1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bản đồ đa tỉ lệ cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 phục vụ giảng dạy lịch sử trong trường phổ thông

60 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 4,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Việc giảng dạy và học tập bộ môn Lịch sử ở các cấp phổ thông đang là một trong những vấn đề được quan tâm nhất hiện nay của ngành giáo dục.. Với sự phát triển ngày càng nhanh của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Kim Thanh , Lớp Bản đồ - Viễn thám – GIS K33, Khóa 2012 – 2016 Thành viên:

Hồ Xuân Đạt Lớp: Bản đồ - Viễn thám – GIS K33, Khóa 2012 – 2016 Nguyễn Tư Tường Khánh Lớp: Bản đồ - Viễn thám – GIS K33, Khóa 2012 – 2016 Nguyễn Lan Phương Lớp: Bản đồ - Viễn thám – GIS K33, Khóa 2012 – 2016

Người hướng dẫn:

ThS Lê Chí Lâm

Giảng viên Khoa Địa lý

ĐH KHXH&NV TPHCM

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành nghiên cứu khoa học này, nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã tận tình truyền đạt kiến thức cho chúng em trong suốt thời gian chúng em học tập tại trường

Gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Văn Ngọc Trúc Phương đã gợi ý hướng nghiên cứu cho chúng em và đặc biệt là thầy Lê Chí Lâm, đã nhiệt tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn chúng em trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, các anh chị, bạn bè đã ủng hộ, động viên để nhóm nghiên cứu hoàn thành đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 3 năm 2016

Nhóm nghiên cứu

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Các nhiệm vụ tương ứng với mục tiêu 8

Bảng 2 1 Nội dung bài giảng Cuộc tiến công Xuân 1975 20

Bảng 2 2 Dữ liệu sử dụng 23

Bảng 2 3 Các khoảng tỉ lệ của bản đồ 26

Bảng 2 4 Nội dung và phương pháp thể hiện lớp nền 26

Bảng 2 5 Nội dung và phương pháp thể hiện lớp chuyên đề 27

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 1 Học sinh Trường THCS Hoàng Hoa Thám (TP Bắc Giang) tìm hiểu kiến thức

lịch sử tại Bảo tàng tỉnh 12

Hình 1 2 Tiết học giảng dạy lịch sử bằng phương pháp trình chiếu powerpoint 12

Hình 1 3 Lược đồ chiến dịch Hồ Chí Minh 13

Hình 1 4 Quân ta giải phóng cố đô Huế 14

Hình 1 5 Các thành phần của hệ thống thông tin địa lý (GIS) 16

Hình 1 6 Khả năng chồng lớp bản đồ 17

Hình 1 7 Khả năng hiển thị và phân tích 3D của GIS 18

Hình 1 8 Phần mềm Mapinfo 18

Hình 1 9 Phần mềm ArcGIS 19

Hình 1 10 Phần mềm QGIS 19

Hình 2 1 Sơ đồ thiết kế cơ sở dữ liệu 25

Hình 3 1 Lược đồ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 29

Hình 3 2 Lược đồ chiến dịch Tây Nguyên 30

Hình 3 3 Lược đồ chiến dịch Huế - Đà Nẵng 30

Hình 3 4 Lược đồ chiến dịch Hồ Chí Minh 30

Hình 3 5 Dữ liệu GIS của các nước sau khi tải về trong giao diện của phần mềm QGIS 31 Hình 3 6 Chấm các điểm cần thiết trên giao diện My Map của Google 31

Hình 3 7 Dữ liệu GIS lãnh thổ Việt Nam trong giao diện phần mềm QGIS 32

Hình 3 8 Mở công cụ đăng ký tọa độ ảnh (minh họa ảnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng) 33

Hình 3 9 Giao diện đăng ký ảnh (minh họa ảnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng) 33

Hình 3 10 Đăng ký ảnh theo dữ liệu GIS 34

Hình 3 11 Trước và sau khi đăng ký ảnh 34

Hình 3 12 Số hóa lớp sông ngòi (minh họa khu vực chiến dịch Tây Nguyên) 35

Hình 3 13 Kết quả số hóa lớp sông ngòi 36

Hình 3 14 Cập nhập thuộc tính cho dữ liệu đã số hóa 36

Hình 3 15 Giao diện khống chế khoảng tỉ lệ hiển thị của dữ liệu 37

Hình 3 16 Khả năng hiển thị của dữ liệu ở các tỉ lệ khác nhau 37

Hình 3 17 Giao diện chọn ký hiệu đường tiến quân của ta và rút lui của địch 38

Hình 4 1 Các lớp đối tượng cần thiết thể hiện Khái quát cuộc Tổng tiến công Xuân 1975 39

Hình 4 2 Kết quả chọn lớp chuyên đề thể hiện trong phần mềm ArcMap 40

Trang 5

Hình 4 3 Giao diện chọn lớp dữ liệu thể hiện chú thích 41

Hình 4 4 Giao diện chọn kim chỉ nam 41

Hình 4 5 Giao diện chọn thước tỉ lệ 42

Hình 4 6 Giao diện chọn tỉ lệ số 42

Hình 4 7 Giao diện chọn lưới kinh vĩ độ 43

Hình 4 8 Kết quả biên tập bản đồ 43

Hình 4 9 Kết quả xuất bản đồ 44

Hình 4 10 Kết quả tắt hiển thị lớp dữ liệu các hướng tiến công của quân ta và đường rút lui của địch 45

Hình 4 11 Kết quả tắt nhãn tên các điểm quan trọng trong chiến dịch 45

Hình 4 12 Bản đồ khu vực diễn ra cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 47

