1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý kinh doanh khách hàng là trên hết của aeon mall tân phú thành phố hồ chí minh

85 117 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 899,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, trong một cuộc khảo sát gần đây của JETRO, khoảng 70% số doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư tại Việt Nam có ý định mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh vì nhận thấy triển vọng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TPHCM KHOA/BỘ MÔN NHẬT BẢN HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2015

Tên công trình:

TRIẾT LÝ KINH DOANH

“KHÁCH HÀNG LÀ TRÊN HẾT”

CỦA AEON MALL TÂN PHÚ – TP HỒ CHÍ MINH

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Liên 1256190037

Giáo viên h ướ ng dẫn: PGS TS Nguyễn Tiến Lực (trưởng bộ môn Nhật Bản học)

TPHCM 03 / 2015

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT 1

1 Lý do chọn đề tài: 2

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài: 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục tiêu – nhiệm vụ của đề tài: 4

5 Phương pháp nghiên cứu: 5

6 Kết quả cần đạt: 6

7 Ý nghĩa thực tiễn: 6

CHƯƠNG I: 7

1 Các khái niệm về triết lý kinh doanh 7

1.1 Khái niệm triết lý: 7

1.2 Khái niệm kinh doanh 8

1.3 Khái niệm triết lý kinh doanh 9

2 Phân loại triết lý kinh doanh 10

3 Cách thức tạo dựng văn bản triết lý kinh doanh 10

4 Nội dung và vai trò của triết lý kinh doanh 13

4.1 Nội dung 13

4.2 Vai trò6 15

CHƯƠNG 2: 17

1 Sơ lược về tập đoàn AEON 17

1.1 Lịch sử hình thành tập đoàn AEON 17

1.2 Sơ lược về sự hình thành khu trung tâm thương mại AEON Tân Phú 20

2 Triết lý kinh doanh của tập đoàn AEON 22

2.1 Nội dung triết lý kinh doanh của Tập đoàn AEON Nhật Bản 22

2.2 Triết lý kinh doanh được áp dụng tại AEON Tân Phú 25

3 Thực tế áp dụng triết lý “Khách hàng là trên hết” tại AEON Tân Phú 27

3.1 Nội dung văn bản triết lý kinh doanh của AEON Tân Phú 27

3.2 Hình thức thể hiện văn bản triết lý kinh doanh của AEON Tân Phú 35

CHƯƠNG 3 54

1 Giới thiệu triết lý “Khách hàng là trên hết” của một số doanh nghiệp tại Việt Nam và Nhật Bản 54

1.1 Triết lý “ khách hàng là trên hết” của một số doanh nghiệp tại Việt Nam 54

1.2 Triết lý “Khách hàng là trên hết” của một số doanh nghiệp tại Nhật Bản 55

2 Điểm tương đồng và khác biệt trong cách áp dụng triết lý kinh doanh của AEON với

Trang 3

2.1 Nét tương đồng 56

2.2 Nét khác biệt 57

3 Nhận định tình hình phát triển 62

KẾT LUẬN 64

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 66

PHỤ LỤC 67

PHỤ LỤC 2 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 4

DANH SÁCH BẢNG – BIỂU ĐỒ

Bảng 1: Nội quy, quy tắc dành cho nhân viên tại AEON……….….28

Biều đồ 1: Nhân viên có đọc qua bảng quy tắc dành cho nhân viên hay không…………30

Biểu đồ 2: Mức độ hợp lý của bảng nội quy trên đánh giá của nhân viên……….31

Biểu đồ 3: Đánh giá khâu tuyển dụng nhân viên của AEON………32

Biểu đồ 4: Những điều nhân viên được phổ biến vào ngày đầu tiên làm ở AEON…… 33

Biểu đồ 5: Những kinh nghiệm tích lũy trong quá trình làm việc tại AEON………34

Biều đồ 6: Phương tiện khách hàng biết đến khu trung tâm thương mại AEON……… 36

Biểu đồ 7: Khoảng cách giữa nhà ở của khách hàng và AEON………37

Biểu đồ 8: Mức độ thường xuyên khách hàng ghé chơi AEON……… …….….38

Biểu đồ 9: Mục đích khách hàng đến vui chơi, mua sắm tại AEON……….………39

Biểu đồ 10: Ấn tượng đầu tiên của khách hàng khi đến AEON………40

Biểu đồ 11: Điểm khác biệt giữa AEON và các khu thương mại khác ở VN………… 41

Biểu đồ 12: Đánh giá cơ cấu tổ chức các chương trình lễ hội……….… ……43

Biểu đồ 13: Mức độ hài lòng của khách hàng về cách phục vụ của nhân viên… …… 44

Biểu đồ 14: Đánh giá về mẫu mã, chất lượng, giá cả của sản phẩm……….……45

Biểu đồ 15: Những điểm không vừa lòng của khách hàng về AEON………….……….46

Biểu đồ 16: Số lượng khách hàng sử dụng xe buýt riêng của AEON……… ……….…47

Biểu đồ 17: mức độ hài lòng của khách hàng về phương tiện xe buýt của AEON….… 47

Biểu đồ 18: Số lượng khách hàng biết đến triết lý kinh doanh của AEON………… ….48

Biểu đồ 19: Phương tiện khách hàng biết đến triết lý kinh doanh của AEON………… 49

Trang 5

TÓM TẮT

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007 Kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng và xu hướng hội nhập này vừa mang lại nhiều cơ hội lớn cho các doanh nghiệp nước ngoài, song cũng không thể tránh khỏi nhiều khó khăn, thách thức cho doanh nghiệp trong nước

Trong bối cảnh các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt đầu tư vào Việt Nam như hiện nay, thị trường bán lẻ của Việt Nam đang được đánh giá là có rất nhiều tiềm năng và ngày càng phát triển Và Nhật Bản cũng là một trong những quốc gia lựa chọn Việt Nam để xây dựng thương hiệu mà trong đó phải kể đến chính là AEON

Mặc dù có lịch sử hình thành trên 200 năm nhưng AEON chỉ mới gia nhập thị trường Việt Nam trong thời gian gần đây nên cái tên AEON Mall vẫn còn khá mới mẻ với đại đa số người dân Việt Nam Tuy vậy, nhưng nơi đây cũng nhanh chóng trở nên phổ biến và chiếm được nhiều tình cảm từ phía khách hàng Đứng trước những trung tâm thương mại lớn và phổ biến như Diamond, LOTTE Mart hay các siêu thị đã quá quen thuộc như Co-opmart, Big C,… AEON thu hút khách hàng theo nét độc đáo riêng của mình Mặc dù AEON Tân Phú nằm ở vị trí không mấy thuận lợi nhưng mỗi ngày vẫn thu hút một lượng đông đảo người tiêu dùng Cùng với lượng hàng hoá phong phú, đa dạng, trang trí hấp dẫn và quan trọng hơn là sự phục vụ khách hàng tận tình, cung cách ứng xử lịch sự đã tạo nên sự thành công cho trung tâm thương mại kết hợp phức hợp được xây dựng trên tiêu chí “hướng tới số đông” này

Để có thể phục vụ khách hàng đến vui chơi, mua sắm tại AEON một cách tốt nhất, AEON đã phát huy nền tảng triết lý kinh doanh “Khách hàng là trên hết” theo tiêu chí riêng của mình, kèm theo một bộ quy tắc ứng xử Đây chính là điểm đáng để các doanh nghiệp khác chú trọng, nghiên cứu và học hỏi

Thông qua bài nghiên cứu này, chúng tôi xin giới thiệu khái quát về tiến trình hình thành của AEON cùng với triết lý kinh doanh song hành của nó;

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Theo ông Toshio Nakamura – giám đốc điều hành phòng Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (JCCI) thì “Số doanh nghiệp Nhật đầu tư vào Việt Nam thời gian tới sẽ tăng gấp 2 – 3 lần so với hiện nay”; và tính đến hết tháng 8/2012, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật vào Việt Nam đạt 4,3 tỷ USD, đứng đầu trong số 39 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào nước ta, tính cả vốn cấp mới và tăng thêm

Bên cạnh đó, trong một cuộc khảo sát gần đây của JETRO, khoảng 70% số doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư tại Việt Nam có ý định mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh vì nhận thấy triển vọng tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận, trong đó có tập đoàn AEON được thành lập từ năm 1758 với lịch sử trên 250 năm phát triển vững mạnh

Đồng thời, với kế hoạch trung hạn của Nhật Bản, tập đoàn AEON đã đề ra chiến lược “chuyển sang châu Á” giai đoạn 2011 - 2013 nhằm đẩy mạnh chiến lược phát triển vào khu vực ASEAN, và Việt Nam là quốc gia thứ 3 được Nhật Bản hết sức chú trọng hợp tác phát triển kinh tế, sau Trung Quốc và Malaysia Tập đoàn AEON Nhật Bản đã khai trương trung tâm mua sắm phức hợp đầu tiên “AEON MALL Tân Phú Celadon” với quy mô lớn nhất tại thành phố Hồ Chí Minh vào 11/01/2014

Trên thực tế, mặc dù trung tâm thương mại này nằm ở địa điểm không mấy đắc địa do cách xa trung tâm thành phố (nơi các đối tượng với mức thu nhập cao tập trung đông đúc) nhưng vẫn có nhiều người lựa chọn AEON Tân Phú làm điểm đến Ngoài sự bắt mắt về cảnh quan cũng như sự đa dạng trong mặt hàng kinh doanh, sự thu hút của trung tâm thương mại này một phần còn do cung cách phục vụ tận tình theo phong cách rất Nhật Bản của nhân viên tại đây Chỉ trong vòng 9 tháng (từ tháng 01 đến hết tháng 09 năm 2014), AEON đã có 07 triệu lượt khách Mỗi ngày nơi đây đón bình quân 30.000 - 40.000 lượt khách hàng đến mua sắm, vui chơi, ăn uống Ngày cuối tuần và dịp lễ, lượng khách hàng đến đây tăng gấp đôi, đạt mức 60.000 - 70.000 người/ngày

Vì lí do trên, chúng tôi chọn đề tài này nhằm tìm hiểu nguyên nhân AEON được nhiều người chọn lựa làm nơi tham quan và mua sắm kể từ ngày đầu khai trương đến nay Chúng tôi mong muốn tìm hiểu rõ nội dung triết lý kinh doanh “Khách hàng là trên hết”

Trang 7

và thực tiễn áp dụng triết lý này ra sao để AEON có thể đạt được thành quả như ngày hôm nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài:

Nhóm nghiên cứu chúng tôi chưa thể tiếp cận được nhiều tài liệu về các công trình tập trung nghiên cứu triết lí kinh doanh "Khách hàng là trên hết" của tập đoàn AEON tính đến nay Sau đây, chúng tôi xin tóm tắt một số công trình nghiên cứu, báo điện tử đề cập gián tiếp đến các khía cạnh liên quan đến đề tài này, chẳng hạn như:

PTS Đỗ Minh Cường trong cuốn “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh” nêu

cụ thể tình hình triết lý kinh doanh tại Việt Nam từ lịch sử hình thành dân tộc sau cách mạng tháng tám đến nay; cũng như bàn về khái niệm, phân loại triết lý kinh doanh, và vai trò của một văn bản triết lý kinh doanh cần hội tụ Ngoài ra, sách cũng đề cập đến cách thức tạo dựng một văn bản triết lý kinh doanh khá đầy đủ, chi tiết kèm ví dụ minh họa Nhóm nghiên cứu chúng tôi tích hợp được nhiều ví dụ cụ thể về triết lý kinh doanh của một số công ty như tập đoàn của Matsushita Kinosuke (nay được gọi là Panasonic), còn

có của Honda, hay của Trung Cương,…

Giáo trình “Văn hóa kinh doanh” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nêu lên

những yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh trong đó triết lý kinh doanh cũng là một trong những yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh Đồng thời cuốn sách cũng đưa ra được khái niệm, nội dung, cách thức hình thành một văn bản triết lý kinh doanh Bên cạnh đó giáo trình cũng trình bày cụ thể về văn hóa kinh doanh Việt Nam và thế giới cũng như các tình huống văn hóa kinh doanh

Triết lý kinh doanh thực tiễn của Matsushita Konosuke đã trả lời cho câu hỏi: Doanh nghiệp tồn tại vì cái gì và kinh doanh với mục đích gì và theo cách nào? Matsushita Konosuke - người sáng lập tập đoàn Matsushita, nay là Panasonic, đã triển khai một quan niệm kinh doanh và nhân sinh quan sáng sủa và hiệu quả: Tuân theo quy luật của tự nhiên và xã hội, với sứ mệnh căn bản của mọi người Lợi nhuận chính là thù lao trả cho việc thực hiện sứ mệnh đó Từ đó ông nêu lên các phương châm: tồn tại và phát triển cùng với xã hội, phát triển vừa sức của mình, đi vào chuyên nghiệp hóa hơn là

đa ngành hóa, tập hợp trí tuệ tập thể, cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp và người làm

Trang 8

công theo triết lý vừa đối lập vừa điều hòa, không ngừng đổi mới cho phù hợp với biến đổi của thời cuộc

Nhìn chung các công trình nghiên cứu mà nhóm chúng tôi đã tham khảo hầu hết là sách nghiên cứu trong nước, tập trung vào việc trình bày khái niệm về triết lý kinh doanh, những vấn đề cơ bản xung quanh một triết lý kinh doanh cần phải có, giới thiệu về một số triết lý kinh doanh ở Việt Nam cũng như tình hình thị trường bán lẻ ở Việt Nam chứ chưa

đi sâu phân tích về triết lý kinh doanh của tập đoàn Aeon Mặt khác, những công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi định hướng và cung cấp thông tin, dữ liệu cho chúng tôi thực hiện đề tài này Vì khả năng có hạn, chúng tôi chưa thể tiếp cận được nguồn tài liệu dồi dào bằng tiếng Anh hay tiếng Nhật

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là triết lý kinh doanh “Khách hàng là trên hết” và những tiêu chí được đề ra liên quan đến sự bền vững của triết lý kinh doanh cốt yếu của tập đoàn AEON

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khu trung tâm thương mại phức hợp AEON Tân Phú tại thành phố Hồ Chí Minh với bình quan 30.000 lượt khách vào ngày thường và 70.000 lượt khách vào các tuần cuối tuần Trong quá trình khảo sát chúng tôi gặp một vài khó khăn trong việc xin giấy phép làm bảng khảo sát cũng như phỏng vấn khách hàng, nhân viên, quản lý, cũng như sếp tại AEON Tân Phú nên số lượng khách hàng chúng tôi tiếp cận được là 300 người, và 34 nhân viên làm việc tại đây

4 Mục tiêu – nhiệm vụ của đề tài:

Mục tiêu của đề tài là tìm ra nét đặc trưng trong cách thực hiện các tiêu chí của triết lý kinh doanh “Khách hàng là trên hết” tại AEON Tân Phú; Tìm ra ưu – khuyết điểm, rút ra được những kinh nghiệm qua mô hình triết lý này

Để đạt được những mục tiêu trên, nhóm nghiên cứu tìm hiểu tài liệu về các khái niệm có liên quan, tổng hợp và phân tích các tiêu chí để triết lý kinh doanh “Khách hàng

là trên hết” của AEON Mall được phát triển bền vững bằng cách tổng hợp tình hình thực

tế áp dụng triết lý kinh doanh này của AEON tại AEON Tân Phú - Việt Nam; Bằng kết quả thống kê, phân tích số liệu, nhóm nghiên cứu đem so sánh với sự phát triển, hoạt

Trang 9

động của các công ty, tập đoàn bán lẻ khác tại Việt Nam để so sánh, nêu ra ưu – khuyết điểm, nhằm rút ra được bài học kinh nghiệm để họ có chiến lược phát triển bền vững hơn

5 Phương pháp nghiên cứu:

Chúng tôi sử dụng phương pháp tìm đọc, thu thập tư liệu thông qua nguồn sách có

sẵn, và tư liệu bài giảng được công bố trên các trang điện tử nói về định nghĩa, khái niệm

và những vấn đề liên quan đến triết lý kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam cũng

như Nhật Bản; sau đó dùng phương pháp tổng hợp tài liệu nhóm nghiên cứu thu thập

được nêu lên ý kiến khách quan về triết lý kinh doanh “Khách hàng là trên hết” của khu thương mại – trung tâm mua sắm phức hợp AEON Tân Phú

Để kiểm chứng thực tế áp dụng triết lý kinh doanh “Khách hàng là trên hết” của khu thương mại – siêu thị phức hợp AEON Tân Phú thông qua các tiêu chí mà nhóm

nghiên cứu tìm ra, đầu tiên nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập, tổng hợp,

nêu vắn tắt thông tin có liên quan đến sự thành lập của AEON tại Nhật Bản và tại Việt

Nam thông qua trang điện tử chính thức của tập đoàn AEON bằng ba thứ tiếng (tiếng Nhật, tiếng Anh, tiếng Việt) để đối chiếu khách quan tính đúng đắn trong câu chữ, so sánh với hiện thực thông qua các bài đăng quảng cáo cho sự xuất hiện của AEON tại Việt Nam vào những ngày đầu AEON Tân Phú được khánh thành Sau khi thu thập đầy đủ tư

liệu, chúng tôi đi vào phương pháp phân tích những điểm quan trọng trong việc cấu

thành triết lý kinh doanh “Khách hàng là trên hết” của AEON, và dựa trên kết quả phân

tích được, chúng tôi lập bảng khảo sát kèm phỏng vấn trực tiếp (nếu có thể) trên góc nhìn

của cả khách hàng và nhân viên trong việc thực tiễn áp dụng triết lý này ra sao tại AEON Tân Phú Sau khi hoàn thành bảng khảo sát và phỏng vấn cả khách hàng lẫn nhân viên (mặc dù số lượng còn rất ít), chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, tính xác suất, tỉ lệ thông qua bảng khảo sát và đưa ra những phân tích, đánh giá khách quan về tình hình áp dụng triết lý “Khách hàng là trên hết” tại AEON Tân Phú

Sau khi đã tổng hợp, phân tích số liệu thu thập được bằng bảng khảo sát, chúng tôi xin phép giới thiệu đặc điểm, tình hình phát triển, hoạt động của các công ty, tập đoàn bán lẻ tại Việt Nam trong những năm gần đây và so sánh những công ty này với AEON

bằng cách sử dụng phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu, phân tích, đối chiếu thông tin

Trang 10

bằng các trang điện tử chính thức của từng siêu thị bán lẻ tại Việt Nam; đồng thời, chúng tôi cũng nêu nguyên nhân, lý do tại sao AEON dù trong một thời gian khá ngắn (khoảng

01 năm có mặt trên thị trường Việt Nam) với vị trí không mấy đắc địa (dù AEON cho rằng đây là khu đô thị phức hợp của Việt Nam, cũng như là nơi không quá xa trung tâm thành phố - Quận 1) lại có thể chiếm lĩnh thị trường Việt Nam một cách nhanh chóng (30.000 – 70.000 lượt người đến vui chơi, mua sắm một ngày) thông qua bảng khảo sát; sau đó đưa ra những ưu – khuyết điểm, cũng như những bài học kinh nghiệm nhằm cải thiện thị trường bán lẻ trong nước để có thể đứng vững hơn bằng những ý kiến khách quan rút ra được từ thực tiễn áp dụng triết lý “Khách hàng là trên hết”

6 Kết quả cần đạt:

Tìm hiểu nội dung và việc áp dụng thực tiễn triết lý kinh doanh “Khách hàng là trên hết” của trung tâm thương mại AEON Tân Phú; và đưa ra những ưu điểm có thể học hỏi trong mô hình triết lý kinh doanh của AEON vào thị trường bán lẻ tại thành phố Hồ Chí Minh

7 Ý nghĩa thực tiễn:

Công trình nghiên cứu do chúng tôi thực hiện sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho việc tìm hiểu bí quyết thành công từ những ngày đầu khánh thành cho đến hiện tại của AEON Tân Phú; đồng thời bài nghiên cứu này cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đối tượng có nhu cầu nghiên cứu những đề tài có liên quan sau này

Trang 11

1 Các khái niệm về triết lý kinh doanh

1.1 Khái niệm triết lý:

Thuật ngữ “Triết học” theo Hán – Việt có nghĩa là “sự hiểu biết”, “trí thức”, “nhận thức sâu rộng”, hay “đạo lý”; Còn theo gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, “Triết học” (Philosophy) gồm hai yếu tố ngôn ngữ tạo thành là: philo (yêu) + sophia (sự thông thái); vì vậy “Triết học” có nghĩa là yêu thích sự thông thái.1

Các tác giả của cuốn sách “Triết lý phát triển ở Việt Nam – mấy vấn đề cốt yếu2” định nghĩa: “Triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về họa động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy” Nói cách khác, triết lý có thể là những kết luận được rút ra, suy ra từ một triết thuyết, một hệ thống các nguyên lý triết học nhất định Nhưng triết lý còn là những tư tưởng, những quan niệm (thường được thể hiện dưới dạng những câu, mệnh đề cô đọng, xúc tích) phản ánh được bản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống, sinh động mọi mặt của mỗi cá nhân, và của cộng đồng theo hướng khẳng định những niềm tin, giá trị, đạo lý, có

Trang 12

trang 201

tác dụng chỉ đạo cho cách ứng xử, phương châm sống, suy nghĩ và hành động của con người trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó

Ngoài ra, “triết lý là những tư tưởng có tính triết học, tức là sự phản ánh

đã đạt đến trình độ sâu sắc và khái quát cao, được con người rút ra từ cuộc sống của mình và chỉ dẫn, định hướng cho hành động của con người” là định nghĩa trích trong

