1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Học thuyết tam tòng, tứ đức của nho giáo tiên tần và ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ việt nam hiện nay

130 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 864,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề đặt ra từ ảnh hưởng của học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo Tiên Tần và sự cần thiết của việc phát huy mặt tích cực và khắc phục những hạn chế của học thuyết đối với

Trang 1

PHAN THỊ THÀNH

HỌC THUYẾT TAM TÒNG, TỨ ĐỨC CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ

VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 2

PHAN THỊ THÀNH

HỌC THUYẾT TAM TÒNG, TỨ ĐỨC CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ

VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân, dưới sự hướng

dẫn khoa học của TS Phan Thanh Long Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này

Trang 4

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CỦA HỌC THUYẾT TAM TÒNG, TỨ ĐỨC TRONG NHO GIÁO TIÊN TẦN 9 1.1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TIÊN TẦN 9

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, cơ sở

xã hội hình thành và phát triển đạo đức Nho giáo Tiên Tần 9 1.1.2 Tiền đề lý luận và quá trình hình thành đạo đức Nho giáo Tiên Tần 15

1.2 KHÁI QUÁT NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TIÊN TẦN VÀ HỌC THUYẾT TAM TÒNG, TỨ ĐỨC 27

1.2.1 Khái quát nội dung và đặc điểm cơ bản của đạo đức Nho giáo Tiên Tần 27 1.2.2 Nội dung học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo Tiên Tần 33 Kết luận chương 1 51

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT TAM TÒNG, TỨ ĐỨC TRONG NHO GIÁO TIÊN TẦN ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY – PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 54 2.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH DU NHẬP CỦA NHO GIÁO NÓI CHUNG VÀ HỌC THUYẾT TAM TÒNG, TỨ ĐỨC CỦA NHO GIÁO

TIÊN TẦN NÓI RIÊNG VÀO VIỆT NAM 54

2.1.1 Điều kiện, hoàn cảnh du nhập của đạo đức Nho giáo Tiên Tần vào

Việt Nam 54

2.1.2 Quá trình Nho giáo nói chung và học thuyết tam tòng, tứ đức của Nho giáo

Tiên Tần du nhập Việt Nam 58

2.1.3 Quá trình Nho giáo nói chung và học thuyết tam tòng, tứ đức của Nho giáo Tiên Tần du nhập Việt Nam 61

Trang 5

2.2.1 Ảnh hưởng tích cực của học thuyết tam tòng tứ đức của Nho giáo Tiên Tần

đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay 67

2.2.2.Ảnh hưởng tiêu cực của học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo Tiên Tần đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay 77

2.2.3 Những vấn đề đặt ra từ ảnh hưởng của học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo Tiên Tần và sự cần thiết của việc phát huy mặt tích cực và khắc phục những hạn chế của học thuyết đối với việc xây dựng phẩm chất đạo đức người phụ nữ Việt Nam hiện nay 84

2.3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY MẶT TÍCH CỰC VÀ KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ CỦA HỌC THUYẾT TAM TÒNG, TỨ ĐỨC TRONG NHO GIÁO TIÊN TẦN ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY 98

2.3.1 Phương hướng xây dựng phẩm chất đạo đức người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới 98

2.3.2 Một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực của học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo Tiên Tần đối với sự nghiệp xây dựng người phụ nữ Việt Nam hiện nay 102

Kết luận chương 2 116

KẾT LUẬN CHUNG 118

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nho giáo nói chung và Nho giáo Tiên Tần nói riêng là một trong những học thuyết chính trị - đạo đức xã hội tiêu biểu trong lịch sử Trung Quốc cổ đại Nội dung cơ bản của Nho giáo là luận bàn về đạo trị nước và đạo làm người, nội dung

đó được thể hiện trong hai bộ sách kinh điển của Nho giáo là Tứ thư và Ngũ kinh

Nho giáo du nhập vào Việt Nam khá sớm và đã cùng đi hết một chặng đường dài của lịch sử dân tộc ta; trên chặng đường ấy, có lúc nó giữ vai trò thúc đẩy, có lúc nó kìm hãm sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Việt Nam Nhưng dù thúc đẩy hay kìm hãm, Nho giáo đều góp phần làm nên truyền thống tư tưởng, văn hóa dân tộc; tạo nên những bước tiến của xã hội và con người Việt Nam Trong các nội dung đạo đức của Nho giáo Tiên Tần thì học thuyết tam tòng,

tứ đức là những quy phạm giáo dục đạo đức, là những chuẩn mực cơ bản, là thước

đo giá trị, tài năng, đức hạnh của người phụ nữ, và quan trọng hơn cả là sự ăn sâu

bám rễ của nó vào tư tưởng, tâm hồn, nhân cách, lối sống của mỗi người phụ nữ

Trong lịch sử, từ trước đến nay phụ nữ bao giờ cũng là một bộ phận quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, người phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: Từ sản xuất vật chất đến những sáng tạo mang giá trị tinh thần và hơn hết phụ nữ có thiên chức là tái sản xuất ra bản thân con người

để duy trì nòi giống Phụ nữ Việt Nam có bề dày truyền thống tốt đẹp, trong thời bình là những người lao động cần cù thông minh, những người vợ, người mẹ hiền đảm đang, khi đất nước bị xâm lăng phụ nữ luôn có mặt trên các tuyến đầu bảo vệ tổ quốc Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã khẳng định được vai trò đặc biệt của mình trong những thời kỳ cam go nhất của dân tộc cũng như trong điều kiện khắc nghiệt của đời sống Càng trong khó khăn, phụ nữ Việt Nam càng phát huy sức mạnh tiềm ẩn của mình, một sức mạnh vừa mang tính quyết liệt, vừa mang tính nhân văn

Trang 7

Ngày nay, Việt Nam đã bước sang thời kì đổi mới, đổi mới không đơn giản chỉ là đổi mới về kinh tế mà nó còn kéo theo sự biến đổi toàn diện trên các lĩnh vực khác như: chính trị, văn hóa, xã hội … và kể cả tố chất con người cũng đổi mới một cách sâu sắc Từ đó đã dẫn đến những thay đổi về yêu cầu, tiêu chí đánh giá của xã hội về người phụ nữ Người phụ nữ trong thời đại mới phải đẹp toàn diện hơn, tài giỏi hơn, tích cực tham gia công tác xã hội, đảm đang việc gia đình… Và bên cạnh những nét đẹp hiện đại, người phụ nữ cần giữ gìn những nét đẹp truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: Con người là yếu tố quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, trong đó người phụ nữ là lực lượng đông đảo, nắm vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Hồ Chí Minh đã từng nói : “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội, nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có một nửa” [42, tr 532] Vì thế có thể khẳng định, việc đấu tranh giải phóng phụ nữ, xây dựng người phụ nữ Việt Nam đáp ứng yêu cầu cách mạng hiện nay là vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài vừa có ý nghĩa mang tính cấp bách của thời đại

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nho giáo có vị trí nhất định, có thời kỳ nó

đã trở thành quốc giáo, và ảnh hưởng sâu sắc trong thời đại phong kiến, nó ăn sâu bám rễ vào trong tiềm thức của người dân Việt Nam Học thuyết tam tòng, tứ đức

đã góp phần làm nên những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, nhưng bên cạnh đó, nó cũng có nhiều mặt tiêu cực đó là trói buộc người phụ nữ vào lễ giáo phong kiến, kìm hãm các bước tiến của họ Trong giai đoạn hiện nay, người phụ nữ Việt Nam cần khắc phục tính tiêu cực của quan niệm tam tòng và tiếp thu vận dụng tứ đức như thế nào để xây dựng hình ảnh người phụ nữ hiện đại

mà không mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực Điều đó cho thấy việc nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo đặc biệt là Nho giao thời kỳ Tiên Tần hay Nho giáo Khổng – Mạnh đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay để đưa ra những

Trang 8

giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Xuất phát từ những cơ sở lý luận và yêu cầu thiết thực của thực tiễn tác giả

lựa chọn vấn đề: “Học thuyết tam tòng, tứ đức của Nho giáo Tiên Tần và ảnh

hưởng của nó đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho luận văn

thạc sĩ của mình nhằm góp phần xây dựng phẩm chất đạo đức tốt đẹp, nhân cách lối sống và văn hóa ứng xử để tạo nên giá trị cao quý và vẻ đẹp đích thực của người phụ nữ Việt Nam hiện nay

2 Tổng quan nghiên cứu của đề tài

Nho giáo được xem là một trong những trường phái chính trong lịch sử triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại đó là những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức, triết lý giáo dục do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội thịnh trị Tư tưởng đạo đức của Nho giáo từng được chọn làm chuẩn mực để giáo dục đạo đức cho người Việt và đặt dấu ấn rất rõ ràng vào nhân cách người Việt Đặc biệt khi bàn về những quy phạm, những chuẩn mực của người phụ nữ trong xã hội, chúng ta lại liên tưởng tới học thuyết tam tòng, tứ đức Vì vậy, đây là đề tài được rất nhiều độc giả, nhà nghiên cứu quan tâm và tiếp cận ở nhiều góc

độ, khía cạnh khác nhau

Cách tiếp cận thứ nhất là các công trình nghiên cứu Nho giáo nói chung, đó

là Cuốn Đại cương triết học Trung Quốc các tác giả Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê; Đại cương triết học lịch sử Trung Quốc của Phùng Hữu Lan; Đại cương

văn hóa phương Đông của Lương Duy Thứ; tác phẩm Tứ thư của Đoàn Trung

Còn dịch Trong Nho giáo xưa và nay của ông Quang Đạm đã chỉ rõ, Nho giáo có

cả hai mặt tích cực, hạn chế và vấn đề là biết tiếp thu, vận dụng nó như thế nào cho

hợp lý với mỗi thời đại Trong cuốn Đạo đức học phương Đông cổ đại, PGS.TS

Vũ Tình đã kết hợp nhuần nhuyễn các quan điểm về thế giới quan, nhân sinh quan để truyền tải vấn đề cốt lõi của triết học phương Đông, trong đó nổi bật nhất

là những nội dung cơ bản của Nho giáo về các mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội

Trang 9

Cách tiếp cận thứ hai là các công trình nghiên cứu đạo đức của Nho giáo

thời kỳ Tiên Tần trong dòng phát triển của lịch sử triết học Trung Quốc

Đã có nhiều công trình, bài viết về nội dung đạo đức Nho giáo Tiên Tần

nhưng đáng chú ý nhất là: Trong Khổng học đăng, tác giả Phan Bội Châu đã đề

cao những giá trị của Nho giáo Tiên Tần và coi đạo đức Nho giáo Tiên Tần có vai trò cực kỳ to lớn trong việc giáo dục, hoàn thiện nhân cách con người

Cuốn Nho giáo tác giả Trần Trọng Kim đã khái quát quá trình hình thành,

phát triển và các quan điểm của Nho giáo qua các giai đoạn phát triển chủ yếu Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích cụ thể khái niệm và nội dung của học thuyết tam tòng, tứ đức trong lịch sử phát triển của Nho giáo Trung Quốc và Nho giáo ở Việt Nam Tuy nhiên, đây chỉ là những khái niệm cơ bản ban đầu về nội dung tam tòng, tứ đức