Hình 4 13 Bản đồ tổng quát diễn biến Cuộc tổng tiến công Xuân 1975 47

Hình 4 14 Bản đồ chiến dịch Tây Nguyên 48

Hình 4 15 Bản đồ chiến dịch Huế - Đà Nẵng 49

Hình 4 16 Bản đồ chiến dịch Hồ Chí Minh 50

Hình 1: Dữ liệu được đưa lên ArcGIS online 53

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

1 Đặt vấn đề - lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 8

3.1 Mục tiêu đề tài 8

3.2 Nhiệm vụ đề tài 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Đóng góp mới của đề tài 9

7 Kết cấu của đề tài 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11

1.1 Lý luận về phương pháp dạy học và sử dụng thiết bị dạy học 11

1.1.1 Lý luận về phương pháp dạy học lịch sử 11

1.1.2 Phương thức sử dụng thiết bị dạy học 13

1.2 Những khó khăn, hạn chế trong việc sử dụng bản đồ lịch sử 14

1.2.1 Khó khăn, hạn chế của bản đồ lịch sử thường được sử dụng 14

1.2.2 Khó khăn, hạn chế của người sử dụng bản đồ lịch sử 14

1.3 Bản đồ đa tỉ lệ và công nghệ sử dụng để thành lập bản đồ đa tỉ lệ 15

1.3.1 Bản đồ đa tỉ lệ 15

1.3.2 Công nghệ sử dụng để thành lập bản đồ đa tỉ lệ 15

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG 20

2.1 Phân tích nội dung bài giảng, xác định những nội dung có thể bản đồ hóa 20

2.1.1 Phân tích nội dung bài giảng 20

2.1.2 Xác định những nội dung có thể bản đồ hóa 23

2.2 Nội dung thiết kế 23

2.2.1 Dữ liệu sử dụng 23

2.2.2 Thiết kế cơ sở dữ liệu 24

Trang 7

2.2.3 Thiết kế bản đồ 26

CHƯƠNG 3: THỰC HIỆN 29

3.1 Thu thập và xử lý dữ liệu 29

3.1.1 Thu thập dữ liệu 29

3.1.2 Xử lý dữ liệu 32

3.2 Thể hiện dữ liệu 37

3.2.1 Khống chế khoảng hiển thị các lớp dữ liệu theo thiết kế (Bảng 2.2) 37

3.2.2 Chọn kiểu cho các đối tượng (điểm, đường, vùng) theo phần nội dung thiết kế (Bảng 2.4) 38

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 Sản phẩm 39

4.2 Hướng dẫn sử dụng 39

4.2.1 Hướng dẫn mở và sử dụng bản đồ đa tỉ lệ 39

4.2.2 Hướng dẫn biên tập bản đồ sử dụng trong giảng dạy trình chiếu 40

4.2.3 Một số gợi ý đưa vào kiểm tra miệng hoặc kiểm tra 15 phút, 1 tiết 45

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 8

TÓM TẮT

Việc giảng dạy và học tập bộ môn Lịch sử ở các cấp phổ thông đang là một trong những vấn đề được quan tâm nhất hiện nay của ngành giáo dục Nhiều công trình nghiên cứu nhằm thay đổi phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp và có hiệu quả được đưa ra Bản đồ là một công cụ giảng dạy trực quan hữu ích, cần thiết trong giảng dạy Lịch Sử giúp học sinh có thêm hứng thú trong học tập Đề tài xây dựng các bản đồ đa tỉ lệ bằng công nghệ GIS trên cơ sở khắc phục một số hạn chế của các bản đồ lịch sử bằng giấy trong sách giáo khoa, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học lịch sử

Bằng các phương pháp tìm hiểu, tổng hợp, đánh giá các tài liệu sách giáo khoa đề tài đã tìm ra ưu nhược điểm của các bản đồ Đồng thời, sử dụng các phương pháp thể hiện bản đồ khác nhau để thành lập bản đồ đa tỉ lệ về cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm

1975 trong lịch sử nước nhà

Sản phẩm của đề tài là bản đồ đa tỉ lệ về về cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm

1975 chạy trên phần mềm ArcMap Các lớp dữ liệu có thể bật tắt được các lớp giúp bài giảng thêm thú vị, cách thức thể hiện sinh động Tuy nhiên sản phẩm bản đồ đa tỉ lệ còn chạy trên nên phần mềm chuyên dụng, đòi hỏi người sử dụng phải có kiến thức về GIS, tin học tốt Thay vào đó, một số bản đồ thực hiện sẵn có khả năng tích hợp, sử dụng trong quá trình thiết kế bài giảng điện tử

Cần xây dựng thêm nội dung chi tiết hơn về các chiến dịch trong cuộc Tổng tiến công để hoàn thiện thêm đề tài Đồng thời, tham khảo thêm ý kiến của các giáo viên, học sinh cấp phổ thông để nội dung bản đồ thêm phong phú, phù hợp hơn cho quá trình dạy học lịch sử Việt Nam nói chung là lịch sử về cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 nói riêng ở các cấp phổ thông

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề - lý do chọn đề tài

Lịch sử không chỉ là môn học cho thấy những sự kiện đã diễn ra, mà còn cho học sinh thấy được quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, từ đó rèn luyện lòng yêu nước, uống nước nhớ nguồn và lòng quyết tâm xây dựng đất nước Mặc dù vậy, việc giảng dạy

và học tập môn Lịch sử ở bậc phổ thông hiện nay đang phải đối mặt với nhiều khó khăn