“Giáo trình Văn hóa kinh doanh” của trường Đại học kinh tế quốc dân

Đối với PGS PTS Đỗ Thị Doan và PTS Đỗ Minh Cường có đề cập khái niệm này trong cuốn “Triết lý kinh doanh với quản lý doanh nghiệp”, họ cho rằng: triết

lý là những tư tưởng có tính triết học được con người rút ra từ cuộc sống của họ; là thứ triết học về đạo lý, triết học của hành động Như vậy so với “triết học”, “triết lý” được hiểu ở trình độ thấp hơn, có phạm vi hẹp hơn, chỉ là cơ sở lý luận của một hệ thống quan điểm, một học thuyết; theo nghĩa ở mức độ cao, nó chính là những quan niệm, tư tưởng sâu xa nhất của con người về các lĩnh vực của đời sống xã hội

Bàn về khái niệm triết lý, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng, tuy ở phương Tây không có sự phân biệt giữa “triết lý” và “triết học”, nhưng trong tiếng Việt, hai quan niệm này được dùng để biểu đạt và phản ánh những đối tượng khác nhau Khái niệm triết

lý có liên quan chặt chẽ đến khái niệm triết học Trong đó, triết học là môn khoa học nghiên cứu những phạm trù, những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy

Nó cung cấp thế giới quan, và phương pháp luận tổng quát cho các môn khoa học khác Kết quả nghiên cứu của nó thường được thể hiện thành hệ thống các nguyên lý có các luận điểm có tính trừu tượng hóa cao, và với logic nội tại chặt chẽ của chúng Nhưng dù hiểu theo cách nào cũng có thể thấy rằng, “triết lý” không phải là duy tâm siêu hình mà là kết quả của những kinh nghiệm, lẽ sống của nhiều thế hệ trước đúc kết lại

1.2 Khái niệm kinh doanh

Theo PTS Đỗ Minh Cường trong cuốn “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh”3 thì kinh doanh là tất cả những hành vi và hoạt động có mục đích đem lại lợi nhuận cho chủ thể”

3

Đỗ Minh Cường, Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001,

Trang 13

moj.gov.vn, < http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=16744>

Còn theo Luật Doanh nghiệp thì kinh doanh là "việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi."4

Như vậy kinh doanh là một hình thái đặc thù của kinh tế Nó không chỉ là hoạt động buôn bán, lưu thông, mà còn bao gồm các hoạt động sản xuất và các loại dịch vụ khác (giải trí ,thông tin, du lịch…) Chủ thể kinh doanh cũng là một khái niệm hệ thống gồm nhiều cấp độ (một cá nhân, một tập thể, doanh nghiệp,…) cho nên triết lý kinh doanh chính là các triết lý hình thành trong quá trình kinh doanh của các chủ thể khác nhau

1.3 Khái niệm triết lý kinh doanh

Theo PTS Đỗ Minh Cường trong cuốn “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh

doanh” định nghĩa: Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn

kinh doanh thông qua con đường suy ngẫm, trải nghiệm, khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho các hoạt động kinh doanh Nó là sản phẩm phản ánh có mục đích phục vụ cho chủ thể kinh doanh nên sự khác nhau trong ngành, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp sẽ quy định tính đặc thù của triết lý kinh doanh

Định nghĩa theo vai trò thì triết lý kinh doanh là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng, dẫn dắt hoạt động kinh doanh; đối với định nghĩa xét theo các yếu tố cấu thành thì triết lý kinh doanh của doanh nghiệp (triết lý doanh nghiệp) là lý tưởng, là phương châm hành động, là hệ giá trị và mục tiêu chung cảu doanh nghiệp chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh; định nghĩa theo cách thức hình thành thì triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm và khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh Theo định nghĩa này, cần lưu ý rằng con đường chung của sự hình thành các triết lý kinh doanh là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để đi đến các tư tưởng triết học về kinh doanh bằng triết lý kinh doanh; tác giả của các triết lý kinh doanh thường là những người hoạt động kinh doanh, là những doanh nhân từng trải

4

Theo khoản 2 Điều 4, chương I, Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 29/11/2005, trích trang điện tử của

Trang 14

Triết lý kinh doanh là một trong những biểu hiện của văn hóa trong hoạt động kinh doanh, bởi một doanh nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoài mục tiêu lợi nhuận thì họ còn hướng tới những lý tưởng, hoài bão khác của cuộc đời họ như đam mê kinh doanh, mong muốn khẳng định giá trị thương hiệu cho sản phẩm của mình trong thị trường nội địa và trên thế giới, làm giàu để có được điều kiện làm từ thiện,… mỗi doanh nhân, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng triết lý kinh doanh cho riêng mình như là kim chỉ nam định hướng cho hoạt động kinh doanh đạt được mục đích đã theo đuổi

2 Phân loại triết lý kinh doanh

Kinh doanh là lĩnh vực hoạt động và nghề nghiệp đầy khó khăn ,phức tạp, thường xuyên biến đổi nên triết lý về kinh doanh rất đa dạng và nhiều loại khác nhau Có thể phân loại triết lý kinh doanh dựa theo hai tiêu chí cơ bản: chức năng – nghiệp vụ và quy

mô của chủ thể kinh doanh

 Dựa theo chức năng – nghiệp vụ: kinh doanh được chia thành nhiều chức năng, công đoạn, chuyên môn hẹp, khác nhau Do vậy có các triết lý (kinh doanh) về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, triết lý về maketing, quản lý chất lượng, hàng hóa, bán hàng,

 Dựa vào quy mô các chủ thể kinh doanh-quy mô tổ chức người, có thể chia triết lý kinh doanh làm ba loại cơ bản, đó là: (1) Triết lý áp dụng cho các cá nhân kinh doanh; (2) Triết lý cho các tổ chức kinh doanh, chủ yếu là triết lý về quản lý của doanh nghiệp; và (3) Triết lý vừa có thể áp dụng cho các cá nhân lại vừa có thể áp dụng cho các

tổ chức kinh doanh

Theo cách phân loại trên, triết lý kinh doanh của cá nhân loại (1) chính là các triết

lý được rút ra từ những kinh nghiệm, bài học thành công, thất bại trong quá trình kinh doanh, có ích trước hết cho cá thể kinh doanh; Còn các triết lý loại (2) và loại (3) thực chất là triết lý chung của tổ chức kinh doanh, nói gọn hơn đây chính là triết lý doanh nghiệp

3 Cách thức tạo dựng văn bản triết lý kinh doanh

Triết lý doanh nghiệp là triết lý kinh doanh chung của tất cả thành viên của một doanh nghiệp cụ thể Có hai cách để tạo dựng một văn bản triết lý doanh nghiệp:

Trang 15

- Thứ nhất: triết lý doanh nghiệp được hình thành từ kinh nghiệm kinh doanh của người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp

- Thứ hai: triết lý doanh nghiệp được tạo lập theo kế hoạch của ban lãnh đạo

Về triết lý doanh nghiệp được hình thành từ kinh nghiệm kinh doanh của người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp thì đây là con đường hình thành triết lý hầu hết của các doanh nghiệp lớn có truyền thống lâu đời và tiếp tục thành đạt cho tới ngày nay

Ví dụ cho triết lý kinh doanh do người sáng lập của nó tạo ra là công ty Matsushita-một công ty hàng đầu của Nhật Bản và thế giới hiện nay Công ty rất thành đạt này mang tên người sáng lập ra nó - ông Konosuke Matsushita (1894-1989) Ông xuất thân trong một gia đình nghèo, cha mẹ mất sớm và bắt đầu sự nghiệp kinh doanh của mình bằng việc sản xuất ra những chiếc đui đèn điện tại căn nhà nhỏ của vợ chồng ông ở ngoại ô Osaka vào năm 1917 Khởi đầu sự nghiệp của Matsushita thật gian nan vất vả Ông đã làm việc cật lực bất chấp thể trạng yếu của mình và đã có lúc phải đem kimono của vợ mình đến hiệu cầm lấy tiền chế thử sản phẩm điện mới

Trong quá trình lãnh đạo công ty, Matsushita luôn trăn trở với việc tìm ra sứ mạng

- mục đích kinh doanh của mình và của công ty; và ông đã tìm ra được sứ mạng của công

ty mình qua dịp đi thăm đền thờ Thần đạo nổi tiếng ở Nhật Bản vào năm 1932 Trong chuyến đi, ông bắt đầu suy nghĩ về những điểm giống nhau giữa tôn giáo và quản trị kinh doanh, ông nói: “Con người cần sự phồn thịnh trong cả vật chất lẫn tinh thần Tôn giáo dẫn con người đến sự giải thoát để có được hạnh phúc và bình an trong tâm trí; kinh doanh cũng vậy Nó có thể cung cấp những nhu yếu phẩm cần có để có được hạnh phúc.Đây là nhiệm vụ chính của kinh doanh”

Đối với công ty điện khí Matsushita, nếu đẩy mạnh sản xuất mạnh mẽ và có hiệu quả cao thì sẽ góp phần vào việc trừ bỏ được chữ “nghèo” mà đi liền với nó là chữ “khổ”

sẽ có thể giúp ích cho mọi người dân Nhật Bản yên tâm vui sống và làm việc Đó chính

là sứ mạng của công ty Phát hiện ra điều này, ông “cảm thấy tâm trí rất trong sáng, sảng khoái và tâm hồn rộng lớn hẳn ra” Matsushita quyết định phải nói cho toàn thể nhân viên của công ty biết việc này để cùng nhau tiếp bước mạnh mẽ,hoàn thành sứ mạng Ngày 5 tháng 5 năm 1932, ông đã tập hợp toàn thể nhân viên để nói về triết lý của công ty điện

Trang 16

khí Matsushita, và đó cũng là “ngày kỷ niệm sáng nghiệp công ty lần thứ nhất” của ông

và công ty Như vậy phải trải qua 18 năm kinh doanh và lãnh đạo công ty, Matsushita mới tìm ra được sứ mạng nghề nghiệp của mình Đây là phần nội dung cơ bản trong triết

lý của tập đoàn Matsushita (nay là công ty Panasonic), nó được thể hiện qua bộ luật đạo

lý và bài chính ca của hãng

Bộ luật đạo lý của công ty Panasonic viết: những nguyên tắc của chúng ta: giác ngộ trách nhiệm của mình vì sự phát triển nhanh chóng và phúc lợi xã hội của chúng ta Hiến dâng mình vì sự phát triển hơn nữa của nên văn minh thế giới” Bộ luật đạo lý này

là một văn bản triết lý ngắn gọn của Matsushita Triết lý của công ty còn được trình bày theo hình thức khác là bài chính ca của nó, tôn chỉ mục đích của công ty được diễn cảm một cách hình tượng và hùng tráng hơn: Chúng ta liên kết sức lực và trí tuệ, ta sẽ làm được mọi thứ vì sự phồn vinh, hãy cứ để cho hàng hóa của chúng ta đến với mọi người trên thế giới, cứ để chúng tuôn chảy không ngừng, vĩnh cửu; như nước vòi phun không bao giờ cạn; phát triển nữa lên, ngành công nghiệp của chúng ta! Tinh thần đoàn kết hòa hợp và trung thực muôn năm! Hãng Matsushita muôn năm!”