Từ điển triết học Trung Quốc do PGS.TS Doãn Chính biên soạn là một

trong những công trình nghiên cứu lớn về triết học Trung Quốc Cuốn sách đã chỉ

ra những nội dung cơ bản của triết học Nho giáo Tiên Tần và những nội dung của

học thuyết tam tòng, tứ đức của Nho giáo Cuốn Lịch sử triết học phương Đông và cuốn Đại cương triết học Trung Quốc do PGS.TS Doãn Chính (chủ biên) là những

tài liệu nghiên cứu quan trọng đối với tác giả trong quá trình phân tích những tiền

đề hình thành và phát triển của đạo đức Nho giáo Tiên Tần

Cuốn Nho giáo ở Việt Nam - Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam là tổng

hợp các bài báo cáo của Hội thảo quốc tế Nho giáo ở Việt Nam của các nhà nghiên cứu Việt Nam, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan Cuốn sách chỉ rõ quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam; thư tịch Hán Nôm Việt Nam về Nho giáo thời

kỳ Tiên Tần, cũng như ảnh hưởng của Nho giáo Tiên Tần đối với đời sống xã hội

Việt Nam Trong cuốn Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của

nó ở Việt Nam của ông Nguyễn Thanh Bình đã làm rõ Nho giáo với tính cách là học

thuyết chính trị - xã hội ở Trung Quốc cổ đại Tác giả đã bàn đến những vấn đề cơ bản của Nho giáo như nhân, lễ, chính danh và những chuẩn mực đạo đức

Trang 10

Cách tiếp cận thứ ba là nghiên cứu về học thuyết tam tòng, tứ đức trong

Nho giáo Tiên Tần

Cuốn Nho giáo và gia đình do Giáo sư, Viện trưởng Viện xã hội học, Anh

hùng lao động Vũ Khiêu (chủ biên) đã đề cập đến những quan niệm của Nho giáo

về mối quan hệ vợ - chồng trong gia đình Theo Giáo sư, cuộc sống vợ chồng là

cơ sở tồn tại của gia đình Nhưng xuất phát từ quan điểm coi trọng huyết thống

và từ thái độ coi thường phụ nữ, Nho giáo đề cao tình anh em, tình vợ chồng Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra rằng theo Nho giáo, phụ nữ là người phải hứng chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi, bất công, cả cuộc đời phụ nữ chỉ thực hiện chữ tòng Tác giả cũng chỉ ra rằng, Nho giáo có quan niệm nghiệt ngã về tiết hạnh của người phụ nữ và bên cạnh những điểm tích cực khuyên răn người phụ nữ phải trau dồi phẩm chất đạo đức thì Nho giáo cũng có ảnh hưởng không tốt đến người phụ nữ ở quan niệm trong xã hội có hai loại người không thể giáo hóa đó

là tiểu nhân và phụ nữ

Trong Nho học và Nho học Việt Nam của tác giả Nguyễn Tài Thư đã có

nhiều kiến giải mới về ảnh hưởng và vai trò của xã hội đối với con người Việt Nam trong lịch sử Tác giả cho rằng, ảnh hưởng quan trọng của Nho giáo là trong lĩnh vực thế giới quan và nhân sinh quan Quan niệm của Nho giáo về học thuyết tam tòng, tứ đức thuộc về nhân sinh quan đó là quan niệm về đạo đức người phụ

nữ trong xã hội phong kiến Chính vì vậy, tư tưởng này có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống tinh thần con người Việt Nam, phụ nữ Việt Nam xưa và nay

Trong cuốn Đạo nghĩa trong gia đình của ông Phạm Côn Sơn đã trình bày

những bài gia huấn về đạo nghĩa đặc biệt là tác phẩm nêu bật được đức hạnh của người phụ nữ trong xã hội

Cuốn Một số vấn đề Nho giáo ở Việt Nam của Giáo sư Phan Đại Doãn (chủ

biên) là tác phẩm trình bày khá đầy đủ quan niệm của Nho giáo về vị trí, vai trò và đạo đức của người phụ nữ, sự ảnh hưởng của các quan niệm đó đối với người phụ

nữ Việt Nam Đặc biệt, tác giả còn chỉ ra sự ảnh hưởng của học thuyết tam tòng, tứ đức thông qua các bài Gia huấn và Hương ước được truyền tụng trong đời sống xã

Trang 11

hội Việt Nam để cho thấy rõ mức độ ảnh hưởng sâu đậm của những tư tưởng này đối với người dân Việt Nam Tuy nhiên, học thuyết tam tòng, tứ đức của Nho giáo khi vào Việt Nam đã cải biến để phù hợp với đặc trưng riêng của người Việt

Cuốn Đạo hiếu trong Nho gia của ông Cao Vọng Chi đã trình bày nguyên

văn tác phẩm chính của Nho giáo về đạo Hiếu - “Hiếu Kinh", những lời răn dạy về chữ “hiếu” đối với nhiều đối tượng xã hội khác nhau trong đó có người phụ nữ, cũng như ảnh hưởng, tác động của đạo Hiếu trong Nho gia đối với đời sống tinh thần của một số nước láng giềng với Trung Quốc, trong đó có Việt Nam

Luận án tiến sĩ Đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong xã hội Việt

Nam, của tác giả Nguyễn Sinh Kế đã hệ thống nội dung cơ bản của đạo đức Nho

giáo, và tác giả đã khai thác những yếu tố tích cực, hợp lý của đạo đức Nho giáo

để xây dựng đạo đức mới, trong đó có việc xây dựng phẩm chất đạo đức của người phụ nữ

Cuốn sách Nho giáo tại Việt Nam do Lê Sĩ Thắng chủ biên có một số bài

viết đề cập tới vấn đề đạo đức của Nho giáo - thuyết tam tòng, tứ đức đối với phụ

nữ Việt Nam

Cuốn Ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo quản lý

của Việt Nam hiện nay do Nguyễn Thế Kiệt chủ biên, các tác giả tập trung vào các

vấn đề nguồn gốc, đặc trưng của đạo đức phong kiến Việt Nam; một số tàn dư của đạo đức phong kiến ảnh hưởng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo hiện nay

Cuốn Công, dung, ngôn, hạnh thời nay của tác giả Lê Thị Bừng và Nguyễn

Thị Vân Hương chỉ rõ: Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, người ta cho rằng, sự tiến bộ của phụ nữ là thước đo sự phát triển của xã hội hiện đại Điều đó,

đã khẳng định vị trí to lớn của người phụ nữ và giải phóng phụ nữ, người phụ nữ

có điều kiện tham gia vào kinh tế, chính trị, văn hóa và các lĩnh vực khác trong xã hội Cuốn sách đã định hướng, gợi ý cho phụ nữ hiện nay: Cảm nhận, suy nghĩ, hành động theo những chuẩn mực “công, dung, ngôn, hạnh” mang giá trị đạo đức, truyền thống - nét đẹp văn hóa của người phụ nữ Việt Nam trong xu hướng mở cửa

và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế

Trang 12

Nhìn chung, vấn đề đạo đức Nho giáo và học thuyết tam tòng, tứ đức được các nhà khoa học nghiên cứu trên những bình diện khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào chuyên sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của học thuyết tam tòng, tứ đức của Nho giáo Tiên Tần một cách hệ thống, đặc biệt là chưa đi sâu vào vai trò ảnh hưởng của học thuyết tam tòng, tứ đức đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay Kế thừa thành quả của các công trình đã được công bố, với mong muốn được góp một phần nhỏ bé vào sự nỗ lực chung của toàn xã hội về vấn đề xây dựng những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam hiện nay trên nền tảng học thuyết tam tòng, tứ đức của Nho giáo Tiên Tần Đây chính là cơ sở

lý luận và thực tiễn để tôi chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn:

Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung cơ bản học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo thời Tiên Tần và đánh giá những ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay, luận văn nhằm đề xuất những giải pháp để xây dựng phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ của luận văn:

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Trình bày, phân tích điều kiện tiền đề hình thành, phát triển và những nội dung, đặc điểm chủ yếu của học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo Tiên Tần

- Trình bày khái quát điều kiện, hoàn cảnh du nhập của Nho giáo nói chung

và học thuyết tam tòng, tứ đức của Nho giáo Tiên Tần nói riêng vào Việt Nam và chỉ ra sự ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy yếu tố tích cực của học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo Tiên Tần đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở phương pháp luận triết học mác xít, luận văn sử dụng các phương pháp như phương pháp hệ thống, phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, so sánh và đối chiếu, trao đổi với các chuyên gia nhằm hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ và nâng cao chất lượng luận văn

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn chủ yếu chỉ xem xét và làm sáng tỏ nội dung học thuyết tam tòng,

tứ đức của Nho giáo trong thời kỳ Tiên Tần từ năm 221 Tr CN đến 207 Tr CN và ảnh hưởng của học thuyết đối với người phụ nữ Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

2 chương và 5 tiết

Trang 14

Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN

VÀ NỘI DUNG CỦA HỌC THUYẾT TAM TÒNG, TỨ ĐỨC

TRONG NHO GIÁO TIÊN TẦN

Trung Quốc được đánh giá là một trong những nền văn minh nhân loại và có ảnh hướng rất lớn đến các nước trong khu vực Nó giống như một cuốn sách lịch sử văn minh trải dài vô tận trong dòng chảy Hoa Hạ cho đến tận ngày hôm nay Xếp trong kho tàng văn minh của Trung Quốc, chúng ta thấy nổi bật lên là tư tưởng chính trị và triết học Song song với những công trình kiến trúc như Vạn Lý Trường Thành, Cố Đô Bắc Kinh…và những phát minh khoa học kĩ thuật như giấy, thuốc súng, la bàn, kĩ thuật in… đã đưa tên tuổi Trung Quốc ra toàn thế giới, nhưng ẩn sâu trong lớp đất lịch sử người ta bới qua lớp “tro tàn” và tìm thấy một thành tựu rực r

có sức ảnh hưởng sâu sắc tới lịch sử phong kiến Trung Hoa và một số nước trong khu vực trong đó có Việt Nam, đó là đạo đức Nho Giáo đặc biệt là đạo đức Nho giáo Tiên Tần (nghĩa là Nho giáo trước đời Tần) hay còn gọi là Nho giáo Khổng – Mạnh vào thế kỷ VI tr CN – Thể kỷ III tr CN gồm hai thời kỳ Xuân thu và Chiến quốc, là thời đại phát sinh rực r nhất của triết học Trung Quốc, thời đại của “bách gia chư tử”, học thuyết đua nhau nảy nở [10, tr.26]

Đạo đức Nho giáo Tiên Tần là điểm son đánh dấu một tư tưởng đạo đức lớn của nhân loại nói chung và tư tưởng đạo đức phương Đông nói riêng Sự phong phú

và đa dạng của các học thuyết thời kỳ này đã thực sự trở thành đỉnh điểm của toàn

bộ đời sống văn hóa tinh thần của xã hội Trung Hoa cổ đại Vậy đạo đức Nho giáo thời kỳ Tiên Tần được hình thành, phát triển, có những nội dung cơ bản nào? Và có ảnh hưởng sức lan tỏa như thế nào đối với Việt Nam?

