1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ xix đầu thế kỷ xx ở việt nam và ý nghĩa lịch sử

150 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 900,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  PHAN VĂN TIẾN TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Ở VIỆT NAM VÀ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



PHAN VĂN TIẾN

TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

Ở VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



PHAN VĂN TIẾN

TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

Ở VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS,TS: LƯƠNG MINH CỪ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới

sự hướng dẫn của PGS, TS Lương Minh Cừ Nội dung và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực Các tài liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Tác giả

PHAN VĂN TIẾN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ, THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Ở VIỆT NAM 11

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Ở VIỆT NAM 11

1.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến sự hình thành tư tưởng canh tân chính trị, thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam 11 1.1.2 Điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam 24

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Ở VIỆT NAM 37

1.2.1 Tiền đề văn hóa, truyền thống Việt Nam với việc hình thành tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam 37 1.2.2 Tư tưởng “Tân thư” với việc hình thành tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam 43 1.2.3 Sự tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin trong hình thành tư tưởng canh tân

về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam 50

Kết luận chương 1 55 Chương 2: NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ, THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Ở VIỆT NAM 58

2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ THỜI

KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Ở VIỆT NAM 58

Trang 5

2.1.1 Tinh thần độc lập dân tộc, tự lực tự cường là một nội dung cơ bản trong tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở

Việt Nam 61

2.1.2 Tư tưởng canh tân về dân chủ thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam 74

2.1.3 Tư tưởng về tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam 93

2.2 Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Ở VIỆT NAM 108

2.2.1 Ý nghĩa lý luận của tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam 108

2.2.2 Ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam 115

Kết luận chương 2 132

KẾT LUẬN CHUNG 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, từ khi dựng nước và giữ nước cho đến nay, dân tộc ta đã trải qua nhiều giai đoạn chuyển biến về đời sống lịch sử xã hội Trong các giai đoạn ấy, thực tiễn lịch sử của dân tộc đã đặt ra nhiều vấn đề lớn đòi hỏi phải cắt nghĩa, giải đáp nên đã xuất hiện các trào lưu tư tưởng gắn liền với các cuộc cải cách, nhằm thúc đẩy xã hội tiến lên Hay nói cách khác, cải cách, đổi mới là một việc làm rất quan trọng có ý nghĩa quyết định sự thành bại, thịnh suy của mỗi chế độ trong mọi thời kỳ lịch sử Nó trở thành quy luật đấu tranh sinh tồn và phát triển của dân tộc ta Trong lịch sử Việt Nam, có thể khái quát những giai đoạn chuyển biến lớn, thông qua các cuộc cải cách, đổi mới, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển

Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử Việt Nam có những biến đổi hết sức to lớn Thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta từ một nước độc lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Chế

độ phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ rõ bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc Trong nội bộ giai cấp địa chủ phong kiến có sự phân hóa sâu sắc Triều đình phong kiến nhà Nguyễn nhu nhược, cam chịu làm tay sai cho thực dân Pháp Trong khi đó các phong trào khởi nghĩa, đấu tranh của nhân dân ta theo ý thức hệ phong kiến lần lượt đều bị thất bại

Trên thế giới vào giai đoạn này, chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh, chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa cấu kết với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé, kém phát triển Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai

Trang 7

cấp tư sản, thì chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam chịu sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân Pháp Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng, ở nhiều khu vực trên thế giới

Ở Việt Nam, sau khi Triều đình nhà Nguyễn bạc nhược ký “hòa ước” đầu hàng, những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa sâu sắc Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản

Sự tác động của tư tưởng tiến bộ phương Tây cũng như cuộc cách mạng Tân Hợi và cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có sự ảnh hưởng lớn đến Việt Nam, nhất là quá trình chuyển biến về tư tưởng xã hội nói chung và tư tưởng chính trị nói riêng

Trong bối cảnh ấy lịch sử dân tộc đặt ra câu hỏi lớn là dân tộc ta lựa chọn con đường nào và phải làm gì để vừa tiếp thu cái mới, vừa loại bỏ lạc hậu, bảo thủ mà vẫn giữ được độc lập dân tộc? Trước yêu cầu cấp thiết của lịch sử, các nhà trí thức Nho học Việt Nam tiến bộ đã chủ trương canh tân, đổi mới đất nước Sự nghiệp canh tân giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX được gắn liền với tên tuổi của Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn

An Ninh…

Tư tưởng canh tân của thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam vừa thể hiện sự phát triển của tư tưởng dân tộc, vừa phản ánh sự nhạy cảm chính trị của các nhà tư tưởng Các nhà tư tưởng canh tân Việt Nam chủ trương cải cách trên mọi lĩnh vực để tự cường, tự lực chống lại sự xâm lược của thực

Trang 8

dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc Tư tưởng canh Tân đã thổi một luồng không khí mới vào đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam Sự xuất hiện

tư tưởng canh Tân là một sự báo hiệu, sự chuẩn bị cho một bước chuyển mới

về tư tưởng của dân tộc Đầu thế kỷ XX, trên cơ sở tư tưởng canh tân ở Việt Nam, các nhà tư tưởng tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh….thực hiện bước chuyển tư tưởng chính trị, từ hệ tư tưởng phong kiến sang tư tưởng dân chủ tư sản Trên cơ sở ấy, Nguyễn Ái Quốc có điều kiện thuận lợi để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và làm nên cuộc cách mạng tư tưởng chính trị vào những năm 30 của thế kỷ XX Và hiện tại là cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đưa đất nước phát triển và đạt những thành tựu to lớn