Số lượng học sinh say mê môn học này rất ít vì sự khô khan trong bài giảng, đặt nặng về việc học thuộc lòng, những sự kiện xảy ra trong quá khứ thì không thể trực tiếp quan sát, thực hành và rất khó để tái hiện lại Một bộ phận không nhỏ học sinh vẫn chưa nắm được các sự kiện lịch sử cơ bản của đất nước, những anh hùng tiêu biểu của dân tộc Vì thế, thay đổi phương pháp dạy học Lịch sử như thế nào để học sinh nắm được những kiến thức cơ bản đồng thời tăng tính chủ động, hứng thú trong môn học là vấn đề cấp thiết trong giảng dạy Lịch sử hiện nay

Với sự phát triển ngày càng nhanh của công nghệ thông tin, bản đồ số xây dựng bằng công nghệ GIS đã được chứng minh trong nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới là ngoài khả năng thể hiện trực quan các đối tượng, sự kiện lịch sử, còn tạo hứng thú cho học sinh, giúp các em có thể ghi nhớ bài giảng tốt hơn, nhờ đó tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn Điều này chứng tỏ đây là một công cụ đắc lực trong việc giảng dạy Địa lý, Lịch sử nói chung và các ngành xã hội nói riêng

Đề tài chọn Cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 - một sự kiện có ý nghĩa cực kì

to lớn trong lịch sử Việt Nam, thống nhất đất nước, mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên độc lập tự do - cho dân tộc ta

Với những lý do trên, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài “Bản đồ đa tỉ lệ cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 phục vụ giảng dạy lịch sử trong trường phổ thông”

Trang 10

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Việc giảng dạy bằng công cụ GIS không còn quá xa lạ với nhiều nền giáo dục trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện và chứng minh rằng GIS là một công cụ hỗ trợ hiệu quả trong việc giảng dạy các môn khoa học xã hội, đặc biệt là địa lý và lịch sử

Bài viết “GIS for Digital Humanities: Prospects, Problems, and Lessons for Geographic Information Librarians” của tác giả Karl-Rainer Blumenthal đề cập tới việc

áp dụng GIS hay việc sử dụng công nghệ thông tin để thực hiện nghiên cứu học thuật, xử

lý văn bản, tạo và quản lý cơ sở dữ liệu, thư mục trong các lĩnh vực khoa học nhân văn như lịch sử, ngôn ngữ, văn học, và triết học Đồng thời, tác giả cũng nhắc đến khả năng phát triển của ứng dụng GIS vào các ngành nhân văn có hạn vì nó ảnh hưởng tới thành tựu trí tuệ cá nhân trong ngành nhân văn cũng như công nghệ này khó tiếp cận các học giả bởi chi phí và kĩ thuật cần thiết để sử dụng chúng

Trung tâm Khoa học Xã hội tích hợp về Không gian (CSISS) trong bài viết “SPATIAL SOCIAL SCIENCE for Research, Teaching, Application and Policy” thừa nhận vai trò

quan trọng của GIS như một công cụ mạnh mẽ về nhận dạng, phân tích và thống kê không gian giúp tích hợp kiến thức toàn ngành và lập bản đồ chuyên đề về số liệu thống kê trên không gian và thời gian để thăm dò phân tích dữ liệu không gian và xây dựng kiến thức

về khoa học xã hội

ALADAĞ đã chỉ ra khả năng ứng dụng của hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong việc

giảng dạy các môn khoa học xã hội trong bài viết “An Evaluation of Geographic Information Systems in Social Studies Lessons: Teachers’ Views” Dưới góc nhìn của

giáo viên, họ cho rằng GIS không chỉ cải thiện kỹ năng đọc bản đồ của học sinh mà còn giúp học sinh rèn luện các kỹ năng ra quyết định, nghiên cứu, sử dụng máy tính để giải quyết vấn đề, phân tích không gian Các giáo viên tin tằng GIS cũng có thể được sử dụng trong các bài giảng lịch sử bởi nhận thức về không gian là vô cùng quan trọng trong sự hiểu biết các khái niệm và sự kiện lịch sử

Trang 11

Về giảng dạy lịch sử bằng công cụ GIS

Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến việc dạy và học môn lịch sử như thế nào cho hiệu quả, có nhiều phương pháp được đề ra như: dạy học lịch sử bằng thơ, bằng sơ đồ tư duy, tham quan bảo tàng, di tích lịch sử ở địa phương,…

Nhiều nghiên cứu về đổi mới giảng dạy lịch sử bằng cách đưa công nghệ vào giảng dạy trong đó nổi bật là phương pháp dạy học bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS) Công

cụ không gian địa lý được xem như là một công cụ liên ngành, phương pháp này được áp dụng ngay từ bậc tiểu học ở nhiều nước trên thế giới được và được đánh giá là đem lại hiệu quả cao trong việc giảng dạy, tạo hứng thú của học sinh trong việc học môn lịch sử, nhưng lại khá ít được đề cập và biết đến ở Việt Nam

Ở Malaysia, nghiên cứu “Embedding web-based geographic information system (web-based gis) in teaching and learning of history” của Rosilawati Zainol và Shakila

Parween Yacob đánh giá cao việc sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, tuy nhiên nghiên cứu cũng đề cập thách thức khi đưa GIS vào giảng dạy là: đòi hỏi giáo viên được đào tạo, tìm hiểu phương pháp sư phạm mới và chi phí của phần mềm GIS khá tốn kém

Chủ đề của bài viết “Old Maps and its Usage with Contemporary Map in Environment of Geographical Information System (GIS)” của tác giả Mirko Husak ở

Croatia đề cập tới mô hình chuyển đổi bản đồ lịch sử cũ thành dữ liệu có thể sử dụng cho

hệ thống địa lý thông qua sự hỗ trợ của các phần mềm GIS nhằm so sánh bản đồ lịch sử với bản đồ hiện đại Ngoài cách chuyển đổi, tác giả cũng đề cập tới những khó khăn trong

