyết của Đại hội VII về chính sách đối ngoại 30
1.2.1.2 Nghị quyết của Đại hội VIII về chính sách đối ngoại 32
1.2.1.3 Nghị quyết của Đại hội IX về chính sách đối ngoại 34
1.2.2 Chính sách ngoại giao và thực tiễn ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2001 35
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NHẬN THỨC CỦA BÁO SÀI GÒN GIẢI PHÓNG VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1995 – 2000 38
2.1 Thống kê số lượng bài viết về Mỹ và quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 38
2.2 Thống kê chủ đề bài viết về Hoa Kỳ 44
2.3 Vị trí các bài viết về Quan hệ Việt - Mỹ 51
Trang 42.4.2 Những bài viết, bài phát biểu thể hiện quan điểm từ phía Hoa Kỳ 65
Bảng thống kê các bài báo viết về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2000
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sau nhiều năm gián đoạn kể từ khi kết thúc chiến tranh, Việt Nam và Hoa Kỳ đã
có hai mươi năm thiết lập, mở rộng và làm sâu sắc các mối liên kết giữa hai bên trên nhiều lĩnh vực Kể từ sau ngày 11 tháng 7 năm 1995 khi Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam và nâng cấp Văn phòng Liên lạc thành tòa đại sứ đặt tại Hà Nội, mối quan hệ này đã phát triển một cách nhanh chóng Việt Nam đặt Tòa Đại sứ ở Washington D.C, Tổng lãnh sự quán tại hai thành phố San Francisco và Houston1 Đồng thời, Hoa Kỳ cũng đã thành lập Tổng lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối thoại về nhân quyền và an ninh khu vực Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ được ký kết vào tháng 7 năm 2000, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 12 năm 2001 Tháng 11,
2007, Hoa Kỳ chấp thuận Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam Vào ngày 25 tháng 7 năm 2013 tại Nhà Trắng trong cuộc hội đàm giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, hai nước đã xác định quan hệ hợp tác Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa
Kỳ Và gần đây nhất Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), cùng với Hoa Kỳ trở thành 2 trong số 12 nước thành viên của hiệp định này.2
Từ hai nước đứng ở hai đầu chiến tuyến, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trở thành hai đối tác toàn diện của nhau trong việc xúc tiến các liên kết về văn hóa, giáo dục, thương mại cho đến quốc phòng và an ninh biển Sự chuyển biến nhanh chóng từ thù thành bạn này của Việt Nam và Hoa Kỳ đã trở thành đối tượng nghiên cứu với nhiều góc nhìn từ phía quốc tế, Hoa Kỳ và cả Việt Nam
1 Bộ Ngoại Giao Các đại sứ quán việt nam ở nước ngoài-hợp chủng quốc Hoa Kỳ Trang
2 Ủy ban tư vấn về CSTMQT TPP – Hiệp định thương mại của thế kỷ 21 Trang web
Trung tâm WTO Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015
http://www.trungtamwto.vn/tpp/tpp-hiep-dinh-thuong-mai-cua-ky-21
Trang 6Quá trình phát triển trong khoảng thời gian 20 năm kể từ sau bình thưởng hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ chính là quá trình chứa đựng nhiều biến đổi và bước tiến quan trọng trong sự thay đổi về tính chất và mức độ của mối quan hệ giữa hai nước Công trình nghiên cứu khảo sát một bộ phận của quá trình này, đó chính là
sự chuyển biến trong nhận thức chung của xã hội Việt Nam giai đoạn 1995 - 2000
về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và tầm quan trọng của giai đoạn này trong tiến trình lịch sử Sự thay đổi nhận thức của đại chúng về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
sẽ được nhìn nhận thông qua việc phân tích báo chí Việt Nam mà cụ thể trong trường hợp này là báo Sài Gòn Giải Phóng, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Vai trò của báo chí
Báo chí là một hình thức truyền thông đại chúng, xuất hiện đầu tiên vào năm 1620
Sự phát triển không ngừng và ngày càng phong phú của báo chí đã cho thấy vị trí, vai trò và các chức năng trọng yếu của nó trong đời sống văn hoá tinh thần của mọi người, mọi quốc gia, dân tộc “Báo chí là một thực thể tinh thần xã hội phức tạp và đa chức năng.”3 Để xác định được vị trí của đối tượng này, phải đặt nó trên bình diện, cấp độ và trong mối quan hệ xã hội cụ thể:
Trong quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội, báo chí là hình thái nhận thức, phản ánh tồn tại xã hội của con người Hình thái này có đối tượng và phạm vi nhận thức, phản ánh rộng lớn, bao gồm mọi lĩnh vực, mọi loại người, mọi không gian
và thời gian Có thể nói: “Dường như không có giới hạn nào trong sự nhận thức, phản ánh đối với báo chí.”4 Vì vậy, báo chí là hình thái nhận thức, phản ánh hiện thực nhanh nhạy và đa dạng nhất của con người
Trang 7Trong hệ thống thiết chế (định chế) xã hội, báo chí là “một định chế quan trọng, có khả năng giám sát mọi tiến trình của đời sống và thực hiện dân chủ hoá mang tính đại chúng nhất trong lịch sử.”5 Báo chí là một định chế thuộc lĩnh vực tinh thần -
tư tưởng Lĩnh vực này có thể gây ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống Không chỉ vậy, thông tin - đối tượng truyền thông của báo chí - có tính chất công khai, và rộng rãi Chính vì thế, báo chí là một dạng quyền lực, tuy không chính thức nhưng mạnh mẽ không kém các quyền lực kinh tế hay chính trị Với vai trò nguồn thông tin - diễn đàn giao tiếp, báo chí có khả năng bày tỏ thái độ đối với hoạt động của chính phủ, nhà nước, các đảng phái chính trị cũng như tất cả quá trình xã hội Thông qua đó, báo chí có thể tạo lập dư luận, định hướng hành động của quần chúng và làm thay đổi nhận thức con người
Xét trong đấu tranh giai cấp và thể chế chính trị, báo chí là sự thể hiện công khai của quan điểm, lợi ích giai cấp Nhà cầm quyền sử dụng báo chí như công cụ điều hành, quản lý xã hội thông qua con đường quản lý và chi phối nhận thức Công chúng lại xem báo chí như một diễn đàn công cộng sôi nổi để thể hiện thái độ, nguyện vọng, ý chí, khát vọng ước mơ Nó đã, đang và sẽ làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân
Cuối cùng, trong giao lưu quốc tế và hội nhập văn hoá, báo chí được xem là phương thức hữu hiệu trong việc gắn kết các quốc gia, dân tộc Trong tiến trình toàn cầu hoá, vai trò này của báo chí lại trở nên hữu dụng hơn bao giờ hết Báo chí
là cổng thông tin chung, là cầu nối hữu nghị và đồng thời là kỷ yếu ghi nhận, đánh giá và xúc tiến mối quan hệ hữu nghị trên toàn cầu
Tóm lại, trong các mối quan hệ xã hội, báo chí nhìn chung giữ vị trí quan trọng và đây được coi là tâm điểm của hoạt động truyền thông đại chúng “Quyền lực” của báo chí thể hiện qua các khả năng giám sát - phản ánh - đánh giá tiến trình xã hội, tạo lập dư luận và định hướng nhận thức quần chúng nhân dân
5Sđd, trang 84
Trang 8
Bên cạnh việc phân tích vị trí, vai trò của báo chí, cũng cần phải đề cập đến chức năng của báo chí trong các mối quan hệ xã hội Nói đến chức năng của báo chí chính là nói đến mục đích của hoạt động báo chí, nói đến lý do tồn tại của báo chí,
vì sao công chúng đọc tác phẩm báo chí và ý nghĩa xã hội của báo chí ra sao trong đời sống Tuy nhiên báo chí “là một hiện tượng tinh thần phức tạp, với sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng của tác động báo chí đối với cách lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và sự trưởng thành của bản thân ngành lý luận”6 nên người ta xác lập được nhiều chức năng khác nhau của báo chí Muốn xác định chức năng của báo chí, chúng ta cần phải xem xét trên nhiều quan hệ khác nhau
Xét trong mối quan hệ giữa nhà báo với tác phẩm báo chí, tức là trả lời câu hỏi nhà báo viết báo để làm gì, có thể thấy báo chí có các chức năng như thông tin, giao tiếp, tuyên truyền, giám sát Trong mối quan hệ giữa công chúng với tác phẩm báo chí, tức là trả lời câu hỏi vì sao người ta đọc, nghe, xem báo chí, có thể thấy báo chí có các chức năng như thông tin, giáo dục, nhận thức, giải trí Còn trong mối quan hệ giữa tác phẩm báo chí với các định chế xã hội, tức là trả lời câu hỏi ý nghĩa xã hội của báo chí thế nào, có thể thấy báo chí có các chức năng như tuyên truyền, giám sát, quản lý xã hội, chuyển giao các giá trị, phát triển văn hóa Như vậy, có thể thấy rằng báo chí là hoạt động tinh thần đa chức năng
Do tính chất phức tạp và sự đa dạng về chức năng của hoạt động báo chí đã nêu trên, nhóm chỉ đưa ra một số chức năng cơ bản phù hợp nhằm làm rõ nét hướng nghiên cứu trong khuôn khổ giới hạn về lĩnh vực và đề tài nghiên cứu
Chức năng nguyên thủy của báo chí là chức năng thông tin Báo chí đến với công chúng là vì nhu cầu mong muốn hiểu biết về những gì diễn ra trong cuộc sống xung quanh, công chúng tìm đến báo chí là để nắm bắt những thông tin cần thiết
Do vậy cơ quan báo chí phải có nhiệm vụ thu thập thông tin để đáp ứng nhu cầu
và thị hiếu của công chúng, giúp công chúng hiểu biết các sự kiện, hiện tượng diễn
6Sđd, trang 135
Trang 9ra trong đời sống.7
Gắn liền với chức năng thông tin là chức năng giao tiếp Qua các tác phẩm cụ thể, báo chí sẽ đóng vai trò làm cầu nối giao tiếp trong xã hội Qua báo chí, công chúng giao tiếp với nhà báo, với cơ quan công quyền Cơ quan công quyền cũng qua báo chí để biết được ý kiến của nhân dân và phổ biến thông tin đến xã hội Về bản chất, báo chí là một phương tiện đối thoại, giao tiếp phổ thông giữa nhiều thành phần, nó mở ra một không gian chung để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia tranh luận
Bên cạnh nhóm chức năng thông tin – giao tiếp, báo chí còn có chức năng tuyên truyền – giáo dục “Báo chí có khả năng làm cho công chúng thay đổi nhận thức
về một vấn đề, thay đổi thế giới quan, điều chỉnh hành vi và lối sống theo hướng nhất định”8 Chức năng tuyên truyền – giáo dục của báo chí thể hiện ở chỗ, mỗi tờ báo là tiếng nói đại diện cho một giai cấp, một tầng lớp trong xã hội Trong khi thực hiện chức năng thông tin – giao tiếp, báo chí cũng đồng thời thực hiện nhiệm
vụ tuyên truyền giáo dục, giúp công chúng giác ngộ về quyền lợi của mình, phấn đấu đi theo mục tiêu chính trị - xã hội của mình
Hoạt động báo chí một mặt gắn bó chặt chẽ với các định chế xã hội và cơ quan công quyền, mặt khác hoạt động báo chí cũng có vị trí, vai trò độc lập của nó trong mối tương quan với các định chế xã hội và cơ quan công quyền Báo chí dựa trên nền tảng pháp luật để xác lập chỗ đứng trung gian của mình trong mối quan hệ giữa nhà nước và công chúng Báo chí còn được coi là nhân chứng, trọng tài vì báo chí có khả năng kiểm soát, giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền, các tổ chức chính trị cũng như tất cả quá trình xã hội khác Chức năng giám sát của báo chí thể hiện ở chỗ nó cung cấp thông tin chính xác và công khai về các hoạt động diễn ra trong xã hội, theo dõi và phản ánh việc thực thi chính sách của các cơ quan công quyền cũng như dự đoán, cảnh báo những sự việc quan trọng sẽ
7 Sđd, trang 139
8 Sđd, trang 146
Trang 10ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người Ở Việt Nam, chức năng giám sát – quản lý xã hội của báo chí rất quan trọng Bởi, đây là nhân tố không thể thiếu trong việc thực hiện quyền dân chủ của người dân và trong bộ máy quản lý xã hội của Đảng và Nhà nước.
