Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về Ấn Độ từ vị trí địa lý, địa hình, đặc điểm văn hóa, khoa học tự nhiên đến con người, xã hội Ấn Độ; đặc biệt công trình này đề cập khá chi tiết
Trang 1- -
NGUYỂN XUÂN GIANG
TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016
Trang 2- -
NGUYỂN XUÂN GIANG
TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn chu đáo, nhiệt tình của PGS,TS Trương Văn Chung Các dẫn chứng, tư liệu dựa trên nguồn trung thực và tin cậy Tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Nguyễn Xuân Giang
Trang 4Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY 12 1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY 12
1.1.1 Điều kiện tự nhiên của sự hình thành tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 12 1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội của sự hình tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 17
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY 25
1.2.1 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật góp phần hình thành nên tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 25 1.2.2 Văn hóa, nghệ thuật, văn học và tín ngưỡng của sự hình thành tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 30 1.2.3 Các trường phái triết học tại Ấn Độ cổ đại và sự hình thành tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 39 1.2.4 Sự ảnh hưởng của các trường phái triết học đương thời đến sự hình thành tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 44
1.2.5 Siddhārtha Gotama – nhà sáng lập trường phái phi thần luận Phật giáo
Nguyên thủy 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 57
Trang 5CỦA NÓ 59 2.1 TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN TRONG HỌC THUYẾT PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY 59
2.1.1 Tư tưởng phi thần luận của Duyên khởi (Pratītyasamutpāda) 59 2.1.2 Tư tưởng phi thần luận của Vô thường - Vô ngã (Anitya - Anātman) 72 2.1.3 Tư tưởng phi thần luận của Nghiệp (Karma) 79 2.1.4 Tư tưởng phi thần luận của Tứ Diệu đế (Sa Catvāry āryasatyāni) 94 2.1.5 Tư tưởng phi thần luận của Giải thoát (Sa Moksa) 102 2.1.6 Tư tưởng phi thần luận của Niết bàn (Nirvāna) 111
2.2 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY 115
2.2.1 Đặc điểm của tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 115 2.2.2 Giá trị của tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 120 2.2.3 Hạn chế của tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 128
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 130 KẾT LUẬN CHUNG 133 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo là một hệ thống triết học có lý luận sâu sắc cả về nhân sinh quan và thế giới quan
Xuất hiện từ thế kỷ thứ V Tr.CN, với công lao to lớn của Siddhārtha Gotama1 là một vị thái tử của vương triều Ca Tỳ La Vệ (Kapilvastu) của nước Ấn Độ, và về sau được gọi là Phật Thích Ca (Shakyamuni) Trải dài hơn 25 thế kỷ, đến nay Phật giáo đã lan rộng sang nhiều quốc gia khác nhau
và đã trở thành quốc đạo tại một số nước ở châu Á Tất nhiên, với ngần ấy năm tháng, giáo lý Phật giáo đã có những thay đổi theo cả không gian và thời gian, sự biến đổi về những giáo lý gốc cũng như bổ sung thêm nhiều lý luận
để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội Sự điều chỉnh, bổ sung
ấy mang lại hai phương diện: phương diện tích cực của sự thay đổi này là giúp cho Phật giáo đi vào đời sống, phù hợp với từng vùng miền, lãnh thổ, quốc gia, dân tộc và cũng để thích nghi với thời đại; Ngược lại, những sự thay đổi này cũng đã khiến các sinh hoạt Phật giáo ngày nay mất dần đi những giá trị căn bản ban đầu - nguyên thủy của nó
Siddhārtha Gotama khi thành tựu đạo quả, luôn xác lập vai trò của con người là tối cao, là duy nhất trong mối quan hệ với vạn vật, để từ đó toàn bộ giáo lý của Ngài thuyết ra đã lấy con người làm trục trung tâm; ban đầu là chỉ ra những sự khổ đau của con người, sau đó là phương pháp
1
Ở Việt Nam, người được xem là Giáo chủ của Phật giáo có rất nhiều tên gọi khác nhau: Phật Tổ, Phật Thích Ca, Như Lai, Cồ - Đàm, Bụt (cách gọi của Thích Nhất Hạnh),… Riêng danh xưng Siddhārtha Gotama ít sử dụng, nhưng đây là tên gọi phổ biến ở đạo Phật các nước còn duy trì hình thức tu tập theo Nguyên thủy, tên gọi này chính là tên nguyên gốc Với tính chất luận văn nghiên cứu về Phật giáo Nguyên thủy, nên trong quá trình thực hiện luận văn, tên gọi Sakyā Gotama được sử dụng phổ biến
Trang 7thoát khổ làm căn bản và hướng đến đời sống giác ngộ, cuối cùng là giải thoát con người bằng con đường tự lực Toàn bộ quá trình này được nói đến trong tư tưởng Tứ Diệu đế hoàn toàn là do nỗ lực của bản thân thông qua con đường thực tập và rèn luyện
Tuy nhiên, đã có không ít sự ngộ nhận về một đạo Phật với những mầu nhiệm của thần lực; bao phủ lên Đức Phật Gotama với những quyền năng thần thánh, đầy sự ban phước và giáng họa Ngài đã được khoác lên một lớp hào quang của thần linh và trở thành một đối tượng để cầu khấn, van xin
Những niềm tin cho rằng Đức Phật là đấng tối cao quyết định số phận con người, quyết định sự vận hành của vũ trụ, những hỗ trợ ấy không những giúp cho đời sống con người trở nên tốt đẹp hơn lúc còn sống mà ngay cả khi con người chết đi, con người vẫn có thể được sự cứu vớt bởi Đức Phật bằng những nghi thức cầu xin, khấn bái Việc thần linh hóa Đức Phật chỉ diễn ra rất lâu sau khi Ngài lìa đời, đã dần đưa đạo Phật rời xa những giáo lý căn bản từ khuynh hướng không bàn đến Thần linh, đạo Phật đã trở thành một trường phái hữu thần, vừa phụ thuộc sự cứu rỗi của đấng Thần linh từ thế giới bên ngoài, vừa thể hiện sự “có cầu có thiêng”, và điều này đã ảnh hưởng rất sâu đến nhận thức của người Việt Nam nói chung, đặc biệt là những người lựa chọn tôn giáo này để sinh hoạt tu tập Từ đó, những hình thức tín ngưỡng đối với Phật giáo đã thay đổi so với tính chất ban đầu của nó, nhiều người theo đạo đã xa rời những giáo lý căn bản với xu hướng tự lực và nhập thế, thay bằng tha lực và ảo vọng về một thế giới bên ngoài; hình thành các hình thức cầu xin, khấn bái với tính chất nặng về tâm linh tín ngưỡng, mong ước được
hỗ trợ và cứu vớt về các cõi lạc quốc bởi ơn trên chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác
Nhiều người trong giới Phật giáo ngày nay tìm đến đạo Phật vì cảm thấy cuộc sống có quá nhiều bế tắc, họ tìm đến Phật giáo vì hy vọng trong ánh
Trang 8hào quang của chư Phật chư Bồ Tát có thể giúp họ vượt qua những khổ đau, chướng ngại Những niềm tin như thế rất phổ biến trong cộng đồng người Việt Lúc này hình ảnh Đức Phật trở nên lung linh, vi diệu và Ngài được hiểu
là một vị Thần linh ban phước chứ không còn tuân theo luật nhân quả
Tuy nhiên, trong các bản kinh có nguồn gốc từ Phật giáo Nguyên thủy
đã trích dẫn nhiều nội dung nói về vai trò của Đức Gotama cũng như những quan điểm của Ngài về vấn đề Thần linh tạo hóa, có hay không việc chi phối của Thần linh trong đời sống chúng ta? Đứng trước những vấn đề này, thái
độ của Gotama là rất rõ ràng, Ngài chưa một lần đề cập đến Thần linh đối với đời sống con người, và chính bản thân Ngài cũng không thừa nhận là đấng sáng tạo, mà chỉ dừng lại ở chỗ khám phá ra những quy luật, những trật
tự trong vũ trụ để giúp ích cho con đường giải thoát khổ đau Triết lý Phật giáo khi mới ra đời chỉ là một học thuyết triết học, với ý nghĩa phản kháng lại chế độ hà khắc của Bà-la-môn giáo về đẳng cấp và thánh kinh Veda, nhưng sau đó nó phát triển thành một triết lý tôn giáo thoát khổ
Ban đầu triết học Phật giáo Nguyên thủy có thế giới quan rất tự nhiên, thông qua việc biện giải các thuyết về Duyên khởi, Vô ngã – Vô thường, Nghiệp, Tứ đế, Giải thoát hay Niết bàn cho thấy đây là một học thuyết có khuynh hướng phi thần và duy vật chất phác, nhưng với chủ trương tự do trong tư tưởng và tôn trọng quyền cá nhân khá cao, nên về sau Phật giáo đã
bị thêm thắt bởi các yếu tố ngoại đạo, nhất là khi tôn giáo này đi qua khu vực Tây Á, nơi có cao nguyên Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ…đã tích hợp vào Phật giáo những yếu tố Thần linh vốn có trong tập quán tín ngưỡng bản địa trước khi đến với Việt bằng con đường Bắc truyền
Vậy nên, với đề tài “Tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên
thủy”, tác giả mong muốn luận văn sẽ góp một phần nhỏ để tổng hợp và
trình bày lại những giá trị có tính căn bản của Phật giáo Nguyên thủy, cụ thể
Trang 9là thái độ của Phật giáo Nguyên thủy như thế nào trước quan niệm Thần linh, Thượng đế