Hiện nay trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, dân tộc Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên các mặt của đời sống xã hội Kinh tế phát triển, vượt qua thời kỳ suy thoái và đã đạt được thời kỳ phát triển nhanh Đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng an ninh được giữ vững, tình hình chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng Đạt được những thành tựu đó, một trong những yếu tố góp phần quan trọng chính là nhờ đổi mới tư duy, nhất là đổi mới tư duy chính trị, hiện nay chúng ta đang tiếp tục công tác tổng kết thực tiễn, đặc biệt thực tiễn của gần ba mươi năm đổi mới nhằm bổ sung, phát triển lý luận phục vụ công cuộc phát triển đất nước Việc nhận thức và đánh giá đúng đắn, khoa học, nội dung, tư tưởng canh tân về chính trị của các nhà tư tưởng trong giai đoạn lịch sử Việt Nam, nhằm rút ra bài học cho công cuộc đổi mới hiện nay

là việc làm cần thiết

Xuất phát từ lý do trên, học viên chọn vấn đề “Tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam và ý nghĩa lịch sử”, làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học

Trang 9

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn có nhiều sự kiện lịch sử và bước chuyển lịch sử quan trọng, do vậy đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học các nhà nghiên cứu… Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học, nhiều công trình chuyên khảo về tư tưởng canh tân của các nhà tư tưởng được khai thác ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu có thể khái quát tình hình nghiên cứu của vấn đề theo một số hướng chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: Đó là các công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị thời

kỳ này, trong tổng thể hệ tư tưởng của Việt Nam trong giai đoạn lịch sử

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đó là tác phẩm Đại cương lịch sử Việt

Nam (Toàn tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, của GS Trương Hữu

Quýnh, GS Đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mẫu Hãn (đồng chủ biên) Nghiên

cứu về sự phát triển tư tưởng Việt Nam giai đoạn này còn có công trình, Sự

phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng tám

(3 tập), Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 của GS Trần Văn Giàu Cũng tập trung nghiên cứu tư tưởng thời kỳ này còn có công trình nghiên

cứu Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do

PGS.TS Trương Văn Chung, PGS.TS Doãn Chính (đồng chủ biên), Nxb,

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Và đề tài Tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ

XIX đầu thế kỷ XX qua một số chân dung tiêu biểu (Mã số: B2004-18b-06)

do PGS.TS Vũ Văn Gầu làm chủ nhiệm đề tài và công trình nghiên cứu Quá

trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu của PGS.TS Doãn Chính và Thạc sĩ Phạm Đào

Thịnh, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2007 Hay trong

(Luận án Tiến sĩ 2009), Bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế

Trang 10

kỷ XIX đầu thế kỷ XX - Giá trị và bài học lịch sử của Phạm Đào Thịnh Tư tưởng canh tân giáo dục trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Luận văn

Thạc sĩ của Phạm Thị Châu Hồng năm 2010 Luận văn thạc sĩ Tư tưởng

canh tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của Trần Thị Hoa năm 2014 Tác phẩm Phong trào duy tân với các khuôn mặt tiêu biểu (Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2006) của Nguyễn

Quang Thắng, quyển sách đã ra mắt độc giả nhân kỷ niệm một trăm năm ngày phong trào Duy tân bị người Pháp ở Đông Dương và chính phủ Nam Triều bị dập tắt (1908 – 2008) Tác giả chỉ ra rằng, phong trào Duy tân là một phong trào cách mạng tân văn hóa, được các nhà yêu nước Việt Nam cận đại khởi xướng từ năm 1903 – 1908 và có thể trước nữa (1900) Cuốn sách cũng giúp chúng ta thấy rằng, phong trào duy tân là một cuộc vận động cách mạng dân chủ đầu tiên trong lịch trình cách mạng Việt Nam

Thứ hai, đó là các công trình ngiên cứu, đã trực tiếp đi sâu vào các vấn

đề liên quan đến các nhà canh tân, tư tưởng canh tân cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX như tiểu sử, di thảo của các nhà canh tân, điều kiện tiền đề hình thành

tư tưởng canh tân, nội dung thực chất của tư tưởng canh tân, vị trí, ý nghĩa

của chúng trong lịch sử Các công trình tiêu biểu như: Nguyễn Trường Tộ với

vấn đề canh tân đất nước (Nxb Đà Nẵng, 2000) của viện Khoa học xã hội,

Trung tâm nghiên cứu Hán nôm; Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo (Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, 2002) của Trương Bá Cần; Con người và

tác phẩm của Đặng Huy Trứ, (Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, 1990) của

Nhóm Trà Lĩnh; Phan Bội Châu về một số vấn đề văn hóa - xã hội - chính trị

(Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2000) của PGS.TS Chương Thâu và Trần

Ngọc Vượng; Phan Bội Châu nhà yêu nước, nhà văn hóa lớn, giai thoại

Phan Bội Châu (Nhà xuất bản Nghệ An - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông

Tây, 2005); Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản

Trang 11

Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996) của Đỗ Thị Hòa Hới; Phan Châu Trinh cuộc

đời và tác phẩm (Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, 1997) của Nguyễn Quang

Thắng; năm 2005, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã cho ra mắt bộ sách Phan Châu

Trinh toàn tập nhân dịp giỗ lần thứ 79 của nhà chi sĩ họ Phan (24-3-2005)