Triết lý kinh doanh của Matsushita đề cập tới nhiều lĩnh vực hoạt động, tựu trung lại vẫn là vấn đề quản lý doanh nghiệp, ông là một trong số ít người tự học đã tạo ra sản nghiệp lớn cho mình (khoảng 3 tỷ USD); đồng thời được xã hội Nhật Bản hiện đại đánh giá là một triết gia về quản lý và nhà giáo dục lớn của dân tộc

Còn trường hợp thứ hai đó là triết lý doanh nghiệp được tạo lập theo kế hoạch của ban lãnh đạo: ở đây đó chính là trường hợp của tập đoàn AEON

Cách thứ hai để có một văn bản triết lý là thông qua sự thảo luận của ban lãnh đạo

và toàn bộ nhân viên trong doanh nghiệp Theo cách này, sự nhận thức sớm về vai trò của triết lý doanh nghiệp của ban lãnh đạo và việc chủ động xây dựng nó để phục vụ kinh doanh quan trọng hơn việc tổng kết kinh nghiệm của họ Đối với các doanh nghiệp thành đạt ở Mỹ, trong đó có cả những doanh nghiệp có truyền thống kinh doanh dài lâu song thường có sự thay đổi người trong ban lãnh đạo, thì cách tạo lập bộ triết lý của nó thường thực hiện như một chương trình, dự án lớn, qua con đường được gọi là “Vòng chân trời”

“Vòng chân trời” là cách thức tạo ra một văn bản triết lý của doanh nghiệp bắt đầu từ ban

Trang 17

lãnh đạo cao cấp nhất của hãng Theo cách này,người ta cử ra một nhóm nhỏ chuyên trách soạn thảo triết lý

Trước tiên, nhóm chuyên trách phải phỏng vấn tất cả các thành viên trong ban

lãnh đạo của doanh nghiệp (uỷ viên hội đồng quản trị và các thành viên ban giám đốc) về quan niệm cá nhân của họ đối với triết lý kinh doanh của doanh nghiệp Sau khi tìm ra các ý kiến cụ thể, nhóm chuyên trách đề nghị ban lãnh đạo doanh nghiệp thảo luận về những điểm căn bản của chiến lược, phương hướng, phong cách và phương thức kinh doanh Kết quả các buổi thảo luận này phải thông qua được một văn bản sơ thảo về triết

lý của doanh nghiệp Bước hai, văn bản sơ thảo triết lý của doanh nghiệp được đưa xuống

thảo luận tại các cơ sở, nhằm thu hút càng nhiều càng tốt các ý kiến đóng góp của mọi thành viên Các ý kiến cá nhân và tập thể lao động được làm thành văn bản và gửi lên

lãnh đạo doanh nghiệp Bước ba, từ ý kiến của cả hai phía, của giới lãnh đạo, quản lý và

những người lao động, nhóm soạn thảo phải tổng kết và trình lên ban lãnh đạo doanh nghiệp một văn bản triết lý hoàn chỉnh hơn Văn bản này phải được ban lãnh đạo cao cấp thảo luận thêm, phê chuẩn trước khi thành lập một văn bản triết lý hoàn chỉnh sau vài tuần lễ Nếu chưa đạt được kết quả này, nó phải được làm lại từ đầu

Cách tạo một triết lý kinh doanh qua quá trình thảo luận khá giống với quy trình ra một quyết định quản lý tập thể (ring – gi) ở các công ty lớn của Nhật Bản Bằng cách này, một doanh nghiệp cũng cần một khoảng thời gian đủ dài, tuỳ vào khả năng và mức độ lớn của nó, nhưng thường ngắn hơn so với cách một, để tạo ra một triết lý kinh doanh chung

Văn bản triết lý “nền văn hoá không hình thức” của Intel là triết lý của công ty Rockwell International (Mỹ) đã được hoành thành theo con đường này

4 Nội dung và vai trò của triết lý kinh doanh

Trang 18

ai, doanh nghiệp làm những gì, làm vì ai, và làm như thế nào Bản tuyên bố sứ mệnh hay còn gọi là bảng tuyên bố nhiệm vụ, phải xác định những gì mà doanh nghiệp “tổ chức” đang phấn đấu vươn tới trong thời gian lâu dài Về cơ bản, bản tuyên bố nhiệm vụ xác định phương hướng chỉ đạo của tổ chức và những mục đích độc đáo làm cho doanh nghiệp đó khác biệt với các doanh nghiệp khác Sứ mệnh thể hiện vai trò quan trọng của

nó trong việc xác định phương hướng của doanh nghiệp một cách quán triệt và truyền tải

ý nghĩa đó với tất cả các thành viên của tổ chức ở mọi cấp, từ đó giúp cho các thành viên

có được định hướng rõ ràng và gắn kết công việc của họ với phương hướng của tổ chức thông thường, bản tuyên bố sứ mệnh xác định lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, nêu

rõ tầm nhìn và thể hiện các giá trị pháp lý, đạo đức cơ bản

Ngoài ra, các yếu tố cơ bản khi xây dựng sứ mệnh bao gồm yếu tố lịch sử, những năng lực đặc biệt, và môi trường

Trong đó, yếu tố lịch sử là mọi tổ chức dù lớn hay nhỏ đều có một lịch sử về các mục tiêu, thành tích, sai lầm, và chính sách Còn những năng lực đặc biệt là khi một tổ

chức có thể làm được nhiều việc; tuy nhiên, nó phải nhận diện được điểm mạnh nổi trội của mình, làm việc gì tốt nhất những năng lực đặc biệt là những gì mà tổ chức làm tốt

đến mức trên thực tế chúng tạo ra lợi thế lớn hơn các tổ chức tương tự Về yếu tố môi

trường, đây là môi trường của tổ chức quyết định những cơ hội, những hạn chế, và những

mối đe dọa, do vậy cần nhận dạng trước khi xây dựng bảng tuyên bố sứ mệnh

Khi nói vắn tắt những đặc điểm của một bản tuyên bố sứ mệnh thông qua cuốn sách “Giáo trình văn hóa kinh doanh” của trường Đại học kinh tế quốc dân, có 3 nội dung chính được nêu ra, đó là bản tuyên bố sứ mệnh này phải tập trung vào thị trường, phải có tính khả thi, và phải có chiến lược cụ thể

Chẳng hạn như, sứ mệnh của công ty Matsushita là “hiến dâng mình cho sự phát triển hơn nữa cho nên văn minh thế giới”; của Honda là “hiến dâng mình cho việc cung cấp những sản phẩm hiệu quả cao với giá phải chăng trên toàn thế giới”; còn sứ mệnh của Trung Nguyên: “tạo dựng thương hiệu hàng đầu qua việc mang đến cho người thưởng

Trang 19

thức cà phê và là nguồn cảm hứng sáng tạo và niềm tự hào trong phong cách Trung Nguyên đậm đà văn hóa Việt5.”

Sứ mệnh của doanh nghiệp thường được cụ thể hóa bằng các mục tiêu chính, có tính chiến lược của nó Các mục tiêu là những điểm cuối trong nhiệm vụ của doanh nghiệp; mang tính cụ thể và khả thi cần thực hiện thông qua các hoạt động của doanh nghiệp việc xây dựng các mục tiêu cơ bản rất có ý nghĩa đối với sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp những mục tiêu này thường tập trung ở các vấn đề như: vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, những sự đổi mới, năng suất, nguồn tài nguyên vật chất, tài chính, khả năng sinh lời, thành tích và trách nhiệm của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, thành tích và thái độ của công nhân, và trách nhiệm xã hội

Khái niệm “giá trị” ở đây được hiểu là những phẩm chất, năng lực tốt đẹp có tính chuẩn mực mà mỗi thành viên cũng như toàn công ty cần phấn đấu, bảo vệ và giữ gìn Các giá trị vừa có tính pháp quy, vừa có tính giáo quy, song tính giáo quy – định hướng

và giáo dục bằng văn hóa, có vai trò quan trọng hơn Hệ thống giá trị là cơ sở quy định, xác lập nên các tiêu chuẩn về đạo đức trong các hoạt động của công ty, hay nói đơn giản hơn là một bảng các tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh của công ty

4.2 Vai trò 6

Thứ nhất, triết lý kinh doanh là phương tiện giáo dục, là công cụ để phát triển nguồn nhân lực Nó cung cấp các giá trị, chuẩn mực, hành vi, nhằm tạo nên phong cách làm việc và bản sắc riêng cho doanh nghiệp Công tác đào tạo và huấn luyện nguồn nhân lực rất quan trọng, nó quyết định sự thành công hay thất bại của công ty Việc vạch ra lý tưởng và mục tiêu kinh doanh triết lý giáo dục cho đội ngũ cán bộ, nhân viên về lý tưởng,

về công việc mà họ đang thực hiện rồi từ đó tạo dựng một môi trường làm việc văn hóa

Trang 20

tốt Và nếu được làm việc trong một môi trường tốt nhân viện sẽ tự giác, phấn đấu vươn lên và trung thành hết mình đối với công ty

Triết lý kinh doanh đề ra một mức đạo đức chuẩn làm căn cứ đánh giá hành vi nên

nó có vai trò điều chỉnh hành vi của nhân viên trong việc xác định bổn phận, nghĩa vụ của mỗi thành viên đối với doanh nghiệp, với thị trường khu vực và xã hội nói chung Các đức tính thường được nêu ra là tính trung thực, tính đồng đội, sẵn sàng tự giác,

Triết lý kinh doanh còn là cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp, tạo phương thức phát triển bền vững cho nó Trong đó, văn hóa doanh nghiệp gồm nhiều yếu tố cấu thành, mỗi thành tố của văn hóa doanh nghiệp có một vị trí, vai trò khác nhau trong hệ thống chung, trong hạt nhân của nó là các triết lý và hệ giá trị Do vạch ra sứ mệnh, mục tiêu, phương thức thực hiện mục tiêu, một hệ thống các giá trị có tính pháp lý và đạo lý, chủ yếu là giá trị đạo đức của doanh nghiệp Nói ngắn gọn hơn, triết lý doanh nghiệp là phong cách, là

cố lõi của doanh nghiệp đó Qua đó, nó góp tạo nên một nguồn nội lực mạnh mẽ từ doanh nghiệp Triết lý doanh nghiệp có vị trí quan trọng nhất trong số các yếu tố hợp thành văn hóa doanh nghiệp

Triết lý kinh doanh có vai trò định hướng, là một công cụ để hướng dẫn cách thức kinh doanh phù hợp với văn hóa doanh nghiệp Nếu thiếu nó thì chẳng những tương lai lâu dài của doanh nghiệp sẽ thiếu ổn định mà còn ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch chiến lược và dự án kinh doanh Sự trung thành với triết lý kinh doanh còn giúp cho doanh nghiệp có thể thích ứng với những nền văn hóa khác nhau ở các quốc gia khác nhau, đem lại thành công cho doanh nghiệp

Đối với tầng lớp cán bộ quản trị, triết lý doanh nghiệp là một văn bản pháp lý và

cơ sở văn hóa để họ có thể đưa ra các quyết định quản lý quan trọng, có tính chiến lược