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong quá trình tìm kiếm tài liệu tham khảo cho luận văn, tác giả chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào trực tiếp và chuyên biệt liên quan đến nội dung phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy, mà chỉ có những bài viết rải rác trên các tạp chí, sách báo thể hiện một vài quan điểm bàn đến yếu tố thần linh, hoặc những câu nói, điển tích được thể hiện trong kinh điển Phật giáo
và một số công trình nghiên cứu Với nguồn tài liệu tìm kiếm được, tác giả phân ra các hướng nghiên cứu sau:
Hướng nghiên cứu thứ nhất, là những tác phẩm kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy như:
Các bản của kinh Nikaya (A Hàm – Đại tạng kinh Việt Nam) được
dịch bởi Thích Minh Châu - Tiến sĩ Phật học tại Viện Phật học Nalandà, Ấn Độ; đây là bộ kinh quan trọng và là bộ kinh gốc của Phật giáo giai đoạn nguyên thủy, bộ kinh này bao gồm các điển tích kể về những hoạt động, câu nói của Gotama được giới Phật giáo đánh giá là gần nhất, căn bản nhất, nền tảng nhất để người nghiên cứu Phật học tham khảo mà không phải qua bất kỳ lăng kính màu nào, rất cần thiết cho những công trình nghiên cứu Phật giáo giai đoạn nguyên thủy
Trang 10A Hàm thuộc Hán tạng
Kinh Tương Ưng Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh có cùng chung thể loại theo sự tương quan của từng vấn đề, gồm có 7762 bài kinh, tương đương với Tạp A Hàm thuộc Hán tạng
Kinh Tiểu Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh ngắn, và không có tương đương trong Hán tạng Nội dung của kinh này chia làm mười lăm loại sau: kinh Tiểu Tụng, kinh Pháp Cú, kinh Tự Thuyết, Như Thị Ngữ, Kinh Tập, Thiên Cung Sự, Ngạ Quỷ Sự, Trưởng Lão Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Thí Dụ, Kinh Bổn Sanh, Vô Ngại Giải Đạo, Kinh Phật Chủng Tánh, Sở Hành Tàng, Nghĩa Thích
Kinh Pháp Cú của Thích Minh Châu dịch, Nxb Viện Nghiên cứu Phật
học, bao gồm các bài thơ dịch ngắn gọn, dễ hiểu, thể hiện những nội dung cơ bản theo tinh thần của Phật giáo Nguyên thủy
Hướng nghiên cứu thứ hai, là những tác phẩm nghiên cứu về kinh điển Phật giáo Nguyên thủy của các học giả, tu sĩ:
Tri kỷ của Bụt do Thích Nhất Hạnh viết, được Nxb Phương Đông phát
hành năm 2014, quyển sách này không phải là công trình nghiên cứu khoa học
mà được viết dưới góc độ tôn giáo, khuyến đạo nhưng bằng kiến thức uyên thâm của tác giả, một số nội dung trong kinh điển nguyên thủy như Vô thường, Vô ngã, Nghiệp, Duyên khởi được Thiền sư Thích Nhất Hạnh phân tích khá sâu sắc, trong đó tác giả cũng nêu lên những quan niệm sai lệch mà người theo đạo Phật nhìn nhận về Phật giáo Quyển sách này bổ trợ đề tài trong việc so sánh, phân loại các tư tưởng khác biệt trong Phật giáo ngày nay với Phật giáo nguyên thủy
Tư tưởng Phật học của Tiến sĩ, tu sĩ Walpola Rahula người Tích-Lan,
là nhà nghiên cứu và giảng dạy Phật học rất nhiều năm tại Tây Tạng, quyển sách này do Thích nữ Trí Hải dịch sang tiếng Việt Tuy chỉ 194 trang
Trang 11nhưng lại trích dẫn khá nhiều câu nói của Gotama được tác giả tìm kiếm từ các nguồn tài liệu tại Tích Lan trong nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy của mình
Đức Phật và Phật pháp do Narada Thera viết, được Phạm Kim Khánh
dịch, tái bản nhiều lần ở Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu khá công phu và chi tiết, chứa đựng rất nhiều nội dung giá trị, trong quyển sách này có một chương ngắn tác giả bàn về vấn đề Thần linh, tuy không nhiều nhưng đã thể hiện quan điểm căn bản của tính phi thần trong Phật giáo, ngoài ra người viết còn tìm thấy một vài nội dung liên quan đến đề tài trong các chương khác của quyển sách này
Tiểu Thừa – A Tỳ Đạt Ma Phật giáo Tư tưởng luận và Nguyên thủy Phật giáo Tư tưởng luận của Kimura Taiken, do Thích Quảng Độ dịch; đây
là 2 tác phẩm trong bộ sách gồm 3 quyển, là một công trình quy mô và có giá trị, toàn bộ nội dung của bộ sách được trình bày rất căn bản và chứa đựng rất nhiều thông tin cần thiết cho luận văn, bằng sự nghiên cứu nghiêm túc và công phu, bộ sách này đã nêu lên, so sánh nhiều chi tiết mới lạ so với cách hiểu biết về đạo Phật tại Việt Nam, bên cạnh đó các trích dẫn nguồn trong quyển sách này cũng rất đáng quan tâm, có những trích dẫn mà các tài liệu nghiên cứu trong nước chưa từng có
Đạo Bụt nguyên chất, do Thích Nhất Hạnh dịch lại và diễn giải thêm
từ bộ Hán tạng của Nghĩa Túc Kinh, Nxb Phương Đông phát hành Quyển sách bao gồm nhiều câu truyện kể lại lúc Gotama còn tại thế, có những câu truyện chưa được biết nhiều tại Việt Nam Tuy được dịch từ bộ Hán Tạng, nhưng tinh thần của Đạo Bụt nguyên chất (Nghĩa Túc Kinh) vẫn giữ nét nguyên thủy, mặc dù nội dung cũng chưa đề cập chuyên sâu đến vấn đề Thần linh luận như thế nào trong Phật giáo, nhưng một số quan điểm liên quan đã được diễn giải
Trang 12Đức Phật của chúng ta do Thích Minh Châu viết, Nxb Tôn Giáo xuất
bản năm 2005, không phải là công trình nghiên cứu quy mô, chỉ là một tác phẩm luận bàn về tinh thần, vị trí và vai trò của Gotama theo ý chí chủ quan của tác giả Nhưng với kiến thức uyên thâm của mình, nên nội dung quyển sách bám rất chắc tinh thần cơ bản của đạo Phật nguyên thủy Trong đó đã đưa hình ảnh Đức Phật trở về đúng vị trí của một vị Đạo sư, rất thân quen, thường nhật và không có gì siêu nhiên với con người
Hướng nghiên cứu thứ ba, là những công trình nghiên về đặc điểm tự nhiên, xã hội, văn hóa tín ngưỡng liên quan đến sự hình thành và phát triển
tư tưởng triết học Phật giáo:
Lịch sử văn minh Ấn Độ, do Will Durant viết, được dịch sang tiếng
Việt bởi Nguyễn Hiến Lê, lần dịch đầu tiên năm 1971, được tái bản gần nhất năm 2006, do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành, đây là công trình nghiên cứu hết sức công phu, chi tiết về Ấn Độ qua các thời kỳ từ nền văn minh sông Ấn đến ngày nay Theo lời tựa, Will Durant đã đọc trên 150 đầu sách về Ấn Độ và là người trực tiếp khảo cứu tại vùng đất này nhiều lần để viết ra tác phẩm Công trình này cung cấp khá lớn các nội dung liên quan về điều kiện và tiền đề hình thành Phật giáo Nguyên thủy trong luận văn, nhất
là bối cảnh văn hóa xã hội tín ngưỡng Ấn Độ trước thời đại Phật giáo
Tinh hoa và sự phát triển của đạo Phật do triết gia, nhà dịch thuật kinh
điển và Phật học người Anh gốc Đức: Edward Conze, quyển sách được dịch bởi Nguyễn Hữu Hiệu Công trình này tuy không bàn về vấn đề Thần linh như thế nào trong Phật giáo nhưng phân kỳ lịch sử rất chi tiết, trong đó tác giả đã nêu lên những ảnh hưởng đến Phật giáo bởi các dòng tín ngưỡng bản địa khi tôn giáo này lan truyền sang các quốc gia khác nhau, từ đó giúp cho chúng ta
có cái nhìn chân thực và dễ tách bạch đâu là giáo lý gốc đâu là giáo lý ảnh hưởng bởi bản địa
Trang 13Phật giáo Nguyên thủy từ truyền thống đến hiện đại, do tập thể tác giả
Viện Đại học KHXH & NV và Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam thực hiện năm 2014, công trình này gồm các bài viết nhỏ của nhiều tác giả khác nhau, mỗi bài viết phân tích một khía cạnh của Phật giáo Nguyên thủy, trong
đó có dẫn nguồn nhiều câu nói, quan điểm rất cần thiết cho đề tài này
Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại, tác giả Doãn Chính, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh xuất bản năm 2013 Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu
về Ấn Độ từ vị trí địa lý, địa hình, đặc điểm văn hóa, khoa học tự nhiên đến con người, xã hội Ấn Độ; đặc biệt công trình này đề cập khá chi tiết sự hình thành, phân loại các trào lưu tư tưởng triết học tại Ấn Độ, trong đó có sự ra đời và những đặc điểm của triết học Phật giáo dưới góc độ lịch sử tư tưởng
Đề cương Triết học Carvaka của Thích Lệ Thọ, nguồn internet Đây
chỉ là một đề cương giảng dạy và được lưu hành nội bộ, nhưng là tài liệu duy nhất mà người viết tìm thấy được để nói về một trường phái triết học vô thần tại Ấn Độ cùng thời với triết học Phật giáo Tài liệu này cung cấp một số thông tin cần thiết để đối chiếu, hệ thống lại các trào lưu tư tưởng triết học tại Ấn Độ cùng thời với triết học Phật giáo
Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy (các số) do chùa Bửu Quang, Q Thủ
Đức ấn hành Đây là những tạp chí phân tích các nội dung có trong kinh điển nguyên thủy, chủ yếu là bộ Đại tạng kinh Việt Nam Dù cho đến nay, trong các số phát hành của tạp chí này chưa có nhiều bài phân tích chuyên biệt về tính phi thần trong Phật giáo Nguyên thủy, nhưng rải rác các bài viết cũng đã
có ít nhiều nêu lên tính chất này
Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ của Doãn Chính do Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia phát hành năm 1997, là một tài liệu nói về các quan niệm giải thoát khác nhau của các trường phái triết học của Ấn Độ, điểm đáng chú ý nhất chính là những khác biệt về quan điểm giải thoát của Phật giáo