Phân tích mối liên hệ giữa báo chí và nhà nước, quyển sách Bốn học thuyết truyền thông của Fred S Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm9 đã trình bày về bốn học thuyết Hiện thực, Tự do, Toàn trị Xô Viết và Trách nhiệm xã hội Quyển sách không chỉ đưa ra tiến trình lịch sử của các học thuyết cùng với những đặc điểm nhất định mà còn mức độ lệ thuộc hoặc bị chi phối bởi chính phủ của báo chí Thêm vào đó, sự khác biệt của hệ thống truyền thông giữa các nước tùy thuộc vào sự khác biệt giữa các hệ thống xã hội đang hoạt động Từ việc xem xét chi tiết từng học thuyết cụ thể, chúng ta có thể xác định mỗi quốc gia lựa chọn đi theo hướng báo chí nào và báo chí quốc gia đó bị chi phối ra sao bởi chính phủ Như vậy, quyển sách là nền tảng cơ bản cho việc xác định hai vấn đề cơ bản: Thứ nhất,
từ việc xác định báo chí Việt Nam phù hợp với học thuyết nào sẽ đánh giá được mức độ chi phối của chính phủ lên báo chí Việt Nam Thứ hai, cũng trên nền tảng xác định học thuyết mà báo chí Việt Nam theo đuổi thì sẽ là cơ sở để lý giải về nhận thức của báo chí về mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
2.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Trong suốt tiến trình lịch sử, mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là mối quan hệ có nhiều biến chuyển và giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của Việt Nam Đây là vấn đề thu hút sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, trên nhiều phương diện như an ninh - chính trị, văn hóa - xã hội và kinh tế Nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ có hai nguồn tiếp cận chính: thứ nhất từ phía các học giả nước ngoài và thứ hai từ chính các học giả Việt Nam
9Fred S Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm (2013) Bốn học thuyết truyền
thông Nhà xuất bản tri thức
Trang 11Dưới đây là một số công trình nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu và tham khảo.
2.2.1 Các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài về mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ
Nghiên cứu về quan hệ giữa hai quốc gia, quan điểm và nhận thức của các học giả trên thế giới là đa dạng và nhiều chiều như sau:
Tháng 6 năm 2014, Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS) đã công bố
báo cáo trực tuyến A new era in US - Vietnam Relations Deepening ties two decades after Normalization của các tác giả Murray Hiebert, Phuong Nguyen và
Gregory B.Poling Báo cáo trình bày lược sử và đánh giá mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn từ những năm 90 của thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI Theo đó, kể từ khi bình thường hóa vào năm 1995, quan hệ giữa hai nước đã
có những bước tiến lớn ở gần như tất cả các lĩnh vực Quan hệ chính trị - an ninh được chú trọng, bao gồm các vấn đề nhân quyền, liên kết quân sự ( Military - to - military ties), quan hệ quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ (trước sự tác động của Trung Quốc) và hợp tác giải quyết hậu quả chiến tranh Quan hệ ngoại thương - đầu tư phát triển cũng được đẩy mạnh và gắn kết chặt chẽ hơn Từ các thành tựu trên, các tác giả đánh giá nỗ lực bình thường hóa và thắt chặt mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là nỗ lực song phương, toàn diện và không ngừng được đẩy mạnh Đặc biệt, báo cáo có đề cập và đánh giá thái độ của công chúng Việt Nam đối với nước Mỹ Công trình còn chỉ ra rằng Ngoại giao nhân dân đóng một vai trò quan trọng và có tầm ảnh hưởng lớn khi cần nhìn nhận lại, đánh giá và từ đó xúc tiến hơn nữa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Trong công trình nghiên cứu Dialogue on U.S.-Vietnam Relations Domestic Dimensions (2003) được thực hiện bởi The Asia Foundation cùng với sự hợp tác
của Học viện Quan hệ quốc tế của Việt Nam, các tác giả đã xem xét, phân tích các yếu tố trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến quan hệ song phương của hai nước, đặc biệt trong bối cảnh bình thường hóa quan hệ kinh tế giữa hai nước và
Trang 12trong môi trường quốc tế đang thay đổi của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Công trình nghiên cứu tập trung đưa ra những xem xét về các yếu tố trong nước của hai bên có ảnh hưởng đến quan hệ song phương Cụ thể hơn, đó là vai trò và tác động của các thể chế trong nước như Quốc hội, Nghị viện, các quá trình đưa ra chính sách của mỗi nước Ngoài ra, công trình nghiên cứu cũng xem xét các yếu tố của môi trường kinh tế và xã hội trong nước có ảnh hưởng đến chính sách và quan
hệ song phương giữa hai nước như các cải cách kinh tế và lợi ích kinh tế trong chính sách đối ngoại Đặc biệt, trong chương “Institutions and The Making of American Policy”, các tác giả đã phân tích tác động của sự kiện 11 tháng 9 và cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ đến chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và quan hệ song phương hai nước Trong công trình nghiên cứu, các tác giả trước hết khái quát hóa mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, từ quá trình bình thường hóa quan hệ chính trị, kinh tế cho đến việc mở rộng sự hỗ trợ, trao đổi giáo dục và văn hóa Tiếp đến, các tác giả phân tích vai trò và tác động của các thể chế trong nước và quá trình đưa ra chính sách đến quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ Ngoài
ra, các yếu tố của môi trường kinh tế và xã hội cũng được đưa ra phân tích, xem xét Hơn thế nữa, các tác giả còn đưa ra phân tích trường hợp cụ thể đó là quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam – Hoa Kỳ Công trình nghiên cứu đã góp phần vào việc tăng cường sự hiểu biết giữa hai nước về điều kiện trong nước và yếu tố quốc tế ảnh hưởng đến quan hệ song phương nhằm dẫn đến việc đưa ra các chính sách với đầy đủ thông tin hơn
Công trình nghiên cứu Vietnam and the United States: An emerging security partnership (2015) thuộc trung tâm nghiên cứu Hoa Kỳ (The United States Studies
Centre), trường Đại học Sydney lại đưa ra quan điểm khác biệt Trong phần Quan
hệ Việt Nam với Mỹ (Vietnam’s relations with the United States), tác giả Bill Hayton cho rằng Việt Nam vẫn còn nhiều hoài nghi trong mối quan hệ với Mỹ, và rằng quốc gia này chỉ tìm kiếm mối liên kết chính trị - quân sự từ Mỹ khi đứng trước các động thái đáng ngại của Trung Quốc trên biển Đông trong thời gian gần đây Nằm trong một công trình nghiên cứu lớn hơn về các đối tác an ninh của Mỹ
ở Đông Nam Á, bài nghiên cứu của Hayton kịp thời cập nhật những thành tựu mới
Trang 13trong quan hệ song phương, nổi bật là việc thành lập Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans - Pacific Partnership, TPP ) cho đến nhiều hợp tác khác trên phương diện an ninh quốc phòng Đáng lưu ý trong bài nghiên cứu là việc tác giả nhìn nhận cộng đồng người Việt Nam - Hoa Kỳ hiện đang sinh sống ở hai quốc gia là tác nhân có ảnh hưởng đến mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước Đồng thời, ông nhận định rằng thái độ chung của quần chúng Việt Nam về nước Mỹ là tích cực và hướng đến xúc tiến quan hệ hợp tác với nước này
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trước xu thế liên kết trong khu vực, đồng thời cân bằng với các nước lớn, quan hệ với Hoa Kỳ trở thành mối quan tâm trọng yếu của Việt Nam Nhiều học giả trong nước đã quan tâm và thực hiện các công trình nghiên cứu nhằm làm rõ sự tác động qua lại giữa Việt Nam - Hoa Kỳ và vị thế của Việt Nam trong mối quan hệ song phương này
Trong cuốn Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Thực trạng và triển vọng10 PGS.TS Trần Nam Tiến đã trình bày tổng quan về mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2005 Tác giả, trước hết, nêu rõ bối cảnh lịch sử và vị thế của mỗi quốc gia trong quan hệ song phương và trên trường quốc tế giai đoạn trước 1995 Tiếp đến, ông hệ thống các sự kiện quan trọng diễn ra từ sau khi hai bên tuyên bố chính thức bình thường hoá quan hệ Tác giả đồng thời phân tích các khó khăn, thách thức trên các phương diện ngoại giao, kinh tế, xã hội mà đôi bên gặp phải, và đưa ra dự báo về mối quan hệ này trong tương lai
Một công trình nghiên cứu khác của Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) do Ngô Xuân Bình làm chủ biên
đã nghiên cứu về đề tài Hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam
10Trần Nam Tiến (2010) Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Thực trạng và triển vọng Nhà