Trang 21

CHƯƠNG 2:

TRIẾT LÝ KINH DOANH “KHÁCH HÀNG LÀ TRÊN HẾT”

CỦA AEON VIỆT NAM TẠI TÂN PHÚ – TPHCM

1 Sơ lược về tập đoàn AEON

1.1 Lịch sử hình thành tập đoàn AEON

Năm 1758, AEON khởi đầu từ một cửa hiệu chuyên cung cấp các chất liệu, phụ kiện may kimono ở Yokkaichi do ông Sozaemon Okada điều hành Với lịch sử trải dài trên 250 năm, Tập đoàn AEON là một trong những nhà bán lẻ lâu đời nhất tại Nhật Bản,

và là một trong những tập đoàn thương mại bán lẻ lớn nhất trên thế giới với 179 liên doanh trong và ngoài nước

Vào năm đầu thành lập, Okadaya, một trong những trụ sở đầu tiên của AEON, được thành lập tại Yokkaichi, tỉnh Mie, Nhật Bản Năm 1887, trụ sở này được di dời từ địa điểm ban đầu đến một quận mua sắm sầm uất Đây là lúc mà khẩu hiệu gia đình “Gắn bánh xe vào trục đỡ” được sáng tạo, với nghĩa ẩn dụ rằng, một cửa hàng phải luôn có tính năng động để phản ứng với những thay đổi trong động thái của khách hàng

Tại Okadaya, nơi này cũng được khởi xướng ra cách sử dụng bảng giá dựa trên triết lý “Tất cả khách hàng nên được đối xử bình đẳng”, khi mà vào thời đó, giá cả vẫn được quyết định chủ yếu thông qua việc trả giá Có nhiều cuộc cải cách tiên phong được thực hiện, bao gồm cả việc giới thiệu về bảng tài khoản được mô phỏng như bảng cân đối

kế toán trong hệ thống bút toán kép hiện đại, và các điều luật của cửa hàng về các điều kiện khuyến mãi,…

Trong cuộc khủng hoảng năm 1920, Okadaya đã tổ chức “Ngày hội chợ giá sốc”

để thanh lý toàn bộ hàng hóa tồn kho với tốc độ chóng mặt, kéo theo đó là một sự kiện khuyến mãi khác khi họ bán các sản phẩm cửa hàng đã mua lúc rớt giá Sự kiện này dẫn tới một khẩu hiệu gia đình khác “Hãy kiếm tiền khi thị trường rớt giá, chứ không phải lúc đang lên giá”

Okadaya, mặc dù đã bị thiêu hủy vào Thế chiến thứ II, đã nối lại hoạt động vào tháng 3 năm 1946, một năm sau khi chiến tranh kết thúc Vào tháng 7, ở đây tổ chức một

sự kiện khuyến mãi lớn, với bản sao của câu khẩu hiệu “Phát triển từ đống tro tàn” Vào

Trang 22

ngày diễn ra khuyến mãi, một người khách hàng cầm tờ rơi khuyến mãi, mắt rưng rưng

và nói với chủ tịch đương nhiệm lúc đó là Takuya Okada (hiện đang là chủ tịch danh dự

và cố vấn của tập đoàn AEON) rằng: “Thời kì hòa bình cuối cùng cũng tới Cám ơn ông.” Câu nói này đã ở trong tâm trí ông trên suốt đoạn đường về nhà, rằng “Ngành công nghiệp bán lẻ là biểu tượng của hòa bình” Ý tưởng này đã tồn tại cùng AEON, và cụm từ

“hòa bình” đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của AEON

Trong suốt quá trình hoạt động của mình, tập đoàn AEON duy trì một cam kết

không hề thay đổi đó là luôn đặt ra tiêu chí “Khách hàng là trên hết” Nguyên tắc cơ bản

của tập đoàn AEON chính là hướng tới một xã hội thịnh vượng, ổn định và hòa bình thông qua hoạt động bán lẻ Với trách nhiệm đó, tập đoàn AEON đã có được lòng tin của

khách hàng cũng như mở rộng hoạt động kinh doanh không chỉ tại Nhật Bản mà còn tại các quốc gia khác trong khu vực Châu Á trong một khoảng thời gian dài

Bên cạnh đó, việc giáo dục nhân viên cũng là một trong những bí quyết dẫn tới thành công của AEON cũng như góp phần vào việc củng cố duy trì triết lý “Khách hàng

là trên hết” của tập đoàn AEON tâm niệm rằng giáo dục chính là phúc lợi lớn nhất

Ngành công nghiệp bán lẻ là ngành công nghiệp nơi mà nhân viên giao tiếp với khách hàng hằng ngày và do đó, nó được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa cá nhân và

cá nhân AEON tin rằng, việc bồi dưỡng nhân viên thông qua giáo dục sẽ dẫn tới sự hài lòng hơn nữa của khách hàng, đồng thời, việc có thể phát triển cả về mặt chức nghiệp lẫn nhân phẩm là phúc lợi tốt nhất dành cho nhân viên

Năm 1959, AEON là công ty đầu tiên trong ngành công nghiệp bán lẻ giới thiệu

về hệ thống thi tuyển thăng chức Năm 1963, AEON đã đi trước các công ty bán lẻ khác trong việc thường xuyên tuyển dụng cử nhân đại học Năm 1964, trường cao đẳng nội trú

- Cao đẳng Quản trị Okadaya, được thành lập, và tinh thần này được truyền lại cho trường Kinh doanh AEON hiện đại, tiếp tục bồi dưỡng tinh thần doanh nghiệp sẵn sàng đón nhận thử thách trong việc đổi mới AEON đã và đang tiếp tục phấn đấu bồi dưỡng nhân lực ở các nước châu Á

Tháng 5 năm 1968, mối quan hệ hợp tác giữa Okadaya ở tỉnh Mie và Futagi của quận Hyogo được thông báo, với một mục tiêu “Hiện đại hóa ngành công nghiệp bán lẻ”

Trang 23

Với sự gia nhập công ty sau đó của Shiro, công ty trách nhiệm hữu hạn Jusco được thành lập vào năm 1969 Cái tên Jusco của công ty mới được chọn ra từ đề nghị của các nhân viên, và là viết tắt của cụm “Công ty liên hiệp các cửa hàng Nhật Bản” (Japan United Stores Company) Với quan điểm đạt được “sự đồng nhất nhân tâm”, công ty mới

đã có những động thái chủ động như việc trao đổi nhân sự giữa 03 công ty để xóa bỏ khoảng cách vốn có và từ đó củng cố mối quan hệ hợp tác Tinh thần “ người mới đến nên được chào đón nồng nhiệt từ hôm nay trở đi” được viết trên thông cáo hợp tác giữa các bên vẫn được giữ tới ngày hôm nay

Vào tháng 3 năm 1969, chỉ một tháng sau khi công ty Jusco được thành lập, công

ty trách nhiệm hữu hạn Diamond City cũng được thành lập cùng với tổng công ty tập đoàn Mitsubishi, trở thành công ty phát triển đầu tiên của Nhật Bản chuyên môn hóa trong lĩnh vực cơ sở thương mại Công ty đã phát triển một trung tâm mua sắm toàn diện

có thể dự đoán về nhu cầu của xã hội đang trên đà cơ giới hóa, và điều này đã trở thành

mô hình kinh doanh kiểu mẫu cho các trung tâm mua sắm có nền tảng ở ngoại thành Năm 1981, công ty Dịch vụ tín dụng Nhật Bản (hiện nay là công ty Dịch vụ tín dụng AEON) được thành lập, và sau này thì hình thành tập đoàn AEON như hiện tại, nơi cung cấp toàn bộ nhu yếu phẩm cho cuộc sống hằng ngày của khách hàng thông qua sự hợp tác giữa dịch vụ bán lẻ, dịch vụ tài chính và phát triển cuộc sống

Vào tháng 9 năm 1974, công ty Jusco được niêm yết trên bảng thứ hai tại sàn chứng khoán Tokyo, Osaka và Nagoya, với mục tiêu nhắm đến thị trường toàn quốc bao gồm khu siêu đô thị Tokyo trải dài từ Kinki và Chubu Hai năm sau, Jusco cho ra mắt hai

hệ thống trụ sở chính gồm một nơi ở Tokyo và một ở Osaka nhằm đẩy nhanh tốc độ mở rộng qui mô kinh doanh trên toàn nước Nhật Công ty tiếp tục đà tăng trưởng ổn định dựa trên kiểu “quản lí theo phong cách liên đoàn” độc nhất – một tuyên bố về sự tập trung và phân quyền của các trụ cột chính

Tháng 9 năm 1984, đáp ứng yêu cầu của thủ tướng đương thời Malaysia Mahathir trong việc giúp đỡ hiện đại hóa ngành công nghiệp bán lẻ của đất nước này, chuỗi cửa hàng Jaya Jusco (hiện tại là tập đoàn AEON) được thành lập thông qua việc liên doanh với một công ty sở tại Vào tháng 6 năm 1985, cửa hàng Jaya Jusco Dayabumi được mở

Trang 24

tại trung tâm thành phố Kuala Lumpur như là cửa hàng kỉ niệm trong chuỗi cửa hàng đầu tiên của AEON ở nước ngoài Từ đó, công ty đã luôn cố gắng mở rộng chi nhánh ra nước ngoài, và chi nhánh ở Hongkong được liệt kê trên sàn chứng khoán Hồng Kông năm

1994, và chi nhánh ở Malaysia được niêm yết trên bảng chính tại sàn chứng khoán Kuala Lumpur năm 1996 Năm 2012, ba hệ thống trụ sở chính được thành lập đặt tại Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN

Bên cạnh việc luôn mở rộng phát triển mạng lưới kinh doanh cũng như trau dồi kinh nghiệm trong suốt quá trình hoạt động, tập đoàn AEON đã nhận được rất nhiều giải thưởng và danh hiệu cho các hoạt động kinh doanh xuất sắc của mình Danh hiệu gần đây nhất mà tập đoàn nhận được là do Hội đồng Trung tâm thương mại quốc tế đã được trao cho AEON Lake Town - một trung tâm thương mại đặt tại Koshigaya, Nhật Bản AEON Lake Town đã giành được cả hai giải thưởng: Giải thưởng cho Mô hình kinh doanh bền vững và Giải thưởng vàng ở hạng mục Mô hình kinh doanh tiên tiến và phát triển trung tâm bán lẻ mới với diện tích hơn 400.000 m2, với 16,498 trung tâm và cửa hàng

1.2 Sơ lược về sự hình thành khu trung tâm thương mại AEON Tân Phú

Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh trao Giấy Chứng Nhận Đầu Tư cho Ông Yoshiki Mori, Giám Đốc, Phó Chủ Tịch Điều Hành Công ty TNHH AEON Đến năm

2020, AEON dự kiến mở cửa và cho vào hoạt động 20 Trung tâm mua sắm và Siêu Thị, phục vụ nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng trải khắp Việt Nam