Trang 14Nguyên thủy, cũng như các phái phi thần so với các phái hữu thần tại Ấn Độ
Lược sử Phật giáo Ấn Độ do Thích Thanh Kiểm biên soạn, được Nhà
xuất bản Tôn giáo ấn hành 2001 Là một tài liệu trình bày khá chi tiết bối cảnh và điều kiện từ khi Phật giáo Nguyên thủy hình thành đến khi phát triển thành các bộ phái Nội dung tài liệu hỗ trợ cho luận văn những thông tin liên quan đến bối cảnh Ấn Độ giai đoạn Phật giáo ra đời
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích
Từ điều kiện và tiền đề xã hội cho việc ra đời của Phật giáo Nguyên thủy trong giai đoạn Ấn Độ cổ đại, luận văn sẽ làm rõ các nội dung phi thần trong các học thuyết, kinh điển nguyên thủy của Phật giáo; để từ đó có cái nhìn nhất quán về tính chất phi thần luận trong triết học Phật giáo Nguyên thủy
Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ:
Thứ nhất, Làm rõ những điều kiện tự nhiên, chính trị và xã hội ở Ấn
Độ thời kỳ cổ đại, cũng như phân tích những tiền đề khoa học kỹ thuật và văn hóa tín ngưỡng trước thời đại Phật giáo, qua bối cảnh đó, để thấy rằng việc ra đời của triết học Phật giáo Nguyên thủy với tư tưởng phi thần luận là một xu thế của thời đại
Thứ hai, Trình bày, phân tích, và chứng minh tư tưởng phi thần trong
các nội dung của Phật giáo So sánh với các quan điểm hữu thần đương thời
để chỉ ra tính chất phi thần mà Phật giáo biện giải Từ đó nêu lên những giá trị và hạn chế mà học thuyết này có được
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về Phật giáo trong giai đoạn nguyên thủy,
Trang 15cụ thể là khuynh hướng phi thần trong kinh điển của Phật giáo nguyên thủy
Phạm vi nghiên cứu:
Phật giáo là một học thuyết sâu sắc, không thể có cái nhìn toàn diện và thấu đáo, do đó trong khả năng giới hạn, luận văn khó có thể trình bày và phân tích một cách đầy đủ theo mong muốn, mà chủ yếu khái quát các nội dung trong giáo lý căn bản của Phật giáo Nguyên thủy, để từ đó bước đầu đưa ra những phân tích nhằm chứng minh tư tưởng phi thần luận trong các tư tưởng Duyên Khởi, Nghiệp, Vô thường, Vô ngã, Tứ Diệu đế, Giải thoát và Niết bàn, những nội dung căn bản nhất do chính Gotama trực tiếp thuyết giảng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn
Cơ sở lý luận:
Với sự sâu sắc của học thuyết Phật giáo, khó có cái nhìn đầy đủ nếu đưa Phật giáo vào một quy chiếu nào để xem xét, đánh giá Luận văn này thực hiện dựa nền tảng lý luận chung của ngành khoa học xã hội, từ những quan điểm của các học giả, nhà nghiên cứu khác nhau về Phật giáo nói chung, đặc biệt nhất là quan điểm của các bộ kinh gốc nguyên thủy trong Phật giáo Tuy vậy, để định hình hướng đi trong nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin để tiếp cận
Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận trên, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp:
- Phương pháp văn bản học và sử liệu học: Tra cứu, đối chiếu các nguồn tài liệu, sử liệu và kinh điển Phật giáo Nguyên thủy
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Từ các dữ kiện tìm kiếm được qua các tài liệu có độ tin cậy cao, luận văn sẽ phân tích, so sánh và tổng hợp lại bằng những nhận định, nhận xét và kết luận chung nhất theo tinh thần khoa học, rõ ràng
Trang 166 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn
Tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng luôn là một đối tượng nghiên cứu đa dạng cho ngành khoa học xã hội, là đề tài hấp dẫn đối với mọi học giả, các nhà nghiên cứu lý luận, các nhà quản lý, các nhà hoạt động văn hóa, chính trị Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về Phật giáo nói chung, bao gồm những công trình nghiên cứu mang tính tập thể, và những công trình mang tính cá nhân; mỗi công trình đều mang một diện mạo và sắc thái riêng, làm phong phú thêm trong kho tàng khoa học xã hội của lĩnh vực tôn giáo
Với đề tài này, hy vọng được góp phần nhỏ vào việc tổng hợp, cung cấp các cơ sở, dữ liệu; chấp bút thêm cho những công trình nghiên cứu lớn hơn về sau
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu chuyên ngành tôn giáo học nói chung và Phật giáo nói riêng, nhất là Phật giáo Nguyên thủy cũng như những lĩnh vực liên quan, phục vụ giảng dạy và nghiên cứu
Luận văn hy vọng góp một phần nhỏ làm thay đổi thói quen nhận thức trong sự tín ngưỡng của dân gian về đạo Phật, cung cấp luận điểm khoa học nhân sinh quan và vũ trụ quan trong Phật giáo, tránh sự hiểu sai và tránh hình thành niềm tin thiếu cơ sở, góp tiếng nói vào việc khôi phục lại những giá trị căn bản của Phật giáo nguyên thủy
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và mục lục, luận văn có 2 chương, 9 tiết
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN
TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
1.1.1 Điều kiện tự nhiên của sự hình thành tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy
Ấn Độ là một đất nước có điều kiện tự nhiên vô cùng đa dạng và phức tạp
Có diện tích 3,3 triệu km², trải dài qua nhiều vĩ tuyến khác nhau nên hình thành nơi đây nhiều vùng khí hậu, có những nơi trời đổ tuyết quanh năm như Himachal Pradesh, Jammu, Kashmir hay Sukkim, nhưng cũng có những sa mạc nóng bức như Thar
Ấn Độ cũng là đất nước nổi tiếng thế giới vì có những con sông lớn như sông Ấn (Indus) hay sông Hằng (Ganga)… là những con sông giữ vai trò huyết mạch, thông thương, và còn được xem là “linh hồn” của dân tộc,
là “hơi thở” của tâm linh Quốc gia này được bao bọc bởi 7.516 km đường
bờ biển và 14.103 km đường biên giới trên bộ, nếu như mặt lãnh thổ tiếp giáp với đại dương dễ khiến cho tâm hồn con người cảm nhận được sự chênh vênh, nhỏ bé trước sự hiện hữu của tự nhiên thì phần biên giới tại khu vực Bắc Ấn tiếp giáp với các nước bên ngoài bởi dãy Himalaya hùng vĩ, dãy núi này dài hơn 2600 km, cao trung bình 3000 m, có nhiều ngọn cao hơn 8000
m, tạo thành bức tường rào ngăn cách đất nước này với thế giới bên ngoài khiến cho Ấn Độ trở nên hoang vắng và trầm mặc Himalaya được người
Ấn xem là biểu tượng của cõi linh thiêng, là nơi trú ngụ của các đấng
Trang 18Thần linh, và tại đây đã sản sinh ra nhiều trường phái tôn giáo, trong đó có Phật giáo ra đời tại vùng phía Nam của dãy Himalaya, ngày nay thuộc vùng biên giới của Nepal với Ấn Độ Nếu như người Ấn Độ cổ đại tin rằng phía tận cùng của những con sông Ấn, sông Hằng là những con đường đến với Thiên đường, thế giới của các đấng Thần linh thì dãy Himalaya là những cột trụ trời, là nơi thích hợp để các đạo sĩ tu hành, thiền định: “Từ xưa đến nay nơi đây từng là chốn tu hành khổ luyện của những đạo sĩ, muốn xa lánh sự náo nhiệt, quay cuồng của thế gian, đến đây tĩnh tâm thiền định, chiêm nghiệm bản chất của vũ trụ và nhân sinh, tìm con đường giải thoát cho chúng sanh khỏi cảnh lầm than, khổ ải của cuộc đời” [10, tr.7], do đó, các tôn giáo ra đời tại Ấn Độ, tuy có khác nhau
về thế giới quan và mục đích, nhưng vẫn có những nét giống nhau về hình thức hành trì tu tập, chẳng hạn là ở Bà-la-môn và Phật giáo, dù có những quan điểm không giống nhau, thậm chí trái ngược nhưng vẫn lựa chọn cách hành trì như nhập định, quán tưởng, thích ẩn dật xa lánh chỗ huyên náo…và
đó chính là đặc tính được hình thành do những điều kiện tự nhiên tại Ấn Độ
cổ đại tác động đến tính cách con người nơi đây
Chính sự khắc nghiệt của tự nhiên, thêm phần lãnh thổ bị bao bọc bởi những dãy núi cao đồ sộ, uy nghiêm đã ảnh hưởng đến tính cách người Ấn
Độ, họ sống trầm mặc, hay suy tưởng; họ cố lý giải cho những biểu hiện của tự nhiên thông qua con đường tưởng tượng, nhằm để trả lời những câu hỏi ban đầu của nhân loại về nhân sinh, vũ trụ, tạo hóa, tồn tại, tan biến…và với cách hiểu chất phác ban đầu của con người, những hiện tượng
“kỳ bí” đó, chỉ có thể được lý giải dưới góc độ thần thoại hóa, gắn hình ảnh các vị Thần linh, Thượng đế vào để giải quyết tất cả những gì vướng mắc trong nhận thức Người Ấn Độ cổ đại tin vào sự hiện hữu của Thần linh trong việc tác động đến điều kiện sống con người, sự an lành hay hung tợn
Trang 19của thời tiết không phải là yếu tố của tự nhiên mà do sự hài lòng hay căm giận của các vị thần Bên cạnh đó, do quốc gia này trải dài qua nhiều vùng khí hậu, nên khá phức tạp, thời tiết một số nơi tại Ấn Độ có sự chuyển biến rất đa dạng, ví dụ như vùng Deccan Plateau (thuộc Nam Ấn), một số nơi tại đây lượng mưa rất nhiều vào mùa đông, nhưng cũng tại vùng này một số nơi khác lại rất lạnh và ít mưa Sự chuyển biến mang tính chu kỳ rõ rệt và nhanh chóng của thời tiết, khiến con người sống trong những hồi tưởng của