xuất bản Thông tin và Truyền thông
Trang 14– Hoa Kỳ 11 Công trình chủ yếu phân tích những nhân tố tác động đến việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Hoa Kỳ đặt trong bối cảnh quốc tế mới Tác giả khẳng định mối quan hệ song phương này có triển vọng tương lai tươi sáng và đặt niềm tin vào quan hệ đối tác chiến lược trên cơ sở cả hai quốc gia đều nỗ lực thực hiện những giải pháp cải thiện mối quan hệ trên tất cả các lĩnh vực như hiện nay Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh rằng, về nhận thức, Việt Nam cần nhìn nhận hợp tác với Hoa Kỳ là nhân tố nền tảng trong quan hệ kinh tế - xã hội và xem Hoa Kỳ là đối tác chiến lược quan trọng nhất trong bối cảnh hiện tại Dựa trên cơ
sở lý luận đó, đề tài đã dự báo xu thế phát triển của mối quan hệ Việt Nam – Hoa
Kỳ, từ đó đóng góp những đề xuất giải pháp và lộ trình xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa hai quốc gia
Xét riêng về lĩnh vực ngoại giao của Việt Nam đối với những quốc gia khác,
quyển sách Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940-2010 12 đã thể hiện chi tiết
về tiến trình đổi mới trong đường lối ngoại giao Việt Nam thông qua Văn kiện Đại hội Đảng và chính sách Đối ngoại Việt Nam Giáo sư Vũ Dương Ninh đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của đối ngoại trong giai đoạn mới Đồng thời, quyển sách cũng chỉ ra những tư tưởng chỉ đạo và hướng đối ngoại trong thơi gian sắp tới Đặc biệt, khi bàn về định hướng phát triển quan hệ ngoại giao song phương của Việt Nam thì Hoa Kỳ được xem là đối tác quan trọng hàng đầu Điều này cho thấy vai trò chiến lược của Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại Việt Nam,
từ đó làm cơ sở lý giải cho những hoạt động đối ngoại Việt Nam - Hoa Kỳ trong thực tiễn
Bên cạnh đó, tác phẩm Nhân loại cần một thế giới không có chiến tranh và đói nghèo - Thông điệp tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc 13, xuất bản 2014, tập hợp
11Viện Nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam) (2014) Hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Hoa Kỳ Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội
12Vũ Dương Ninh (2015) Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940-2010 Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia
13Nguyễn Tấn Dũng (2014) Nhân loại cần một thế giới không có chiến tranh và đói nghèo - Thông điệp tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc Nhà xuất bản Thế giới
Trang 15các bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ Tác phẩm tập hợp các phát biểu của Thủ tướng tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc và các bài trả lời của ông cho báo chí nước ngoài, mà đa phần là từ các phóng viên và cơ quan báo đài Hoa Kỳ Qua đó, tác phẩm cho thấy hai vấn đề đáng chú ý Một là sự quan tâm của giới truyền thông và công chúng Hoa Kỳ dành cho quan hệ với Việt Nam tập trung chủ yếu về vấn đề giao lưu, hợp tác kinh tế Hai là sự thể hiện chính thức thái độ và quan điểm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - như một đại diện của chính phủ - trước truyền thông về mối quan hệ giữa hai nước Thủ tướng có cái nhìn mở và tươi sáng về mối liên kết Việt Nam - Hoa
Kỳ, đồng thời thể hiện rõ mong muốn và nỗ lực của ông - cũng như quốc gia - trong việc đẩy mạnh mối quan hệ trên
Qua tìm hiểu và tham khảo, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu hiện có
đã cung cấp đầy đủ và chi tiết kiến thức nền tảng về 20 năm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, đồng thời khẳng định được tầm quan trọng rõ ràng của mối quan hệ này cùng xu thế phát triển không ngừng của nó trong bối cảnh hiện nay
Ngoại giao nhân dân ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược đẩy mạnh và tối ưu hóa chính sách đối ngoại quốc gia Minh chứng là việc ngày càng nhiều nước như Trung Quốc, Hoa Kỳ đã đề cập và khẳng định đẩy mạnh phương thức ngoại giao này trong các văn kiện chính thức của nhà nước Đồng thời, như các công trình nghiên cứu quốc tế nêu trên đã chỉ ra, nhận thức của quần chúng nhân dân Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc nhìn lại, đánh giá và tiếp tục xúc tiến mối quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
Trước dấu son 20 năm bình thường hóa quan hệ, khi hai quốc gia đang tiến đến xây dựng đối tác chiến lược - bước sang một trang mới trong quan hệ ngoại giao song phương, nhóm nghiên cứu mong muốn nhìn về mối quan hệ này dưới một góc độ phân tích khác Nhận thấy báo chí chính là chiếc cầu nối giữa nhà nước và nhân dân và việc tìm hiểu báo chí sẽ giúp nhìn nhận một cách khách quan về mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ, bên cạnh những công trình nghiên cứu của học
Trang 16giả trong và ngoài nước; nhóm nghiên cứu lựa chọn sẽ đứng trên góc nhìn của báo chí công luận để nhìn nhận lại về mối quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ trong 20 năm qua
Như vậy, những công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã phản ánh góc nhìn của các học giả và của các cơ quan nhà nước một cách khá chi tiết
Thực hiện đề tài Nhận thức của báo chí Việt Nam về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2015, nhóm nghiên cứu mong muốn góp phần sẽ phát hiện ra
những điểm mới trong việc nhìn nhận mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn
1995 – 2015, bên cạnh những công trình nghiên cứu mối quan hệ này từ góc nhìn khác đã được thực hiện
2.3 Báo Sài Gòn Giải Phóng
Báo Sài Gòn Giải Phóng là nhật báo lớn của Việt Nam, trực thuộc Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh Báo Sài Gòn Giải Phóng có số lượng phát hành hiện nay vào khoảng 130.000 bản mỗi ngày (tại thời điểm cao nhất lên tới 200.000 bản/kỳ)14 Số lượng cán bộ phóng viên, công nhân viên của báo Sài Gòn Giải Phóng trên 700 người, báo Sài Gòn Giải Phóng là một trong 5 tờ báo định hướng chính trị - xã hội của cả nước (bao gồm Báo Nhân dân, tạp chí Cộng sản, báo Sài Gòn Giải Phóng, báo Quân đội nhân dân, báo Hà Nội mới)
Báo Sài Gòn Giải Phóng ra số báo đầu tiên vào ngày 05/05/1975 Sau chặng đường dài 40 năm xây dựng và trưởng thành, giờ đây Báo Sài Gòn Giải Phóng - tiếng nói của Đảng bộ và nhân dân TP Hồ Chí Minh đã trở thành tờ báo hằng ngày
có số lượng phát hành lớn và có uy tín Vào năm 2005, Báo Sài Gòn Giải Phóng được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất vào dịp kỉ niệm 30 năm ngày phát hành số báo đầu tiên
14 Báo Sài Gòn Giải Phóng Báo Sài Gòn Giải Phóng: Cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng
Sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh Sài Gòn Giải Phóng Online Truy cập ngày 5
tháng 12 năm 2015
<http://www.sggp.org.vn/thongtinSGGP/2013/4/316964/thongtinSggp.html>
Trang 17Báo Sài Gòn Giải Phóng là một tờ báo có truyền thống lâu đời, kế thừa từ các tờ báo của Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định: từ tờ Cảm tử, Chống xâm lăng thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đến tờ Ngọn cờ Gia Định, Cờ khởi nghĩa, Cờ Giải Phóng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước Là cơ quan của Đảng bộ thành phố, báo Sài Gòn Giải Phóng được xác định là Tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Sau khi ra mắt bạn đọc và cho đến hiện nay, báo Sài Gòn Giải Phóng đã trở thành món ăn tinh thần của nhân dân thành phố, các tỉnh, thành miền Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long Sau
15 số, báo Sài Gòn Giải Phóng chính thức chuyển từ cơ quan ngôn luận của Khu
ủy Sài Gòn - Gia Ðịnh thành cơ quan ngôn luận của Ðảng bộ thành phố với tôn chỉ mục đích là Tiếng nói của Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố.15
Từ năm 1986, cùng với giới truyền thông đại chúng tích cực tuyên truyền đường lối đổi mới của Đảng, báo Sài Gòn Giải Phóng còn tự mình đổi mới trong thông tin, cải tiến nâng cao chất lượng nội dung tờ báo của Đảng:
Từ ngày 27/02/1994, số báo Chủ nhật được in 4 màu Đến ngày 01/12/1997, báo được in 4 màu tất cả các số báo trong tuần Để tăng lượng thông tin đến với độc giả, từ 03/01/1995 báo từ 4 trang tăng lên 6 trang nội dung và đến ngày 01/10/1998, báo lại tăng lên 8 trang nội dung Đi đôi với việc cải tiến nâng cao chất lượng nội dung thông tin, cải tiến trình bày, báo Sài Gòn Giải Phóng còn tăng thêm ấn phẩm của báo để đáp ứng yêu cầu mở rộng thông tin của bạn đọc Từ cuối năm 1977, báo Hoa Văn Giải Phóng sáp nhập vào báo Sài Gòn Giải Phóng Hơn