Trang 12

là những khó khăn, hạn chế của GIS và giải pháp để đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết giúp tích hợp GIS vào giảng dạy lịch sử

Nhìn chung, những lợi ích của GIS với giáo dục nói chung và môn lịch sử nói riêng là hoàn toàn tích cực Không những giúp học sinh hứng thú hơn trong việc học lịch sử mà còn giúp học sinh có kiến thức tổng quan thông qua việc tạo mối liên kết giữa địa lý và lịch sử GIS giúp trực quan hóa các kiến thức lịch sử, thông qua bản đồ và các công cụ hỗ trợ, GIS truyền đạt nhiều thông tin hơn trên hình ảnh giúp học sinh tiếp thu nhiều kiến thức hơn so với việc học trên kênh chữ như bình thường

Về xây dựng và sử dụng bản đồ, lƣợc đồ phục vụ giảng dạy, học tập lịch sử ở Việt Nam

Trong luận văn thạc sĩ giáo dục “Xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở lớp 12 trường THPT (chương trình chuẩn)” của Phan Trung

Kiên, đề cập đến cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử, những yêu cầu khi xây dựng lược đồ lịch sử lớp 12 như phải căn cứ vào mục tiêu đào tạo và nội dung sách giáo khoa, phải đảm bảo tính khoa học, tính thẩm mĩ

và hiện đại,… Bên cạnh đó, tác giả cũng nhắc đến những biện pháp và yêu cầu khi sử dụng lược đồ trong dạy học lịch sử ở trung học phổ thông Đề tài đã khẳng định vai trò của lược đồ trong việc phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh, tuy nhiên việc xây dựng và sử dụng chúng vẫn còn hạn chế, đòi hỏi giáo viên có những kĩ năng nhất định, cũng như kết hợp các biện pháp sư phạm và tư liệu tham khảo khác nhau Mặt khác, cũng cần chú ý tăng cường ứng dụng thông tin trong việc xây dựng và sử dụng lược đồ

Đề tài: “Ứng dụng GIS xây dựng Atlas điện tử phục vụ học địa lí ở phổ thông”của tác

giả Huỳnh Thị Mai Đình có đề cập đến vấn đề số hóa các phương tiện dạy học truyền thống đang được sử dụng trong phổ thông Đề tài nêu ra được sự cần thiết của việc sử dụng, phân tích phương tiện hiện đại kết hợp với sách giáo khoa, sách tham khảo trong quá trình dạy học, giúp học sinh dễ dàng tiếp thu, ghi nhớ kiến thức nhanh hơn so với việc chỉ tiếp thu bằng kênh chữ Từ việc dựa trên những hạn chế về mặt thể hiện và khó khăn trong việc sử dụng, khai khác thông tin của phương tiện dạy học truyền thống như: tỉ lệ bản đồ cố định, thông tin được thể hiện trên một mặt giấy bị hạn chế Sản phẩm của đề tài

Trang 13

mặc dù chưa thật sự hoàn chỉnh nhưng đã đề ra được nội dung và chức năng khai thác phương tiện dạy học hiện đại vào lĩnh vực giáo dục

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục tiêu đề tài

Mục tiêu tổng quát: Xây dựng bản đồ đa tỉ lệ về một bài học cụ thể cho một môn

học

Mục tiêu cụ thể:

- Tìm hiểu nội dung và các phương pháp hiện tại đang được sử dụng để diễn đạt bài

giảng về cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975

- Thiết kế bản đồ đa tỉ lệ

- Xây dựng bản đồ đa tỉ lệ

3.2 Nhiệm vụ đề tài

Từ những mục tiêu nêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:

Bảng 1 Các nhiệm vụ tương ứng với mục tiêu

 Tìm hiểu nội dung và các phương

pháp hiện tại đang được sử dụng để

diễn đạt bài giảng về cuộc Tổng tiến

công mùa xuân năm 1975

Tìm hiểu tư liệu sẵn có về bài giảng Tìm hiểu những hạn chế, khó khăn khi sử dụng các thiết bị dạy học

Tìm hiểu những nội dung có thể bản đồ hóa

 Thiết kế bản đồ đa tỉ lệ Xây dựng lý thuyết về bản đồ đa tỉ lệ

Tìm hiểu và lựa chọn công nghệ sử dụng Xác định khoảng tỉ lệ

Xác định nội dung ứng khoảng dãy tỉ lệ Lựa chọn phương thức thể hiện bản đồ ứng với từng nội dung

Trang 14

 Xây dựng bản đồ đa tỉ lệ Xây dựng dựa trên nội dung thiết kế

Thử nghiệm (nếu có thể)

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin

- Tìm hiểu tư liệu sẵn có về: bài giảng, bản đồ đa tỉ lệ, công nghệ sử dụng

- Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn ThS Huỳnh Bá Lộc - Giảng viên Khoa Lịch

sử trường ĐHKHXHNV những nội dung sau:

+ Những hạn chế, khó khăn khi sử dụng các thiết bị dạy học

+ Những nội dung có thể bản đồ hóa

Về phần mềm: ArcGIS, Mapinfo, QGIS

6 Đóng góp mới của đề tài

Như đã đề cập ở phần Tổng quan, ứng dụng GIS có nhiều tác động tích cực vào giảng dạy và học tập môn Lịch sử đã được chứng minh trong nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới Tuy nhiên, công nghệ GIS lại chưa được ứng dụng nhiều trong việc giảng dạy các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng Đề tài đưa bản đồ số được xây dựng bằng công nghệ GIS, đóng vai trò như một công cụ hiện đại và trực quan, góp phần vào các giải pháp để đổi mới phương pháp dạy và học môn Lịch sử ở phổ thông