ký ức, dễ cảm nhận tính chất vô thường, luân hồi của vạn vật và muốn giải thoát mình ra khỏi những khắc nghiệt của thế giới hiện thực, “Đó đây, ít nhất là trên một phần năm đất đai, còn những khu rừng hoang của thời khai thiên lập địa, đầy cọp, báo, chó sói và rắn Phía cuối bán đảo, miền Deccan, khí hậu nóng và khô, đôi khi nhờ gió biển mà mát được một chút Nhưng từ Delhi tới Ceylan, đặc điểm khí hậu Ấn Độ là nóng, một sức nóng làm cho
cơ thể ta suy nhược, con người mau già, và ảnh hưởng lớn tới tôn giáo, triết học của thổ dân Chỉ có một cách chống lại sức nóng đó là ngồi yên, không ham muốn gì hết Mùa hè, gió mùa thổi, đất đai trồng trọt được, những khi gió ngừng thổi thì Ấn Độ lại chịu nạn đói và chỉ mơ tưởng cảnh Niết bàn” [75, tr.25], do đó các tôn giáo ở Ấn Độ, dù thời gian ra đời có khác nhau nhưng lại giống nhau trong một số đối tượng tiếp cận, đó là những cảm nhận về giải thoát, luân hồi, nghiệp báo… trở thành những đối tượng chung cho hầu hết các tôn giáo tại đây, trong đó có Phật giáo Nguyên thủy cũng
đã bàn đến các vấn đề này, thậm chí bàn rất sâu và trở thành những giáo lý căn bản, là do những tác động từ những điều kiện tự nhiên như thế, mặc dù cách nhìn của Phật giáo có khác biệt và cấp tiến hơn trong việc xem xét vai trò của Thần linh so với các trường phái hữu thần đương thời, nhưng Phật giáo cũng đã sử dụng lại những khái niệm này như một xu hướng chung của thời đại
Trang 20Với những điều kiện tự nhiên đó, suốt hơn 1000 năm (thế kỷ XV đến
V Tr.CN), tại Ấn Độ đã hình thành các học thuyết tôn giáo dựa trên nền tảng Veda, các trường phái này chịu ảnh hưởng sâu sắc thế giới quan hữu thần và biện giải mọi vấn đề theo khuynh hướng thần thoại Cho đến thế kỷ thứ VI tr.CN, các trường phái triết học tôn giáo thời kỳ Ấn Độ cổ đại đã xuất hiện gần như đầy đủ Nếu như những tư tưởng tôn giáo ra đời vào giai đoạn trước, đều có khuynh hướng chung là lấy nhân cách thần làm cơ sở, chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ bộ thánh kinh Veda, sau đó là Upanishad; thì đến giai đoạn này, đã xuất hiện những tư tưởng mới, có khuynh hướng cải cách, phủ nhận giáo điều kinh điển của Veda, bác bỏ vai trò của Brahma, để rồi sau đó các tư tưởng này trở thành những học thuyết triết học phi thần
Một số các tư tưởng cải cách này được ra đời tại lưu vực sông Hằng, ở Đông Ấn, sau đó lan tỏa ra các khu vực lận cận2
Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai trù phú từ vùng đồng bằng, cũng như việc hệ thống kênh thủy lợi được xây dựng phục vụ cho tưới tiêu, dẫn nước đã thúc đẩy nền nông nghiệp tại đây phát triển mạnh mẽ, do chất lượng cuộc sống được cải thiện, nhận thức cư dân tại đây khá tiến bộ, tại các vùng quanh lưu vực sông Hằng đã sản sinh ra nhiều nền văn hóa mới mang tính cải cách truyền thống cũ, chẳng hạn như tại nước Ma-Kiệt-Đà, đã cho giai cấp Thủ-Đà-La và Phệ Xá được cư trú tại những địa phương có người Aryan sinh sống, cũng như một số gia đình là chủng giống Aryan, đã bình thường trong quan hệ với người Dravidian, họ đã thông hôn với người Dravidian vốn được xem là hạ tiện trong truyền thống cũ Cùng với nước Ma-Kiệt-Đà, trên lưu vực sông Hằng còn có nước nước Ta Di, nước Bạt Kỳ, nước Kiều Tát La,… nhờ những ưu đãi về điều kiện đất đai, sông ngòi, khí hậu đã giúp cư dân tại đây
2
Những điều kiện tự nhiên tại về Ấn Độ cổ đại trong phần này, người viết tham khảo các trang 39,40,41 trong quyển Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, tác giả Thánh Nghiêm, Thích Tâm Trí (dịch), Nxb Phương Đông
Trang 21có những đổi mới trong đời sống và nhận thức, sản lượng nông nghiệp nâng lên, những thụ hưởng từ vật chất mang đến một đời sống văn minh và thông thoáng hơn trong phong tục lễ nghi, họ đã nhận ra vai trò của Thần linh là khá “mơ hồ” trong đời sống, thậm chí đã lên án những lý thuyết truyền thống trước đây được ghi nhận trong kinh điển Veda, họ đối lập lại những giai cấp cầm quyền, chống lại những tư tưởng bảo thủ; tại thời điểm này đã xuất hiện những trào lưu tư tưởng mới, mang khuynh hướng phi thần, một số trường phái tỏ rõ thái độ chống thần quyết liệt như Lokayata hoặc Jaina Cùng dưới
sự ảnh hưởng này, Phật giáo ra đời với vai trò của Gotama đã đưa ra những luận điểm mới trong triết lý, không lên án hay bác bỏ một cách mạnh mẽ Thần linh, Thượng đế như cách mà Lokayata hay Jaina thể hiện, mà với thái
độ ôn hòa hơn, Phật giáo đã không chấp nhận hoặc không bàn đến vai trò của Thần linh trong giáo pháp của mình, và như thế Phật giáo đã tự tách mình ra khỏi những trào lưu tư tưởng hữu thần đương thời, xây dựng một thế giới quan mới là thế giới quan cứu thế, không đeo đuổi thế giới quan sáng thế đang thịnh hành
Khi tìm hiểu về vị trí địa lý, tự nhiên và khí hậu tại Ấn Độ cổ đại, cho
ta thấy rằng chính nơi đây chứ không nơi nào khác, là nơi hội đủ tất cả các yếu tố để hình thành các trường phái tôn giáo Tuy có khác nhau về thế giới quan và mục đích, nhưng các tôn giáo này đều chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên, sự phức tạp và khắc nghiệt của khí hậu nơi đây khiến cho con người dù theo bất cứ tôn giáo này đều muốn giải thoát và luôn mơ tưởng về cảnh niết bàn Mặc dù đến thế kỷ thứ VI Tr.CN Phật giáo mới xuất hiện, so về niên đại thì Phật giáo ra đời muộn hơn các tôn giáo theo khuynh hướng hữu thần đương thời, vào cái thời mà mọi giáo điều kinh điển của Veda bị đem ra xem xét lại, và uy tín của Brahma thì bị suy giảm nghiêm trọng, nhờ đó mà Phật giáo chỉ làm công việc còn lại là công bố ra
Trang 22một học thuyết mới, không còn chịu tác động của Veda hay Brahma, nhờ bối cảnh đó mà giáo lý của Gotama có phần tiến bộ hơn khi “ngó lơ” vai trò của Thần linh, Thượng đế, đó là điểm khác biệt và có phần cấp tiến hơn, nhưng cũng như mọi trào lưu tôn giáo khác, Phật giáo vẫn chịu tác động của điều kiện tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt ở Ấn Độ, những biểu hiện như: thích yên tĩnh để thiền định, tĩnh tâm để quan sát thế giới, giải thích về các vấn đề luân hồi, sinh tử…trong cái bản thể tâm Do đó, dù Phật giáo Nguyên thủy đã được đánh giá là một học thuyết cách mạng, là ngọn cờ đầu trong khuynh hướng cải cách truyền thống cũ nhưng cũng chỉ đến đó, Phật giáo không thể tổ chức phong trào cách mạng bạo lực như nguyện vọng của tầng lớp cùng khổ thời đó mong chờ, vì học thuyết này chỉ chú trọng đến nội tâm và tự giác, đặc tính yên tĩnh mà không ồn ào, thích ẩn dật
mà không xuất hiện,… có lẽ cũng do những tác động từ khung cảnh núi non của Himalaya, nơi đã sản sinh ra Phật giáo ảnh hưởng đến
1.1.2 Điều kiện chính trị - xã hội của sự hình tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy
Xã hội Ấn Độ suốt hơn 1500 năm (thế kỷ XX – V Tr.CN) tính từ lúc người Aryan cai trị cho đến thời đại Phật giáo, là thời kỳ tồn tại chế độ quản
lý dân cư theo đẳng cấp một cách khắc nghiệt, lần lượt các nhà cầm quyền đều bám vào kinh điển Veda và xem đó là bản “hiến pháp” không thể thay đổi Trong tiến triển của hơn 10 thế kỷ đó, Ấn Độ đã có những chuyển biến tích cực về mặt nhận thức và tư tưởng xã hội, từ chỗ bám vào kinh Veda để quản lý dân cư, xem đó là tập quán pháp cho người dân tuân theo, thì về sau
đã có những tư tưởng “dám” đem nội dung kinh Veda ra xem xét lại, để rồi sau đó là sự xuất hiện của các trường phái phi thần chống đối và phủ bỏ bộ kinh này, trong đó có Phật giáo Nguyên thủy Cùng với nhiều học phái phi thần khác thì sự có mặt của Phật giáo được xem là động lực tư tưởng chống
Trang 23đối lại hệ thống kinh điển hữu thần Veda đang lưu hành, bao gồm những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu như tín ngưỡng cúng tế Thần linh, đeo đuổi một niềm tin về Brahma quyết định đẳng cấp con người, đó là nguyên nhân dẫn đến sự bất công, sự phân biệt chủng tộc, đẳng cấp trong xã hội Để tìm hiểu về vấn
đề này, chúng ta cần sơ lược về bối cảnh Ấn Độ, về hình thành nhân chủng
và tình hình chính trị giai đoạn cổ đại
Thế kỷ XX Tr.CN, một nhóm người thuộc tộc Aryan từ khu vực
Ba-Tư xâm nhập vào lãnh thổ của người bản địa Dravidian tại lưu vực sông Ấn (Indus), lúc ấy thuộc về người Dravidian, một cuộc hợp chủng hình thành Tuy nền văn minh của người bản địa có sớm và khá rực rỡ, nhưng lại chưa
có biểu hiện về phân chia giai cấp; hình thức giai cấp chỉ xuất hiện từ khi người Aryan3 vào Ấn Độ, nhằm để phục vụ cho chế độ cai trị, người Aryan
đã đặt ra các đẳng cấp, đương nhiên họ phải là tầng lớp thống trị xã hội, để làm được điều này mà không bị phản kháng lại từ người bản địa, người Aryan đã sử dụng đến công cụ tối ưu nhất là thánh kinh Veda