1.1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TIÊN TẦN

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, cơ sở xã hội hình thành và phát triển đạo đức Nho giáo Tiên Tần

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội sự phát sinh và phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại gắn liền với quá trình biến đổi của điều kiện kinh

Trang 15

tế, xã hội và sự phát triển của khoa học Trung Quốc đương thời Đạo đức Nho giáo thời Tiên Tần được ra đời dựa trên điều kiện lịch sử nhất định, đó là thời kỳ mà kinh

tế - xã hội Trung Quốc có nhiều biến động lớn

Về kinh tế: Thời kỳ này với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất,

đặc biệt là việc sử dụng và đưa vào sản xuất các công cụ, vật dụng bằng sắt thay thế các công cụ bằng đá và đồng đỏ đã thúc đẩy kinh tế mà trong đó hai ngành trọng yếu

là nông nghiệp và thủ công nghiệp có nhiều bước phát triển mới tạo ra năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn trước nhiều

Trong nông nghiệp người ta đã biết sử dụng sức kéo của súc vật để tăng năng suất lao động và giảm bớt sự mệt nhọc của con người Trong sách quốc ngữ

có viết “đồng thau để đúc kiêm kích, sắt để đúc quả cân ” [11, tr 31] Phát minh

mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật, sản xuất nông nghiệp Thời kỳ này hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trường Giang Diện tích đất canh tác nhờ đó mà được mở rộng Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến tạo điều kiện tăng năng suất trong lao động nông nghiệp

Trong thủ công nghiệp, nếu thời kỳ Xuân thu, thủ công nghiệp được coi là một nghề phụ, sản xuất chỉ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu phục vụ chiến tranh

và đời sống của các tầng lớp quý tộc thì đến thời Xuân thu – Chiến quốc [12, tr

249] đã dần dần phát triển, trở thành ngành sản xuất ngày càng chuyên môn hóa,

độc lập với hoạt động nông nghiệp Trong thời kỳ này nhiều ngành nghề mới xuất hiện, đặc biệt là các ngành có liên quan tới sản phẩm bằng sắt như nghề rèn, nghề đúc “ sản phẩm đa dạng, phong phú và tinh tế, đồ chạm vàng bạc và dát vàng bạc, hàng dệt lụa, đồ sơn là những sản phẩm thủ công tinh xảo thời Chiến Quốc; trong

đó nổi tiếng nhất là hàng tơ lụa màu của nước Tề, đồ sơn có tranh vẽ màu của nước Sở” [54, tr.223] Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước “Trên thị trường các nước trưng bày đủ đặc sản khắp nơi như cá miền Đông, trân châu, ngà voi miền Nam, da tê giác miền Tây, ngựa

miền Bắc ” [54, tr.223]

Trang 16

Nền kinh tế thay đổi và có nhiều bước phát triển mới đã có tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Nó làm thay đổi thế chế chính trị - xã hội của nhà Chu Biểu hiện của sự tác động đó là sự thay đổi về kết cấu giai cấp trong xã hội

và hình thức sở hữu ruộng đất

Trên cơ sở của chế độ “tỉnh điền” hình thành nên hai bộ phận chính là quý tộc và thường dân và tương ứng với chế độ đó là hình thức sở hữu ruộng đất dựa trên chế độ vương quyền Đến thời Chiến quốc, sự phát triển của lực lượng sản xuất đặc biệt là sử dụng công cụ lao động bằng sắt trong lĩnh vực nông nghiệp và việc mở mang thủy lợi và chiếm dụng diện tích đất làm cho diện tích canh tác do nông nô khai hoang càng nhiều Tầng lớp quý tộc mới (địa chủ) có quyền thế về kinh tế đã tấn công tỉnh điền trước đây và chiếm dụng diện tích đất này Từ đó hình thành nên hình thức sở hữu mới về ruộng đất, sở hữu tư nhân về ruộng đất thay thế cho chế độ tỉnh điền trước đây

Tiền tệ đã xuất hiện “trước đây, vua tôi các nước tặng, cấp, đút lót, chuộc tội, dâng hiến thường dùng xe ngựa, gấm, ngọc, chung đỉnh, đồ quý có khi dùng

cả gái đẹp, nhạc sư Đến thời Chiến Quốc, tiền tệ đã lưu hành rộng rãi, vai trò của tiền ngày càng được thừa nhận “trong xã hội đã hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống [11,

tr.33] Sự hình thành và phát triển của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ

cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới Từ tầng lớp này xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh tìm cách leo lên giành quyền lực với tầng lớp quý

tộc cũ

Về chính trị - xã hội: Nếu như thời Tây Chu chế độ tông pháp, “phong hầu

kiến địa” vừa có ý nghĩa ràng buộc về kinh tế, vừa có ý nghĩa về chính trị, ràng buộc về huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được một thời gian dài hưng thịnh thì đến thời Xuân thu chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa Thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước Thiên tử nhà Chu hầu như không còn uy

Trang 17

quyền gì với các nước chư hầu Thiên tử không còn xét xử được những cuộc tranh chấp giữa các nước chư hầu Các lãnh chúa vừa và nhỏ xưa nay vẫn dựa vào quyền

uy của Thiên tử giờ đây trở nên thất vọng Nhiều nước chư hầu mượn tiếng khôi

phục lại địa vị tông chu của nhà Chu, đề ra khẩu hiệu “tôn vương bài Di” [12, tr

251], đua nhau động binh để mở rộng thể lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ Thời Xuân thu kéo dài từ năm 770 đến 475 Tr

CN có khoảng 242 năm đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ [12, tr.251] Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước, đến cuối thời Xuân thu chỉ còn hơn một trăm nước Trong đó có những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ, thay nhau làm bá thiên hạ là nước Tề, nước Tấn, nước Sở, nước Tống, nước Ngô, nước Việt, nước Tần Những quốc gia hùng mạnh và làm minh chủ các nước khác là do các vua trị

vì dùng cách cai trị theo chính sách “bá đạo” dựa trên sức mạnh bạo lực hoàn toàn đối lập với cách cai trị của “vương đạo”, lấy nhân nghĩa “lấy đức thu phục người

và chủ giáo hóa người” (Mạnh Tử, Tận tâm thượng) Mới đầu cục diện “ngũ bá” gồm có Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, Mục Công nước Tần, Trang Vương nước Sở Cuối thời Xuân thu có thêm Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn

Thời Xuân thu các lãnh chúa càng tăng cường bóc lột nhân dân lao động Người dân ngoài việc phải đi chiến trận, thực hiện các cuộc chinh phạt của các tập đoàn quý tộc, còn phải chịu sưu thuế, phu phen, lao dịch nặng nề Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhân dân càng thêm

khốn khổ Dân lưu vong “đồng trong ruộng ngoài bỏ hoang” [12, tr 252]

Trong khi đó, người dân đen phải chịu cảnh cùng cực thì các vương hầu, lãnh chúa quý tộc sống rất xa hoa, họ chỉ lo ăn chơi, hưởng lạc, cho xây cất những cung điện nguy nga, như cung Bồng đế của vua Tấn, rộng đến mấy dặm, trong cung chen chúc cung nữ Ra sức bóc lột người lao động, đẩy họ vào cuộc sống khốn khó Do đói rét, cực khổ, nạn trộm cướp nổi lên Bọn thống trị lại tăng cường

“hình pháp” làm cho đời sống nhân dân càng thêm nghẹt thở Kinh Thi đã viết về

sự bất công trong xã hội lúc bấy giờ và sự căm giận, oán trách của nhân dân đối

Trang 18

với bọn quý tộc thời nhà Chu như sau: “Có kẻ thì nghỉ ngơi an nhàn, có kẻ thì suốt ngày vất vả, có kẻ thì không hề nghe những lời than vãn bên ngoài, có kẻ thì khó nhọc không thở ra hơi Có kẻ thì nằm mát thảnh thơi, có kẻ thì vua bề bộn Có kẻ

thì chè chén vui chơi, có kẻ thì hằng buồn rầu lo sợ” [11, tr.21] Đó đây đã nổi lên

những cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô lệ Tất cả tình hình ấy đã đẩy mâu

thuẫn xã hội thời Xuân thu lên đến đỉnh cao

Tình trạng bất công đó kết hợp với những cuộc chiến tranh liên miên đã đẩy người lao động vào cảnh khốn cùng Họ đã đứng dậy đấu tranh chống lại nhà Chu, đẩy nhà Chu đến bờ vực diệt vong Sự rối loạn xã hội này cũng đã tạo ra tình trạng phi nhân tính, mất hết đạo đức trong mối quan hệ giữa con người với con người Tình trạng bề tôi giết vua, con giết cha không còn là chuyện lạ trong xã hội lúc bấy giờ Người ta ước tính có 36 vụ giết vua, còn những vụ con giết cha, anh giết em,

vợ chồng sát hại nhau không biết bao nhiêu mà kể

Việc các nước gây ra chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh chúa bóc lột tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn tới diệt vong của hàng loạt các nước chư hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triệu hội, triệu cống, chinh phạt giữa các nước chư hầu làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng tăng Đặc biệt những lễ nghi chặt chẽ tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ và làm hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, đến lúc này cũng bị xem thường Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời kỳ Xuân thu biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội như “ tiếm ngôi việt vị”, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ của chư hầu Cùng với nạn “tiếm ngôi việt vị”, chế độ triều cống cũng bị các nước chư hầu tự ý phá bỏ Thậm chí các nước lớn còn mượn danh Thiên tử bắt các nước nhỏ cống nạp và lệ thuộc vào mình Trong xã hội với bối cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra Tình trạng đó, theo Khổng Tử không phải xảy ra một sớm một chiều mà nó đã âm

ỉ mục rỗng từ lâu Chế độ lễ nghi nhà Chu trở thành các hình thức sáo rỗng Việc

Trang 19

“tang viếng, tế lễ, chúc mừng” trở thành thủ đoạn ngoại giao chứ không còn là lễ nghĩa của quan hệ gia tộc và trật tự xã hội

Cùng với đó là các cuộc chiến tranh thường xuyên giữa các nước, trong từng nước cũng luôn xảy ra những cuộc tranh giành đất đai, quyền thế giữa bọn quý tộc với nhau Năm 362 trước Công nguyên, trong tất cả những quốc gia lớn thời đó, có vương quốc Tần là mạnh nhất Tần Hiếu Công (381- 338 Tr CN) lên ngôi tích cực phát triển nông nghiệp, củng cố và chuẩn bị binh bị Do những cuộc cải cách của Thương Ưởng vào những năm từ 359 đến 350 trước Công nguyên về kinh tế, tổ chức hành chính, pháp luật, tiền tệ, thuế má, chế độ khen thưởng, quan

hệ gia trưởng và công xã nông thôn ở nước Tần hoàn toàn tan rã Chính từ những cải cách trên và sử dụng phương pháp pháp trị, nước Tần đã trở thành nước hùng mạnh nhất trong “thất hùng” Cục diện thời Chiến quốc đã làm nảy sinh những thủ đoạn ngoại giao và quân sự dùng để đối phó lẫn nhau giữa các nước, gọi là thuật “ hợp tung”và “liên hoành” Trong đó Tô Tần đã đề xuất “hợp tung”, hợp nhiều nước yếu để đánh nước mạnh và Trương Nghi đề xuất “liên hoành” tôn một nước mạnh để đánh nước yếu, giúp nước Tần lần lượt đánh bại sáu nước ở phía đông là nước Hàn, nước Triệu, nước Ngụy, nước Sở, nước Tề, nước Yên, chấm dứt các cuộc chiến tranh liên miên tàn khốc, thống nhất Trung Hoa thành một quốc gia phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên vào năm 221 trước Công nguyên Đó là