Hội khoa học lịch sử Việt Nam, trực tiếp là giáo su Chương Thâu, nhà sử học Dương Trung Quốc, Phạm Thị Minh – đã sưu tầm toàn bộ trước tác của

cụ Phan và lần đầu tiên công bố đầy đủ nhất trong ba tập sách Nguyễn An

Ninh dấu ấn để lại (Nhà xuất bản văn học, 1996) của Lê Minh Quốc; Nguyễn

An Ninh (Nhà xuất bản trẻ, 1996) của Nguyễn An Tịnh Các đề tài luận văn

Thạc sĩ, Tiến sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân

Văn thành phố Hồ Chí Minh như Tư tưởng canh Tân của Nguyễn Trường Tộ

và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay, luận văn

Thạc sĩ của Vũ Ngọc Lanh năm 2008; Tư tưởng Phan Bội Châu về con

người và ý nghĩa lịch sử của nó, luận án Tiến sĩ của Cao Xuân Long năm

2010; Tư tưởng Chính trị của Phan Châu Trinh, luận án Tiến sĩ của Trần Mai Ước năm 2013; Tư tưởng canh tân của Phạm Phú Thứ - Đặc điểm và ý

nghĩa lịch sử, luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Mai Hạnh năm 2014; Tư tưởng Canh tân của Đặng Huy Trứ và ý nghĩa lịch sử của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, luận văn Thạc sĩ năm 2014 của Nguyễn

Thị Lý; luận văn Thạc sĩ Tư tưởng triết học của Nguyễn An Ninh và ý nghĩa

lịch sử của Lê Thị Thu Hồng năm 2014 Nhìn chung các nhân vật tư tưởng

như Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Phan Bội Châu,

Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh đã được các nhà nghiên cứu đề cập nhiều góc độ như cuộc đời, tư tưởng, giá trị lịch sử của tư tưởng

Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu những nội dung liên quan đến

tư tưởng canh tân về chính trị ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

được công bố trên các tạp chí triết học Tác giả Lê Thị Lan với các bài: Đặng

Trang 12

Huy Trứ - Một trong những nhà cải cách đầu tiên (số 4 - 1992); Quan điểm dân chủ của Đặng Huy Trứ - Một nét mới trong tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX (số 2 - 1994); Tìm hiểu quan điểm chi phối các nhà cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX (số 4 - 1995); Về cải cách tư tưởng canh tân nửa cuối thế kỷ XIX đối với triều đình Nhà Nguyễn và tầng lớp sĩ phu đương thời (số 3 - 2000); Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trường Tộ lạc hậu hay đổi mới (Số 1 - 2002); tác giả Đỗ Hòa Hới với các bài Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh với tư tưởng tự do - bình đẳng - bác ái của cách mạng Pháp 1798 (Số 4 - 1989), Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX (số 4 – 1992); Tư tưởng canh tân sáng tạo đầu thế kỷ XX của chí sỹ Phan Châu Trinh (Số 3 - 2000); tác giả Chương Thâu với bài Tinh thần dân tộc và dân chủ của Phan Châu Trinh qua Tỉnh quốc hồn ca (số 11 -

2002) Các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khác như:

Nguyễn Trường Tộ và những đề nghị cải cách của ông, tạp chí nghiên cứu

lịch sử (số 23 - 1961) của Văn Tân; Góp phần ý kiến về việc đánh giá

Nguyễn Trường Tộ, tạp chí nghiên cứu lịch sử (31-1996) của Hồ Hữu Phước

và Phạm Thị Minh Lệ; Nguyễn Trường Tộ người mở đầu cho một dòng yêu

nước có xu hướng canh tân ở thời kỳ cận đại, tạp chí nghiên cứu lịch sử (số

6 - 1992) của Văn Tạo Các công trình nghiên cứu của Trần Mai Ước được

công bố trên các tạp chí như: Tìm hiểu những ảnh hưởng của “Tân Thư”

trong tư tưởng Phan Châu Trinh, tạp chí khoa học kỹ thuật 2011; Nội dung

và những đặc điểm cơ bản của tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tạp chí giáo dục lý luận 2012; Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh, tạp chí nghiên cứu khoa học 2012 Các

công trình nghiên cứu trên đã khai thác từng mặt, từng nội dung tư tưởng trên các phương diện như văn hóa, triết học, chính trị, đạo đức,… đồng thời

Trang 13

nêu lên những giá trị bài học lịch sử đối với dân tộc ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc

Như vậy, việc nghiên cứu tư tưởng canh tân Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với nhiều phương diện khác nhau, nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX ở Việt Nam dưới góc độ triết học chính trị, nhằm nghiên cứu một cách

có hệ thống những đóng góp của các nhà canh tân trong lịch sử dân tộc, và từ

đó rút ra ý nghĩa lịch sử của nó

3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, từ cơ sở đó, luận văn rút ra ý nghĩa lịch sử của tư tưởng canh tân về chính trị cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích trên đây luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất: Trình bày, phân tích làm rõ các điều kiện, tiền đề hình

thành tư tưởng canh tân về chính trị, thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX ở Việt Nam

Thứ hai: Trình bày và phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư

tưởng canh tân về chính trị, thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử của nó

Đối tượng và phạm vi của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng

Trang 14

canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung vào tư tưởng canh tân về

chính trị của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Đặng

Huy Trứ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn dựa trên

cơ sở Thế giới quan và phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh và đối chiếu, phương pháp diễn dịch và quy nạp… Trên cơ sở đó kết hợp hài hòa giữa các phương pháp để làm sáng tỏ các vấn đề mà mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đề ra

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trang 15

thời những đánh giá và ý nghĩa lịch sử mà luận văn rút ra, có thể là những bài học đối với quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết

Trang 16

Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG CANH TÂN VỀ CHÍNH TRỊ, THỜI KỲ

CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Ở VIỆT NAM

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN

VỀ CHÍNH TRỊ THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Ở VIỆT NAM

Lịch sử Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một trong những giai đoạn có nhiều biến động Đó là thời kỳ mà chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã suy tàn, đã thỏa hiệp và cam chịu làm tay sai cho thực dân Pháp Đây là giai đoạn đánh dấu bước chuyển Việt Nam từ xã hội phong kiến, thành xã hội phong kiến nửa thuộc địa, cơ cấu và tính chất xã hội hoàn toàn thay đổi Trong điều kiện đó, ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, với những khuynh hướng, phương pháp Canh tân đất nước khác nhau Tính chất, khuynh hướng, tư tưởng Canh tân, cải cách trong thời kỳ này, tuy

có khác nhau nhưng đều có chung một mục đích là cứu dân, cứu nước, giải phóng dân tộc, phát triển đất nước Tư tưởng Canh tân, cải cách diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục Trong đó tư tưởng Canh tân về chính trị biểu hiện sâu sắc, nổi bật nhất trong giai đoạn lịch sử này Để hiểu rõ tư tưởng Canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, trước hết cần phân tích làm rõ bối cảnh lịch sử xuất hiện của nó

1.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động đến sự hình thành

tư tưởng canh tân chính trị, thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam

Lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có những biến đổi to lớn Chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, chủ nghĩa thực dân cũ chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Các cuộc xâm lược của thực dân đã tác

Trang 17

động rất lớn đến độc lập dân tộc của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở phương Đông Nhằm chống lại sự bành trướng xâm lược của chủ nghĩa thực dân, các nước phương Đông, tiêu biểu là Nhật Bản và Trung Quốc đã có những cuộc canh tân làm chuyển biến tình hình xã hội Bên cạnh đó, vào đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng vô sản Nga cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước Đông Nam Á tác động rất lớn đến tư tưởng chính trị Việt Nam

Sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân cũ cuối thế kỷ XIX đầu

thế kỷ XX làm cho tình hình thế giới biến đổi rất lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, đồng thời cũng đã tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội Việt Nam

Về kinh tế, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất mới, làm diện mạo của đời sống xã hội thay đổi Trong lịch sử xã hội loài người, nếu như các giai cấp chủ nô, phong kiến biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào cuộc sống, chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu giải trí, chiến tranh thì đến giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên trong lịch sử biết áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng Cho nên, có thể khẳng định, giai cấp tư sản có vai trò rất lớn trong việc mở đường, phát triển khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển, thể hiện tính cách mạng trong lịch sử C Mác và Ph Ăngghen đánh giá: “Giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử” [56, tr.559] Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [56, tr 603] Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, do sự phát triển không đồng đều của nó, nên

đã dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1900 - 1903, dẫn đến tổng khủng

Trang 18

hoảng và cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất từ năm 1914 đến 1918 Theo, V.I Lênin, tính chất cuộc chiến tranh là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bót nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa [54, tr.18] Đồng thời

để mở rộng thị trường, các nước tư bản đã tiến hành chiến tranh xâm lược các dân tộc Phương Đông, dẫn đến sự biến đổi sâu sắc các mặt của đời sống

xã hội như chính trị, văn hóa, xã hội,…ở các nước Phương Đông Đến cuối thế kỷ XIX, các nước đế quốc Phương Tây như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, đã tiến hành cuộc xâm chiếm thị trường ở châu Á như Inđônêxia, Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện, Nhật Bản, Trung Quốc… Châu Phi như Ai Cập, Allge’rie, Sudan…các nước Mỹ la tinh như: Mêhicô,Áchentina, Urugoay, Paragoay…

Những năm của thập niên 60 của thế kỷ XIX, các nước đế quốc Mỹ, Anh, Pháp đã đặt chân sang Nhật Bản đòi chính phủ nước này phải mở cửa, trước hết là để thông thương và sau đó nhằm áp đặt sự phụ thuộc về chính trị Tuy nhiên, đến 1868, khi Thiên Hoàng Minh Trị lên ngôi thì Nhật Bản đã sớm nhận thức được vấn đề Canh tân đất nước và phát triển theo con đường chủ nghĩa tư bản Có thể nói nhờ sớm thực hiện Canh tân đất nước mà Nhật Bản đã sớm ra khỏi khủng hoảng về đường lối chính trị, thoát khỏi sự đe dọa

về độc lập, chủ quyền dân tộc

Trung Quốc vào thế kỷ XIX, mở đầu bằng cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất vào những năm 1840, thực dân Anh mở rộng xâm lược Trung Quốc bằng sức mạnh quân sự Sau đó, lần lượt đến đế quốc Mỹ rồi đến Pháp, Nhật Bản, tiến hành xâm lược Trung Quốc

Việt Nam, Lào, Campuchia cũng như các nước khác ở Đông Nam Á, đều bị chủ nghĩa đế quốc nhòm ngó Đối với Việt Nam, năm 1858 thực dân

Trang 19

Pháp nổ súng tấn công, tiến hành cuộc xâm lược, dân tộc ta đứng trước những thử thách chưa từng có trong lịch sử

Chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành chiến tranh xâm lược các quốc gia, các dân tộc nhỏ yếu, biến các quốc gia, các dân tộc đó thành thuộc địa và thực hiện đàn áp, bóc lột hết sức tàn bạo Điều đó, đặt ra cho các dân tộc, các quốc gia bị xâm lược, vấn đề chiến lược hàng đầu là tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc, chống đế quốc Từ yêu cầu thực tiễn xã hội, đấu tranh giải phóng dân tộc đã phát triển thành phong trào rộng lớn, có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng chính trị, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa Như vậy, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến một hệ quả, là sự xuất hiện tất yếu của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi thế giới Chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân đã làm cho các dân tộc, các quốc gia bị xâm lược đứng trước những vấn đề hết sức mới mẻ Đặc biệt là sự tác động lớn đến hệ tư tưởng nói chung và tư tưởng chính trị nói riêng