AEON chính thức bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 2009 dưới hình thức Văn phòng Đại diện (01/12/2009 – 10/07/2012) Ngày 07/10/2011: Được sự chấp thuận

từ UBND Tp.Hồ Chí Minh, Công ty TNHH AEON Việt Nam chính thức được thành lập, đầu tư cho các hoạt động về xây dựng, tổ chức, quản lý và kinh doanh các mô hình Trung tâm thương mại, Trung tâm bách hóa tổng hợp và Siêu thị hiện đại Đây được xem là phương hướng kinh doanh chủ đạo Ngoài ra AEON còn thực hiện các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến xuất nhập khẩu, thương mại và nghiên cứu

Đi cùng việc thành lập công ty, AEON còn chính thức được trao Giấy phép đầu tư cho 02 dự án lớn: Giấy chứng nhận ngày 07/10/2011 cho Trung tâm mua sắm AEON – Tân Phú Celadon tại Tp.Hồ Chí Minh, khai trương vào tháng 01/2014; Giấy chứng nhận

Trang 25

đầu tư ngày 25/05/2012 cho Trung tâm mua sắm AEON – Bình Dương Canary tại Tình Bình Dương, khai trương tháng 10/2014

Khi nói riêng về AEON Mall tại Tân Phú: thì đây là trung tâm mua sắm đầu tiên tại Việt Nam của tập đoàn AEON Nhật Bản và là quốc gia thứ 3 sau Malaysia, Trung Quốc đánh dấu sự xuất hiện của AEON với hình thức trung tâm mua sắm quy mô lớn AEON Tân Phú tọa lạc tại 30 đường Bờ Bao Tân Thắng, P.Sơn Kỳ Q.Tân Phú, TPHCM, nằm trong khu đô thị “Celadon City” tại quận Tân Phú, cách trung tâm TPHCM 9 km về phía Tây Trong vòng bán kính 15 phút đi bằng xe gắn máy, số lượng dân cư xung quanh thuộc 4 quận Tân Phú, Gò Vấp, Bình Tân và Tân Bình đạt 1,8 triệu người, là khu vực có mật độ dân số cao Ngoài ra, trung tâm mua sắm được đặt trong Celadon City, một khu

đô thị kiểu mới, bao gồm nhiều khu phức hợp như khu dân cư, trường học quốc tế, bệnh viện, nhà thi đấu thể thao

AEON Tân Phú là loại hình trung tâm mua sắm quy mô lớn nằm ở vùng ven đầu tiên tại Việt Nam, với chiều cao 3 tầng (một tầng trệt và một tầng hầm), diện tích mặt bằng bán lẻ khoảng 50.000 m2, trong đó bao gồm khu bách hóa tổng hợp GMS của AEON và khoảng 120 gian hàng cho thuê Trong khu vực gian hàng cho thuê của AEON MALL, chia thành 5 khu lớn đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Ngoài ra, đây cũng là loại hình siêu thị trọn gói One-Stop Shopping đầu tiên tại Việt Nam, đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu mua sắm Từ các mặt hàng thực phẩm, tiêu dùng hằng ngày trong khu vực siêu thị, đến các quầy hàng thời trang cho cả người lớn và trẻ em, cũng như các vật dụng gia đình đáp ứng được sự thay đổi trong phong cách sống của khách hàng

Phát biểu trước báo giới trong ngày khai trương, lãnh đạo AEON Việt Nam cho biết, tại trung tâm mua sắm này có nhiều thương hiệu uy tín của Việt Nam cũng như thế giới, trong đó có khu vực Japan Selection bày bán những thương hiệu đặc trưng của Nhật Bản Trung tâm mua sắm này sẽ tập trung vào những sản phẩm chất lượng, giới thiệu những mặt hàng mới lạ của các nước để người tiêu dùng Việt Nam tiếp cận, sử dụng…

Trong kế hoạch trung hạn của mình (niên độ 2011 đến 2013), AEON đã đề ra chiến lược “chuyển sang châu Á” (Asia shift), toàn tập đoàn sẽ đẩy mạnh chiến lược phát triển vào khu vực ASEAN, Trung Quốc… Tại Việt Nam, năm 2008, AEON Credit

Trang 26

Service là công ty Nhật Bản đầu tiên cung cấp dịch vụ bán hàng trả góp; và từ cuối năm

2011 công ty Ministop bắt đầu triển khai cửa hàng tiện ích Ministop qua hình thức nhượng quyền thương hiệu, đến nay đã được 17 cửa hàng Còn tại trung tâm mua sắm này, việc quản lý, vận hành cũng do công ty chuyên về phát triển, vận hành là AEON Mall Việt Nam đảm trách

Với triết lý “Khách hàng là số một”, mang đến cho khách hàng lối sống phong phú, tiện nghi cũng như gắng bó lâu dài với cộng đồng địa phương, tập đoàn AEON cho biết sẽ gia tăng việc mở thêm các trung tâm mua sắm và cửa hàng bách hóa tổng hợp GMS, tích cực phối hợp các thành viên để cung cấp và triển khai các dịch vụ tài chính tổng hợp, cửa hàng chuyên dụng

2 Triết lý kinh doanh của tập đoàn AEON

2.1 Nội dung triết lý kinh doanh của Tập đoàn AEON Nhật Bản

Từ “AEON” có nguồn gốc từ tiếng Latin, mang ý nghĩa “Sự trường tồn bất diệt”

Trải qua hàng trăm năm hoạt động, tôn chỉ lấy Niềm tin và Ước muốn của khách hàng làm trọng tâm được AEON xem là yếu tố cốt lõi Nhân viên AEON nỗ lực hết mình để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn Sứ mệnh muôn đời mà AEON mong muốn duy trì là mang đến sự hài lòng tối đa cho khách hàng của mình

Theo tiêu đề “Để trở thành nhà kinh doanh bán lẻ hàng đầu châu Á nhờ vào sự ủng

hộ nồng nhiệt của khách hàng” đăng trên trang điện tử của chính tập đoàn này thì, “Tạo

ra cuộc sống an bình và thịnh vượng cho khách hàng” là nhiệm vụ lâu dài của AEON Từ khi thành lập từ hơn 250 năm trước, AEON đã liên tục đổi mới và phát triển trong khi vẫn cam kết trung thành với triết lí “Khách hàng là trên hết” Bản thân công ty đã đạt được nhiều sự tự cải tổ bằng cách phản ứng nhanh chóng với mọi thay đổi trong nền kinh

tế và môi trường xã hội, và phấn đấu vì sự hài lòng hơn nữa của khách hàng Kết quả là, AEON đã phát triển thành tập đoàn bán lẻ số 1 tại Nhật Bản với doanh thu lên tới 6 nghìn

tỷ yên Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là đích đến, nhưng mới chỉ là bước đệm của tập đoàn Mục tiêu của AEON là trở thành nhà bán lẻ siêu khu vực số 1 châu Á được ủng hộ rộng rãi bởi khách hàng Nhằm thực hiện được mục tiêu trên, AEON đang thực thi chiến

Trang 27

lược toàn tập đoàn từ bốn khía cạnh – từ các thị trường ở châu Á, thị trường thành thị, thị trường được định hướng cao cấp, thị trường số hóa – trong bản Kế hoạch quản lí trung hạn 3 năm được đề xướng tại FY 2011 Cùng thời gian này, AEON cũng nỗ lực củng cố nền tảng quản lí của mình bằng việc vừa nâng cao lợi nhuận thông qua việc theo đuổi các hiệu ứng sức mạnh tổng hợp, vừa thúc đẩy cải cách cơ cấu kinh doanh

Nhắc đến triết lý kinh doanh của tập đoàn, chúng ta không thể không nói đến

“Cam kết AEON” Tháng 9 năm 1989, Tập đoàn Jusco được đổi tên thành Tập đoàn AEON, và công ty trách nhiệm hữu hạn Jusco trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn AEON vào tháng 8 năm 2001 Nhân cơ hội này, AEON phát biểu về “Cam kết của tập đoàn”, được xem như là phương châm hành động để thể hiện “Những nguyên tắc cơ bản của AEON” Bằng việc không đắm chìm trong thành công của quá khứ, AEON tiếp tục thử thách bản thân nhằm đạt được những sự đổi mới trong việc thực hiện triết lý “Khách hàng là trên hết”; trong đó:

Nguyên lý cơ bản của AEON7 là:

7

AEON Tân Phú, Các triết lý cơ bản của AEON, trang điện tử của AEON, truy cập ngày 01/11/2014,

<http://aeon.com.vn/company/about/principle.html>

Trang 28

"Hòa bình": mọi hoạt động của AEON đều hướng đến mục đích theo đuổi sự

phát triển thịnh vượng tạo nền hòa bình ổn định Và nguyên nhân tại sao trong nguyên lý

cơ bản của AEON lại tồn tại điều kiện hòa bình đã được đề cập ở chương 2, phần 1.1

"Con người":AEON luôn tôn trọng và đề cao phẩm chất và giá trị của con người,

cũng như luôn cố gắng thúc đẩy việc xây dựng những những mối quan hệ gắn bó trong cùng một tập thể

"Cộng đồng": AEON không ngừng cống hiến hết mình góp phần tạo nên sự gắn

Tương lai sẽ mang đến nhiều thử thách cho AEON trong việc khẳng định vị trí và giá trị của mình AEON đặt ra mục tiêu trở thành một thương hiệu đáng tin cậy nhằm tạo

ra sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh, đồng thời tranh thủ được sự tin tưởng và trung thành của khách hàng Và để duy trì sự trung thành này, không cách nào hơn toàn thể nhân viên AEON phải nỗ lực tập trung không ngừng trong việc kiến tạo nên những giá trị mới cho khách hàng

Vậy một AEON trong tương lai sẽ như thế nào? Ví dụ nếu khách hàng cảm thấy không hài lòng với những quy định, điều luật mà họ cảm thấy vô lý, việc những con người AEON cần phải làm là phấn đấu tạo ra những điều tốt đẹp hơn cho khách hàng, khẳng định một vị thế rõ ràng và luôn thực hiện đúng các giá trị cốt lõi của AEON, thông qua triết lý kinh doanh “Tất cả những gì ta thực hiện, đều vì khách hàng” Đây được xem

là một triết lý bất dịch mà AEON sẽ không bao giờ thay đổi, ngay cả trong công cuộc luôn tìm ra các con đường mới Chưa bao giờ thỏa mãn với những thành công hiện tại, liên tục dấn bước để tìm ra những con đường nâng cao chất lượng cuộc sống khách hàng

Trang 29

AEON thiết lập “Bộ quy tắc ứng xử” như một công cụ để làm sáng tỏ hơn con đường AEON phải đi trong tương lai “Bộ quy tắc ứng xử” này giúp làm rõ hơn những quy tắc cơ bản cho những hành động mà AEON cần thực hiện nhằm mang lại lợi ích cho những “khách hàng AEON kỷ nguyên mới”

Trong đó, bộ qui tắc ứng xử (AEON Code of Conduct)8 thì AEON cam kết:

1 Nhân viên AEON luôn biết ơn những cá nhân đã góp phần củng cố và giúp đỡ mình, và không bao giờ quên hành xử khiêm nhường