Trang 15

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài bao gồm 4 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý thuyết

- Chương 2: Nội dung

- Chương 3: Thực hiện

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Lý luận về phương pháp dạy học và sử dụng thiết bị dạy học

1.1.1 Lý luận về phương pháp dạy học lịch sử

Hệ thống giáo dục phổ thông với phương pháp “Thầy – trò cùng làm việc” trong tường phổ thông của bộ giáo dục đề ra nhằm nâng cao, phát huy tính chủ động trong học tập gây hứng thú cho học sinh, tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức

Phương pháp dạy học “Thầy – trò cùng làm việc” yêu cầu giáo viên nâng cao chất lượng dạy và học không chỉ trình độ chuyên môn cao mà còn đòi khỏi khả năng nghiệp

vụ tốt Khả năng nghiệp vụ của giáo viên tốt sẽ giúp thu hút học sinh chú ý, tăng khả năng tiếp thu nội dung bài học Trong nhiều phương pháp dạy học, phương pháp trực quan hóa

là một phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng của học sinh Đặc biệt, đối với bộ môn lịch sử, việc sử dụng các thiết bị dạy học trực quan là hết sức cần thiết để học sinh có thể hình dung ra các sự kiện lịch sử

Bộ môn lịch sử ngoài việc cung cấp kiến thức cho sinh viên những sự kiện lịch sử tiêu biểu trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước còn bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và hội nhập quốc tế, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi trong cuộc cuộc đổi mới đất nước trong giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, bộ môn còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng kênh hình như tranh ảnh, lược đồ, sơ đồ, bản đồ,… bên cạnh đó là một số thao tác tư duy cơ bản như phân tích, so sánh, nhận định đánh giá các sự kiện lịch sử trong nước và trên thế giới

Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nơi trên thế giới, bộ môn lịch sử cũng được xem

là một môn học khô khan, học sinh chủ yếu phải nghe, chép, và ghi nhớ nhanh rất nhiều

sự kiện lịch sử

Có nhiều ý tưởng thay đổi phương pháp dạy học lịch sử như cho học sinh làm bài nhóm, dựng kịch, đi thăm các bảo tàng, di tích lịch sử,… nhưng những phương pháp này lại khá tốn thời gian, thường thì giáo viên phải dành riêng một buổi để học sinh thực hiện các hoạt động trên Mặc dù tính thiết thực nhiều hơn nhưng tốn thời gian hơn khiến các giáo viên hạn chế thực hiện những phương pháp trên

Trang 17

Hình 1 1 Học sinh Trường THCS Hoàng Hoa Thám (TP Bắc Giang) tìm hiểu kiến thức

lịch sử tại Bảo tàng tỉnh

(Nguồn: Báo Bắc Giang điện tử) Phương pháp tối ưu và nhiều giáo viên thường hay sử dụng nhất là chiếu phim,

hình ảnh, bản đồ, lược đồ lịch sử bằng các thiết bị được hỗ trợ trong lớp học như tivi, máy

chiếu Phương pháp này vừa tiết kiệm thời gian, vừa giúp học sinh tiếp cận được với

nhiều kênh hình góp phần giúp tiết học thêm sinh động, dễ hiểu, tăng tính tích cực trong

học tập bộ môn, nhờ đó, giáo viên có thêm động lực để tìm hiểu nội dung bài giảng, đưa

những thông tin hấp dẫn và đầy đủ tới học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học

Hình 1 2 Tiết học giảng dạy lịch sử bằng phương pháp trình chiếu powerpoint

(Nguồn: baomoi.com)

Trang 18

1.1.2 Phương thức sử dụng thiết bị dạy học

Thiết bị dạy học môn lịch sử tối thiểu là: lược đồ, sơ đồ, bản đồ chiến dịch, trận đánh để minh họa nội dung kênh chữ, hoặc thay thế nội dung cho kênh chữ làm cho bài giảng thêm sinh động, trực quan, giúp học sinh nâng cao trình độ, khả năng nhận thức về bản chất sự kiện lịch sử

Thiết bị dạy học môn lịch sử thường xuyên được sử dụng là bản đồ, lược đồ lịch

sử, tranh ảnh,… “Bản đồ lịch sử chứa những thông tin mà không nằm trong những tài liệu văn bản, như tên địa danh, ranh giới và đặc điểm tự nhiên đã bị khác đi hay xóa đi bởi sự phát triển hiện đại.” (David Rumsey và Meredith Williams, nd) Đặc biệt với các

trận đánh, chiến dịch, bản đồ và lược đồ lịch sử là thiết bị dạy học quan trọng giúp học sinh hình dung được diễn biến của sự kiện, tăng khả năng ghi nhớ bài học

Hình 1 3 Lược đồ chiến dịch Hồ Chí Minh

(Nguồn: Sách giáo khoa lớp 9)

Trang 19

Hình 1 4 Quân ta giải phóng cố đô Huế

(Nguồn: Sách giáo khoa lớp 9)

Như vậy, việc sử dụng thiết bị dạy học nói chung và bản đồ nói riêng trong giảng dạy lịch sử quan trọng trong phương pháp trực quan hóa bài giảng, giúp học sinh nắm bắt được bài học dễ dàng, có hứng thú hơn, tích cực hơn trong việc học lịch sử, nâng cao chất lượng dạy và học