Do các dân tộc Phương Đông phát triển chậm, trong khi các nước Phương Tây đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, các dân tộc Phương Đông vẫn là những quốc gia phong kiến lạc hậu Khi xuất hiện nguy cơ bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược, các nước phong kiến hết sức lúng túng trước những vấn đề sống còn của quốc gia Thực tiễn sinh động ấy, buộc các nhà

tư tưởng phải giải thích những hiện tượng lịch sử mới nảy sinh Những quan điểm, tư tưởng chính trị bảo thủ, không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và tình hình thực tế của các nước Phương Đông Hệ tư tưởng phong kiến đã không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử, giai cấp cầm quyền thì bế tắc về con đường phát triển của dân tộc Trước tình hình đó, các dân tộc này xuất hiện một nhu cầu cấp bách, là cần có một hệ tư tưởng mới phù hợp, đáp ứng yêu cầu của cách mạng Cho nên vấn đề mà các nhà tư tưởng quan tâm chính là những tư tưởng chính trị, nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chủ

Trang 20

quyền dân tộc không bị xâm phạm? Vì vậy, ở Việt Nam, đặc biệt là khi thực dân Pháp xâm lược đã xuất hiện sự thay đổi rất lớn về tư tưởng nói chung và

tư tưởng chính trị nói riêng Trước thực trạng bị xâm lược, nhiều vấn đề như: dân tộc ta phải theo con đường nào để bảo vệ độc lập dân tộc; giai cấp nào đủ sức lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc; ngọn cờ tư tưởng nào để định hướng cho cách mạng Việt Nam chính thể nào phù hợp với yêu cầu thời đại… Hàng loạt vấn đề mới của thực tiễn cách mạng Việt Nam đòi hỏi sự giải đáp của lý luận Vì thế, có thể nói chính sách xâm lược của chủ nghĩa thực dân Phương Tây, là một trong những yếu tố góp phần rất lớn làm xuất hiện tư tưởng canh tân về chính trị ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Cùng với sự xâm lược của đế quốc Phương Tây vào các dân tộc ở Phương Đông, thì nền văn minh Phương Tây, cũng đã tràn vào quốc gia Phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng Nền văn minh Phương Tây ảnh hưởng tới Việt Nam dưới nhiều góc độ, nhiều phương diện như khoa học

kỹ thuật, tư tưởng tiến bộ,…Nhưng tư tưởng giữ vai trò quan trọng nhất tác động đến tư tưởng Việt Nam là các trào lưu tư tưởng Khai sáng Pháp, thế kỷ thứ XVII, XVIII, tiêu biểu là các nhà tư tưởng Vônte (1694 - 1778), Môngtexkiơ (1689 - 1755), Rútxô (1712 - 1778) Trong tư tưởng của Vônte nổi bật nhất là tư tưởng chống nhà nước quân quyền, nhà thờ và giáo hội, ông đòi quyền bình đẳng, quyền được tham gia vào công việc nhà nước của dân chúng Những quan điểm dân chủ sơ khai của ông trở thành mầm mống cho phong trào Khai sáng phát triển, đồng thời là ngọn cờ lý luận, tác động mạnh mẽ đến cuộc cách mạng Pháp 1789 Nhà tư tưởng Khai sáng tiêu biểu

là Môngtexkiơ với các tác phẩm đã làm cho ông nổi tiếng Theo Môngtexkiơ, trong xã hội có giai cấp, quản lý xã hội bằng pháp luật có tính tất yếu, pháp luật không phải xuất phát và bị chi phối từ một ý chí tối thượng nào hay từ hư vô, mà nó có cơ sở và được quy định từ các điều kiện địa lý,

Trang 21

lịch sử, xã hội và tinh thần dân tộc Con người sinh ra có quyền bình đẳng trước pháp luật, có quyền tham gia vào các công việc của nhà nước Về thể chế, theo ông, nhằm bảo đảm tính công bằng, không vụ lợi, bảo đảm pháp luật không vụ lợi, bảo đảm pháp luật không bị vi phạm, ông chủ trương xây dựng chế độ dân chủ lập hiến và đưa ra thuyết “tam quyền phân lập” Theo thuyết này, quyền lực chính trị được tách thành ba quyền độc lập: quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành pháp, tương ứng với ba quyền này có ba cơ quan đảm nhiệm và độc lập với nhau Do đó, các cơ quan này có thể quy định, chế ước lẫn nhau, không có cơ quan nào có thể đứng trên pháp luật và lạm quyền được Có thể nói, theo thuyết tam quyền phân lập, các cơ quan trong bộ máy nhà nước đã dùng quyền lực để đối trọng quyền lực, làm cho tính tối cao của pháp luật được đảm bảo Cùng với những tư tưởng tiến bộ

ấy, Rútxô là người kế tục xuất sắc với tác phẩm nổi tiếng Khế ước xã hội,

mục đích của tác phẩm là giải quyết vấn đề tìm một sự liên minh chung, một hợp đồng để nhà nước và các bên thực hiện được quyền tự do, bình đẳng của con người trong xã hội Theo ông, quyền lực tối cao là quyền lực nhân dân với bốn đặc tính là bất khả phân, bất khả nhượng, bất khả sai lầm và tuyệt đối Ý chí của nhân dân là tối cao và được thể hiện ra bằng pháp luật Về thể chế chính trị, ông kịch liệt lên án chế độ phong kiến, chủ trương xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, chế độ mà nhân dân thực sự nắm quyền lực chính

trị của xã hội

Các nhà tư tưởng đó với những tư tưởng tiến bộ đã tác động rất lớn tư duy chính trị của nhân loại Đối với Việt Nam, những tư tưởng ấy là một luồng gió mới, kích thích sự tìm tòi, khám phá về một con đường mới, buộc tư duy chính trị truyền thống phải có những chuyển biến nhất định Những tư tưởng tự do bình đẳng đòi quyền con người, quản lý con người dựa trên cơ sở pháp luật,… đáp ứng được nhu cầu bức bách của xã hội nước ta, là phải thay