2 viên AEON coi trọng sự tin tưởng lẫn nhau hơn cả, luôn làm việc bằng sự chân thành và liêm chính trong mọi tình huống

3 Nhân viên AEON luôn chủ động trong việc tìm ra cách thức vượt qua mong đợi của khách hàng

4 Nhân viên AEON liên tục thử thách bản thân nhằm tìm ra những cách thức mới

để thực hiện những lí tưởng của AEON

5 Nhân viên AEON hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng sở tại, hoạt động với

tư cách một công dân và doanh nghiệp tốt trong việc phục vụ xã hội

Đồng thời, AEON cũng nêu ra lời hứa với khách hàng: AEON nỗ lực trong việc cung cấp sự an tâm và niềm tin cho khách hàng trong cuộc sống hằng ngày, phù hợp với quan điểm “Tất cả những gì ta thực hiện đều vì khách hàng”.Nhiệm vụ muôn đời của AEON chính là tạo ra những đóng góp tích cực đến lối sống của khách hàng

2.2 Triết lý kinh doanh được áp dụng tại AEON Tân Phú

Theo thông điệp từ ông Yasuo Nishitoge – Tổng giám đốc AEON Việt Nam, AEON Tân Phú sẽ tiếp nối theo tinh thần của Tập đoàn AEON Nhật Bản, đó là áp dụng

Trang 30

và phát huy toàn diện triết lý “Theo đuổi hòa bình, tôn trọng con người và đóng góp cho cộng đồng với khách hàng làm trọng tâm” Ông phát biểu9:

“Công ty AEON Việt Nam chúng tôi là nhà kinh doanh bán lẻ đến từ Nhật Bản với lịch sử hơn 250 năm Chúng tôi đang trong quá trình chuẩn bị để khai trương trung tâm mua sắm đầu tiên tại Việt Nam vào đầu năm 2014 Đến Việt Nam lần này, chúng tôi

sẽ cung cấp toàn diện các cơ sở thiết bị, quầy bán hàng, sản phẩm và dịch vụ đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, sáng tạo những không gian mua sắm thoải mái thú vị nhằm góp phần đem đến khách hàng một lối sống phong phú hơn Ngoài ra, chúng tôi cũng nổ lực hết mình để đóng góp cho sự phát triển của ngành bán lẻ Việt Nam cũng như các cộng đồng địa phương

Chúng tôi hướng đến việc xây dựng một công ty cùng phát triển hài hòa với cộng đồng địa phương Tại Việt Nam, chúng tôi đã liên tục triển khai nhiều hoạt động xã hội từ năm 2010, bao gồm các “Dự án trồng rừng” để bảo vệ môi trường, các “Dự án xây dựng trường học”, “Chương trình học bổng” để hỗ trợ giáo dục cho thế hệ tương lai v.v Chúng tôi đang thực hiện một loạt các hoạt động nhằm đóng góp cho môi trường và xã hội, để luôn trở thành một công ty thân thiện với môi trường, với cộng động và với mọi người Chúng tôi luôn trân trọng và nổ lực để trở thành nơi kết nối khách hàng với cộng đồng địa phương

Triết lý “Theo đuổi hòa bình, tôn trọng con người và đóng góp cho cộng động với khách hàng làm trọng tâm” là cơ sở cho mọi hoạt động của chúng tôi, và triết lý này đã không hề thay đổi từ lúc công ty được sáng lập đến nay Chúng tôi luôn đặt lợi ích khách hàng lên vị trí hàng đầu Công ty AEON Việt Nam luôn lắng nghe ý kiến của khách hàng,

và vận động nguồn lực toàn công ty để cùng khách hàng Việt Nam tạo nên một tương lai đầy hứa hẹn, thông qua việc thay đổi cuộc sống hằng ngày của khách hàng bằng những giải pháp năng động sáng tạo Chúng tôi rất cám ơn sự ưu ái của quý khách hàng và hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của quý vị trong tương lai.”

9

AEON, Từ Tổng giám đốc, trang điện tử AEON tiếng Việt, truy cập ngày 01/11/2014,

<http://aeon.com.vn/company/about/message.html>

Trang 31

Dựa theo phát biểu của ông Yasuo Nishitoge, triết lý kinh doanh cốt yếu được áp dụng tại AEON Tân Phú chính là sự mở rộng và cụ thể hóa của triết lý “Khách hàng là trên hết” vốn có của Tập đoàn AEON Nói cách khác, hoạt động kinh doanh của AEON,

dù được thực hiện ở bất kì quốc gia hay vùng lãnh thổ nào, đều dựa trên triết lý kinh doanh cơ bản nhất của Tập đoàn – triết lý “Khách hàng là trên hết”

AEON hiện đang rất tích cực trên con đường phát triển các Trung Tâm Mua Sắm dựa trên tiêu chí hài hòa với cộng đồng xung quanh không chỉ tại Nhật Bản mà còn ở các nước khác Chúng tôi đã và đang nỗ lực cải tiến chất lượng dịch vụ và các tiện ích nhằm đáp lại sự thay đổi theo thời gian, môi trường cũng như những nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng

Tại Việt Nam, dưới mô hình trung tâm mua sắm tiên tiến nhất, AEON mang đến cho khách hàng một “Điểm mua sắm tổng hợp” - nơi khách hàng có được những trải nghiệm mua sắm thú vị và vui vẻ, đặc biệt được tận hưởng những giờ phút thư giãn cùng gia đình, người thân và bạn bè với nhiều hoạt động giải trí và ẩm thực phong phú

3 Thực tế áp dụng triết lý “Khách hàng là trên hết” tại AEON Tân Phú

3.1 Nội dung văn bản triết lý kinh doanh của AEON Tân Phú

Nội dung để thể hiện một văn bản triết lý kinh doanh không có tôn chỉ, mục tiêu hướng hành động của một doanh nghiệp mà còn có bảng nội quy, quy tắc dành cho những thành viên của doanh nghiệp này ứng theo đó mà thực hiện

Có thể nói tôn chỉ, mục tiêu của AEON Tân Phú là “Làm phong phú hơn cho cuộc sống của bạn” thông qua triết lý kinh doanh chung nhất, cốt yếu nhất là “Khách hàng là trên hết”; và để triết lý kinh doanh xuyên suốt này được thực hiện một cách đúng đắn và trau dồi, hoàn thiện, phát huy qua thời gian, AEON đã đưa ra bảng nội quy dành cho nhân viên của mình, nhằm hướng đội ngũ nhân viên đến đúng đích mà tập đoàn này mong muốn

Sau đây chúng tôi xin phép trích một số nội quy, quy tắc được đề ra tại AEON Tân Phú nhằm đánh giá mức độ hợp lý, cũng như mức độ chặt chẽ của AEON trong vấn đề xây dựng một bảng nội quy đúng tiêu chí của mình; trước hết là về quy định xử phạt

Trang 32

Bảng 1: Nội quy, quy tắc dành cho nhân viên tại AEON

Sử dụng các cơ sở vật chất không đúng

với mục đích và qui định như: bãi đậu xe,

cổng ra vào, thang máy khách, nhà vệ

sinh

200.000 VND cho mỗi vi phạm

Hút thuốc lá không đúng nơi qui định (chỉ

được phép hút thuốc ở những nơi được chỉ

định)

200.000 VND cho mỗi vi phạm

Vi phạm vệ sinh Trung tâm: xả rác trong

khu vực công cộng,vận chuyển rác gây

mất vệ sinh, không dọn dẹp vệ sinh Cửa

hàng hoặc thùng carton khi nhập hàng

200.000 VND cho mỗi vi phạm

Làm việc ngoài giờ ngoài giờ qui định mà

không có sự chấp thuận từ văn phòng

AEON MALL

500.000 VND cho mỗi vi phạm Nhân viên sẽ phải ngưng ngay công việc ngay lập tức cho đến khi có được sự chấp thuận từ văn phòng AEON MALL

Tùy theo tính chất nghiêm trọng của sự việc, cửa hàng /nhà thầu sẽ bị đình chỉ hoạt động hoặc thi công

Gây trầy xước nền đá, sàn thang máy,

buồng thang máy; làm dơ; hư hại các tiện

ích chung của trung tâm

2.000.000VND cho mỗi vi phạm Nhà thầu phải trả thêm các chi phí về nhà

vệ sinh phát sinh

Trang 33

Thi công, sửa chữa vi phạm liên quan đến

cấu trúc trung tâm thương mại

5.000.000 VND đến 10.000.000 VND cho mỗi vi phạm và tùy theo tính chất và mức

độ vi phạm

Ghi chú: Trong trường hợp nhân viên Cửa hàng/ nhà thầu thi công không đồng ý

ký vào biên bản vi phạm, văn phòng AEON MALL, sẽ làm việc trực tiếp với trưởng Cửa hàng dựa trên thông tin của nhân viên phát hiện sự việc Đối với trường hợp nghiêm trọng, các giải pháp sẽ được thực thi thông qua các cuộc họp giữa các đại diện của văn phòng AEON MALL và đại diện công ty hoặc trưởng cửa hàng

Bảng nội quy, quy tắc đề ra cho các cửa hàng/ nhà thầu tại AEON được đưa ra rất chi tiết, và được thực hiện nghiệm túc trong các bộ phận của AEON

Ngoài ra, những cửa hàng ăn uống nhỏ, cửa hàng đồng giá tại AEON cũng đề ra những nội dung nguyên tắc, quy tắc riêng cho mình:

1 Không được sử dụng nhà vệ sinh dành cho khách hàng

2 Không được sử dụng bàn ghế dành cho khách hàng

3 Có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, nhặt rác trên lối đi

4 Không đeo thẻ nhân viên nếu đi mua sắm và ăn uống trong giờ giải lao

Song, theo chương 1 đã được đề cập để một văn bản triết lý đạt được giá trị của nó thì phải được sự đồng thuận và tuân theo của tất cả các thành viên nói chung, của đội ngũ nhân viên nói riêng Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã đặt ra vấn đề là ban quản lý của AEON sau khi đã đặt ra những nội quy, quy tắc mà nhân viên tại đây AEON phải làm theo có bắt buộc mọi người phải thực hiện đúng những điều này hay không; Đồng thời qua đó, mức độ quản lý chặt chẽ nhân viên của AEON sẽ được lý giải rõ ràng hơn

Trang 34

Biều đồ 1: Nhân viên có đọc qua bảng quy tắc dành cho nhân viên hay không

Trong quá trình làm nghiên cứu, chúng tôi khảo sát được 34 nhân viên làm việc tại các bộ phận tại AEON Với bảng quy tắc này do AEON đề ra thì 94% nhân viên nói rằng, AEON bắt buộc nhân viên phải đọc, chỉ có 6% còn lại không quan tâm đến bảng quy tắc này, vì vậy triết lý AEON được phổ biến rộng rãi trong nhân viên Từ đó, chúng tôi nhận thấy được công tác quản lý tại AEON rất coi trọng việc tuân thủ nội quy về phía nhân viên, từ đó đảm bảo việc phổ biến một cách rộng rãi và toàn diện cho nhân viên Từ việc nhìn nhận tính bắt buộc trong việc phổ biến nội quy cho nhân viên, chúng tôi nhận thấy tính nghiêm túc trong khâu quản lý của tập đoàn, khi hầu hết nhân viên chọn phương án