Ở nhiều nơi trên thế giới việc phân chia giai cấp thường xuất phát từ mục đích chính trị hoặc kinh tế; Ấn Độ cũng không ngoại lệ, để thống trị người bản địa, người Aryan đã đặt ra bốn đẳng cấp khác nhau trong xã hội,
và họ gán ghép rằng đó là ý muốn của thần Brahma, và đương nhiên họ phải
là những giai cấp bề trên Trong những hình thức nô dịch của một tộc người này đối với một tộc người khác, nô dịch về văn hóa luôn là loại nô dịch hiệu quả, yên bình và lâu bền nhất, có lẽ người Aryan đã hiểu được điều này và với trình độ nhận thức đương thời, chắc chắn sự nô dịch này phải được khởi đầu bằng đấng tối cao, đó là lý do để những nội dung trong thánh kinh Veda tồn tại hơn nghìn năm
3
Theo nhiều nguồn tư liệu, người Aryan có nguồn gốc châu Âu, nhóm người Aryan trước khi đến Ấn Độ đã sinh sống tại nước Ba Tư Đặc điểm của họ là da trắng, mũi cao
Trang 24Theo đó, cách phân chia giai cấp ở Ấn Độ thời kỳ cổ đại được biện minh bởi kinh Rig Veda, là phần đầu của kinh điển Ấn giáo, theo quan niệm
đó xã hội Ấn Độ cổ đại phân ra thành bốn giai cấp, cao nhất là Bà-la-môn (Brahmani) gồm các tư tế, các người trí thức, các nhà chú giải các văn bản thánh, dạy dỗ và truyền thụ vì họ được sinh ra từ miệng của Brahma; Giai cấp thứ hai là Sát-đế-lợi (Kshatriya) gồm các nhà lãnh đạo quân sự, các chiến sĩ tức giới thượng lưu quân sự vì họ tự cho mình sinh ra từ cánh tay Phạm Thiên (Brahma); Giai cấp thứ ba là Phệ-xá (Vaishya) gồm các thương gia, các nông dân và những người chăn nuôi súc vật bị cho là sinh ra từ bắp
vế chân của Brahma; Giai cấp thứ tư là Thủ-đà-la (Shudra) gồm các người làm thủ công nghệ, đầy tớ và công nhân thợ thuyền vì họ bị cho là sinh ra từ gót chân của Brahma; ngoài ra còn có một tầng lớp thấp nhất và không được xếp vào các giai cấp trên là “paria” nghĩa là “không thể đụng tới” Trong bốn giai cấp này, chỉ có hai giai cấp đầu là Bà-la-môn và Sát-đế-lợi có được những đặc quyền cao nhất, và đó chính là những người có nguồn gốc da trắng Aryan, đặc biệt giai cấp Bà-la-môn tự cho mình mang dòng máu trong sạch, là dòng máu thánh nên được quyền đứng trên các giai cấp khác, mọi giai cấp còn lại phải có trách nhiệm phụng thờ họ, giai cấp thứ hai là Sát-đế-lợi thuộc hàng quý tộc, giai cấp này cùng giai cấp Bà-la-môn được xem là thượng đẳng Những quy định về phân chia đẳng cấp này được ghi chép trong kinh Veda, đã từng có những ý kiến cho rằng kinh Veda là sản phẩm riêng của người Aryan, họ sáng tạo ra để thực hiện mưu đồ cai trị người bản địa, nhưng điều này có vẻ không phù hợp vì chúng ta thường thấy nền triết học phương Tây với chủ trương nhị nguyên rõ rệt, nghĩa là Thượng đế và vạn vật phân biệt rất rành mạch, trong khi ở phương Đông hai khái niệm này
bị đánh đồng, các phạm trù tinh thần và vật chất, duy tâm và duy vật là những khái niệm đến từ phương Tây, các trường phái triết học ở phương
Trang 25Đông không tách bạch ra, mà là nhất thể, trong kinh Veda có nhiều nội dung
đã đồng nhất Brahman với vạn vật trong thế giới đại đồng4, điều này cho thấy Veda mang dấu ấn của người bản địa hơn là nhóm đi xâm lược, việc này cũng dễ hiểu, mặc dù là lực lượng cai trị Ấn Độ nhưng người Aryan ít ỏi
về số lượng, lại không có nền văn minh gì rõ rệt như người bản địa, nên họ khó lòng mà đem một luồng tư tưởng mới áp đặt vào đời sống Để thực hiện
sự cai trị bằng tư tưởng, họ hiểu rằng chỉ có kinh thánh với những nội dung mặc khải từ đấng tối cao, và hiển nhiên không ai khác ngoài Brahma mới có đầy đủ thẩm quyền này, từ đó mà trong thánh kinh Veda, đã có những giải thích đầu tiên về khởi nguyên của vũ trụ, nguồn gốc và đẳng cấp con người Những quy định mang tính thần quyền này tồn tại hiệu quả trong khoảng 1000 năm thì bắt đầu có dấu hiệu suy giảm, đó là lúc Ấn Độ vào thế kỷ thứ IX Tr.CN, là thời đại của Vương quốc Paurava phát triển thịnh vượng các tư tưởng thần bí tôn giáo; vương triều này tồn tại trong khoảng 100 năm thì suy yếu dần, kéo theo đó là các quy tắc ứng xử và trật tự xã hội dựa trên thánh kinh Veda dần bị phá vỡ Tất nhiên, giai đoạn độc diễn sáng tạo và nắm quyền lực của hệ thống triết học Bà-la-môn cũng bị ảnh hưởng nặng nề
Cho đến trước khi Phật giáo xuất hiện, Ấn Độ đã có đến mười sáu quốc gia
Việc ra đời của Phật giáo thời kỳ cổ đại, chắc chắn phải xuất phát từ cục diện chính trị Theo nhiều nguồn tài liệu cho rằng, giai đoạn trước khi Gotama ra đời, ở Ấn Độ chỉ duy nhất có chính thể cộng hòa do những người Aryan lập ra từ thế kỷ XV Tr.CN, theo hình thức này những người đứng đầu nhà nước được suy cử5
từ giai cấp thống trị, thời gian nắm quyền
Trang 26của họ dựa trên đạo đức và khả năng quản lý dân cư, và dù cho người nắm quyền là ai thì những quyết định của họ cũng không được vượt quá thẩm quyền kinh điển Cho đến cuối thời kỳ Veda-Sử thi, lúc này chế độ cai trị dân cư đã hà khắc hơn, gay gắt hơn rất nhiều, đã có một số quốc gia trên danh nghĩa vẫn duy trì chế độ cộng hòa nhưng thực chất đã mang tính chuyên chế quân chủ, quyền hành trong tay nhà vua và các nhà vua cho đó
là lệnh trời, vua là thiên tử, và con cái nhà vua vẫn tiếp tục được xem là con trời Bối cảnh chính trị này dẫn đến một số thay đổi đáng chú ý trong xã hội, nếu như trước kia chỉ có dòng giống người Bà-la-môn mới được xem
là dòng máu của thánh, thì đến giai đoạn này giai cấp quý tộc Sát-đế-lợi mà đứng đầu là nhà vua mới được xem là con trời; nếu như trước kia quyền lực nằm trong tay nhà cầm quyền nhưng vẫn không thoát ra ngoài những quy định của thánh kinh Veda, thì đến giai đoạn này quyền lực đã nằm trọn trong tay của vua chúa, vì họ cho mình là thiên tử, thay trời hành động, điều này cho thấy những thẩm quyền kinh điển đang rơi vào giai đoạn thoái chuyển, không còn đủ quyền năng như trước, cụ thể cho những nước có kiểu chuyên chế quân chủ lúc này phải kể đến dòng tộc Ương-Già-Tộc (Anga) ở thành Chiêm Ba (Campa), dòng Ly-Xa-Tỳ-Lộc (Licchavi) ở thành Vệ-Xá (Vesali), dòng Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) tại Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilvastu)…theo hình thức chuyên chế quân chủ này, xã hội Ấn Độ bắt đầu nảy sinh sự rối ren và không nhất quán trong việc quản lý dân cư, một
số dòng tộc hà khắc hơn trong việc ban hành các quy định, nhưng một số dòng tộc khác thì lại dễ dãi hơn, mang tính cởi trói người dân Sự khác biệt trong cách quản lý của các vương triều, là do sự khác biệt trong nhân cách các vị vua là chính, nhất là khác biệt trong các quan niệm phân chia đẳng cấp
và duy trì hình thức bất bình đẳng, nơi thì gay gắt khó điều hòa, nơi thì thông thoáng, dễ chịu đã “nhen nhúm” cho nhiều trường phái tư tưởng có xu thế
Trang 27cải cách ra đời, đòi lại quyền tự do cho cá nhân và hưởng thụ khoái lạc trần thế, những điều mà kinh thánh đã bóp nghẹt trong hàng chục thế kỷ trước đó Cùng thời điểm này, những tiến bộ trong việc canh tác nông nghiệp tại vùng Đông Ấn, đã nâng cao đời sống và nhận thức của xã hội, con người nơi đây được sống và tận hưởng những giá trị lao động do chính mình tạo ra, điều đó đồng nghĩa với việc phủ bỏ niềm tin về một đấng tối cao có quyền ban bố đặc ân như kinh thánh đã nói
Nếu như thời kỳ Veda-Sử thi (thế kỷ XV – VI Tr.CN), các vương triều trị vị tại Ấn Độ cố gắng xây dựng chế độ công xã nông thôn bằng cách nhà vua sở hữu ruộng đất và cho dân nghèo thuê lại, cộng đồng dân cư thì bị chia cắt và bó buộc trong những làng xã nhỏ lẻ, thì đến thời kỳ Phật giáo – Bà-la-môn giáo (từ thế kỷ VI Tr.CN trở về sau), nhờ sự phát triển trong canh tác nông nghiệp đã xuất hiện những địa chủ mới, họ đẩy nhanh việc cải tạo công
cụ lao động nhằm khai thác các vùng đất hoang để sau đó trở thành những nhà tư hữu, lúc này ranh giới của các làng xã theo hình thức công xã nông thôn trước kia bắt đầu bị phá vỡ, thay vào đó là những giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, chính điều này đã tạo ra những luồng tư tưởng cởi mở, giao lưu và từ đó hình thành các trào lưu tư tưởng mới, đòi hỏi sự cải cách những
tư tưởng bó hẹp theo truyền thống cũ
Nếu như thời kỳ Veda-Sử thi là giai đoạn hình thành mạnh mẽ triết học tôn giáo có hệ thống, các trường phái triết học theo thánh kinh Veda và Upanishad được duy trì khá chặt chẽ, đây là những trường phái có mặt từ rất sớm và ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội cho đến thời kỳ Phật giáo xuất hiện, nó được gọi là các trường phái chính thống, thì đến thời kỳ cổ điển6
, do những biến đổi về mặt xã hội nhất là sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp, đã
6
Thời kỳ cổ điển còn gọi là thời kỳ Phật giáo – Bà-la-môn giáo từ thế kỷ VII đến III Tr.CN