Trang 22

đổi tư duy cũ kỹ, trói buộc tư tưởng xã hội, của hệ tư tưởng Nho giáo Trong khi hệ tư tưởng Nho giáo đang lung lay, thì tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng phương Tây trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý các nhà tư tưởng Việt Nam, thôi thúc họ nghiên cứu phát triển những quan điểm lý luận mới

Bên cạnh sự tác động mạnh mẽ của tư tưởng tiến bộ đến tư duy chính trị của dân tộc ta, công cuộc cải cách đất nước ở các nước Đông Á và Đông Nam Á, mà tiêu biểu và khá thành công là Nhật Bản và Trung Quốc cũng ảnh hưởng rất lớn, góp phần làm hình thành tư tưởng canh tân về chính trị cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam

Nhật Bản có chế độ phong kiến kéo dài trong lịch sử, đến giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến rơi vào bế tắc, suy thoái, nguy cơ không thể chống nổi sự đe dọa từ phương Tây Để giải quyết tình trạng ấy, Thiên Hoàng Minh Trị đã làm một cuộc cải cách toàn diện xã hội về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, giáo dục, xã hội

Về kinh tế, Nhật Bản có sự bứt phá mạnh mẽ, đó là phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa Nhờ có chính sách kinh tế phù hợp, nền công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, ngân hàng của Nhật Bản đều phát triển mạnh mẽ

Về chính trị, để phát triển kinh tế, Nhật Bản thực hiện cải cách thể chế chính trị theo con đường tư bản chủ nghĩa, tiến hành cải cách dân chủ; các chủ trương, quyết định của vương triều phải theo công luận, thực hiện đoàn kết từ quan chức đến nhân dân, tiến hành phá bỏ hủ tục, quản lý xã hội theo pháp luật, tiến hành bãi bỏ chế độ đẳng cấp, xóa bỏ đặc quyền của nó Mặc

dù có những cải cách nhất định, nhưng chế độ chính trị Nhật Bản vẫn là chế

độ tư bản quân phiệt Nhật bản cũng đã tiến hành xây dựng lượng quân sự hùng mạnh, hiện đại hóa khả năng bảo vệ chế độ và tăng cường sức mạnh ra bên ngoài khi cần thiết Nhờ vào sức mạnh về kinh tế, quân sự, nền ngoại

Trang 23

giao Nhật Bản giành lại quyền bình đẳng với các nước tư bản phương Tây,

mở rộng chiến tranh sang Trung Quốc, Nga và ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế

Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Nhật Bản - một nước phong kiến châu Á nhanh chóng vươn lên thành một nước tư bản chủ nghĩa, sánh ngang với các nước tư bản phương Tây Để đạt được kết quả đó Nhật Bản phải bắt đầu từ đổi mới tư duy chính trị, từ sự nhạy bén về thời cuộc để thực hiện bước chuyển rất căn bản về tư tưởng nói chung và tư tưởng chính trị nói riêng Sự chuyển biến này phụ thuộc rất lớn vào tầm tư duy của dân tộc, của các nhà tư tưởng hay nói cách khác là trình độ của chủ thể đề xuất tư tưởng Những bài học từ Nhật Bản như phải coi trọng phát triển công, nông, thương nghiệp; phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất; tiến hành cải cách thể chế chính trị; tiếp thu tinh hoa, văn hóa nhân loại; xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, tiến hành những cải cách về lề lối sinh hoạt,… đã chứng tỏ sự đúng đắn trong việc chấn hưng, phát triển đất nước Từ những thành công của công cuộc cải cách, Nhật Bản trở thành cứu tinh, là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần chống đế quốc của các dân tộc thuộc địa da vàng, cho nên Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ vv… xuất hiện nhiều phong trào sang Nhật để nghiên cứu và học tập Sự phát triển của Nhật Bản không chỉ ảnh hưởng rất lớn trên trường quốc

tế, mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các nước phương Đông Ảnh hưởng quan trọng nhất của công cuộc cải cách của Nhật Bản đối với Việt Nam là sự thay đổi về tư duy chính trị và đường lối, chính sách cụ thể để phát triển đất nước Sự nghiệp cải cách Nhật Bản đã thôi thúc các nhà tư tưởng Việt Nam đi tìm lời đáp cho dân tộc về vấn đề độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước, tiếp thu văn minh phương Tây

Trung Quốc là quốc gia láng giềng của Việt Nam, vào thời Mãn Thanh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội đi vào con đường suy thoái Cuộc

Trang 24

đụng độ giữa chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản, biến Trung Quốc thành một nước thuộc địa nửa phong kiến và ngày càng rơi vào cảnh bị các nước thực dân xâu xé Trong bối cảnh đó, làm cho xã hội Trung Quốc ngày càng biến đổi mạnh mẽ trên các mặt kinh tế, xã hội