30 năm qua bản Hoa văn của báo Sài Gòn Giải Phóng ngày càng mở rộng Đến ngày 01/01/1991 tờ Tuần san Sài Gòn Giải Phóng Thứ Bảy, ấn phẩm cuối tuần của báo Sài Gòn Giải Phóng ra mắt bạn đọc thành phố và cả nước Không dừng ở
đó, ngày 07/03/1996, báo Sài Gòn Giải Phóng tiếp tục cho ra mắt bạn đọc ấn phẩm Phụ trang Sài Gòn Giải Phóng Thể Thao Tuy ra đời muộn nhưng Sài Gòn Giải
15 Ban Biên Tập báo Sài Gòn Giải Phóng “Tờ báo mang tên một sự kiện lịch sử: Sài Gòn
Giải Phóng” Sài Gòn Giải Phóng Online Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2015
<http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2015/5/382673/>
Trang 18Phóng Thể Thao đã có số lượng phát hành tăng nhanh, vươn lên hàng đầu các báo thể thao trong nước Năm 2001 báo Sài Gòn Giải Phóng ra mắt bạn đọc báo điện
tử Tiếng Việt tại địa chỉ: www.sggp.org.vn Vào tháng 5 năm 2006, báo Sài Gòn Giải Phóng ra mắt báo điện tử tiếng Anh Ngày 02/04/2007 Báo Sài Gòn Giải Phóng Đầu tư – Tài chính ra số báo đầu tiên Hiện nay, báo Sài Gòn Giải Phóng xuất bản 8 ấn phẩm và Báo điện tử gồm: Nhật báo Sài Gòn Giải Phóng; Tuần san Sài Gòn Giải Phóng thứ bảy; Nhật báo Sài Gòn Giải Phóng Hoa Văn; Tuần san Sài Gòn Giải Phóng Hoa Văn; Phụ trang Sài Gòn Giải Phóng Thể thao; Sài Gòn Giải Phóng Đầu tư – Tài chính; Báo điện tử Sài Gòn Giải Phóng online Tiếng Việt
và Báo điện tử Sài Gòn Giải Phóng online Tiếng Anh
Báo Sài Gòn Giải Phóng là một tờ báo lâu đời và uy tín tại Thành Phố Hồ Chí Minh, với lịch sử hình thành và phát triển cùng với những thành tựu mà báo Sài Gòn Giải Phóng đã đạt được, việc lựa chọn báo Sài Gòn Giải Phóng để phục vụ cho đề tài nghiên cứu là phù hợp Nguồn tư liệu báo chí của Báo Sài Gòn Giải Phóng có thể được tiếp cận dễ dàng vì tất cả các số báo của báo Sài Gòn Giải Phóng trong giai đoạn 1995 – 2000 đều được lưu trữ trong điều kiện tốt tại phòng Báo – Tạp Chí của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Ngoài ra, với vai trò là tiếng nói của Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố, việc nghiên cứu nhận thức của báo Sài Gòn Giải Phóng về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cũng
sẽ góp phần làm rõ thêm về nhận thức của nhân dân thành phố và Đảng bộ về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ tron giai đoạn 1995 – 2000 Báo Sài Gòn Giải Phóng còn là một cơ quan ngôn luận chính thống, do đó những bài viết của báo có độ tin cậy và tính xác thực cao; vì thế, việc chọn báo Sài Gòn Giải Phóng làm trường hợp nghiên cứu cụ thể sẽ góp phần tăng độ tin cậy của công trình nghiên cứu, tính xác thực của tài liệu nghiên cứu và tầm quan trọng của đề tài
3 Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Lý do chọn đề tài và câu hỏi nghiên cứu
Trang 19Quan hệ hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ là một mối quan hệ tốt đẹp đã có nhiều thành tựu đang trên đà mở rộng Quá trình phát triển nhanh chóng này là một đối tượng nghiên cứu cần được quan tâm nhằm hiểu rõ hơn và phát huy thêm nữa quan hệ hợp tác chiến lược của Việt Nam và Hoa Kỳ Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2000 - những năm chứa đựng nhiều cột mốc và bước tiến quan trọng kể từ sau bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ năm 1995, là một bộ phận quan trọng trong quá trình phát triển Công trình nghiên cứu muốn khảo sát sự chuyển biến trong nhận thức chung về Hoa Kỳ của xã hội Việt năm trong giai đoạn 1995 -
2000 cũng như tầm quan trọng của giai đoạn trên trong tiến trình lịch sử
Báo Sài Gòn Giải Phóng là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh cũng như là tiếng nói của chính quyền và nhân dân thành phố Do vậy báo Sài Gòn Giải Phong là một lựa chọn cho trường hợp nghiên cứu cụ thể mà sẽ mang đến độ tin cậy cũng như tính xác thực cao cho công trình nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu: Nhận thức của báo Sài Gòn Giải Phóng về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2000 như thế nào?
3.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định những mốc thời gian và sự kiện quan trọng có ảnh hưởng đến quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ
- Xem xét và đánh giá cách thức truyền thông của báo chí Việt Nam đến đại chúng
- Tìm hiểu và hệ thống hóa những thông tin về mối quan hệ giữa Việt Nam - Hoa
Kỳ thông qua báo Sài Gòn Giải Phóng (là một tờ báo uy tín có trụ sở đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam)
- Đánh giá nhận thức của báo chí Việt Nam về mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Trang 203.3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nắm bắt được nhận thức của báo chí Việt Nam về mối quan hệ Việt Nam- Hoa
Kỳ giai đoạn 1995 – 2000
- Thấy được sự khác biệt trong cách nhìn nhận qua các giai đoạn về những sự kiện
có liên quan đến quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
- Nắm được sự chuyển biến trong nhận thức về mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong giai đoạn 1995 – 2000 và chỉ ra nguyên nhân của sự thay đổi đó
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích nội dung
Nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành thu thập những bài báo có đề cập đến Hoa Kỳ và mối quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ trong giai đoạn 1995 - 2000 để tìm ra ý nghĩa từ các bài báo viết về Hoa Kỳ và những bài viết về quan hệ Việt Nam - Hoa
Kỳ, đặc biệt là các bài báo viết về các sự kiện quan trọng trong tiến trình phát triển của mối quan hệ Nhóm sẽ phân tích nội dụng cụ thể thông qua các công cụ định lượng và định tính ngôn từ, hình ảnh Từ đó, nhóm nghiên cứu sẽ có sự đánh giá
về nhận thức chung của xã hội giai đoạn 1995 - 2000 và tầm ảnh hưởng lịch sử của giai đoạn này
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức của báo Sài Gòn Giải Phóng về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
- Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài:
Thời gian: 1995 - 2000
Không gian: báo Sài Gòn Giải Phóng
Trang 216 Đóng góp mới của đề tài
- Đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ nhận thức về mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sau khi bình thường hóa quan hệ
- Đề tài sẽ là cơ sở cho những bài nghiên cứu khoa học có phạm vi rộng hơn và được sử dụng như một tài liệu tham khảo
- Đề tài sẽ chứng minh sự vận động trong nhận thức của ngời Việt Nam đối với Hoa Kỳ để làm cơ sở lý giải cho vai trò của việc phát triển mối quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu sẽ làm nền tảng cho những nghiên cứu sâu rộng hơn về quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như trở thành tài liệu tham khảo cho việc học tập và giảng dạy trong trường đại học
Nghiên cứu cũng sẽ đóng góp cho công tác đối ngoại của Việt Nam thông qua việc hiểu rõ hơn quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, nhằm thúc đẩy phát triển và mở rộng hơn nữa mối quan hệ hai nước và mang lại lợi ích cho Việt Nam từ mối quan hệ này
Trang 228 Kết cấu của đề tài
2.1 Thống kê số lượng bài viết về Mỹ và quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
2.2 Thống kê chủ đề bài viết về Hoa Kỳ
2.3 Vị trí các bài viết về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
2.4 Những bài viết nổi bật về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
1.1 Lược sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trước và sau bình thường hoá năm 1995
Trong cuốn Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990 - 2000), xuất bản năm 2005, PSG.TS Lê Văn Quang đã nhận xét: “Quan hệ Việt
Nam - Hoa Kỳ đã có một bề dày lịch sử đáng kể” và rằng mối quan hệ này “đã chứng kiến không ít sự thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu”16 Việt Nam và Hoa Kỳ
đã cùng nhau đi qua nhiều biến động và xây dựng một mối giao hữu, cho đến nay,
16Lê Văn Quang (2005), Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990 -
2000), NXB Đại Học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.250
Trang 23là tích cực và đầy triển vọng Đặc biệt khi hai quốc gia chuyển đổi thành công từ thù thành bạn, và hơn nữa là đối tác chiến lược trong những năm gần đây Để nhìn lại toàn bộ quá trình quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, chúng tôi tạm chia thành hai giai đoạn: Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trước bình thường hoá năm 1995 và quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ năm 1995 đến 2015.