1.2 Những khó khăn, hạn chế trong việc sử dụng bản đồ lịch sử

1.2.1 Khó khăn, hạn chế của bản đồ lịch sử thường được sử dụng

- Bản đồ lịch sử được sử dụng thường là bản đồ giấy, dễ hư hỏng, khó bảo quản

- Thiếu bản đồ, đôi khi không đủ bản đồ cho tất cả các lớp

- Đa phần thiết bị dạy học là lược đồ lịch sử, thiếu những thành phần cơ bản của bản đồ

- Bản đồ chủ yếu chỉ thế hiện được một nội dung cố định Nội dung bản đồ thể hiện thiếu chi tiết, chưa chuẩn hóa, chưa thể hiện tốt thông tin

1.2.2 Khó khăn, hạn chế của người sử dụng bản đồ lịch sử

- Học sinh sử dụng bản đồ lịch sử đa phần là bản đồ trong sách giáo khoa, tuy nhiên kênh chữ trong sách giáo khoa còn hạn chế, nên bản thân học sinh chưa thể đọc hiểu cũng như phân tích những bản đồ đó Trong khi đó, nhiều thầy cô

Trang 20

còn ngại sử dụng bản đồ trên lớp do sợ tốn thời gian, cháy giáo án vì lượng kiến thức phải truyền đạt cho học sinh khá nhiều

- Thầy cô giảng dạy đôi khi gặp khó khăn trong việc giải thích, phân tích bản đồ, một số thầy cô trình độ chuyên môn về bản đồ con hạn chế

1.3 Bản đồ đa tỉ lệ và công nghệ sử dụng để thành lập bản đồ đa tỉ lệ

1.3.1 Bản đồ đa tỉ lệ

Một trong những đặc điểm của bản đồ là khái quát hóa, theo K.A.Xalisep: “Đó là

sự chọn lựa cái chính, quan trọng và sự tổng quát hóa có chủ định nhằm phản ảnh trên bản

đồ bộ phận này hay bộ phận khác của hiện thực trong những nét cơ bản, điển hình của nó

và những đặc điểm đặc trưng phù hợp với mục đích, đề tài và tỉ lệ bản đồ” (K.A.Xalisep, 2006)

Từ định nghĩa trên, ta thấy được những yếu tố ảnh hưởng đến nội dung bản đồ: mục đích bản đồ, đề tài và tỉ lệ của bản đồ Nói cách khác, tỉ lệ bản đồ càng lớn, các đối tượng địa lý càng chính xác và chi tiết, nhưng đối với với tỉ lệ nhỏ hơn, ta phải sàng lọc

và chỉ được thể hiện những yếu tố, tính chất đặc trưng

Dựa trên những thông tin thu thập được nhóm nghiên cứu xây dựng khái niệm bản

đồ đa tỉ lệ trong khuôn khổ đề tài như sau: “Bản đồ giấy thông thường chỉ được thể hiện ở một tỉ lệ nhất định Với sự phát triển của công nghệ, người ta sử dụng các công cụ để khái quát hóa một vấn để ở nhiều mức độ khác nhau, bản đồ có thể được thể hiện ở nhiều tỉ lệ khác nhau Nhờ vậy, lượng thông tin chuyển tải đến người đọc nhiều hơn, các đối tượng trong bản đồ được thể hiện chi tiết hơn nhưng vẫn không mất đi tính khái quát hóa và rõ ràng về không gian cũng như thuộc tính của mình.”

1.3.2 Công nghệ sử dụng để thành lập bản đồ đa tỉ lệ

1.3.2.1 Hệ thống thông tin địa lý - Geographic Information System

(GIS)

GIS là một nhánh của công nghệ thông tin, đã hình thành từ những năm 60 của thế

kỷ trước và phát triển rất mạnh trong những năm gần đây

Trang 21

Có nhiều định nghĩa về GIS, đề tài sử dụng định nghĩa trong cuốn “GIS căn bản”

của tác giả Trần Trọng Đức: “GIS là một hệ thống thông tin áp dụng cho dữ liệu địa lý, và được xem như là một hệ thống gồm phần cứng, phần mềm với các chức năng được thiết

kế để thu thập, lưu trữ, truy cập và biến đổi, phân tích và thể hiện dữ liệu tham chiếu đến

vị trí trên mặt trái đất, nhằm hỗ trợ giải quyết các bài toán quy hoạch và quản lý phức tạp”

Hình 1 5 Các thành phần của hệ thống thông tin địa lý (GIS)

(Nguồn: providencegissolutions.com) GIS là hệ thống gồm các hợp phần: Phần cứng (Hardware), Phần mềm (Software),

Cơ sở dữ liệu địa lý (Data) và Đội ngũ chuyên gia (People), phương pháp phân tích

(Methods & Procedures)

GIS dùng để thu thập, lưu trữ, truy vấn, phân tích, hiển thị các thông tin không gian

từ thế giới thực theo thời gian thực nhằm thực hiện các mục đích cụ thể

GIS được sử dụng nhằm xử lý đồng bộ các lớp thông tin không gian (bản đồ) gắn với các thông tin thuộc tính, phục vụ nghiên cứu, thành lập bản đồ, quy hoạch và quản lý các hoạt động kinh tế, an ninh – quốc phòng, ứng phó thiên tai theo lãnh thổ

Thông qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền bản đồ số nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu bản

đồ đầu vào GIS hỗ trợ một cách hiệu quả các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý, doanh

Trang 22

nghiệp, cá nhân đánh giá hiện trạng các quá trình, các sự kiện, các thực thể tự nhiên –

kinh tế - xã hội

1.3.2.2 Khả năng của GIS trong thành lập bản đồ

GIS là một công cụ khá mạnh trong việc lưu trữ và diễn đạt dữ liệu đặc biệt là dữ

liệu bản đồ Chúng có thể xuất ra kết quả ở những dạng khác nhau như các bản đồ, biểu