“bắt buộc phải đọc nội quy” Điều đó chứng tỏ tập đoàn AEON luôn muốn cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất, thông qua các nhân viên của mình, nhằm giữ vững uy tín của tập đoàn

2

Có, công ty bắt buộc phải đọc

Không, tôi không quan tâm

32

Trang 35

Biểu đồ 2: Mức độ hợp lý của bảng nội quy trên đánh giá của nhân viên

Như đã đề cập trong chương 1, một trong những điều kiện hình thành một văn bản triết lý kinh doanh của doanh nghiệp cần có phần sự bằng lòng của nhân viên Từ biểu đồ trên, ta thấy số người được khảo sát có câu trả lời “toàn bộ nội quy đều thỏa đáng , hợp lý” chiếm 44%, và số nhân viên cho rằng hoàn toàn không hợp lý chiếm 0% Điều đó cho thấy, văn bản triết lý của Aeon đủ điều kiện là một văn bản hoàn chỉnh Hơn nữa, chúng tôi cũng thấy được sự lưu tâm của ban quản lý dành cho bộ phận nhân viên, khi đa phần

số nhân viên được hỏi đều khẳng định tính hợp lí của văn bản nội quy làm việc

Ngoài ra, khâu tuyển dụng ảnh hưởng một phần không nhỏ đến chất lượng nhân viên qua bảng hỏi thấy được 45,5% số người khảo sát trả lời là khâu chuẩn bị hồ sơ phải

rõ ràng, phỏng vấn nghiêm khắc, tuyển chọn nhân viên kĩ lưỡng, tuy nhiên cũng có 3% câu trả lời là, khâu chuẩn bị hồ sơ mơ hồ, phỏng vấn qua loa, cách tuyển chọn nhân viên lỏng lẻo;

Trang 36

Biểu đồ 3: Đánh giá khâu tuyển dụng nhân viên của AEON

Trên thực tế, các nhà tuyển dụng Nhật Bản tuy cũng đánh giá cao nhân viên thông qua một bảng CV nêu bật những đặc tính tốt của nhân viên, song hầu hết các nhà tuyển dụng Nhật Bản đều đào tạo lại nhân viên sao phù hợp với công việc tại công ty nhất Theo số liệu thống kê ở bảng dưới, thì 41% nhân viên được tập huấn thử việc tại AEON vào ngày làm việc đầu tiên để có thích ứng với công việc tốt hơn, tuy nhiên cũng có nơi không phổ biến gì cả, chiếm 12%

Khâu chuẩn bị hồ sơ phải kỹ và nổi bật, phỏng vấn khá dễ, chỉ cần đáp ứng được khung

thời gian làm việc

Khâu chuẩn bị hồ sơ không cần quá kỹ, phỏng vấn khá nghiêm khắc, tạo nhiều áp lực

để được vào làm

Khâu chuẩn bị hồ sơ khá mơ hồ, phỏng vấn qua loa, cách tuyển chọn nhân viên lỏng lẽo

Trang 37

Công ty không phổ biến gì cả, chỉ cần đi làm là

được

Phổ biến nội quy rõ ràng, bắt buộc nhân viên

phải tuân theo

Được tập huấn thử việc tại công ty để có thể

thích ứng với công việc tốt hơn

Thời hạn và nội dung hợp đồng lao động của hai

bên

đơn vị: người

Biểu đồ 4: Những điều nhân viên được phổ biến vào ngày đầu tiên đi làm ở AEON

Ngoài ra, có thể nói thời hạn và nội dung hợp đồng luôn luôn là nội dung hàng đầu được đề ra vì đây là lợi ích của người đi xin việc; là điều đầu tiên mà tất cả những ai đi xin việc ai cũng để ý (chiếm 41% số câu trả lời); sau đó, việc phổ biến nội quy cũng là một trong những khâu quan trọng trong việc áp dụng triết lý của Aeon, trong số người được khảo sát có 38% số nhân viên trả lời là được phổ biến nội quy rõ ràng, bắt buộc nhân viên phải tuân theo, và 12 % là không phổ biến nội quy rõ ràng, bắt buộc nhân viên phải tuân theo Tuy nhiên ở câu hỏi số 6 lại có đến 94% số nhân viên bị bắt phải đọc bảng nội quy dành cho nhân viên của Aeon Điều đó cho thấy sau khi nhân viên được tuyển chọn họ mới bắt đầu đào tạo, phổ biến nội quy, quy tắc nhân viên sau đó chứ không phải

là ngày đầu tiên

Đồng thời, để một triết lý doanh nghiệp được hoàn thiện phải có văn bản triết lý liên quan đến triết lý kinh doanh nên việc đề ra một văn bản triết lý, có thể nói đây là bảng nội quy được đề ra để toàn bộ nhân viên tuân theo làm cho mục đích, tôn chỉ thành lập công ty đi theo đúng hướng đã đặt ra

Bình thường, từ “triết lý kinh doanh” (về mặt học thuật) người ta không dễ dàng hiểu được, nhưng những gì người ta học được qua quá trình làm việc, tuân thủ những nội

Trang 38

quy của AEON thì họ đáp ứng được tinh thần triết lý của AEON (tinh thần tự hoàn thiện), họ đang đi theo hướng AEON đã đề ra đó là “khách hàng là trên hết”

Làm việc cho một công ty Nhật, với triết lý kinh doanh rõ ràng và nội quy được trình bày kỹ lưỡng, chúng tôi thống kê được có tới 74% số lượng nhân viên học được cung cách ứng xử lễ độ, hòa nhã và lịch sự trước mặt khách hàng, cũng như việc coi trọng ý kiến khách hàng phải được đề cào (53%), và sự nề nếp, trật tự xã hội có trên có dưới trong quá trình làm việc (32%) được đánh giá khá cao

Chẳng hạn như việc, mỗi sáng đúng 10h thì trước cửa các cửa hàng nhỏ đều có nhân viên đứng cúi người chào khách, đưa tiền hoặc đưa hóa đơn bằng cả hai tay, không được dùng chung nhà vệ sinh chung, nhà xe chung với khách hàng, không được ngồi chung ghế với khách hàng,… tuy ban đầu tạo cảm giác hà khắc, nhưng khi thực hiện đúng những nội quy này thì tạo cho nhân viên có thái độ đúng với triết lý kinh doanh của AEON

Biểu đồ 5: Những kinh nghiệm tích lũy qua quá trình làm việc tại AEON

Ngoài ra, khi phỏng vấn phỏng vấn được hai chú bảo vệ làm việc tại AEON trong quá trình làm nghiên cứu thì cả hai đều cho rằng, ban đầu chỉ vào AEON làm vì nó gần

Sự nề nếp, có trật tự trên dưới, trước sau

trong quá trình làm việc tại công ty của

người Nhật

Những nét văn hóa tương đồng, dị biệt giữa

hai đất nước trong hoạt động kinh doanh

Cung cách phục vụ tận tình, chu đáo, coi

Trang 39

nhà, kiếm thêm thu nhập để có một cuộc sống ổn định, nhưng qua mộtthời gian làm việc,

họ đều học được cách ứng xử hòa nhã lễ độ, lịch sự trước khách hàng; Cảm thấy yêu AEON

3.2 Hình thức thể hiện văn bản triết lý kinh doanh của AEON Tân Phú

Theo phóng viên có bút danh Phong Vân trên báo điện tử Sài Gòn giải phóng10 cho biết, khu trung tâm thương mại AEON Tân Phú khai trương chính thức chi nhánh đầu tiên tại Việt Nam ngày 11/01/2014 đã đón tiếp trên 80.000 lượt khách đến mua sắm, vui chơi Ước tính đến nay, AEON Tân Phú đã đi vào hoạt động được trên 01 năm, và mỗi ngày đón trung bình 30.000 lượt khách, đặc biệt đón khoảng 70.000 lượt vào cuối tuần

Đối với một khu thương mại mới mở, chủ doanh nghiệp xác định phải xây dựng được ấn tượng ban đầu tốt để thu hút sự chú ý của đối tượng mà AEON nhắm đến Điều này có liên quan đến việc xây dựng “thương hiệu” trên thị trường vì nó có vai trò quan trọng trong sự thành bại của một doanh nghiệp Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức Thương hiệu ngày nay đang ngày càng trở nên một thành tố quan trọng trong văn hóa và trong nền kinh kế11 Doanh nghiệp nào sở hữu thương hiệu mạnh đồng nghĩa với việc đã chiếm lĩnh được thị trường và kinh doanh thành công.12 Và AEON đã quảng bá hình ảnh của tập đoàn mình tại Việt Nam thế nào

Cách quảng bá thương hiệu của một công ty thường thấy là qua phương tiện truyền thông như tivi, báo chí, mạng internet hay tờ rơi, tờ bướm,…; Có nhiều trang báo điện tử của Việt Nam như báo Thanh Niên, báo Dân Trí, báo Mới, báo Sài Gòn giải

10

Phong Vân, AEON Mall Tân Phú Celadon – Trung tâm mua sắm đẳng cấp của người dân Sài Gòn,

đăng ngày 15/01/2014, trang điện tử báo SGGP, truy cập ngày 01/01/2015,

Trang 40

nam-su-dung-facebook-111922.ict>

phóng,… cũng như trang báo có tiếng tăm của Nhật như báo Nikkei Business, báo điện

tử Kinh tế Toyo (Toyo Keizai Online), tạp chí lưu thông hằng ngày (Nikkan Ryuutsuu Journal),… đăng bài viết về đợt khai trương chính thức của AEON Tân Phú vào ngày 11/01/2014 vừa qua

Ngoài ra, AEON đã tạo cho mình trang điện tử đăng thông tin của riêng khu thương mại, cũng như có trang Facebook của AEON để thu hút mọi người quan tâm đến

sự hiện diện của mình, vì theo ICTnews13 dựa trên những con số ấn tượng trong kết quả nghiên cứu của Socialbakers & SocialTimes.me năm 2013 thì tại Việt Nam có 19,6 triệu người dùng Facebook, chiếm 21,42% dân số và chiếm tới 71,4% người sử dụng Internet tính đến tháng 8 năm 2013

Biều đồ 6: Phương tiện mà khách hàng biết đến khu trung tâm thương mại AEON

13

Hà Minh, 71,4% người dùng Internet tại Việt Nam sử dụng Facebook, đăng ngày 23/09/2013, trang điện tử Ict News, truy cập ngày 01/01/2015, <http://ictnews.vn/internet/71-4-nguoi-dung-internet-tai-viet-

Có dịp đi ngang qua nên biết đến AEON

Phương tiện truyền thông (mạng, báo,…)

Tờ rơi, tờ bướm, poster

Bạn bè, người thân, đồng nghiệp

đơn vị: người

Ngày đăng: 25/04/2021, 12:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w