Trang 28nâng cao đời sống và nhận thức của người dân, mặt khác những mâu thuẫn giai cấp trở nên ngày càng sâu sắc và nặng nề do chế độ chuyên chính quân chủ mang lại, đã xuất hiện các trường phái tư tưởng mới, những tư tưởng này
đã bác bỏ sự hiện hữu của Thần linh, Thượng đế, quay về những giá trị cá nhân hiện thực trong đời sống, các phái này gọi là các phái phi chính thống mang tính chất phi Thần linh, phi Thượng đế Trong đó, sự ra đời của Phật giáo cũng là trường phái phi thần, ngay khi xuất hiện với mục tiêu duy nhất
là giúp con người thoát khỏi những khổ đau, với tính chất ôn hòa, giải quyết những nỗi khổ niềm đau bằng con đường tự tại trong tâm thức, Phật giáo đã chiếm được cảm tình của quần chúng nhất là tầng lớp bị thống trị vốn không
có khả năng phản kháng lại tầng lớp bề trên, hơn nữa giáo lý của tôn giáo này đề cao tính dân chủ và bình đẳng triệt để, khi cho rằng không có sự khác biệt giữa những con người với con người, Phật giáo đã trở thành ngọn cờ đầu trong phong trào cách mạng dân chủ tại Ấn Độ Dù sinh sau đẻ muộn hơn các trào lưu chính thống, nhưng Phật giáo lại không đi theo khuynh hướng của các phái hữu thần mà chủ trương quay về bản thể nội tại của tâm, giải quyết những khổ đau bằng chính con đường tự lực cá nhân thông qua rèn luyện và hành trì giới luật, Phật giáo Nguyên thủy không xem việc thờ phụng, van xin hoặc trông đợi vào sự cứu giúp của các thế lực siêu nhiên bên ngoài là cần thiết, do đó sự lớn mạnh của Phật giáo với tính chất phi thần của mình, và chủ trương thực hiện quyền bình đẳng trong xã hội, điều mà các giai cấp đang cai trị xã hội không bao giờ chấp nhận, nên họ buộc lòng phải
ra sức củng cố lại ngôi vị của mình, họ lo sợ cùng sự lớn mạnh của Phật giáo
là các trường phái vô thần khác, sẽ tạo ra một cuộc cách mạng làm thay đổi trật tự xã hội đã có từ ngàn năm nay, và như thế đồng nghĩa với việc các giai cấp thống trị sẽ bị mất quyền cai trị; để đối phó lại các khuynh hướng phi thần đang có nguy cơ bùng cháy, chế độ phong kiến tại Ấn Độ lúc này đã ra
Trang 29sức củng cố chế độ trung ương tập quyền, ban hành lại pháp điển Manu (Kinh điển kết hợp với pháp luật), thần thánh hóa ngôi vị quốc vương, ra sức tuyên truyền, ban hành luật lệ buộc người dân phải có niềm tin và lòng sùng kính nhà vua – là một vị thánh sống Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Phật giáo Kimura Taiken, những vương quốc đang còn bảo thủ và chấp chặt vào kinh điển Veda, đề cao tầng lớp đạo sĩ Bà-là-môn trong giai đoạn này là không nhiều, khuynh hướng này ngày càng thay đổi khi Phật giáo lớn mạnh, cũng theo nhà nghiên cứu này, thời kỳ Gotama ra đời cũng là lúc giai cấp Sát-Đế-Lợi đang tạo ra uy thế, nếu như trước đây trong thứ tự giai cấp, thứ nhất phải là Bà-la-môn, thứ hai mới đến Sát-Đế-Lợi thì vào thế kỷ thứ V Tr.CN, sử liệu Pali đã xếp vị trí của Sát-đế-lợi lên hàng thứ nhất7
, ghi nhận này của K Taiken có lẽ phù hợp, vì Gotama xuất thân từ dòng Sát-đế-lợi, giai cấp trước kia chỉ chuyên lo việc xây dựng quân đội để bảo vệ đất nước, còn việc xây dựng học thuyết tôn giáo không phải là nhiệm vụ, Sát-đế-lợi chỉ việc phục tùng giáo lý kinh Veda và phụng thờ dòng giai cấp thánh Bà-la-môn, điều này sẽ rất khó cho việc Gotama xây dựng học thuyết của mình nếu giai cấp Sát-đế-lợi không phải là giai cấp đứng đầu xã hội, hơn nữa trong nhiều kinh điển Phật giáo khi mô tả về các cuộc gặp gỡ lúc Gotama thành đạo, nhiều lần các vị đạo sĩ Bà-la-môn đã tìm đến Gotama để đảnh lễ và hỏi pháp, tất nhiên đó là sự kiện được biên chép bởi kinh điển tôn giáo để đề cao vai trò giáo chủ của Gotama, nhưng qua đó cũng cho thấy vị trí của Sát-đế-lợi đã khác so với trước kia Phân tích sự thay đổi thứ tự trên đây để thấy rằng giai cấp Bà-la-môn (vốn là các nhà truyền đạo, những đạo sĩ chuyên thực hiện giảng kinh và chủ lễ trong các buổi cầu nguyện) đã mất thế thượng
7
Nội dung ở phần này tác giả tham khảo trong quyển Nguyên thủy Phật giáo Tư tưởng luận của Kimura Taiken, Thích Quảng Độ dịch, Nxb Tôn giáo, tr 49-50
Trang 30phong, nó đồng thời báo hiệu cho những giáo lý và địa vị của thánh kinh Veda cũng mất đi sự thượng tôn vốn tồn tại hơn nghìn năm trước đó
Cùng với Phật giáo lúc này, đến thế kỷ thứ V Tr.CN, các trường phái phi thần cũng đã hình thành nên hệ thống triết học phi chính thống, mỗi trường phái đều mang một sắc thái riêng, như trường phái phi thần Lokayata hay Jaina hướng đến việc bác bỏ mạnh mẽ sự hiện hữu của Thần linh, lên án những tập quán tín ngưỡng của của các phái hữu thần, bác bỏ vai trò và sự ảnh hưởng của Thần Brahma, cũng như những nội dung giáo điều của thánh kinh Veda; hai trường phái này đòi hỏi các giai cấp cầm quyền và giới tu sĩ Bà-la-môn giáo ban bố những quyền tự do và hưởng thụ cá nhân Trong khi đó Phật giáo lại ôn hòa hơn trong giáo lý, chung dung hơn trong việc bày tỏ thái độ trước vai trò của Thần linh, Thượng đế, Phật giáo không kịch liệt phản đối hay bác bỏ gay gắt sự hiện hữu của các đấng Thần linh siêu nhiên, mà chuyên tâm vào một mục tiêu duy nhất là tiến đến con đường giải thoát những khổ đau, thực hiện tiến trình ấy chỉ có thể do chính mỗi con người tự lực, không có ai
và chẳng có Thần linh, Thượng đế nào làm thay hay giúp đỡ
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHI THẦN LUẬN TRONG PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
1.2.1 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật góp phần hình thành nên tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy 8
Trong quá trình phát triển ý thức xã hội, những tác động của tồn tại xã hội là rất quan trọng, nó có thể góp phần thúc đẩy quá trình nâng cao nhận thức nhưng cũng có thể gây nên những cản trở nhận thức ở một xã hội
8
Những thành tựu của khoa học kỹ thuật trong phần này, người viết tham khảo nội dung
trong quyển Lịch sử Triết học Ấn Độ cổ đại, tác giả Doãn Chính, Nxb Thanh Niên, 1997, tr.41-45 Trong quyển Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, tác giả Thánh Nghiêm, Thích Tâm Trí dịch, Nxb Phương Đông, 2013, tr.39-41 Trong quyển Lịch sử văn minh Ấn Độ, tác giả Will Durant, Nguyễn Hiến Lê dịch, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2006, tr.23-30
Trang 31Sự phát triển nhận thức tư tưởng ở xã hội Ấn Độ cổ đại cũng thế, đặc biệt điều này càng thể hiện rõ nét khi Ấn Độ bước vào thời kỳ cuối của Veda-Sử thi, đây là giai đoạn có những thành tựu vượt bậc về khoa học kỹ thuật, kéo theo đó là những tiến bộ trong ngành nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp, thiên văn, toán học… là cơ sở để cho quá trình nhận thức thay đổi từ khuynh hướng đa thần trong Veda, đến nhất thần luận trong Upanishad và cuối cùng là vô thần trong các trường phái phi chính thống, trong đó có Phật giáo, ra đời với hệ thống triết lý phi thần luận được xem là một tất yếu trong sự phát triển tư duy nhận thức của xã hội
Ấn Độ từ khi có dấu chân người Aryan đến cư trú, kéo dài đến hơn nghìn năm sau đó – là thời kỳ Veda-Sử thi, kinh tế phát triển chậm chạp, ruộng lúa là của công, phân phát cho mỗi gia đình trong làng xã cày cấy nhưng không được bán, chỉ để lại con cháu Họ làm việc và chỉ nghĩ vì đó là trách nhiệm mà Thượng đế đã định sẵn, nên không gì phải đòi hỏi sự công bằng trong việc phân phát Tại các nơi ở sung túc dân cư, đã có những nhóm thợ thủ công làm các nghề lặt vặt, như làm mộc, làm da, làm thúng, sơn nhà, làm đồ gốm, đồ nhuộm…nhưng việc phân công các nghề này không phải do nhu cầu xã hội quy định mà do những người đứng đầu trong phường chỉ định, nên dù có phát triển thì những sự phát triển này rất chậm chạp, kéo dài hơn 15 thế kỷ Ấn Độ cổ đại vẫn trong trạng thái “thông thả”, người dân thì không cần thiết năng nỗ, họ trễ nải trong mọi việc nhưng siêng năng trong cúng tế, cầu nguyện và giữ gìn đạo đức diễn ra thường xuyên Nhờ đó, mặc
dù kinh tế kém phát triển nhưng đời sống dân cư thì rất trật tự, ai ai cũng giữ gìn tâm hồn trong sạch
Cho đến thế kỷ thứ VII Tr.CN, tính chất nông nghiệp tại Ấn Độ có sự chuyển dịch khá lớn, nếu như trước đây dưới sự quản lý của các đế chế phong kiến đã duy trì hình thức công xã nông thôn theo kiểu nhỏ hẹp của