đồ thống kê… GIS đóng vai trò nâng cao chất lượng, số lượng, độ chính xác của bản đồ

và giúp tiết kiệm chi phí, thời gian so với cách làm bản đồ bằng tay truyền thống GIS có

thể thu thập và lưu trữ dữ liệu với số lượng lớn Số liệu lưu trữ có thể được quản lý, cập

nhật, chỉnh sửa một cách dễ dàng Ngoài ra, GIS còn cho phép truy cập, truy vấn, phân

tích dữ liệu từ nhiều nguồn và nhiều loại khác nhau và tạo ra một lớp số liệu tổng hợp mới

từ việc tổng hợp, phân tích các loại số liệu khác

Khả năng chồng lớp bản đồ

Việc chồng lớp các bản đồ trong kỹ thuật GIS là một

khả năng ưu việt của GIS trong việc phân tích các số liệu

thuộc về không gian, để có thể xây dựng thành một bản

đồ mới mang các đặc tính hoàn toàn khác với bản đồ

trước đây

Khả năng phân loại các thuộc tính

Một trong những điểm nổi bật của tất cả các chương

trình GIS là phân tích các thuộc tính số liệu của không

gian để phân loại, phân nhóm các thuộc tính nổi bật của

bản đồ Việc phân loại thuộc tính rất quan trọng vì nó cho

ra các mẫu khác nhau Một trong những điểm quan trọng

trong GIS là giúp để nhận biết, chỉnh sửa và thể hiện

được các mẫu đó Việc phân loại thuộc tính có thể được

thực hiện trên 1 hay nhiều bản đồ

Hình 1 6 Khả năng chồng lớp bản đồ

(Nguồn: catalog.flatworldknowledge.com)

Trang 23

Khả năng hiển thị và phân tích 3D của GIS

Không chỉ thể hiện dữ liệu địa lý ở dạng 2D, GIS còn có khả năng hiển thị và phân tích không gian dưới dạng 3D Đối tượng 3D được lưu trữ như một tập hợp các giá trị x,y,z của hệ tọa độ chứ không chỉ là x và y như trong 2D Nhờ thế, ta có thể thực hiện các phép phân tích 3D để giải các bài toán không gian 3 chiều Bằng thuật toán TIN (mạng lưới tam giác không đều) và các thuật toán nội suy khác, các công cụ phân tích 3D có thể giúp ta xác định độ cao, đường đồng mức, độ dốc của một khu vực; kích thước bóng của một tòa nhà; hoặc địa chất bên dưới bề mặt đất,… Ta thậm chí còn có thể đánh giá cảnh quan đô thị hay xác định tầm nhìn và độ an toàn của các chuyến bay bằng các phép phân tích 3D của GIS

(Nguồn: esri.com)

1.3.2.3 Phần mềm GIS trong thành lập bản đồ

Trong hệ thông tin địa lý có nhiều phần mềm được

sử dụng rộng rãi trong việc thành lập bản đồ Sau đây là

một số phần mềm phổ biến:

Mapinfo là một trong những phần mềm phục vụ

cho việc xây dựng và quản lý hệ thống thông tin địa lý do

công ty MapInfo (nay là Pitney Bowes) sản xuất Phần

mềm được trang bị khả năng khởi tạo, xử lý dữ liệu và các

Hình 1 7 Khả năng hiển thị và phân tích 3D của GIS

Hình 1 8 Phần mềm Mapinfo

(Nguồn: ungdunggis.edu.vn)

Trang 24

đặc tính thể hiện giá trị trên màn hình Đồng thời, điểm vượt trội của Mapinfo so với các phần mềm khác là bộ công cụ vẽ, hiệu chỉnh bản đồ giúp khả năng hỗ trợ biên tập bản đồ chuyên đề rất tốt

ArcGIS gồm những công cụ phần

mềm rất mạnh như ArcMap, ArcCatalog, ArcToolbox, ModelBuilder, ArcScene và ArcGlobe do ESRI sản xuất

Khi sử dụng các ứng dụng này đồng thời, người sử dụng có thể thực hiện được các bài toán ứng dụng GIS bất kỳ, từ đơn giản đến phức tạp, để quản lý, cập nhật, phân tích thông tin và xuất bản tạo nên một hệ thống thông tin địa lý (GIS) hoàn chỉnh Arcgis cho phép tạo và chỉnh sửa dữ liệu tích hợp (dữ liệu không gian tích hợp với dữ liệu thuộc tính), hiển thị, truy vấn và phân tích dữ liệu không gian kết hợp với dữ liệu thuộc tính, thành lập bản đồ chuyên đề

QGIS là phần mềm mã nguồn mở GIS được bắt đầu

xây dựng từ năm 2002 và phát hành lần đầu tiên vào

tháng giêng năm 2009 bởi Gary Sherman QGIS hỗ trợ

hầu hết các chức năng cơ bản của một phần mềm GIS

gồm: Quản lý dữ liệu, đọc được nhiều định dạng dữ

liệu, biên tập và xuất bản bản đồ, xuất-nhập dữ liệu và

các chức năng phân tích không gian QGIS có những

công cụ biên tập và xuất bản đồ với giao diện thân

thiện với người sử dụng luôn được bổ sung và hoàn

thiện qua từng phiên bản

Trang 25

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG

2.1 Phân tích nội dung bài giảng, xác định những nội dung có thể bản đồ hóa 2.1.1 Phân tích nội dung bài giảng

Bảng 2 1 Nội dung bài giảng Cuộc tiến công Xuân 1975

Bài 23: Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội ở miền Bắc giải phóng hoàn toàn Miền Nam (1973-1975)