đế chế nhà Tần Biến cố này là dấu ấn ghi lại sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử chính trị Trung Quốc

Với chính sách hà khắc để đạt mục đích thống nhất về tư tưởng và chính trị trong xã hội, nhà Tần đã chủ trường “chôn nho, đốt sách” (phần thư khanh nho) cấm tất cả học thuyết đương thời, chỉ cho giữ lại và truyền bá các sách về y học, chiêm tinh, nông học, cùng với việc gây ra chiến tranh chinh phạt, huy động bằng bạo lực hàng chục vạn nông dân xây Vạn Lý Tường thành, đã tự ý phá hoại cơ sở kinh tế và chính trị của nước Tần Nhà Tần đứng đầu là Tần Thủy Hoàng đã tự làm mình sụp

đổ nhanh chóng Cuộc khởi nghĩa nông dân hùng mạnh do Lưu Bang lãnh đạo đã lật

Trang 20

đổ nhà Tần, xây dựng lên chính thể một triều đại mới đó là nhà Hán, năm 206 trước Công nguyên

Bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ cho thấy rằng, cách tổ chức và quản lý xã hội theo kiểu nhà Chu không còn thích hợp nữa Xã hội cần phải thiết lập lại trật tự kỷ cương, đưa vào thế ổn định để phát triển Trước vấn đề bức xúc của thời đại, các nhà tư tưởng không thể làm ngơ được Khắp nơi trên đất nước Trung Quốc rộng lớn xuất hiện nhiều trung tâm, tụ điểm của những kẻ sĩ Họ xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau, nhưng nhìn chung đều đứng trên lập trường của giai cấp mình để phê phán trật tự xã hội cũ Tình hình trên đã tạo nên cục diện “Bách gia tranh minh” mà kết quả là làm xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, nhiều học phái khác nhau trong thời Xuân thu- Chiến quốc Các nhà tư tưởng lúc bấy giờ đã đưa ra nhiều học thuyết tìm cách lý giải và đề xuất để ổn định trật tự xã hội Mặc gia cho rằng, chiến tranh sinh ra đau khổ là vì con người không thương yêu nhau Vì vậy, giáo dục con người ta lòng “nhân ái” Pháp gia cho rằng, xã hội loạn lạc là bởi pháp luật không phổ biến và nghiêm minh Phải giáo dục con người biết tuân thủ pháp, chính quyền phải dùng chính sách “pháp trị” Đạo gia lại cho rằng, con người sống không phải

lo gì cả vì sự phát triển là theo tự nhiên Vì vậy, trong cuộc sống không nên tranh giành, vì “ mình không tranh giành với ai, thì không ai tranh giành với mình” Còn với Nho gia, một học thuyết lớn nhất trong các học thuyết thời bấy giờ, mong muốn đưa xã hội trở về hữu đạo, trở lại với thời kỳ thanh bình và thịnh trị của thời Nghiêu Thuấn Với mục tiêu đó, Nho gia đã chủ trương dùng đường lối “đức trị”

dùng đạo đức để ổn định trật tự xã hội

1.1.2 Tiền đề lý luận và quá trình hình thành đạo đức Nho giáo Tiên Tần

Về văn hóa: Cùng với thực tiễn lịch sử xã hội, những tri thức về khoa học,

văn hóa khá phong phú của nhân dân Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc như thiên văn, địa lý, sinh vật học, văn học, đã góp phần không chỉ thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội phát triển mà còn là những tiền đề làm nảy sinh những tư tưởng

triết hoc ở Trung Quốc cổ đại [11, tr 34-39]

Trang 21

Về thiên văn học, vào thể kỷ thứ IV Tr CN, nhà thiên văn Trung Hoa là

Thạch Thân đã sáng tạo ra bảng tổng mục về các vì sao bao gồm 800 tinh tú Những biên niên lịch sử ở thế kỷ II Tr CN đã có nói tới cuộc du lịch trên bộ, trong

đó, người Trung Quốc cổ đã biết sáng chế và sử dụng la bàn

Trên lĩnh vực y học, vào thời Chiến Quốc, những tri thức y học Trung Quốc

cổ đã kinh qua kinh nghiệm thực tiễn phong phú và lâu dài được tổng kết lại trong các cuốn sách y học hết sức quý báu như Hoàng Đế nội kinh, Thuần Nông bổn thảo kinh Các nhà y học thời kỳ này đã biết giải phẫu cơ thể người, biết các cơ quan nội tạng và hệ thống tuần hoàn khá rõ

Về toán học, người Trung Quốc cổ đại cũng đã đạt được một trình độ khá

cao Ngay vào thời Chiến quốc, các nhà bác học Trung Hoa đã biết rằng trong một tam giác vuông, bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của hai cạnh góc vuông, họ biết tính toán diện tích các hình vẽ

Về nông học và sinh vật học, trên cơ sở những kinh nghiệm lao động của

nhiều thế hệ, người Trung Hoa cổ đã xây dựng được cả một hệ thống các phương pháp canh tác chuyên canh, phương pháp trồng trọt theo thời vụ và kỹ thuật “dẫn thủy nhập điền” [12, tr.256]

Về văn học, nhiều tác phẩm phản ánh tình hình chính trị, kinh tế, phong tục

tập quán, đời sống tình cảm và nguyện vọng của nhân dân lao động như tác phẩm Kinh Thi, Sở từ

Về sử học, thời cổ đại người Trung Quốc đã sáng tạo ra nhiều bộ sử có giá

trị như bộ Xuân thu, Tả truyện, Quốc ngữ

Hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn lâu dài của nhân dân lao động, những tri thức khoa học mà nhân dân Trung Hoa đạt được đã góp phần thúc đẩy, phát triển đời sống tinh thần của xã hội Trung Quốc cổ đại Hơn thế nữa, nó còn góp phần phát triển trình độ nhận thức, làm cơ sở cho thế giới quan triết học nảy

nở và phát triển

Về tôn giáo, nhà Chu đề cao tư tưởng “Kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thờ

thượng đế”, “trời và người hợp nhất” Nhà Chu cho rằng, Trời là lực lượng có nhân

Trang 22

cách, có ý chí và có uy quyền tuyệt đối Chính vì vậy mà nhà Chu cho rằng, vì nhà

Ân không biết mệnh trời, hành động không hợp với mệnh trời, do vậy Thượng đế

đã trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân

Về đạo đức, tư tưởng đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm

nòng cốt Từ quan niệm chính trị - tôn giáo “Trời và người hợp nhất”, nhà Chu khẳng định rằng, vì các bậc tiên vương nhà Chu có Đức mà được sánh cùng thượng đế, được thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân , cho nên các vua đời sau phải biết kính cái đức đó, phải biết bồi dư ng nó để cho con cháu được hưởng nước, hưởng dân lâu dài Hiếu là thờ phụng tổ tiên, phải nhớ công lao của tổ tiên

mà giữ gìn phép tắc tổ tiên để lại Có cái đức Hiếu như vậy, mới nhận được mệnh trời mà được hưởng nước, hưởng dân mãi mãi Đây là quan niệm đạo đức nhằm củng cố và tuyên truyền sự tồn tại vĩnh viễn địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu và nhà nước quý tộc Chu Hai chữ “hiếu” và “đức” có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự hình thành đạo đức của Nho giáo trong đó có thuyết tam tòng, tứ đức Như vậy, học thuyết tam tòng, tứ đức của Nho giáo không phải là sản phẩm của sự tư biện thuần tuý của tư duy Nó được hình thành, phản ánh bối cảnh kinh tế - xã hội Trung Quốc đầy biến động thời Xuân Thu - Chiến Quốc và được phát triển ở các thời kỳ sau này

Chính trong thời đại lịch sử biến đổi toàn diện và sâu sắc đó đã đặt ra những vấn đề triết học, chính trị xã hội, luân lý đạo đức, kinh tế, pháp quyền, quân sự ngoại giao kích thích lòng người, khiến các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lý giải, để tìm ra các phương pháp giải quyết “cứu đời cứu người”, làm nảy sinh ra một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn Các nhà tư tưởng, các môn phái triết học đại diện cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp xã hội khác nhau, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại Nó thực sự trở thành đỉnh điểm của toàn bộ đời sống văn hóa tinh thần của xã hội Trung Hoa cổ đại, như một mốc son chói lọi trong lịch sử tư tưởng Phương Đông

Trang 23

Quá trình phát triển của đạo đức Nho giáo Tiên Tần

Theo Từ điển triết học Trung Quốc, Nho gia là một trong những trường

phái triết học lớn của Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc do Khổng Tử - nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục lớn sáng lập và được các môn đệ sau này phát triển

Chữ “Nho” bắt nguồn từ chữ “nhân”, đứng bên cạnh chữ “nhu” Cho nên chữ “Nho” bào hàm hai nghĩa: nghĩa thứ nhất, “Nho” tức là người mà xã hội cần

để giúp người giúp đời; nghĩa thứ hai, “Nho” là người học thấu đáo thánh hiền chờ đợi đem tài trí giúp đời Trước thời Xuân thu thường gọi là sĩ Từ cuối thời Xuân thu, trước yêu cầu của lịch sử, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tri thức và tư tưởng của đời trước, sáng lập nên học thuyết triết học đạo đức chính trị nổi tiếng,

gọi là Nho gia [ 13, tr 81]

Nho gia, Nho giáo, Nho học là những khái niệm, theo quan điểm thông thường là có ý nghĩa tương đồng, nhưng thực ra giữa chúng có sự khác biệt Nho gia là khái niệm chỉ một trường phái triết học như nhiều trường phái khác trong

“Bách gia chư tử” thời Tiên Tần Nho giáo nghĩa là đạo Nho, nhưng thực chất, Nho giáo không phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa của nó Nó không có hệ thống giáo lý, giới luật, giáo hội và tín đồ chặt chẽ như các tôn giáo khác, nhưng với sự ảnh hưởng rộng lớn của nó trong dân chúng và việc tôn sùng các bậc tiền hiền của Nho – được coi là bậc thánh hiền, đạo Nho hiển nhiên được coi như một tôn giáo Còn khái niệm Nho học chính là để chỉ học thuyết của Nho giáo

Tư tưởng của Nho giáo được thể hiện trong các tác phẩm được coi là kinh điển của Nho học đó là: Tứ thư gồm: Luận ngữ, Trung dung, Đại học, Mạnh Tử và Ngũ

kinh gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu [15, tr.489]

Nho giáo hình thành và phát triển liên tục qua nhiều thời đại khác nhau với những nội dung rất phong phú và phức tạp Trong quá trình lịch sử đó, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của mỗi thời đại mà nhiều nhà tư tưởng của Nho giáo ở giai đoạn sau lại có sự khác biệt đáng kể với những tư tưởng của Nho giáo ở giai đoạn trước