Trang 32làng xã, nhà vua quản lý đất đai và cho tầng lớp hạ tiện canh tác, thì đến giai đoạn này đã dần dần bị phá vỡ, do trình độ kỹ thuật làm đồ sắt được sử dụng rộng rãi nhờ đó năng suất lao động được tăng lên, đã hình thành trong xã hội những nhóm người chuyên lo quản lý việc làm nông nghiệp, đó là những tên địa chủ mới (cùng là giai cấp Sát-đế-lợi, cũng chính vì xuất hiện tầng lớp địa chủ này mà hình thức công xã nông thôn theo làng xã nhỏ hẹp dần bị phá vỡ, các tên địa chủ này ngày càng giàu có thì ruộng đất càng nhiều, ranh giới làng xã trước đây đã không còn được duy trì Xuất phát từ diện tích nông nghiệp ngày càng mở rộng trong tay một vài người, nên nhu cầu xây dựng hệ thống tưới tiêu, dẫn nước, đắp đê điều nhanh chóng được thực hiện, nhờ đó sản lượng nông nghiệp ngày càng cao Khi sản lượng nông nghiệp như lúa, ngô, sợi…ở vùng Đông Ấn được nâng lên, đòi hỏi các công đoạn dữ trữ, vận chuyển hoặc chế biến ra các mặt hàng khác đã hình thành nên các ngành thương nghiệp, ngành giao thông vận chuyển Có thể nói rằng, các quốc gia tại đồng bằng sông Hằng thuộc khu Đông Ấn đã phát triển nổi bật so với những nước còn lại, đời sống dân cư được sung túc, con người được an nhàn hơn, kéo theo là sự phát triển về mặt tinh thần, trong sự thảnh thơi đó con người ta không còn ca thán, rên rĩ buồn rầu, do đó nhu cầu về mặt tín ngưỡng tôn giáo cũng giảm sút so với trước và dần được thay bằng chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa khoái lạc, đến lúc này: “Người Ấn – Aryan, nuôi
bò cày và vắt sữa bò, không còn coi bò là linh vật, và hễ cứ kiếm được thịt thì cứ ăn” [75, tr.29]
Lúc này Ấn Độ đã có nhiều thành phố được dựng lên như Patalipatra, Vaishali,… Từ thế kỷ VI đến V Tr.CN, Ấn Độ đã hình thành nhiều trung tâm thủ công nghiệp, thương nghiệp như Benares, Sravasti…đã có những con đường vận chuyển hàng hóa trên sông sang các nước lân cận; một số nhà buôn đã trở nên giàu có, nắm trong tay hàng chục chiếc tàu chở hàng hóa
Trang 33sang nhiều quốc gia khác nhau như Trung Quốc, Ả-rập; trong khi ngành y học Ấn Độ đã đạt đến trình độ mô tả các dây gân, chắp xương, hoặc là phẫu thuật trong sinh sản…Để tiện cho việc sản xuất nông nghiệp theo mùa, người
Ấn Độ đã quan sát và thấy những vòng chu kỳ của thời tiết, họ cũng đã đặt ra lịch bằng việc chia thành 12 tháng trong một vòng quay thời tiết và mỗi tháng là 30 ngày, hễ 5 năm thì có một năm nhuần…
Những thành tựu trên đây đã khẳng định khả năng của con người và cho thấy vai trò của Thần linh, Thượng đế là khá mờ nhạt trong đời sống, sự tiến bộ trong nông nghiệp, thủ công nghiệp, thiên văn, y tế…chứng minh năng lực tư duy là vô tận, bộ não người quyết định mọi việc, hơn lúc nào hết đây là giai đoạn Ấn Độ hình thành các trào lưu tư tưởng mới nhằm xem xét lại những lý thuyết trong thánh kinh Veda, một số phái triết học đã lên án việc làm của các đạo sĩ Bà-la-môn là nghề tu sĩ, gieo rắc những lý thuyết hoang đường Một khi tư duy con người phát triển đến một trình độ mới, nó đòi hỏi những trật tự cũ trong xã hội cũng phải thay đổi để thích ứng với điều kiện mới, mối quan hệ biện chứng giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội đang diễn ra trong thời đại của Phật giáo – Bà-la-môn giáo, có điều cái tồn tại xã hội trong giai đoạn này không dễ dàng thay đổi vì những trật tự được xây dựng và củng cố từ thánh kinh Veda hơn nghìn năm trước đó, điều này dẫn đến bối cảnh là đời sống người dân thì được nâng cao về vật chất nhưng luân
lý trật tự bị suy vi, nền tảng đạo đức của Veda bi suy giảm nghiêm trọng, ngay
cả trong số những người Aryan cũng không còn tin vào vai trò của Thần linh, Thượng đế, họ bác bỏ những giáo lý truyền thống, thậm chí tố cáo đội ngũ tu
sĩ Bà-la-môn, những người vốn được xem là cầm trì đạo đức xã hội Ấn Độ lúc này đang trong một giai đoạn hưng thịnh về các trường phái triết học nhưng lại khá hổn độn, các tín ngưỡng cũ đã suy vi trong khi các trường phái triết học mới lại không chủ trương bàn về đạo đức và tín ngưỡng tôn giáo Và
Trang 34đó là nguyên nhân để đến thời kỳ Phật giáo ra đời, học thuyết này đáng ra chỉ
là một triết lý phi thần theo trào lưu chung của các phái không chính thống, nhưng Gotama với trách nhiệm cao cả không thể để cho con người thời đó rơi vào tâm lý hoang mang, nên trong triết lý Phật giáo, Gotama đã đặt thêm các giới luật để giúp con người sống trong khuôn phép
Ấn Độ có rất nhiều trường phái triết học khác nhau được ra đời, mỗi trường phái mang những lý luận riêng, nhưng nhìn chung có hai khuynh
hướng: một là khuynh hướng hữu thần (gọi là phái chính thống), các phái này ra sức bảo vệ và tuyên truyền lý thuyết kinh Veda; hai là khuynh hướng
phi thần (gọi là phái phi chính thống), các phái này phủ nhận và bác bỏ
những lý thuyết mà thánh kinh Veda nói đến Trong các phái có khuynh hướng phi thần phải kể đến Phật giáo, chính là ngọn cờ tiêu biểu nhất cho cao trào phản kháng lại thánh kinh Veda, “thờ ơ” trước vài trò của các vị thần trong truyền thống Ấn Độ, nhất là vai trò của Thần Brahma, mà đề cao vai trò của con người, xác lập vị trí của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với vạn vật Những thành tựu của khoa học kỹ thuật thời kỳ này đã góp phần làm thay đổi nhận thức của con người trước niềm tin vào một đấng tối cao siêu nhiên vốn đã hình thành trong xã hội Ấn Độ cả nghìn năm trước, đó chính là những bằng chứng và tiền đề tốt nhất để hình thành nên tư tưởng phi thần trong triết học Phật giáo Nguyên thủy
Có thể thấy rằng, những xung đột gay gắt không thể điều hòa được trong xã hội Ấn Độ cổ đại và sự phát triển của khoa học kỹ thuật là hai lý do quan trọng để Phật giáo Nguyên thủy ra đời với tính chất phi thần Vì xã hội bất bình đẳng là do thánh kinh quy định, là do một Brahma tối cao mong muốn, và sự phát triển của khoa học kỹ thuật là bằng chứng con người đã vượt lên nỗi sợ sệt về định mệnh số phận của Brahma, vì hai lẽ đó đã đủ cơ
Trang 35sở để Phật giáo ra đời mà không cần phải có sự hiện diện của một Brahma tối cao hay bất kỳ vị Thần linh nào đó theo truyền thống Ấn Độ
Phật giáo ra đời như là một trào lưu tư tưởng tôn giáo mới chống lại những áp bức, bóc lột, bất bình đẳng giai cấp trong xã hội Ấn Độ cổ đại, đáp ứng mong mỏi của đông đảo quần chúng thuộc các đẳng cấp xã hội bị áp bức Khởi nguồn của Phật giáo cũng tựa như các tôn giáo khác trong lịch sử, đều là sự phản ánh hiện thực xã hội, từ những phong trào xã hội có tính cách mạng với những con người hiện thực và những cá nhân cấp tiến đấu tranh vì
sự giải phóng con người khỏi những áp bức, bất công trong hiện thực ấy
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội Ấn Độ lúc đó, Phật giáo là sự khởi đầu cho một lựa chọn mới tuy chỉ là ước mơ lý tưởng, nhưng có ý nghĩa chỗ dựa tinh thần cho quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột, những người đã mất niềm tin trong xã hội hiện thực lúc bấy giờ và hướng tới mong muốn, khát vọng về một xã hội bình đẳng, tự do, về một cuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai
1.2.2 Văn hóa, nghệ thuật, văn học và tín ngưỡng của sự hình thành tư tưởng phi thần luận trong Phật giáo Nguyên thủy
Ngày nay khi nhắc về Ấn Độ, người ta thường cho đó là xứ sở của triết học, là vùng đất có trình độ văn minh rực rỡ và nền văn hóa sâu sắc Năm 1924, người ta đã khai quật ở khu vực Mehenjo Darom trên bờ Tây sông Indus, nhiều di tích của một nền văn minh, cách đó vài trăm cây số về phía Bắc là Harappa, họ đã đào đất và phát hiện bốn năm thành phố chồng chất lên nhau, có mấy trăm căn nhà và cửa tiệm xây cất bằng gạch rất chắc chắn Và theo báo cáo của ông John Marshall người phụ trách khai quật cho biết: công trình này có khoảng ba bốn ngàn năm trước công nguyên9
Trang 36thẩm định này là đúng, thì Ấn Độ có nền văn minh khá sớm Tuy nhiên đó chỉ là biểu hiện của một nền văn hóa vật thể của Ấn Độ, với trình độ văn học, nghệ thuật và tín ngưỡng (hóa hóa phi vật thể) ở Ấn Độ thì đạt đến đâu trước thời kỳ Phật giáo xuất hiện? Ngày nay các công trình khảo cổ đã tìm thấy các phiến đá, vách hang động ẩn sâu dưới lớp đất có khắc ghi những đoạn kinh được chú giải đều thể hiện nội dung về triết lý vũ trụ quan và nhân sinh quan, những giải thích về hiện tượng tự nhiên bằng kinh nghiệm sống, trong đó có các họa tiết mô tả cách thức tế tự Thần linh; hình ảnh những vị Thần linh xuất hiện nhiều nhất và chiếm hầu hết trong các tác phẩm điêu khắc của Ấn Độ cổ cũng đã nói lên tư tưởng đa thần giáo của người dân Ấn,
ví dụ như thần Vishnu, thần Shiva ba mặt, nữ thần Natadaja, nữ thần Tukmini…nhưng những công trình này cũng chỉ được phỏng đoán là có từ thế kỷ III Tr.CN trở về sau, cụ thể là dưới triều đại của vua Ashoka10