Về kinh tế, với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân, ở Trung Quốc xuất hiện các xí nghiệp, hầm mỏ, bắt đầu hình thành các khu công nghiệp khai thác, chủ yếu phục vụ cho sự vơ vét của cải của các nước tư bản xâm lược Trong khi đó, kinh tế nông nghiệp của Trung Quốc vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu theo phương thức sản xuất phong kiến, làm cản trở sự phát triển của công nghiệp Thủ công nghiệp truyền thống khá phát triển, nhưng bị thực dân thu mua giá rẻ, chèn ép thị trường nên thị trường rơi vào tay các nhà tư bản Nhìn chung nền kinh tế Trung Quốc vẫn là nền kinh tế lạc hậu, phát triển què quặt, chủ yếu phục vụ cho nền kinh tế tư bản đế quốc

Về chính trị, triều đình Mãn Thanh không chuyển biến kịp với sự phát triển của thời đại, hệ tư tưởng lạc hậu chi phối cùng với chính sách bảo thủ của chế độ phong kiến lại làm cho xã hội phong kiến Trung Quốc ngày càng

đi sâu vào con đường suy tàn Bên cạnh đó, đời sống nhân dân hết sức khổ cực, cả dân tộc Trung Quốc thảm cảnh “một cổ hai tròng” Trước thực trạng trên, cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà tư tưởng tiến bộ của Trung Quốc đề xuất chủ trương duy tân, nhằm làm thay đổi hiện thực suy tàn của xã hội Trung Quốc Người đầu tiên là Hồng Tú Toàn với phong trào Thái bình thiên quốc đòi lật đổ triều đại phong kiến Mãn Thanh, thực hiện bình đẳng xã hội, bình đẳng nam nữ, đòi xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất của phong kiến, chia đều ruộng đất cho dân cày, xây dựng một xã hội không có người bóc lột người, đây là một phong trào nông dân, nhưng theo xu hướng dân chủ tư sản Cuộc cách mạng không thành công, sau đó lịch sử Trung Quốc lại xuất hiện sự nổi dậy mới bằng cuộc chính biến một trăm ngày của Khang Hữu Vi với tư

Trang 25

tưởng “biến pháp” Mục tiêu của phong trào duy tân Trung Quốc đương thời

đã đề cập nhiều nội dung, nhưng cơ bản là phải phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển ngành nghề, trang bị máy móc kỹ thuật hiện đại, đề cao dân chủ, phế bỏ quan lại bất lực, các lĩnh vực văn hóa, giáo dục tiến hành cải cách theo kiểu phương Tây Những nội dung duy tân của Khang Hữu Vi đề ra mặc dù không được thực thi, do bị ràng buộc bởi những điều kiện lịch sử, nhưng phù hợp với yêu cầu đổi mới của dân tộc Trung Quốc Phong trào duy tân của Khang Hữu Vi còn truyền bá các học thuyết chính trị phương Tây, tư tưởng dân chủ tư sản, tự do, bình đẳng, và phổ biến khoa học tự nhiên Từ

đó, tạo nên một làn sóng chống lại tư tưởng thủ cựu, lạc hậu của chế độ phong kiến, thổi một luồng sinh khí mới về tư tưởng vào đời sống xã hội

Đầu thế kỷ XX, lịch sử Trung Quốc có một sự chuyển biến quan trọng, đó là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 do nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn lãnh đạo, đã đập tan triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Quốc, thiết lập một chế độ chính trị mới, dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản Cương lĩnh chính trị của Tôn Trung Sơn được đưa ra dựa trên thuyết Tam dân: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Mục tiêu đấu tranh được ông đề ra là: “Đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa, Thành lập Dân quốc, Bình quân địa quyền”, và nêu lên ba nhiệm vụ cơ bản: Lật đổ triều đại Mãn Thanh, thành lập Trung Hoa Dân quốc, thực hiện quyền bình đẳng về ruộng đất Lịch sử Trung Quốc trải qua chế độ phong kiến với thời gian rất dài từ năm 221 trước Công nguyên cho đến 1911, cuộc cách mạng Tân Hợi đã tạo ra sự thay đổi vĩ đại của lịch sử Trung Quốc Điều đó chứng tỏ chế độ phong kiến Trung Quốc đã không còn vai trò lịch sử của mình, đã phải nhường lại quyền lực, vai trò cho chế độ xã hội mới Những cuộc canh tân đổi mới ở Trung Quốc đã tác động mạnh vào nước ta và thức tỉnh dân tộc Việt Nam cần phải tiến hành đổi mới, cải cách

Trang 26

Vào thời kỳ bây giờ, các phong trào Duy tân của Khang Hữu Vi, Cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Trung Sơn đã có sự ảnh hưởng rất sâu sắc đến các nhà tư tưởng tiến bộ ở Việt Nam như Nguyễn Trường Tộ, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh Nói về sự ảnh hưởng này, Phan Bội Châu viết: “Phong triều Trung Hoa cách mệnh thành công, ảnh hưởng với nước ta hung lắm Nhiệt độ người nước ta so với trước kia lên gấp bội Nếu ở ngoài có cái gì làm tiên thánh, thì khí thế ở trong nước khắc sống lại”[7, tr.215]

Trong những sự kiện chính trị, xã hội ấy thì chế độ dân chủ của cách mạng Tân Hợi có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với tư duy chính trị của dân tộc Việt Nam, tạo nên sự chuyển biến rất lớn trong tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh đánh giá cao cuộc cải cách theo dân chủ tư sản của Trung Quốc, ông viết: “Động lực của duy tân Trung Quốc vang dội bốn phía, lay động cả nước Do đó, các cử động, các đảng phái trong nước cũng theo đó

có ở cả Trung Quốc, Nhật Bản Và có thể nói đó là vấn đề của thời đại! Từ thực trạng đó, thúc đẩy các nhà tư tưởng Việt Nam nghiên cứu học tập kinh nghiệm, đi tìm tòi khám phá con đường cách mạng mới cho dân tộc