1.1.1 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trước bình thường hoá năm 1995
Không phải ngẫu nhiên mà vào tháng 11/2000, khi viếng thăm chính thức Việt Nam, tổng thống Mỹ B.Clinton luôn nhắc đến trong các bài phát biểu của mình sự kiện Thomas Jefferson - tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ - tìm mua giống lúa quý Việt Nam để trồng trong trang trại của mình ở Virginia Sự kiện này được xem là khởi điểm, “gieo mầm” cho quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ buổi ban đầu Vào ngày 2-9-1995, bản Tuyên ngôn đọc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và tuyên đọc, đã trịnh trọng vang lên những tư tưởng bất hủ của bản Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ năm 1776, rằng “ Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Với khởi đầu tốt đẹp và những mẫu số chung mà hai quốc gia chia sẻ, Bill Clinton đã từng tỏ ý làm tiếc khi hai quốc gia không thể ký kết một hiệp định thương mại từ hơn 200 năm trước, tương tự như Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được kí kết vào ngày 13-7-2000 Có thể nói trong nhiều năm, Việt Nam và Hoa Kỳ đã bỏ lỡ không ít cơ hội trong thiết lập và phát triển quan hệ song phương
Những năm giữa thế kỷ XX chính thức bắt đầu giai đoạn đối đầu căng thẳng giữa hai nước Trong bối cảnh thế giới đầy biến động và tan khốc trước chiến tranh, Hoa Kỳ - với cương vị một đế quốc hùng mạnh và tham vọng, đã thực hiện hàng loạt những tội ác khó tha thứ đối với Việt Nam Năm 1945, Hoa Kỳ, dưới nhiệm
kì của cựu tổng thống H.Truman, đã đi từ chỗ dính líu đến can thiệp sâu ủng hộ Pháp trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất Đó chỉ là bước khởi đầu Hoa
Trang 24Kỳ có lẽ đã không phải chịu “tấn thảm kịch của Mỹ ở Việt Nam”- theo lời Cựu Bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ Mac Namara cay đắng thừa nhận - nếu nước này nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Genève 1954 về lập lại hoà bình tại Việt Nam Thế nhưng, trong suốt 5 đời tổng thống tiếp theo, từ D.Eisenhower, J.Kennedy, L.Johnson, R.Nixon đến G.Ford, Hoa Kỳ đã tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, và chiến tranh phá hoại tàn khốc ở miền Bắc Quá trình từ 1945 đến 1975 đó được gọi là Cuộc chiến tranh sáu đời Tổng Thống.
Những tưởng khi chiến tranh khép lại, Hoa Kỳ sẽ thay đổi quan điểm và bước đi của mình qua những bài học còn nóng hổi Nhưng không Mỹ lại nhiều lần từ chối những đề nghị đầy thiện chí từ Việt Nam nhằm gây dựng mối quan hệ hữu nghị Siêu cường đưa tình trạng đối đầu lên đến đỉnh điểm với màn bao vây cấm vận Việt Nam đến tận năm 1994 Trước Hội đồng đối ngoại Mỹ ở NewYork ngày 7-9-
1990, Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Lê Mai thẳng thắng gọi chính sách cấm vận này là “sự kéo dài một cuộc chiến tranh chưa từng được chính thức phát động nhưng cũng chưa từng chính thức kết thúc.”17 Dĩ nhiên, Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho quá trình can thiệp và xâm lược của mình ở Việt Nam Và một trong những hậu quả mà quốc gia này phải chịu là, qua hai cuộc chiến tranh, hình ảnh Hoa Kỳ đã được khắc hoạ trong tâm thức người dân và dân tộc Việt Nam như một đế quốc bạo tàn, một kẻ xâm lược ngang ngược, và một kẻ thù vô nhân đạo Chính điều này đã làm cho nỗ lực bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa
Kỳ trở nên đầy thách thức
1.1.2 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ 1995 đến 2015
“Khi Chiến tranh Lạnh đi đến hồi kết năm 1989 với sự sụp đổ của Bức tường lin, khi các nước Đông Âu giành lại được độc lập, và cuối cùng khi Liên Xô tan rã, trên thế giới đã có cảm nhận phổ biến rằng cuối cùng thì nền hòa bình vĩnh cửu đã
17 Lê Văn Quang (2005), Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990
- 2000), NXB Đại Học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.246
Trang 25hạ cánh xuống trái đất.”18 Và giờ đây, chúng ta - nhân loại, bất kể quốc gia, dân tộc, tôn giáo - đã có sự nhất trí về những vấn đề cơ bản Thế giới, trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều biến chuyển với những xu thế nổi bật sau:
Thứ nhất, thế giới phát triển nhanh chóng theo hướng đa cực, tuy vậy cục diện đa cực chỉ mới ở bước khởi lập, đòi hỏi thời gian hình thành toàn vẹn từ 30 - 50 năm Chính trường quốc tế bấy giờ đang trong tình hình một siêu - nhiều cường Siêu cường không ai khác là Hoa Kỳ, cùng với những thế lực hùng mạnh là Tây Âu (EU) Nhật Bản, Nga và Trung Quốc
Thứ hai, hòa bình thế giới được củng cố, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi rõ rệt, nhưng hòa bình ở nhiều khu vực bị đe dọa, thậm chí ở nhiều nơi xung đột quân
sự, nội chiến diễn ra ác liệt “Đó là các mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ vốn bị che đậy dưới thời chiến tranh lạnh nay bộc lộ thành xung đột gay gắt Phần lớn những mâu thuẫn, tranh chấp này đều có căn nguyên lịch sử, nên việc giải quyết không thể nhanh chóng và dễ dàng.”19 Đặc biệt đáng chú ý là chủ nghĩa Hồi Giáo cực đoan, nổi lên như một cơn sóng không lồ không chỉ tung phá biên giới quốc gia và khu vực, làm rung động toàn bộ thế giới Hồi giáo, mà còn trên chừng mực nhất định, ảnh hưởng đến sự thay đổi và phát triển tình hình thế giới Mà kẻ chịu đe doạ trực tiếp và đáng kể nhất là Hoa Kỳ
Thứ ba, và quan trọng nhất, thế giới xuất hiện xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa và hình thành các tổ chức, liên minh quốc tế, kết hợp với xu thế hoà dịu trên quy mô toàn cầu Diễn biến này như một sự thích nghi, tái cơ cấu tất yếu của các quốc gia, dân tộc, thế lực quốc tế nhằm đối mặt, giải quyết các thách thức và tận dụng triệt
để các lợi thế trong bối cảnh sau chiến tranh
18Walter Laqueur (2006), Sau chiến tranh lạnh, Những sự kiện quan trọng trong quan hệ
đối ngoại của Hoa Kỳ (1900-2001), Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ,
<http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/>
19 Nguyễn Quốc Hùng, Số 28 - Thế giới sau chiến tranh lạnh - Một số đặc điểm và xu thế,
Diplomatic Academy of Vietnam, http://dav.edu.vn/
Trang 26Hoa Kỳ, bấy giờ, nổi lên “là siêu cường duy nhất và điều này liên quan tới những trách nhiệm to lớn đối với hòa bình thế giới Không có nước nào khác ở vào địa vị tương tự để đối phó với những nguy cơ đe dọa hòa bình thế giới, chứ không chỉ an ninh cho cho bản thân Tuy nhiên, ngay cả một siêu cường cũng không phải là quyền năng vô biên; khả năng thực hiện nghĩa vụ quốc tế của siêu cường cũng có hạn Siêu cường không thể và cũng không nên hành động một mình, mà phải là người lãnh đạo trong hành động quốc tế, vừa thông qua thuyết phục vừa gây áp lực nếu cần thiết.”20
Trước bối cảnh quốc tế mới, với vai trò và các mục tiêu quốc gia, Mỹ hẳn nhiên sẽ bắt đầu những chiến lược chính trị - ngoại giao của mình Và một trong những nước cờ trọng yếu là thiết lập và xây dựng mối quan hệ với khu vực Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là khi Trung Quốc chính thức trỗi dậy hoà bình năm 2002 Nhằm tạo thuận lợi cho việc đẩy mạnh mối quan hệ trên, nước Mỹ cùng lúc thiết lập, tái thiết lập và tích cực xây dựng các mối quan hệ song phương với các nước thành viên của khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam
Sau khi gỡ bỏ cấm vận năm 1994, vào ngày 11/7/1995, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thông báo quyết định chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước: Việt Nam - Hoa Kỳ Tuyên bố này mở đầu cho một giai đoạn đầy hứa hẹn, bắt đầu từ nỗ lực và thành công trong việc chuyển từ thù thành bạn, cho đến các thành tựu cụ thể trên nhiều lĩnh vực Một nhà sử gia đã từng nói về thất bại trong đàm phán và ký kết một hiệp định thương mại song phương 200 năm về trước như sau: “Những nỗ lực này thất bại vì hai nền văn hoá xa lạ đã cùng lên tiếng mà không chịu lắng nghe nhau, và tầm quan trọng của bên này đối với bên kia không đủ thuyết phục để vượt qua những trở ngại này.” Giai đoạn sau 1995 có sự thay đổi rõ rệt so với nhận định trên, và có
lẽ, đây là yếu tố tiên quyết cho sự thành công trong hàn gắn và thúc đẩy mối quan
20Walter Laqueur (2006), Sau chiến tranh lạnh, Những sự kiện quan trọng trong quan hệ
đối ngoại của Hoa Kỳ (1900-2001), Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ,
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/
Trang 27hệ Việt Nam - Hoa Kỳ Đó là sự sẵn sàng trong tâm thế của cả hai quốc gia Tại Hội nghị do Trung tâm Đông - Tây tổ chức tại Đại học George Mason, năm 1992, Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ thay mặt cho phía Việt Nam đã tuyên bố
rõ ràng rằng, trong mối quan hệ với Hoa Kỳ, “Về phần chúng tôi, đã có sự lựa chọn rõ ràng: Chúng tôi chọn tương lại ”
1.1.2.1 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2000
Việc tổng thống B.Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ với Việt Nam hoàn toàn không có nghĩa là các quan hệ này được thực hiện ngay tức thời và đầy đủ Như đã đề cập, bối cảnh quan hệ hai nước bấy giờ là vô cùng phức tạp Chính vì thế, 5 năm đầu sau tuyên bố bình thường hoá là giai đoạn đầy nỗ lực để xây dựng nền tảng và tạo đà để phát triển mối quan hệ song phương này Trước hết, cả hai phía Việt Nam và Mỹ đã có những bước đi thích hợp để hoàn tất việc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia ở cấp Đại sứ Tỏ rõ thiện chí, Hoa
Kỳ đã tiến hành bước đi đầu tiên - chuyến thăm của Ngoại trưởng Hoa Kỳ W.Christopher từ ngày 5 đến 07/08/1995 Đây là chuyến thăm và làm việc đầu tiên của một Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ kể từ năm 1975 Chuyến thăm được đài BBC đánh giá là có tính lịch sử và nhận sự quan tâm đặc biệt của đông đảo dư luận quốc tế Sứ mệnh chính trong chuyến đi này của Ngoại trưởng là ký kết các văn kiện chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, và khai trương Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội Sau 40 năm đóng cửa Toà lãnh sự, sự kiện này đánh dấu sự trở lại của Hoa Kỳ, và Toà Đại sứ Mỹ là phương tiện và điều kiện rất quan trọng để triển khai một tương lai tốt đẹp hơn Đáp trả bước tiến của đối tác, Ngoại trưởng Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã có chuyến thăm và làm việc chính thức vào tháng 8-1995 tại Hoa Kỳ Tiếp sau hai “phát pháo” khởi xướng này
là hàng loạt các cuộc viếng thăm và gặp gỡ cấp cao giữa hai quốc gia trong suốt từ năm 1995 đến năm 1997:
Thời gian Người dẫn đoàn Nội dung
18 - 20/1/1996 Trợ lý Bộ trưởng Ngoại Hội đàm với Thứ trưởng Ngoại giao
Trang 28giao Mỹ Winston Law Lê Mai về về tình hình và triển vọng
các quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
11-13/3/1996 Thứ trưởng Bộ cựu binh
Mỹ Hershel Gober dẫn đoàn đại diện tổng thống Mỹ
Hội đàm với Thứ trưởng ngoại giao Lê Mai về các vấn đề trong quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, trước hết
là các vấn đề nhân đạo do chiến tranh
để lại
25/4/1996 đến
4/5/1996
Bà Shearer Brook dẫn đoàn đại biểu chuyên viên chính phủ Mỹ
3-5/7/1996 Thượng nghị sĩ Đảng
cộng hoà Thad Cochran dẫn Đoàn đại biểu quốc hội Mỹ
12-14/7/1996 Tiến sĩ Anthony Lake-
Cố vấn an ninh quốc gia dẫn đoàn đại biểu cấp cao của Mỹ
Chuyến thăm nằm trong khuôn khổ hành trình thăm và làm việc tại năm nước Châu Á
Bảng 1 Bảng thống kê những cuộc viếng thăm và gặp gỡ cấp cao giữa hai quốc gia trong giai đoạn 1995 - 1997
Hàng loạt chuyến viếng thăm, mà hầu hết là từ phía Hoa Kỳ, đã: thứ nhất, chứng
tỏ thiện chí và quyết tâm bình thường hoá quan hệ từ cả hai phía, thứ hai, là bước
đi tất yếu và hiệu quả trong việc thúc đẩy và đẩy nhanh việc hoàn tất công cuộc bình thường hoá này Ngày 09/05/1997, hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ đã chính thức trao đổi Đại sứ Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Mỹ là ông Lê Văn Bàng Đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tại Việt Nam là ông Pete Peterson Như vậy, đến tháng 05/1997, quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ đã được thiết lập một cách đầy đủ hoàn toàn ở cấp Đại sứ
Trang 29Dĩ nhiên, trong hai năm đầu bình thường hoá, mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã phải đối mặt với những bất đồng-trở ngại đáng kể Một minh chứng là việc Việt Nam vấp phải các luận điểm từ phía Mỹ cho rằng quốc gia này có tình trạng “ thiếu cởi mở về chính trị” và tình trạng “không có tự do” ở Việt Nam Ngược lại,
Mỹ cũng bị lên án bởi không chỉ Việt Nam, mà còn dư luận quốc tế cho hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam thông qua các chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền” Cụ thể là sự kiện Cục điều tra Liên bang Mỹ ( FBI ) yêu cầu các Việt kiều sống tại Mỹ phải khai báo về cái gọi là “những người bị tình nghi làm gián điệp Cộng sản cho Hà Nội.” Ngay cả việc Việt Nam - Hoa Kỳ phải mất gần 2 năm sau khi tuyên bố bình thường hoá mới có thể có Đại sứ đặc mệnh toàn quyền ở nước đối tác cũng chứng minh rằng, rõ ràng, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ vẫn còn nhiều tồn tại phức tạp Một trong số đó có thể kể đến những “hội chứng” của thời kỳ “Sau Việt Nam” vẫn còn tồn tại dai dẳng và ảnh hưởng không nhỏ đến nội tình nước Mỹ “Quan hệ Việt -Mỹ do đó luôn bao hàm hai mặt: hợp tác và đấu tranh.”21 Bất chấp những tồn tại như trên, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ vẫn diễn ra Khả quan hơn, theo Tiến Sỹ Anthony Lake - Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống B.Clinton, quan hệ Việt -Mỹ, sau hai năm bình thường hoá, dù tiến triển chưa được như mong muốn, song đã đạt được những bước đi có ý nghĩa, và “Hoa
Kỳ và Việt Nam có rất nhiều việc phải làm, nhiều lĩnh vực cùng nhau hợp tác”.22
Từ 1997 đến năm 2000, các quan hệ chính trị - ngoại giao tiếp tục đi lên trên đà của hai năm đầu bình thường hoá Một số sự kiện nổi bật có thể kể đến như:
Trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống B.Clinton ( 20-1-1997 đến 20-1-2001), Ngoại trưởng Mỹ M.Albright đã hai lần đến thăm Việt Nam Ngoại trưởng khẳng định rằng: “Chính sách của Mỹ là muốn có một Việt Nam giàu mạnh, thịnh vượng, hội nhập vào khu vực và thế giới và Mỹ sẽ thực thi các nỗ lực để thúc đẩy quan hệ thương mại song phương.”