Phần III – Giải phóng hoàn toàn niềm nam, giành toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc

Phần II: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

- Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

Học sinh sau khi học xong bài này có những hiểu biết về:

- Nhiệm vụ của cách mạng miền Bắc, nhiệm vụ của cách mạng miền Nam sau Hiệp định Pari năm 1973 nhằm tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam

- Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

- Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ

Trang 26

Về kĩ năng

Rèn luyện cho học sinh kỹ năng phân tích, nhận định, đánh giá tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân ta ở hai niềm Nam – Bắc nhằm tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất

Tổ quốc và ý nghĩa của thắng lợi trên; kĩ năng sử dụng bản đồ, tranh ảnh trong sách giáo khoa

Rèn luyện kỹ năng phân tích, nhân định, đánh giá về âm mưu, thủ đoạn của địch sau Hiệp định Para năm 1973 về Việt Nam; điều kiện và thời cơ sau khi Mĩ rút hết quân về nước, chủ trương, kế hoạch đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt giải phóng hoàn toàn miền Nam; tinh thần chiến đấu; ý chí thống nhất Tổ quốc; ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước

Về thái độ

Bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ của cách mạng

Bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, tình cảm ruột thịt Bắc – Nam, niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng

Chiến dịch Huế - Đà Nẵng:

Trang 27

- Ngày 21/3: quân ta đánh thẳng vào căn cứ địch ở Huế, chặn các đường rút chạy của chúng, hình thành thế bao vây địch trong thành phố Ngày 25/3: quân ta tiến vào cố đô Huế Ngày 26/3: giải phóng thành phố và toàn tỉnh Thừa Thiên Ngày 29/3: Quân ta từ ba phía Bắc, Tây, Nam tiến thẳng vào thành phố Đến 3 giờ chiều, toàn bộ thành phố Đà Nẵng được giải phóng

Chiến dịch Hồ Chí Minh:

- 5 giờ chiều ngày 26/4: 5 cánh quân của ta được lệnh vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài của định tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của chúng Ngày 30/4: 10h45, xe tăng ta tiến thẳng vào Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ Chính phủ Trung ương Sài Gòn Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh đã phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện 11h30, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc tòa nhà Phủ Tổng thống, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dich Hồ Chí Minh lịch sử

(Nguồn: Sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 9 và lớp 12)

Có thể thấy, mục đích chung ở cả hai phân lớp (cả lớp 9 và lớp 12) vẫn là yêu cầu học sinh nắm được những kiến thức cơ bản về cuộc tổng tiến công Xuân

1975 như diễn biến, kết quả và ý nghĩa của cuộc tổng tiến công, mà đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh đối với công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Thêm vào đó là rèn luyện kỹ năng phân tích, nhận định đánh của học sinh về các sự kiện lịch sử, kỹ năng sử dụng bản đồ, tranh ảnh trong sách giáo khoa để qua

đó bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng

Như vậy, sử dụng bản đồ là kỹ năng cần thiết giúp học sinh học bài tốt hơn đồng thời hỗ trợ học sinh rèn luyện khả năng phân tích, nhận định đánh giá Trên

cơ sở đó, nhóm nghiên cứu xác định những nội dung có thể đưa vào bản đồ sản phẩm dựa vào nội dung bài giảng và bản đồ có trong sách giáo khoa, ngoài ra

Trang 28

nhóm nghiên còn tìm hiểu thêm một số nội dung khác tại Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh để đưa vào bản đồ sản phẩm giúp học sinh tiếp cận hiểu sâu hơn về cuộc tổng tiến công

2.1.2 Xác định những nội dung có thể bản đồ hóa

- Các địa điểm then chốt trong các chiến dịch của cuộc tổng tiến công:

+ Chiến dịch Tây Nguyên: Kom Tum, Plây Cu, Buôn Ma Thuột + Chiến dịch Huế - Đà Nẵng: Huế, Đà Nẵng

+ Chiến dịch Hồ Chí Minh: Sài Gòn

- Các hướng tiến công của ta, đường rút lui của địch

- Ngày giải phóng của các tỉnh

2.2 Nội dung thiết kế

thành lập

Dữ liệu GIS, thể hiện rõ các đối tượng không gian, hành chính

Sử dụng làm lớp nền

Dữ liệu ảnh (.jpg)

Nội dung giống với các lược đồ trong sách giáo khoa

Thực hiện đăng kí ảnh và số hóa để có thông tin thủy văn, địa điểm diễn ra chiến dịch, hướng

Trang 29

tiến công, đường rút lui, ngày giải phóng,…

3 Google My

Maps

Một trong những chức năng của Google Maps được cung cấp bởi Google

Chức năng cho phép người dùng tạo bản đồ của họ bằng cách thêm vào các điểm, đường, vùng trên nền Google Maps

Sử dụng để tạo các điểm địa danh trong cuộc Tổng tiến công

2.2.2 Thiết kế cơ sở dữ liệu

- Hệ quy chiếu: WGS-84

- Để phục vụ cho xây dựng bản đồ, nhóm nghiên cứu thiết kế và xây dựng bộ

cơ sở dữ liệu sau:

Trang 30

Hình 2 1 Sơ đồ thiết kế cơ sở dữ liệu

(Cấp độ 2) 2_DiemDen 2_DiemTrang 2_DuongTTC

(Cấp độ 3) 3_DiemHue_DN 3_DuongHue_DN 3_DiemTN

3_DuongTN 3_DiemHCM 3_DuongHCM

Ngày đăng: 25/04/2021, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w