, có nghĩa là sau thời kỳ Phật giáo đến hơn 200 năm, như vậy ngay trong thời đại Phật giáo ra đời, nền văn học và tín ngưỡng của Ấn Độ ra sao chúng ta ít thấy sử liệu nào ghi chép, nếu có cũng chỉ là sự phỏng đoán qua kinh điển Phật giáo, điều này cũng khá phù hợp vì theo được biết, thời kỳ Phật giáo hình thành, các buổi thuyết giảng của Gotama thực hiện là các cuộc hội thoại, vấn đáp trực tiếp với những người đối diện, có khi một hội chúng và cũng có khi chỉ một người, do đó các bài kinh này không được ghi chép một cách trực tiếp mãi cho đến thời kỳ của vua Ashoka mới có các cuộc kiết tập kinh điển theo sự ghi nhớ và truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác, điều nay cho chúng ta biết một thông tin là Ấn Độ thời kỳ Phật giáo chưa
10
Vua Ashoka (8/304 - 232 tr CN), nhà vua trị vì Ấn Độ từ năm 273 đến 232 trước CN
Là một trong những hoàng đế kiệt xuất trong lịch sử Ấn Độ, Ashoka đã toàn thắng trong loạt các cuộc chinh phạt và cai trị phần lớn vùng Nam Á, từ Afghanistan cho đến Bengal hiện nay và đi sâu đến miền Nam tận Mysore Là một vị vua ủng hộ Phật giáo, ông đã lập nhiều bia đá ghi lại những thánh tích trong cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni và theo truyền thống Phật giáo, tên ông gắn liền với việc lưu truyền Phật giáo
Trang 37phổ biến chữ viết, một khi dân tộc chưa có chữ viết thì nền văn học phát triển đến đâu cũng khó mà mô tả và thể hiện một cách đầy đủ Theo nghiên cứu của William Jones11, Ấn Độ có đến 200 thổ ngữ khác nhau tùy theo vùng miền và dân tộc sinh sống, trong đó ngôn ngữ tương đối phổ biến nhất
là Sanscrit, nhưng ngôn ngữ này chỉ có các học giả và tu sĩ dùng đến, theo ông đây là ngôn ngữ được dùng phổ biến hơn hẳn các thổ ngữ còn lại, cũng
là ngôn ngữ có ký âm (chữ viết) trước tiên mặc dù nó chỉ là các con số, các
từ ngữ thông dụng như liên hệ đến họ tộc, hay các từ để chỉ cho con vật, cây cối… Với cách mô tả này cũng cho chúng ta cảm nhận được rằng, nền văn hóa tín ngưỡng thời kỳ trước và sau Phật giáo 200 năm dù có phát triển đến đâu cũng chưa được thể hiện chính xác qua khảo cổ và sử học Ngày nay, bằng những bài kinh Phật giáo mà nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cố gắng đi tìm xem trong đó đã mô tả về xã hội trước và trong giai đoạn Gotama đã phát triển nhận thức đến chừng mức nào Trước thời đại Phật giáo, thời kỳ Veda tuy được mô tả là khá phát triển về tín ngưỡng tôn giáo nhưng người ta vẫn chỉ dựa vào các bức phù điêu, hình tượng các vị thần sau này mà suy đoán niên đại, ngay cả bản kinh Veda cũng chưa được tổng hợp trên văn tự mà chỉ tồn tại dưới hình thức truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác
Do đó khi mô tả về trình độ văn học và tín ngưỡng Ấn Độ trong giai đoạn cổ đại, người ta chỉ còn biết dựa vào các bản kinh, và các tác phẩm sử thi dù nó tồn tại dưới hình thức văn tự hay truyền miệng thì cũng là cơ sở duy nhất để cho chúng ta có cái nhìn tương đối về văn học và tín ngưỡng trong thời kỳ này, vì văn học chính là thước đo trình độ văn minh của dân tộc đó
11
William Jones (1675 - 1749), là một nhà toán học xứ Wales - Anh, ông đã đề xuất sử dụng kí hiệu để biểu diễn tỉ số giữa chu vi và đường kính của đường tròn
Trang 38Trình độ văn học và nhận thức tín ngưỡng của xã hội Ấn Độ cổ đại
có thể chia ra làm ba thời kỳ khác nhau, giữa các thời kỳ này được đánh dấu bằng sự chuyển biến tư tưởng, thông qua sự ra đời của các học thuyết hoặc tôn giáo lớn, đó là: Thời kỳ văn minh sông Ấn (thời đồ đá), Thời kỳ Veda - Sử thi (thời đồ sắt) và Thời kỳ Phật giáo – Bà-la-môn giáo; trong
đó, mầm mống cho tư duy triết học hình thành chỉ có thể được tính từ thời
kỳ Veda – Sử thi trở về sau:
Thời kỳ Veda- Sử thi (thế kỷ XV-VI Tr.CN)
Trong khoảng gần 1000 năm tồn tại, tính từ giai đoạn kinh Veda xuất hiện, với phần đầu được mang tên là Rig-Veda (sau này còn có thêm ba phần khác tạo thành hệ thống kinh Veda: Rig, Sama, Yajur và Atharva), đây là thời
kỳ phát sinh rất nhiều tu viện cũng như những đạo sĩ chuyên đi thuyết giảng kinh điển
Trong Veda có nhiều nội dung quy định cho trật tự đời sống, những quan niệm này được hiểu là ý niệm của Brahma, thể hiện sự bất bình đẳng sâu sắc trong xã hội: Như việc đọc kinh thánh, họ cho rằng chỉ có ba giai cấp đầu tiên là Bà-la-môn, Sát-đế-lợi và Phệ-xá mới được đọc kinh thánh, trong
đó giai cấp Bà-la-môn có thêm quyền đi giảng dạy giáo lý, giai cấp còn lại nếu đọc sẽ bị cắt lưỡi, còn ai học thuộc lòng kinh thánh thì sẽ bị chặt làm hai Trong quan hệ xã hội, những người thuộc giai cấp thấp không được quyền giao tiếp, sinh hoạt với những người thuộc giai cấp trên Họ còn cho rằng, nếu người nào thuộc giai cấp Bà la môn không may bị những người thuộc tầng lớp hạ tiện giẫm lên cái bóng của mình thì người ấy phải làm lễ tẩy trần bằng cách nhịn ăn, và tắm nước thánh cả ngày hôm đó Về hôn nhân họ cấm không cho các giai cấp khác nhau kết hôn với nhau, thậm chí các vương tôn công tử thuộc giai cấp Sát đế lợi không được phép kết hôn với con gái của
Bà la môn Còn nếu người Bà la môn cưới một người vợ thuộc giai cấp thấp
Trang 39hơn thì con cái của họ sinh ra bị giáng xuống đẳng cấp hèn hạ nhất…
Những quy tắc trên đây được thực hiện khá nghiêm khắc, dưới sự điều tiết của kinh Veda, đã hình thành một xã hội Ấn Độ có chế độ phân biệt giai cấp cực kỳ sâu sắc
Về tính triết lý của Veda, được thể hiện rõ nhất trong Rig-Veda, nhưng vẫn ở trình độ chưa cao về suy lý và logic, bởi trong các bài kinh này đều mang khuynh hướng thánh ca, ca ngợi công năng của những vị thần, như thần sấm sét, thần mưa bão, thần hoàng hôn, thần bình minh, hoặc những bài kinh có tính nghi thức tế tự như Brahmanas hướng dẫn cách thức để thực hành một buổi cầu khấn…do đó nếu nói kinh Rig-Veda có tính suy lý, thì những suy lý này cũng chỉ dừng lại ở những nghi vấn mà vẫn chưa cho một lời giải thích xác đáng, ví dụ như những thắc mắc: tại sao khi mặt trời hạ xuống chân trời mà không rớt hẳn xuống đất? hay con bò nâu tại sao có sữa màu trắng? [10, tr.65], những câu hỏi ấy tuy chất phác, sơ khai nhưng đã cho thấy bước đầu tư duy của con người mà không phải lúc nào cũng phục tùng, bàng quang trước mọi hiện tượng trong tự nhiên Tuy vậy, điều mà Rig-Veda làm được về phương diện suy lý cũng chỉ dừng lại ở đó, không thể phát triển thêm nữa khi mà mọi nghi vấn này cuối cùng cũng đi tìm Thần linh để lý giải Về mặt logic, trong nội dung của kinh Veda cũng chưa có, những hình thức suy luận, liên hệ hoặc dựa vào các tiền đề để phán đoán là điều không thấy trong Rig-Veda, hầu như họ không cần suy luận mà mặc định sẵn mọi hiện tượng tự nhiên vào vai trò của một trong số những vị thần nào đó, họ cho rằng ánh sáng ban đêm là do thần Mosa, mưa là do thần Parjanya, tạo nước và các dòng chảy để ngăn hạn hán là thần Indra,…
Sự có mặt của Rig-Veda thời kỳ này cho thấy con người hoàn toàn dựa dẫm vào các đấng Thần linh, một thế giới quan siêu nhiên của các vị thần bao trùm toàn bộ nhận thức, sự ảnh hưởng mạnh mẽ này đã tác động
Trang 40đến các tác phẩm khác cùng thời như Râmâyana và Mahâbhârata Cả hai tác phẩm sử thi này đều mang hơi hướng và những ảnh hưởng nhất định từ Veda Đến nay, vẫn chưa xác định được cụ thể thời điểm xuất hiện, nhưng niên đại thì khoảng thế kỷ thứ I Tr.CN [10, tr.124], nghĩa là Râmâyana và Mahâbhârata đều ra đời sau Phật giáo, nhưng cả hai lại không bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Phật giáo mà ảnh hưởng bởi tinh thần kinh Veda, cho dù Phật giáo ngay khi xuất hiện đã tạo ra những tác động khá lớn trong xã hội đương thời, vậy lý do gì cả Râmâyana và Mahâbhârata lại không bị ảnh hưởng bởi Phật giáo? Theo cách suy luận riêng, có thể đến thế kỷ thứ I Tr.CN Râmâyana và Mahâbhârata mới được tổng hợp lại, còn bản thân những bài thơ trong đó đã có trước khi Phật giáo ra đời, như vậy không giống như quan niệm của Phật giáo, các sử thi này vẫn mang nặng tư tưởng của thánh kinh Veda Dường như trong nền văn học của Ấn Độ thời kỳ này, các tác phẩm kể
cả kinh điển đến sử thi đều cố gắng lý giải mọi vấn đề của nhân loại bằng thế giới của các vị thần
Nếu như sử thi Râmâyana vẫn là những nội dung liên quan đến Thần linh mà cụ thể ở đây chính là dòng họ của thần Mặt trời, thì với sử thi Mahâbhârata, người Ấn Độ cho đó là toàn bộ tri thức nhân loại mà không có tác phẩm nào có được, nó gồm 220.000 dòng thơ, theo đó Mahâbhârata cũng
có những tương truyền thần thoại về Thần linh, khi cho rằng đây là tác phẩm
do một vị thần có cái đầu voi Ganesha ghi lại bằng chiếc vòi của mình từ một vị thần khác12 Nội dung của hai tác phẩm này tuy phong phú nhưng tựu chung cũng chỉ để mô tả đời sống, tính cách, các mối quan hệ của các vị thần với nhau và thông qua đó giải thích những hiện tượng tự nhiên quanh đời sống thường ngày Cho dù các tác phẩm Râmâyana, Mahâbhârata hay cả
12
Quan niệm này chỉ mang tính thần thoại, thực ra các tác phẩm sử thi là công trình chung của nhiều thi nhân và đạo sĩ trải qua nhiều thế kỷ