21 Lê Văn Quang (2005), Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990
- 2000), NXB Đại Học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.134
22 Dẫn theo Tuần báo Quốc tế, số 29, từ 17-7 đến 23-7-1996
Trang 30Từ ngày 30-09 đến 2-10-1998, lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa
Kỳ, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã có chuyến thăm và làm việc chính thức đầu tiên tại Hoa Kỳ
Cuối năm 1998, nhân Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ sáu tổ chức tại Hà Nội, Tổng thống B.Clinton gửi thư chúc mừng đến Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải Sau đó, kể từ năm 1999 trở đi, giữa Việt Nam và Mỹ đều diễn ra các cuộc đối thoại thường niên về chính trị ở cấp thứ trưởng
Bước ngoặt lịch sử trong giai đoạn này là chuyến viếng thăm chính thức của Tổng thống Hoa Kỳ B.Clinton đến Việt Nam Chính trong sự kiện này, sau 5 năm bình thường hoá và hơn 4 năm đàm phán phức tạp, ngày 13-7-2000 Hiệp định thương mại Việt -Mỹ cuối cùng đã được ký kết Như vậy, cái kết năm 2000 đã chính thức hoàn tất quá trình bình thường hoá toàn diện các quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
1.1.2.2 Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 2000 - 2015
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục phát triển không ngừng Diễn biến tích cực trong mối quan hệ song phương được minh chứng qua 4 mốc trọng đại Dấu mốc thứ nhất là việc bình thường hoá quan hệ tháng 7 năm 1995 Dấu mốc thứ hai là khi hai nước xác lập quan hệ “đối tác ổn định và bền vững” năm 2005 Dấu mốc thứ ba năm 2013 đánh dấu sự kiện hai nước xác lập khuôn khổ “đối tác toàn diện”
Và cuối cùng, trong bối cảnh 2015, Việt Nam và Hoa Kỳ đang cùng nhau hướng đến và nỗ lực đạt được mục tiêu “đối tác chiến lược” trong tương lai không xa
Giai đoạn sau năm 2000 cũng trải qua bước chuyển giữa hai nhiệm kỳ tổng thống B.Clinton và George Bush của Hoa Kỳ Việc mối quan hệ ngoại giao của nước này đối với Việt Nam không những không bị ảnh hưởng, mà còn tiếp tục được củng cố và phát triển có thể được coi là một tin mừng, một thành tựu, và đã chứng minh tiềm năng lâu dài và bền vững của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong tương lai
Trang 31Trong suốt giai đoạn 2000 - 2015, Việt Nam và Hoa Kỳ chứng kiến sự tăng tiến về
cả chất và lượng của các sự kiện song phương, đồng thời có sự mở rộng đa dạng
và toàn diện trong lĩnh vực Có thể kể đến các sự kiện quan trọng sau:
Ngày 19/6/2005, lãnh đạo chính phủ Việt Nam đầu tiên - Thủ tướng Phan Văn Khải - thăm Mỹ sau khi hòa bình lập lại Thủ tướng đã thảo luận với Tổng thống George Bush về sự ủng hộ của Mỹ với nỗ lực tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam
Giữa tháng 11/2006, Tổng thống George Bush thăm chính thức Việt Nam khi tham dự cuộc họp APEC tổ chức ở Hà Nội
Tháng 6/2007, người đứng đầu nhà nước đầu tiên của Việt Nam- Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết - sang Mỹ sau giai đoạn chiến tranh
Ngày 25/6/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và đoàn đại biểu Việt Nam đã đến Nhà Trắng để hội đàm với Tổng thống George Bush Thủ tướng Việt Nam và Tổng thống Mỹ đã ra tuyên bố chung sau cuộc hội đàm
Chuyến thăm Mỹ cuối tháng 7/2013 của Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ song phương Sau cuộc hội đàm tại Nhà Trắng ngày 25/7/2013, Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Barack Obama đã xác lập Quan hệ Đối tác Toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ
Từ ngày 6/7/2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính thức thăm Mỹ Đây là lần đầu tiên một Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đến Mỹ Chuyến đi được
dư luận và truyền thông ca ngợi là “chuyến thăm thúc đẩy niềm tin” “Trong buổi hội đàm ngày 7/7 với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng thống Obama khẳng định, Mỹ rất coi trọng quan hệ với Việt Nam và vai trò của Việt Nam ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời gọi Việt Nam là "đối tác xây dựng" trên
Trang 32nhiều lĩnh vực, bao gồm biến đổi khí hậu và gìn giữ hòa bình toàn cầu.”23 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đáp lời: "Từ hai nước cựu thù, chúng ta đã chuyển thành những người bạn, đối tác, và đối tác toàn diện Quá khứ không thể thay đổi nhưng tương lai thuộc về trách nhiệm của chúng ta.”
Có thể nói, chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, cùng với việc chính thức kí kết Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương ngày 05/10/2015, là cái kết mĩ mãn cho chặng đường 20 năm bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ Qua 20 năm, điều mà chúng tôi có thể kết luận đó là: Thứ nhất, mối quan
hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã, đang và sẽ không ngừng phát triển; thứ hai, mối quan
hệ này đáng và cần được lưu ý, để tâm và tìm hiểu bởi tính phức tạp, những nỗ lực
và thành tựu, và tầm ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam - Hoa Kỳ nói riêng, cũng như khu vực và quốc tế nói chung
1.2 Chính sách đối ngoại việt nam giai đoạn 1995 – 2001
Trải qua cuộc kháng chiến trường chinh chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã bước vào thời kỳ đổi mới, cả đất nước thống nhất và định hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội Lịch sử Việt Nam đã được lật sang một trang mới – lịch sử của thời kỳ hoà bình và phát triển Tuy nhiên, đứng trước bối cảnh này, Việt Nam đã gặp không ít những khó khăn và thử thách cả trong và ngoài nước Tuỳ theo bối cảnh lịch sử quốc tế, khu vực và trong nước theo từng giai đoạn, đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam đã thể hiện linh hoạt với những thay đổi nhất định Dựa trên cơ sở phân tích chính sách đối ngoại giai đoạn 1995 - 2001, nhóm nghiên cứu mong muốn tìm ra mối liên hệ giữa chính sách đối ngoại những năm 1995 – 2001 và thực tiễn tác động đến quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
1.2.1 Nghị quyết của các kỳ Đại hội VII, VIII, XIX trong giai đoạn
1995 – 2001 về chính sách đối ngoại
23 Hồng Duy - Minh Anh - Hải Anh, Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ bước vào kỷ nguyên
mới, Báo Mới, 11/07/2015, http://www.baomoi.com/
Trang 33Năm 1995 đánh dấu mốc triển khai toàn diện đường lối đổi mới kể từ sau 5 năm
đề ra Đường lối đổi mới toàn diện do Đại hội VI được đánh giá là đã đem lại cho
sự nghiệp cách mạng nước ta một luồng sinh khí mới Về cơ bản, nước ta đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng cả về đối nội lẫn đối ngoại Đặc biệt, ngoại giao đã góp phần rất quan trọng vào việc tạo dựng nên một môi trường hòa bình để đất nước tiếp tục đổi mới cùng phát triển
Đặt trong bối cảnh những năm cuối thập kỷ 89, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đã chứng kiến những biến động lớn trên bàn cờ chính trị quốc tế Sự kiện Liên Xô tan rã vào tháng 12/1991 đã đánh dấu sự kết thúc của trật tự thế giới hai cực Cùng thời điểm này, thị trường thế giới dần trở thành một khố thống nhất
và liên kết, hội nhập kinh tế trở thành một xu thế tất yếu, tiêu biểu là sự ra đời của các tổ chức khu vực như Khu vực Tự do thương mại Bắc Mỹ NAFTA và Khu vực
Tự do thương mại ASEAN AFTA Trong phạm vi khu vực, ASEAN cũng dần có những biến chuyển thuận lợi Tuy nhiên, khu vực này vẫn tiềm tàng nhiều vấn đề bất ổn nhất định, chưa thực sự phát huy được tiềm năng Đối với tình hình trong nước, kể từ sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định: từ chỗ đói triền miên ta đã chuyển dần sang sản xuất gạo, kim ngạch xuất khẩu tăng và lạm phát cũng được kiềm chế Từ những thành tựu đạt được trong đối ngoại, Việt Nam đã tiếp tục mở rộng trên mặt trận đối ngoại khi đã tranh thủ dk quốc tế thuận lợi để tập trung xậy dựng đất nước, từng bước thúc đẩy mối quan hệ với Hoa Kỳ “Những thành tựu đối ngoại đã tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi một bước âm mưu bao vây, cô lập đối với nước ta, tăng thêm bầu bạn, nâng cao uy tín nước ta trên trường quốc tế.” 24
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới; trong đó có việc điều chỉnh, đổi mới đường lối chiến lược dn cho phù hợp với bối cảnh quốc tế
24 Đảng Cộng sản Việt Nam; Văn kiện Đại hội VI, tr 40-41
Trang 341.2.1.1 Nghị quyết của Đại hội VII về chính sách đối ngoại
Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp vào tháng 6 năm 1991 đã đánh giá một cách toàn diện về tình hình thế giới, khu vực và thực trạng của đất nước Đại hội đã thông qua cương lĩnh “Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và nội dung cơ bản của chiến lược “Ổn định và phát triển kinh tế -
xã hội đến năm 2000” Đại hội cũng xác định “nhiệm vụ bao trùm trong thế giới tới là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc
tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” 25 Đại hội nhấn mạnh trong điều kiện mới thì càng phải coi trọng vận dụng bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đẩy phương châm “thêm bạn bớt thù” lên mức cao hơn với tuyên bố “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
Đối với những chủ thể quốc tế quan trọng, Đại hội VII đã đề cập đến như sau:
- Việt Nam vẫn tăng cường đoàn kết và hợp tác với Liên Xô, đồng thời tăng cường
về hợp tác và tình đoàn kết với Liên Xô Từ đó, dung hiệu quả về hợp tác để phát huy lợi ích mỗi nước đạt được
- Đối với Đảng và Nhân dân Lào, Campuchia; Việt Nam vẫn tăng cường phát triển tình hữu nghị đặc biệt Tuy nhiên, đứng trước những diễn biến phức tạp trong tình hình Campuchia, Đảng đưa ra quyết định đổi mới phương thức hợp tác với hai nước láng giềng
- Về quan hệ Việt – Trung, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, giải quyết những vấn đề tồn tại của hai nước thông qua thương lượng
25 Đảng Cộng sản Việt Nam; Văn kiện Đại hội VII, tr.88
Trang 35- Với Cuba, Đảng và Nhà nước ta chú trọng củng cố quan hệ hữu nghị, đoàn kết
và hợp tác với quốc gia này, sẵn sàng thiết lập quan hệ với các Đảng Cộng sản và Công nhân, mở rộng quan hệ với các Đảng Xã hội và Dân chủ
- Chính sách cũng nêu rõ về việc tăng cường hợp tác với các nước đang phát triển, đặc biệt là Ấn Độ, tích cực góp phần củng cố và và tăng cường Phong trào Không liên kết, phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước Đông Nam Á, Châu
Á – Thái Bình Dương, các nước Tây Bắc Âu và Nhật Bản cũng như với các nước phát triển khác Ngoài ra, chính sách có đề cập đến vấn đề thúc đẩy bình thường hoá quan hệ với Mỹ.26
Sau Đại hội VII (tháng 6/1991), tình hình quốc tế và khu vực diễn biến nhanh và
vô cùng phức tạp Tháng 12/1991, Liên Xô tan rã Điều này có tác động mạnh đến hoạt động đối ngoại của nước ta Do đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá VII (tháng 6/1992) đã cụ thể hoá đường lối đối ngoại từ Đại hội VII, đề ra tư tưởng chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là giữ vững nguyên tắc độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với từng đối tượng ta có quan hệ Từ đó, Hội nghị đã vạch ra phương hướng và nhiệm vụ chủ yếu cho đối ngoại trong thời kỳ này:
- Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân
- Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại
- Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ với mọi đối tượng
- Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước
26 Đảng Cộng sản Việt Nam; Văn kiện Đại hội VII, tr.89
Trang 361.2.1.2 Nghị quyết của Đại hội VIII về chính sách đối ngoại
Giai đoạn 1996 – 2001 được xem là giai đoạn đặc biệt xem trọng công tác ngoại giao Đảng và Nhà nước ta xem ngoại giao là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Giai đoạn này, xét về kinh tế, toàn cầu hoá kinh tế có bước phát triển mới, trở thành xu thế thu hút sự tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới Xu hướng này vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa mang tính hợp tác, vừa đấu tranh Trong đó, với cuộc cách mạng khoa học công nghệ thì kinh tế thế giới càng được đẩy nhanh trong quá trình chuyển từ giai đoạn quá độ sang loại hình kinh tế tri thức Chính bước phát triển này khiến kinh tế trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp của qg và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc
tế Trước tình hình này, Việt Nam đứng trước nhiều thách thức lớn do tác động mạnh mẽ của toàn cầu hoá, khả năng ngày càng tụt hậu so với các nền kinh tế mạnh mẽ trên thế giới và chạy đua trong cuộc cạnh tranh toàn cầu Về chính trị, đấu tranh và hợp tác là hai xu hướng chính, phát triển song song và tác động lẫn nhau Sau thời kỳ chiến tranh lạnh, thế giới đang trong tình trạng xây dựng một hình thức mới, những mâu thuẫn vẫn tồn tại nhưng chiến tranh vũ trang được kìm hãm
Trước tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến chuyển nhanh chóng và khó lường như đã trình bày, Việt Nam đứng trước những thách thức và cơ hội đan xen nhau:
- Về mặt thuận lợi, kể từ sau 10 năm đất nước đổi mới (1986 – 1996), Việt Nam
đã tạm thời thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, tình hình đất nước ta dần đi vào ổn định, thế và lực càng thêm củng cố và quan hệ ngoại giao với các nước khác cũng được mở rộng, vị thế Việt Nam càng được nâng cao trên trường quốc
tế Ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cục diện hòa bình, hợp tác và phát triển
Trang 37cơ bản vẫn được giữ vững Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta mở rộng chính sách đối ngoại theo hướng đa phương, đa dạng hóa.