Trang 24

“Đạo” được người Trung Quốc nói đến rất sớm, sớm như những câu chuyện

về các ông vua trong truyền thuyết Trong Kinh Thư có ghi, khi truyền ngôi cho ông Vũ, vua Nghiêu nói: “Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi” (Lòng người nghiêng ngả, cái trung chính của đạo không còn giữ vững được nữa) Ở Hệ Từ trong Chu Dịch, người Trung Quốc gọi Hình nhi thượng là đạo để phân biệt với khí là Hình nhi hạ [64, tr.11]

Theo Từ điển triết học Trung Quốc “đạo”, danh từ đạo trong các sách cổ Tiên

Tần được ứng dụng rộng rãi, hàm ý bao quát các nội dung như hợp lý, chính đáng, trị bình, đạo lộ, lý tưởng, phương pháp thông đạt không những vậy, đạo còn có ý nghĩa trời có đạo trời, đất có đạo đất, người có đạo người, thầy có đạo thầy, tôi có đạo tôi Thậm chí, trí, nhân, dũng và ngũ luân cũng đều là đạo Nhưng điều làm cho

“đạo” trở thành một khái niệm có ý nghĩa triết học trọng yếu còn ở truyền thống hình thành và phát triển của hình nhi thượng học của triết học Trung Quốc, và sự ảnh hưởng rất lớn của khái niệm đạo phải kể đến công lao của Lão Tử trong tác

phẩm Đạo đức kinh và Trang Tử trong tác phẩm Nam Hoa Kinh [15, tr.138]

Khoảng thể kỷ thứ VI trước Công nguyên, Lão Tử đã có hẳn một cuốn sách

để nói về đạo Với ông đạo là nguyên thủy của vũ trụ, là khâu trung gian của sự liên hệ giữa vạn vật mà con người không thể trông thấy, không thể nghe thấy, không thể nắm bắt được nó

Xét theo quan điểm này thì đạo của Lão Tử vừa đề cập đến đạo của tự nhiên, vừa đề cập đến đạo của con người trong xã hội Đây không phải là cái đặc thù trong triết học của Lão Tử, mà đúng như Nguyễn Khắc Viện đã nhận xét :

“Trong tư tưởng của người Trung Quốc, đạo vừa là nguyên lý của vũ trụ, vừa là nguyên tắc sống chủ yếu của con người Sự hòa nhập trật tự vũ trụ với trật tự xã

hội luôn là nét tiêu biểu cho tư duy của người Trung Quốc” [68, tr.17] Trang Tử,

trong Nam Hoa kinh thiên Tri Bắc du viết “ Đạo không thể nghe được, cái gì nghe

được không phải là đạo Đạo không thể thấy được, cái gì thấy được không phải là đạo Đạo không thể đem ra giảng được, cái gì giảng được không phải là đạo Ai

Trang 25

biết được cái gì sinh ra hình thể thì không có hình thể Đạo không thể dùng tên mà

gọi được” [15, tr.140]

Đối với “Đức”, theo các nhà khảo cứu Trung Quốc, lần đầu xuất hiện trong

kim văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng khá nhiều Trong Đạo đức kinh, Lão Tử viết: “Khổng đức chi dung, duy đạo thị tòng”

(dáng của đức lớn, theo cùng với đạo) [67, tr.118] Với những vấn đề xã hội, đức

dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung, đức là sự biểu hiện của đạo Hai cái ấy cùng một nguồn gốc nhưng khác tên Xét chung theo chiều dài của lịch

sử, chữ “đức” của Trung Quốc được hiểu là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý, nó đồng nghĩa với đạo

Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo từ thời Xuân thu – Chiến quốc đến thời kỳ phong kiến có thể khái quát thành bốn giai đoạn chính đó là: Nho giáo thời kỳ Tiên Tần, Nho giáo thời kỳ Lư ng Hán, Nho giáo thời kỳ Tống – Minh và Nho giáo thời nhà Thanh Trong bốn giai đoạn đó thì Nho giáo thời kỳ Tiền Tần là học phái đại biểu cho lợi ích của giai cấp chủ nô đang dần suy tàn thời

kỳ Xuân thu – Chiến quốc Người sáng lập ra Nho gia là nhà tư tưởng nổi tiếng Khổng Tử và các môn đồ của ông là Mạnh Tử và Tuân Tử Do vậy, học thuyết của Nho gia còn gọi là Nho học hay đạo Khổng – Mạnh

Khổng Tử (551- 497 tr CN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ thuộc nước Lỗ Theo Tư Mã Thiên, tổ tiên của Khổng Tử thuộc dòng dõi công hầu nước Tống nhưng do những biến loạn về chính trị mà phải chạy sang nước Lỗ Đến đời phụ thân Khổng Tử là Thúc Lương Ngột thì gia thế đã sa sút Khổng Tử mồ côi cha khi mới lên 3 tuổi nên suốt thời niên thiếu ông

đã sống cùng với mẹ trong cảnh bần hàn Dù nhà nghèo, song ngay từ nhỏ Khổng

Tử đã nổi tiếng là người thông minh, hiếu học và thích chơi trò tế lễ [64, tr.23]

Khổng Tử là người sáng lập ra trường phái Nho gia vào cuối thời Xuân thu Suốt đời vì mong muốn cải biến xã hội, giáo hóa đạo đức con người, cứu thiên hạ Khổng Tử đã quên mình bôn ba khắp nơi du thuyền các nước chư hầu để thực hiện rộng rãi chủ trương nhân trị, khôi phục chế độ tông pháp nhà Chu đã suy vong

Trang 26

Đầu tiên ông qua nước Vệ Không bao lâu lại qua nước Tần Khi qua đất Khuông thuộc nước Vệ ông bị người Khuông vây hãm (vì tưởng lầm ông là Dương Hổ, một kẻ tàn bạo ngược đãi người Khuông) Từ nước Khuông ông đi đất Bồ, sau đó lại trở về nước Vệ Sau Khổng Tử lại sang nước Tống, bị quan Tư mã Hoàn Khôi mưu sát, ông bèn đi qua nước Trịnh Rồi đến nước Tần, sau ba năm sau về nước

Vệ Vua nước Vệ Linh Công không dùng, ông lại về nước Tần, sang nước Sái, nước Sở, rồi lại về nước Vệ

Ở thời đại của Khổng Tử, đất nước Trung Hoa có nhiều biến động to lớn và sâu sắc Đó là thời kỳ chuyển biến từ xã hội nô lệ sang xã hội phong kiến Chế độ nhà Chu mục nát và đang trên đà sụp đổ không thể tránh khỏi Vua Chu vẫn giữ danh thiên tử nhưng mất hết quyền hành Một số chư hầu mạnh lên tìm cách thôn tính lẫn nhau để xưng hùng, xưng bá Thời đại của Khổng Tử là thời đại “vương đạo” suy vi, “ bá đạo” nổi lên, chế độ tông pháp nhà Chu đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi Những cuộc chiến tranh liên miên và tàn khốc đã khiến cho đất nước rơi vào cảnh nhồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn Bức tranh toàn cảnh xã hội Trung Quốc ở giai đoạn này là sự khủng hoảng về chính trị - xã hội và đạo đức luân lý triết học sâu sắc Chính vì thế, Khổng Tử cùng Tề Cảnh Công bàn về chính trị và thời cuộc, vua nước Tề phải thừa nhận: “Nghĩ như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, dẫu ta có lúa đầy kho có chắc được ngồi

yên mà ăn chăng”[38, tr 198]

Để cứu vãn xã hội khỏi tình trạng bế tắc và suy sụp thì cần phải có biện pháp hữu hiệu để tái lập trật tự, đưa xã hội từ loạn thành trị Đứng trên lập trường của một bộ phận cấp tiến trong tầng lớp chủ nô quý tộc, Khổng Tử chủ trương lập lại trật tự, kỷ cương cũ của nhà Chu nhưng không được vua nước Lỗ trọng dụng Ông dời nước Lỗ đi đến các nước chư hầu khác mong muốn được mang lý tưởng cải tạo xã hội ra giúp nước, trị dân, cứu đời Nhưng đến đâu cũng không thành công Cuối đời, nhận thấy sự bất lực trong công việc chính trị, Khổng Tử về nước

Lỗ mở trưởng dạy học và viết sách Môn đệ của ông chép lại những lời ông dạy và những lời đàm đạo, đối đáp với vua các nước chư hầu, làm thành bộ Luận ngữ

Trang 27

Ông hệ thống hóa những tri thức, tư tưởng đời trước và quan điểm của ông thành học thuyết đạo đức – chính trị nổi tiếng, gọi là Nho giáo

Khổng Tử thiết lập một hệ thống triết học bắt đầu từ sự đề cao “trung hòa”,

“trung dung” đi đến quan điểm “thiên lý”, “thiên mệnh” coi đó là lý màu nhiệm lưu hành trong trời đất, chi phối vạn vật Từ đó ông nhấn mạnh quan điểm tri mệnh

úy nhiệm, thuận mệnh và tin vào số mệnh “tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên” [15, tr 489] Biểu hiện của đạo trời hay “Thiên lý” trong đời sống con người đó là đạo “trung thứ” là “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” là cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác, là “trung” đối với mình và “thứ” đối với người Đó là đạo làm người, là nhân đức giống như Khổng Tử thường nói: “Đạo của ta chỉ gom vào một lẽ mà thông suốt tất cả ấy là thứ” [15, tr.489] Để đạt được nhân con người ta phải “khắc kỷ phục lễ” với “chính danh định phận”, duy trì trật tự

xã hội theo thứ bậc, tôn ti của chế độ tông pháp nhà Chu được cải biến đi Trong

Điểm mẫu chốt trong triết học Khổng Tử là tư tưởng “đức trị” hay “nhân

trị” Ông chủ trương “vi chính dĩ tức” [15, tr.490], tức lấy cái đức để làm chính trị,

dùng đức nhân để thu phục thiên hạ, thi hành rộng rãi phương pháp lễ trị, để trị nước với cương lĩnh “khắc kỷ phục lễ” [15, tr.490] nhằm phục hồi chế độ tông pháp nhà Chu, bảo vệ lợi ích và địa vị thống trị của giai cấp quý tộc chủ nô

Khổng Tử trở về quê hương của mình vào năm 484 tr CN, khi đã 68 tuổi là nước Lỗ, sau cuộc hành trình mười ba năm chu du, truyền bá học thuyết của mình nhưng không được vua các nước chư hầu trọng dụng, ông mở trường dạy học, san

Trang 28

dịch Kinh Thi, Kinh Thư, hiệu đính Kinh Lễ, Kinh Nhạc, giải thích Kinh Dịch, trước tác Kinh Xuân Thu Ông mất vào năm thứ 16 đời Lỗ Ai Công, tức năm 479

tr.CN [12, tr.261]

Sau khi Khổng Tử mất, nhiều thế hệ học trò nối tiếp đã phát triển tư tưởng của ông thành một trường phái triết học lớn ảnh hướng sâu rộng thời bấy giờ Từ cuối thời Xuân thu, những mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng sâu sắc Trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực quý tộc cũ, tầng lớp địa chủ mới dựa vào học thuyết của Pháp gia xây dựng, củng cố chính quyền nhà nước và chủ trương dùng bạo lực, chiến tranh để thôn tính lẫn nhau, thâu tóm thiên hạ Đặc biệt, thời Chiến Quốc, đất nước Trung Hoa rơi vào cảnh nội chiến triền miên, xã hội không ngớt xảy ra những cuộc tranh luận Ngay các nhà Nho lúc đó cũng thường có những quan điểm chống đối lẫn nhau Bên cạnh đó, Dương Chu, Mặc Định và các phái khác nổi lên ra sức bài xích Nho giáo

Người thứ hai của Nho gia thời kỳ Tiên Tần, tiếp tục những tư tưởng của Khổng Tử là Mạnh Tử hay Mạnh Kha (372 – 289 tr CN) Đứng trên lập trường của giai cấp quý tộc chủ nô, Mạnh Tử đã quy các vấn đề của triết học Nho gia vào

“nhân chính” – một học thuyết chính trị đặc sắc Ông phê phán đường lối trị nước

“vô vi”, “vị ngã” của Dương Chu cũng như tư tưởng “Kiêm ái” của Mặc gia, kiêm

ái là không có vua tôi, vị ngã là không có cha con, là cầm thú; đồng thời phán đối đường lối trị nước của Pháp gia, tư tưởng đại diện cho tầng lớp quý tộc mới đang hình thành Mạnh Tử gương cao ngọn cờ “pháp tiên vương” đề xướng “vương đạo”, “nhân chính” bảo vệ chế độ “tỉnh điền”, tuyên truyền nhân nghĩa, dân bản:

“dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” mong muốn khôi phục lại chế độ nô lệ, bảo vệ lợi ích cho giai cấp quý tộc cũ

Trong hệ thống triết học của mình, Mạnh Tử ít bàn về vũ trụ, song những

gì ông đề cập tới đều nhất quán duy tâm chủ quan của ông Ông chủ trương “vạn vật đều có đủ trong ta” [11, tr.229] “Không có việc gì xảy ra lại không do mệnh trời hễ mình hết lòng hết dạ thì mình biết được bản tính của mình Hễ biết được

bản tính của mình tức là biết được trời vậy”[11, tr.217] Vì thế không cần phải đi

Trang 29

tìm chân lý ở ngoài thế giới khách quan, mà chỉ cần phát huy các quy tắc đạo đức nội tâm “tận tậm” thì có thể biết được trời

Vấn đề then chốt trong triết học của Mạnh Tử là học thuyết về tính thiện Theo Mạnh Tử, tính thiện là bản nguyên tinh thần vốn có, là thiên lý trời phú cho con người Nó được thể hiện qua bốn đức lớn là nhân, nghĩa, lễ, trí Bốn đức này bắt nguồn từ “tứ đoan” (biết thương xót, biết hổ thẹn, biết kính nhường, biết phân

biệt phải trái) [11, tr.222] Tứ đoan chính là đầu mối của bốn đức lớn : nhân, nghĩa,

lễ, trí Thiện đoan vốn có sẵn trong tâm của mỗi người, nếu ai khéo bảo tồn, nuôi

dư ng thì mới có thể trở thành thánh nhân được Còn nếu đánh mất nó hay để nó mai một, suy tàn thì sẽ trở thành nhỏ nhen, ti tiện Vậy nên con người phải toàn tâm, dư ng tính, dư ng khí

Tuy nhiên, khi Mạnh Tử cho rằng những quy tắc đạo đức xã hội là ý thức và tình cảm “tiên thiên”, do trời phú cho con người thì quan điểm đạo đức luân lý của ông vẫn hằn sâu dấu ấn giai cấp và mang đậm màu sắc của chủ nghĩa duy tâm thần

bí Thực chất của những quan điểm ấy chính là nhằm khẳng định nguồn gốc tri thức và hành vi đạo đức của con người là do thần mở đường chỉ bảo Vì thế học thuyết đạo đức của ông đã trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho lợi ích của giai cấp quý tộc, mưu toan chứng minh rằng giáo điều đạo đức và chế độ phụ quyền gia trưởng của bọn vua chúa thống trị là chân lý phổ biến vĩnh viễn

Trong học thuyết về luân lý đạo đức, Mạnh Tử đã cố gắng lý giải, khẳng định bản tính thiện của con người và nhiệt tâm giáo hóa con người, cải biến xã hội cho một ngày tốt đẹp hơn Đó là thiện chí thể hiện tính nhân bản sâu sắc trong triết học của ông Với tư tưởng khá phong phú qua các phạm trù đạo đức, tâm lý như tâm, tính, khí, chí, nhân, nghĩa, lương năng, lương tri cùng những quan điểm đặc sắc về những biện pháp giáo dục con ngươi của mình, Mạnh Tử đã đóng góp một phần quan trọng vào kho tàng lý luận về giáo dục lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại

Xuất phát từ đạo nhân chính, với “lòng chẳng n ” đối với dân, tận mắt chứng kiến cảnh chiến tranh tàn sát khốc liệt giữa các nước chư hầu diễn ra liên miên trong thời kỳ Chiến quốc, Mạnh Tử đã tỏ thái độ căm ghét chiến tranh và

Trang 30

cực lực lên án các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính lẫn nhau giữa các tập đoàn quý tộc đương thời Từ đó ông chủ trương: “Khi thiên hạ có đạo thì đem đạo theo thân mà ra làm quan Khi thiên hạ không có đạo thì đem thân theo đạo

mà về lui ở ẩn” [11, tr.252]

Tổng kết lại toàn bộ lịch sử, Mạnh Tử đã chia đạo trị nước của các bậc vua chúa Trung Quốc ra thành hai loại, hai phương pháp đối lập nhau Đó là vương chính và bá chính Vương chính là đạo trị nước của vị vua tài ba, đức độ, lấy nhân nghĩa làm gốc của việc chính trị Trái lại, bá chính là cách cai trị bằng bạo lực và

sự áp bức, khiến người ta quy mà không hề phục

Như vậy, trong hệ thống triết học của Mạnh Tử tuy còn mang nặng tính chất duy tâm, nhất là những quan điểm của ông về bản tính con người, về lý luận nhận thức có tính chất “tiên nghiệm” thần bí và sự tôn sùng mệnh trời Nhưng những

tư tưởng về lý luận giáo dục, về chính trị - xã hội, với học thuyết “nhân chính” và quan điểm nhân bản sâu sắc, cùng với những biện pháp cải cách kinh tế, xã hội thiết thực của ông đã có ý nghĩa tích cực đối với xã hội đương thời và là viên ngọc sáng điểm tô cho kho tàng văn hóa truyền thống Trung Quốc Với những quan điểm, tư tưởng của Mạnh Tử mặc dù ít nhiều bị chi phối bởi lợi ích giai cấp của bọn quý tộc đương thời, nhưng nó luôn là tấm gương phán ánh khá rõ nét thực trạng xã hội, xu thế thời đại, cuộc sống khắc khoải và ước vọng sâu xa của quần chúng nhân dân lao động Trung Hoa trong thời Xuân thu – Chiến quốc

Với Mạnh Tử thì con tim ông luôn hướng về nhân dân, nhưng khối óc của ông lại thuộc về giai cấp mà ông đại diện Mặc dù vậy, Mạnh Tử đã tiếp nối một cách xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử, làm cho Nho giáo trở thành “đạo thống”, được lưu truyền rộng rãi và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại

Về phương diện lịch sử, Mạnh Tử đã xứng đáng được đời sau tôn vinh ông là bậc Á

thánh của Nho giáo [11, tr 254]

Cuối thời Chiến quốc, trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, đã xuất hiện nhà triết học duy vật kiệt xuất là Tuân Tử còn được gọi Tuân Huống, Ông đã tiếp thu một cách có phê phán tư tưởng duy vật của nhiều

Trang 31

môn phái triết học trước kia và phát triển chủ nghĩa duy vật cổ đại lên một trình

độ cao hơn

Tuân Tử (315-230 tr.CN) là một trong những Nho gia lớn ở cuối thời Chiến

quốc Đó là thời kỳ xã hội Trung Hoa “như nước đổ cuồn cuộn” [11, tr.307], các

học phái triết học rất thịnh hành, các triết gia đua nhau xuất hiện, khiến người ta phải gọi đó là thời kỳ “Bách gia chư tử” Tuân Tử đã dựa trên thế giới giới quan duy vật và lối biện luận sâu sắc của mình để phản bác lại các học phái, đặc biệt là

sự phê phán của ông với quan điểm về “đạo” của Lão – Trang, học thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử, cùng với sự ngụy biện của các Danh gia biện giả khi luận về

“danh” và “thực” Điều đó chứng tỏ ông rất uyên bác, từng nghiên cứu kỹ các học thuyết thời bấy giờ và sự phê phán của ông đối với các học thuyết ấy còn nhiều quan điểm rất có giá trị

Về quan điểm luân lý đạo đức, khác với tư tưởng của Mạnh Tử và các học thuyết khác, Tuân Tử cho rằng bản tính con người là ác S dĩ ông cho bản tính con người là ác, vì theo ông “tính” chính là bản năng sinh lý của con người Theo bản năng sinh lý ấy thì “con người ta sinh ra là có lòng ham muốn” [11, tr.325] Vì thế, Tuân Tử khẳng định: Bản tính con người ta là ác, thiện là do người làm ra

Dựa trên quan điểm sai lầm đó, Tuân Tử đã chứng minh tính hợp lý tất yếu của thế chế nhà nước và các khuôn phép lễ nghĩa của giai cấp quý tộc phong kiến đương thời: “Tính ác ắt hưng thánh vương, quý lễ nghĩa Cho nên sinh ra cái khuôn uốn là vì có cây cong queo, bày ra dây mực là vì có sự không thẳng, lập quân thượng sinh lễ nghĩa là vì có người ác vậy” [11, tr.326] Tuy vậy, trong học thuyết tính ác của Tuân Tử cũng có những nhân tố hợp lý Ông vạch rõ hành vi đạo đức của con người là do thói quen lâu ngày mà thành Phẩm chất con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và kết quả của sự học tập, tu dư ng lâu ngày mà nên Quan điểm của Tuân Tử là đề cao “nhân nghĩa”, “lễ nhạc”, cùng những chủ trương

“chính danh”, trọng vương, khinh bá của Khổng – Mạnh

Mặc dù, cái nhìn của Tuân Tử đối với những vấn đề xã hội còn nhiều yếu tố duy tâm, và những quan điểm triết học của ông luôn liên hệ khăng khít với lợi ích

Trang 32

của giai cấp địa chủ quý tộc mới, bảo vệ tích cực cho chế độ chuyên chế phong kiến đang lên ở cuối thời Chiến quốc Nhưng trong điều kiện lịch sử đương thời, những thành quả đạt được trong hệ thống triết học của ông, như chủ nghĩa duy vật

vô thần triệt để trong quan niệm về tự nhiên, sự phát triển về lý luận nhận thức và lôgic học cũng như quan điểm về vai trò tích cực của con người trong hoạt động nhận thức và cải biến thế giới, so với những quan điểm duy tâm, thần bí, chiết trung, ngụy biện của các nhà triết học đại diện cho quan điểm của giai cấp quý tộc

cũ, đã là một bước tiến bộ trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại

Trải qua hơn hai ngàn năm tồn tại và phát triển, Nho giáo có ảnh hưởng to lớn và sâu sắc trong lịch sử xã hội Trung Quốc Vấn đề cơ bản, bao quát nhất trong học thuyết Nho giáo là vấn đề đạo đức và chính trị xã hội Đó là triết lý về đạo đức, một triết lý quan tâm đến mối quan hệ giữa con người với con người hơn là quan hệ giữa con người với tự nhiên

1.2 KHÁI QUÁT NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TIÊN TẦN VÀ HỌC THUYẾT TAM TÒNG, TỨ ĐỨC

1.2.1 Khái quát nội dung và đặc điểm cơ bản của đạo đức Nho giáo Tiên Tần

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong lĩnh vực của đời sống

xã hội không trừ lĩnh vực nào Đạo đức khác với những hình thức điều chỉnh hoạt động quần chúng khác như pháp quyền, những quy chế hành chính sản xuất, những sắc lệnh nhà nước, những truyền thống dân tộc ở phương thức luận chứng

và thực hiện những yêu cầu của mình Trong đạo đức, sự cần thiết của xã hội, những nhu cầu, lợi ích của xã hội hoặc của các giai cấp biểu hiện dưới hình thức những quy định và những sự đánh giá đã được mọi người thừa nhận và đã hình thành một cách tự phát, được củng cố bằng sức mạnh của tấm gương quần chúng, của thói quen, của phong tục, dư luận xã hội

Tư tưởng đạo đức của Nho giáo Tiên Tần chịu sự chi phối của thế giới quan người Trung Quốc cổ đại Cùng với quan điểm về vũ trụ và con người, học thuyết về

Trang 33

luân lý đạo đức, chính trị xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi và là thể thống nhất hữu cơ trong triết học của Khổng Tử nói riêng và trong triết học đạo đức Nho

giáo Tiên Tần nói chung trên tư thế “Thiên nhân tương đồng” [12, tr 264]

Tư tưởng đạo đức của Nho giáo Tiên Tần được thể hiện qua các nội dung

cơ bản như: Tam cương, ngũ thường, quan niệm về mẫu người quân tử, học thuyết chính danh Trong đó tam cương, ngũ thường là nội dung cơ bản trong chủ trương xác lập trật tự xã hội của Nho giáo Đạo cương – thường có tính hai

mặt Thứ nhất, đạo cương- thường góp phần điều chỉnh hành vi của con người,

đưa con người vào khuôn phép do chế độ lễ pháp và tông pháp của nhà Chu trước đây và các triều đại phong kiến sau này đặt ra, đạo cương – thường là những nhân tố quan trọng làm cho xã hội ổn định, trật tự, có trên có dưới, là cơ

sở đảm bảo cho quyền thống trị của thiên tử Thứ hai, đạo cương – thường là sợi

dây trói buộc con người, đặc biệt là đối với người phụ nữ, làm mất đi tính sáng tạo trong suy nghĩ, trong hành động và làm cho người phụ nữ trở nên thụ động

Theo đạo đức và luân lý của Nho giáo thì cái đạo làm người thông thường trong thiên hạ có năm bậc Nó phản ánh năm mối quan hệ phổ biến trong xã hội loài người Đó là các mối quan hệ: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em và bầu bạn kết giao Để có thể xử lý tốt năm mối quan hệ đó, con người cần phải có năm cái đức thông thường đó là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Vì vậy, vấn đề luân lý, đạo đức của Nho giáo, về thực chất, cũng chính là vấn đề giải quyết năm mối quan hệ

đó trong xã hội

Trong quan hệ vua – tôi, Nho giáo chống lại việc duy trì ngôi vua theo

kiểu cha truyền con nối, lên án việc chức tước truyền theo huyết thống, dòng dõi Khổng Tử cho rằng người cầm quyền phải có đức, có tài có đức nhân Trong quan hệ giữa dân và vua, dân vì vua là “trung”, vua vì dân để được lòng dân tin cũng là “trung” vậy “Trung” của Khổng Tử chỉ đòi hỏi sự hết lòng và thành tâm thật ý trong quan hệ với nhau [11, tr.60]

Về đạo cha con, Khổng tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ “hiếu”

làm đầu và cha đối với con phải lấy lòng “từ ái” làm trọng Khổng Tử viết “

Trang 34

Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hạnh, tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả

vị hiếu hỹ” Có nghĩa là “Người cha còn sống thì xem chí hướng của người con; khi người cha mất thì xem việc làm của người con; nếu trong ba năm sau khi cha mất, người con không thay đổi đạo của người cha, mới có thể gọi là người con hiếu vậy” [59, tr.23]

Trong mối quan hệ giữa vợ - chồng, Nho giáo Tiên Tần đòi hỏi sự hòa

thuận, trong đó chồng là trụ cột gia đình, có trách nhiệm thương yêu, chăm lo cho

vợ con, người vợ phải chăm lo vun vén cho gia đình mình và gia đình chồng

Trong các phạm trù đạo đức : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, của Nho giáo Tiên Tần, chữ “nhân” được đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhất Nó được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người từ gia tộc đến xã hội Nó liên quan đến các phạm trù đạo đức, chính trị khác như một hệ thống triết lý chặt chẽ, nhất quán, tạo thành bản sắc riêng trong triết lý nhân sinh của Nho giáo Tiên Tần [12, tr.264] Trong triết học của Nho giáo Tiên Tần các phạm trù nhân, nghĩa, lễ, trí và tín có nội dung hết sức phong phú, thống nhất với nhau và luôn thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó luôn cố gắng giải đáp những vấn đề đặt ra của lịch sử và đây có lẽ là thành quả kết tinh rực

r nhất trong triết lý nhân sinh của Nho giáo Tiên Tần

Nho giáo đã đưa ra những tiêu chí đạo đức cơ bản trong mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội và với chính bản thân mình nhằm góp phần xây dựng những phẩm chất đạo đức cần thiết mà con người cần có để tạo ra sự ổn định về chính trị - xã hội lúc bấy giờ Đạo cương – thường là nguyên tắc chi phối mọi suy nghĩ và hành động của con người Nó trở thành khuôn vàng thước ngọc để đánh giá phẩm hạnh của con người

Với sự khởi xưởng của Khổng Tử, sự bổ sung và phát triển của Mạnh Tử

và Tuân Tử đạo đức Nho giáo thời kỳ Tiên Tần có những đặc điểm cơ bản:

Vấn đề cơ bản nhất trong tư tưởng đạo đức của Nho giáo Tiên Tần là xoay quanh vấn đề chính trị - xã hội, bởi vì:

Trang 35

Xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc là một xã hội loạn lạc, tình trạng phi nhân tính, phi đạo đức đang thống trị, chi phối đời sống xã hội Phần lớn các nhà hiền triết lúc bấy giờ đều cho rằng, nguyên nhân chính là do lòng tham lam, ích kỷ của con người, sự suy đồi đạo đức xã hội Do vậy, để lập lại kỷ cương trật tự của

xã hội, về chính trị đòi hỏi phải xây dựng một xã hội tốt về đạo đức Đó là một xã hội hòa bình, ổn định trật tự, trong đó con người phải biết trọng lễ nghĩa, lấy tình yêu thương con người mà đối xử với nhau

Khổng Tử đề xuất học thuyết chính danh để nhằm phát huy trách nhiệm, vị trí vai trò ở mỗi người trong xã hội loạn lạc Chính danh là điều căn bản của việc làm chính trị, đưa xã hội từ “loạn” thành “trị” và điều kiện để thực hiện, trau dồi nhân và lễ Có thể thấy rằng, quan điểm trung thứ, nhân - lễ - chính danh là vấn đề cốt lõi nhất chi phối toàn bộ những quan điểm về luân lý đạo đức cũng như chính trị xã hội, là cơ sở của đường lối đức trị, tạo nên bản sắc riêng trong triết lý chính trị - đạo đức của Khổng Tử

Tiếp đến, Mạnh Tử chủ trương “nhân chính”, “dân bản”, ông kịch liệt phê phán các nước dùng bạo lực thôn tính lẫn nhau Ông khuyên các bậc vua chúa phải

vì nhân nghĩa chứ không vì lợi “Phải xem dân là gốc của một nước, có dân mới có nước, có nước mới có vua Ý dân là ý trời Vì vậy, hễ ai được lòng dân chúng thì được làm vua thiên hạ.” [14, tr 60]

Tuân Tử với quan niệm về “tính ác”, ông cho rằng bản tính con người là ham lợi do đó dẫn đến tranh giành nhau gây ra tội ác Vì vậy, thánh nhân mới chế định thành ra lễ để uốn nắn bản tính của con người thành ra thiện Do quan niệm như vậy nên Tuân Tử rất coi trọng lễ và xem việc thực thi lễ là một yêu cầu có tính bắt buộc để xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, thái bình, thịnh trị Mặc dù

đề cao lễ song Tuân Tử coi trọng cả chính hình (pháp luật) Ông đòi hỏi người cầm quyền dùng hình pháp thì thưởng, phạt phải công minh, tức phạt không quá cái tội, ban thưởng tước lộc không vượt quá cái đức

Như vậy, cả Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử đều đặc biệt quan tâm đến vấn

đề con người và xã hội mà con người đó sinh sống Trong học thuyết của các ông,

Trang 36

những vấn đề chính trị gắn chặt với đạo đức luân lý làm cơ sở cho đường lối trị nước phải lấy nhân trị, lễ trị của Nho giáo làm rường cột

Đạo đức Nho giáo Tiên Tần chứa đựng nhiều giá trị mang tính nhân văn sâu sắc

Các đại biểu Nho giáo rất quan tâm đến con người, đề cao tư tưởng nhân nghĩa, tình yêu thương đối với con người Học thuyết về tính thiện dù còn mang nặng màu sắc duy tâm song cả Khổng Tử và Mạnh Tử đều muốn khơi dậy phần nhân tính con người, đẩy lùi và diệt trừ cái xấu, cổ vũ cho cái thiện, lên án cái ác

để xây dựng mối quan hệ hài hòa, tốt đẹp giữa người với người Trong đường lối “ đức trị” của Khổng Tử, đường lối “nhân chính”, “dân bản” của Mạnh Tử mặc dù vẫn còn tính chất ảo tưởng trong một xã hội có sự phân chia giai cấp song nó cũng chứa đựng giá trị nhân bản, nhân văn rất đáng trân trọng với mục tiêu cao cả là hướng tới con người và vì con người Do vậy, các Nho gia Tiên Tần đã cố gắng xây dựng nên một hệ thống lý luận về giáo dục nhằm giáo hóa con người đề cao cái thiện khá sâu sắc Từ tình yêu thương đối với con người mà trong đạo trị nước, các nhà hiền triết đề xuất đường lối trị nước, tức dùng “nhân”, “ lễ” để điều hành

và quản lý xã hội Mặc dù đường lối trị nước, chủ trương nhân chính, quan điểm thân dân còn mang tính chất ảo tưởng nhưng nó vẫn làm đẹp cho văn hóa tình người, phê phán đường lối pháp trị hà khắc của giai cấp thống trị đương thời Hoài bão của các nhà Nho là xây dựng một xã hội lý tưởng Đại đồng, thiên hạ là của chung, tài sản phân phối đồng đều, người ta chỉ nói với nhau những điều tín nghĩa Một xã hội như vậy khiến người già được sống trọn đời, trẻ thơ đều được chăm sóc Dù cho hoài bão ấy của Khổng Tử là không tưởng trong xã hội có giai cấp song nó cũng chứa đựng những giá trị nhân bản, nhân văn rất đáng trân trọng