- Về khó khăn, Việt Nam chịu tác động khá nhiều từ chính sách của các nước lớn, nhất là chính sách của Hoa Kỳ và Trung Quốc, cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt hơn
Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta thông qua Đại hội VIII để đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cho nước ta Tháng 6/1996, Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã diễn ra, đề ra nhiệm vụ cơ bản của đất nước ta giai đoạn này là công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ Đảng còn chủ trương xây dựng một nền kinh
tế mở, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại Đặc biệt, Đại hội VIII khẳng định thực hiện “Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệdn với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”27 trên nguyên tắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không can thiệp vào nội bộ của nhau, giải quyết vấn đề trên nguyên tắc thương lượng và phấn đấu hợp tác cùng có lợi Thực hiện khẩu hiệu “Dân giàu, nước mạnh, ca công bằng, dân chủ văn minh”, Đại hội VIII còn đề ra nhiệm vụ cho công tác đối ngoại “củng
cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”28
1.2.1.3 Nghị quyết của Đại hội IX về chính sách đối ngoại
Trang 38Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX họp tháng 4/2001 đề ra chủ trương tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, nhấn mạnh tư tưởng “Việt Nam sẵn sàng là bạn” và
là đối tác tin cậy của nhiều quốc gia trên thế giới Trong nội dung công tác đối ngoại của Đại hội IX này, nét mới nằm ở điểm khẳng định mạnh mẽ việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Đồng thời, để quán triệt chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, tháng 11/1996, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5 năm từ 1996 -2000 Tiếp đó, tháng 12 năm 1997, Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa VIII đã đi sâu bàn bạc và xác định tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình hội nhập và phải trên cơ sở nâng cao ý chí tự lực, tự cường, giữ vững bản sắc dân tộc Ngày 07/11/2001, Bộ Chính trị cũng đã ra Nghị quyết xác định rõ hơn mục tiêu, nội dung hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Trên cơ sở đường lối, chủ trương và nhiệm vụ đối ngoại do Đại hội VIII và Đại hội IX đề ra, Việt Nam ưu tiên triển khai hoạt động đối ngoại theo hướng ưu tiên sau:
- Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với các nước láng giềng, các nước trong tổ chức ASEAN và củng cố quan hệ với các nước bạn truyền thống
- Thứ hai, coi trọng quan hệ với các nước lớn, các nước phát triển và các trung tâm kinh tế – chính trị trên thế giới
- Thứ ba, nêu cao tinh thần đoàn kết anh em với các nước đang phát triển
- Thứ tư, tăng cường hoạt động ở các tổ chức quốc tế
- Thứ năm, phát triển quan hệ với các Đảng cộng sản và Công nhân, các lực lượng cách mạng tiến bộ, đồng thời mở rộng quan hệ với đảng cầm quyền và các đảng khác
- Thứ sáu, chú trọng ngoại giao nhân dân
Trang 391.2.2 Chính sách ngoại giao và thực tiễn ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2001
Như phần trên đã trình bày, Đại hội VII vẫn khẳng định việc tăng cường hợp tác
và gắn bó với Liên Xô, củng cố tình cảm với Lào và Campuchia, thúc đẩy bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc và Mỹ Đặc biệt, giai đoạn này, Đảng và Nhà nước ta chú trọng củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác với Cuba Sau Đại hội VII, trước tình thế Liên Xô bị tan rã đã tác động mạnh mẽ đến những hoạt động đốn ngoại của ta Do đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khóa VII vào tháng 6 năm 1992 đã cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đại hội VII Cụ thể, về mối quan hệ với Hoa Kỳ, đây chính là một hướng lớn trong hoạt động đối ngoại của ta Bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước; duy trì và ổn định hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương
Vấn đề trước đó đặt ra về giải quyết vấn đề POW/MIA đã được Việt Nam sử dụng biện pháp kiên trì vừa hợp tác vừa đấu tranh với phía Hoa Kỳ Kết quả là vào ngày 3/2/1994, Tổng thống Clinton đã tuyên bố bãi bỏ cấm vận Việt Nam và thiết lập
cơ quan liên lạc Hoa Kỳ tại Hà Nội Đặc biệt quan trọng là vào ngày 11/07/1995, Tổng thống Hoa Kỳ Clinton đã tuyên bố bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta ở cấp đại sứ Đại diện từ phía Việt Nam, thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố “Chính phủ và nhân dân Việt Nam hoan nghênh quyết định của Tổng thống Hoa Kỳ” và hưởng ứng đề nghị trao đổi đại sứ Về thủ tục thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước sẽ tuân theo những quy định của luật pháp và thông lệ quốc tế Đầu tháng 8/1995, hai cơ quan đại diện tại hai thủ
đô Hà Nội và Oasinhton đã được nâng cấp thành đại sứ quán, đồng thời hai bên cử Đại diện lâm thời đại diện cho hai nước
Kể từ mốc thời gian quan trọng đó, hai bên trao đổi nhiều hơn các phái đoàn cấp cao đi thăm hữu nghị và làm việc, tổ chức tiếp xúc giữa các trưởng đoàn của các phái đoàn hai nước tại các diễn đàn, các tổ chức khu vực và toàn cầu Đây được
Trang 40xem là biểu hiện cho thấy sự phát triển trong quan hệ ngoại giao của hai nước Cụ thể, sau chuyến thăm mở đường của Ngoại trưởng Hoa Kỳ O.Christopher sang Việt Nam vào tháng 8/1995; Ngoại trưởng Madeleine Albright cũng đã thực hiện hai chuyến thăm vào tháng 6/1997 và tháng 6/1999 Tháng 3/2000, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ William Cohen sang thăm Việt Nam Đặc biệt là vào tháng 11/2000, Tổng thống Hoa Kỳ W.J.Clinton đã chính thức sang thăm Chuyến thăm lịch sử này đánh dấu một cột mốc mới trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.
Sau khi bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam cũng thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học – công nghệ với Hoa Kỳ theo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và củng cố lợi ích thể hiện qua các hành động tich cực chuẩn bị xúc tiến đàm phán với Hoa Kỳ về hiệp định thương mại, bảo đảm đầu tư, cấp tín dụng xuất nhập khẩu, mở đường hàng không Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm từng phát biểu với Ngoại trưởng Hoa Kỳ Christopher “Trong quan hệ với Hoa Kỳ, chúng tôi coi quan hệ kinh tế là trọng tâm” Ngày 13/07/2000, Việt Nam
và Hoa Kỳ chính thức ký Hiệp định thương mại song phương – khung pháp lý quan trọng nhất tạo điều kiện quan trọng nhất tạo điều kiện cho hai nước phát triển kinh tế - thương mại, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ vốn rất phức tạp giữa hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ 29
Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, nhất là về kinh
tế – thương mại, với những bước đi và sách lược đúng đắn, trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp bộ trưởng tháng 10/1998, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm chính thức thăm Hoa Kỳ Vào tháng 11/2000, Tổng thống Clinton chính thức sang thăm Việt Nam và sau 4 năm đàm phán, hai bên đã ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, hoàn thành quá trình bình thường hoá quan hệ hai nước Cũng trong
29 Vũ Khoan: Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Tạp chí Cộng sản, số
15/08/2000