Mặt khác, trong những quan điểm của mình, các triết gia Tiên Tần luôn đề cao vị trí, vai trò của mỗi người trong mối quan hệ với xã hội Có thể nói, con người trong quan điểm của Nho giáo không phải là con người chung chung, trừu tượng mà là con người cụ thể có ý thức, trách nhiệm, có lương tâm, am hiểu nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Điều này có thể thấy rõ trong quan điểm về “ngũ luân”, các đại

Trang 37

biểu Nho giáo Tiên Tần đã khéo lồng ghép các mối quan hệ xã hội thông qua những chuẩn mực đạo đức như trung, hiếu, nghĩa, tín, tam tòng, tứ đức nhằm phát huy vị trí, vai trò và sự bình đẳng trong mối quan hệ giữa người với người trong xã hội

Những vấn đề cơ bản của Nho giáo đã được Nho giáo thời Tiên Tần nêu ra

và lý giải một cách thấu đáo So với Nho giáo thời Hán, Nho giáo thời Tống- Minh

và Nho giáo nhà Thanh sau này thì các yếu tố tôn giáo, thần bí trong đạo đức Nho giáo Tiên Tần mờ nhạt hơn

Khi lý giải mối quan hệ giữa trời và người mặc dù không phải là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nho Tiên Tần song những vấn đề này đã được đề cập đến trong học thuyết Thiên mệnh Lý giải mối quan hệ xã hội giữa người với người, đặc biệt là các mối quan hệ cơ bản làm rường cột cho một xã hội như: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè mà Nho giáo gọi là Ngũ luân thường xuyên được đề cập đến trong các tác phẩm như Luận ngữ, Trung dung, Đại học, Mạnh

Tử Các phạm trù đạo đức như: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, tam tòng, tứ đức đã được các bậc hiền triết Nho giáo Tiên Tần bàn đến khá kỹ và sâu sắc Trong đạo trị nước thì những vấn đề như tư cách của người cầm quyền, thái độ tu thân, đối nhân xử thế của người quân tử và những chuẩn mực đạo đức của người phụ nữ trong xã hội

đã được Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử giảng giải một cách thấu đáo Những nội

dung trên được lưu giữ trong suốt lịch sử phát triển của Nho giáo

Trong tư tưởng triết học, Khổng Tử không chia ra các vấn đề cơ bản của triết học như bản thể luận, nhận thức luận như trong triết học phương Tây, dù các ông có đề cập đến “đạo”, “trời”, “người” Đây cũng là điểm khác biệt của Nho giáo Khổng Tử

Khổng Tử chỉ chú trọng lý giải mối quan hệ giữa người với người trên bình diện đạo đức – chính trị Trong học thuyết Thiên mệnh, Khổng Tử thừa nhận có trời đất, quỷ thần là lực lượng siêu nhiên có ảnh hưởng đến thế giới con người Ông nói rằng: “Người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ người có đức lớn, sợ lời nói của thánh nhân” [64, tr.260] Mặc dù, thừa nhận có quỷ thần nhưng thái độ

Trang 38

của Khổng Tử là vừa tôn kính nhưng thận trọng, xa lánh để không rơi vào mê tín

mù quáng Ông cũng né tránh, không giải thích trời đất vạn vật và loài người sinh

ra và kết thúc như thế nào bởi thế giới siêu nhiên không phải là mục đích mà con người hướng tới Mục đích mà Khổng Tử hướng đến đó là giải quyết những vấn đề tồn tại của đời sống trần tục nhằm xây dựng một xã hội thái bình, vua sáng tôi hiền, cha con, anh em hòa thuận Do đó, trong quan điểm của mình, Nho giáo Khổng – Mạnh chủ trương đào tạo những Nho sĩ, người quân tử phải biết “Tu

thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” [11, tr 80]

Khác với quan điểm Thiên mệnh của Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử đã thể hiện quan điểm duy vật về tự nhiên và đề cao vai trò nhân tố chủ quan của con người Ông cho rằng xã hội loạn hay trị, thịnh hay suy đều do con người chứ không phải trời định Tuân Tử cho rằng trời không phải là vị chúa tế tối cao có nhân cách mà chỉ là quy luật khách quan vốn có của tự nhiên Vai trò của con người là nhận thức và vận dụng quy luật tự nhiên để cải tạo phục vụ cho cuộc sống con người

Như vậy, với sự khởi xưởng của Khổng Tử, sự bổ sung và phát triển của Mạnh Tử và Tuân Tử, tư tưởng đạo đức của Nho giáo Tiên Tần có giá trị rất lớn về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong chủ trương ổn định trật tự xã hội và giáo dục đạo đức con người Thực tế cho thấy các nhà tư tưởng đời sau thông qua sự chú giải mà có thể thu hẹp hoặc mở rộng những nội dung đạo đức của Nho giáo Tiên Tần nhưng vẫn trên danh nghĩa bảo vệ và phát triển nó

1.2.2 Nội dung học thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo Tiên Tần

Bên cạnh việc xây dựng những chuẩn mực đạo đức cho các tầng lớp trong

xã hội, như khi xây dựng nam giới trở thành quân tử - đại trượng phu - thánh nhân - mẫu người lý tưởng trong xã hội lý tưởng, thì Nho giáo Tiên Tần cũng ít nhiều xây dựng nên bóng dáng của người phụ nữ trong xã hội Mặc dù bóng dáng của họ xuất hiện trong các mối quan hệ tam cương, ngũ thường một cách thụ động, mờ nhạt Một số vấn đề trong Nho giáo đề cập đến người phụ nữ như: Học thuyết luân lý đạo đức phong kiến; quan niệm về đạo làm vợ, đạo làm con; mối

Trang 39

quan hệ với mọi người trong gia tộc, ngoài xã hội; quan niệm về phạm vi, lĩnh vực, công việc mà họ được phép tham gia Tuy nhiên, Nho giáo Tiên Tần vẫn xác định họ là lực lượng không thể thiếu để xây dựng một xã hội ổn định Về số phận của họ cũng như số phận con người nói chung, theo Khổng Tử, con người có mệnh và họ không thể cư ng lại mệnh Còn Mạnh Tử cho rằng, trời an bài địa vị

xã hội của con người Chính vì thế Đại thi hào Nguyễn Du phải thốt ra: “Ngẫm ra muôn sự tại trời /Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao” Quan điểm này được xây dựng trên lập trường của giai cấp thống trị,

nó phục vụ cho mục đích của giai cấp thống trị, nó buộc con người nói chung, đặc biệt là phụ nữ nói riêng vào những khuôn phép nhất định của xã hội, nó xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, sự bất công trong xã hội, khiến cho người phụ nữ luôn cam chịu, nhẫn nhục, bằng lòng với số phận của mình

Như vậy, vấn đề người phụ nữ trong đạo đức Nho giáo đặc biệt là Nho giáo Tiên Tần không được bàn luận nhiều và không hệ thống Có thể nói, trung tâm của vấn đề này chính là học thuyết tam tòng, tứ đức Nó được coi là một chuẩn mực cơ bản để xây dựng người phụ nữ xưa

Học thuyết tam tòng trong Nho giáo Tiên Tần

Khổng Tử cho rằng, phụ nữ là một lực lượng đông đảo để xây dựng xã hội, nhưng trên cơ sở trọng nam, khinh nữ nên ông không bàn nhiều về phụ nữ, không xây dựng mẫu người phụ nữ cụ thể cho xã hội đương thời Người phụ nữ nói chung, người vợ nói riêng chỉ được nhận sự giáo hóa trong gia đình ở cha mẹ

đẻ hoặc nhà chồng Có thể nói, trong xã hội Trung Quốc, thời Tiên Tần, người phụ nữ không được thụ hưởng cơ hội giáo dục như nam giới, các loại trường học đều không tiếp nhận con gái vào học Phụ nữ không được tham gia vào các kỳ

thi Bộ máy quản lý nhà nước đều do nam giới đảm nhiệm [8, tr.225] Tuy nhiên,

Khổng Tử đưa ra các chuẩn mực đạo đức để giáo hóa phụ nữ phải tuân theo đó là học thuyết tam tòng

Thuyết tam tòng có nguồn gốc từ Nghi lễ, Tang phục, Tử Hạ truyện có ghi: Phụ nhân hữu tam tòng chi nghĩa, vô chuyên dụng chi đạo, cố vị giá tòng phụ, ký

Trang 40

giá tòng phu, phu tử tòng tử (Nghĩa là: Người đàn bà có cái nghĩa phải theo ba điều, mà không có cái lễ (đạo) làm theo ý mình, cho nên, khi chưa lấy chồng thì theo cha, khi đã lấy chồng thì theo chồng, khi chồng chết thì theo con) Vì vậy, theo Nho giáo Tiên Tần, phụ nữ có ba điều phải tuân theo, không có quyền tự định đoạt theo ý mình:

1 Tại gia tòng phụ: có nghĩa là khi còn sống ở nhà từ bé đến lúc trưởng thành, người con gái có hiếu phải nghe theo lời người cha dạy, đặc biệt trong việc sắp đặt hôn nhân của họ Mạnh Tử đã từng nói: “Nếu chẳng đợi lệnh cha mẹ, chẳng chờ lời mai mối, mà lén dùi lỗ để nhìn nhau, vượt tường để theo nhau, thì cha mẹ và người trong xứ đều khinh rẻ mình” (Bất đãi phụ mẫu chi mệnh, mối trước chi ngôn, toàn huyệt khích tương khuy, du tường tương tùng, tắc phụ mẫu,

quốc dân giai tiện chí) [35, tr.14]

2 Xuất giá tòng phu: có nghĩa là người đàn bà khi lấy chồng phải nghe theo chồng, chấp hành ý kiến chồng chỉ đạo, không được cãi lại Đó là sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng

3 Phu tử tòng tử: nếu chồng chết, người mẹ phải nghe theo lời con trai trưởng Đây cũng thể hiện một quan điểm bất bình đẳng đối với phụ nữ, suốt đời

họ không ngóc đầu lên được, dù chồng đã chết, con cái đã trưởng thành Khi chồng chết, tuyệt đối đại đa số phụ nữ ở góa, nuôi con, không tái hôn lại Khi con đã trưởng thành, họ thường ở với con cả hoặc con út Họ tiếp tục giúp đ con cái nhiều việc trong gia đình mà không ngồi chơi không Họ có những kinh nghiệm sống có thể truyền đạt cho con cháu để xử lý những khó khăn xảy ra trong cuộc

sống hàng ngày Họ có thể ngăn cẳn con cái không làm điều xấu [58, tr 91]

Đạo hiếu của người con đối với cha mẹ, người vợ đối với chồng, người mẹ đối với con cái được thể hiện rõ nét nhất trong Kinh Lễ, Khổng học đăng và Đạo hiếu trong Nho gia

Kinh lễ hay còn gọi là Lễ ký là một trong năm kinh bốn sách của Khổng Tử

tương truyền do các môn đệ của Khổng Tử thời Chiến quốc viết, ghi chép các lễ nghi thời trước, được dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự xã hội

Ngày đăng: 25/04/2021, 12:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w