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng vô sản thế giới phát triển ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga

Trang 27

(1917) thành công, chế độ xã hội chủ nghĩa xuất hiện, ghi dấu ấn đậm nét trong tư duy chính trị của các nhà tư tưởng Việt Nam, tạo ra sự chuyển biến nhất định về tư tưởng vào những năm 20 của thế kỷ XX

Trên thế giới, phong trào công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt trong các nước Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Hà Lan, Thủy Điển…Tại Pháp, cuộc cách mạng ngày 18-3-1871 là cuộc cách mạng đầu tiên của giai cấp vô sản trong lịch sử nhân loại, Công xã Pari được thành lập - một tổ chức chính trị đầu tiên của giai cấp công nhân ra đời trong phong trào cách mạng

vô sản Mặc dù, công xã Pari tồn tại không bao lâu nhưng đã ghi lại dấu ấn đặc biệt quan trọng trong tư duy, không chỉ của lịch sử nước Pháp mà của cả nhân loại Sau Công xã Pari, với bài học kinh nghiệm quý báu, phong trào công nhân lại ngày càng phát triển hơn, đặc biệt là về lý luận, về tổ chức Đảng, tiền phong của phong trào công nhân, về liên minh lực lượng cách mạng ngày càng phát triển hơn Nhiều tổ chức Đảng của giai cấp công nhân

ra đời, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng vô sản ngày càng lan rộng

và ảnh hưởng rất lớn đến phong trào giải phóng dân tộc Đặc biệt khi tổ chức Quốc tế II thành lập thì phong trào cách mạng vô sản trở nên rầm rộ hơn, tuy nhiên, một thời gian sau, khi Ăngghen mất (1895) thì Quốc tế II cũng như phong trào cách mạng vô sản có những tổn thất nhất định Sau đó, năm 1917, dưới sự lãnh đạo của V.I Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, mở

ra một thời đại mới V.I Lênin tiếp tục xây dựng và phát triển phong trào công nhân, trước hết củng cố tổ chức Quốc tế Cộng sản, thay Quốc tế II đã thoái hóa, biến chất bằng Quốc tế III Với sự phát triển của tổ chức cộng sản

và phong trào công nhân, chủ nghĩa Mác ngày càng được tuyên truyền sâu rộng trên thế giới, trở thành ngọn cờ lý luận của giai cấp công nhân và của các dân tộc bị áp bức Hệ tư tưởng mới này đã tác động mạnh mẽ, làm thay

Trang 28

đổi tư duy của nhiều dân tộc, nhiều nhà tư tưởng Nước ta với vị trí địa lý thuận lợi, cho nên, sự giao lưu với phong trào công nhân cũng như hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đã tạo nên sự thay đổi rất lớn đối với tư tưởng nói chung và tư tưởng chính trị nói riêng

Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga dẫn đến sự ra đời chế

độ xã hội chủ nghĩa, đã trở thành điểm nhấn quan trọng trong chuyển biến tư duy của dân tộc ta Xã hội chủ nghĩa là chế độ mới, không còn nạn người bóc lột người, xóa áp bức, bất công, con người tự do, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện, nền dân chủ của đại đa số là giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch

sử, trở thành phổ biến của các phong trào cách mạng trên thế giới

Ở nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng dân chủ tư sản bắt đầu phát triển, tuy nhiên do hạn chế về vai trò, vị trí lịch sử cũng như đường lối chính trị, lực lượng cách mạng của bộ phận sĩ phu tư sản hóa nên đã thất bại Trước thử nghiệm lịch sử thất bại ấy, các sự kiện lịch sử nổi bật của cách mạng vô sản đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị dân tộc ta Ở Việt Nam, giai cấp tư sản chỉ là một bộ phận rất nhỏ, ra đời sau giai cấp vô sản nên cả về lực lượng, tổ chức và hệ tư tưởng đều hạn chế không đáp ứng được sứ mệnh lịch sử Mặt khác, cuộc cách mạng dân chủ tư sản của các sĩ phu tư sản hóa thực hiện, cũng đã chứng tỏ sự thất bại của nó Cho nên, vào nửa cuối những năm 20 của thế kỷ XX bắt đầu có sự chuyển biến tư tưởng chính trị của dân tộc ta bởi sự tác động mạnh mẽ của hệ tư tưởng giai cấp vô sản

Như vậy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hoàn cảnh lịch sử của thế giới có rất nhiều yếu tố, tác động mạnh mẽ đến quá trình Canh tân chính trị ở Việt Nam, chủ nghĩa tư bản Phương Tây phát triển mạnh mẽ, đẩy lùi chế độ phong kiến vào quá khứ Đồng thời sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã dẫn

Trang 29

đến sự phát triển của chủ nghĩa thực dân đã thực hiện các cuộc xâm lược sang các dân tộc Phương Đông, trong đó có Việt Nam Các cuộc canh tân của Nhật Bản, Trung Quốc tạo ra sự phát triển kinh tế xã hội, làm biến đổi

bộ mặt đất nước, thay đổi căn bản chế độ chính trị Thực tiễn sinh động ấy đặt câu hỏi cho dân tộc Việt Nam là, phải thực hiện con đường cách mạng nào để bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển đất nước theo kịp các nước khu vực Bên cạnh đó, phong trào cách mạng vô sản phát triển mạng mẽ, đặc biệt là cách mạng tháng mười Nga thắng lợi, chủ nghĩa xã hội đang trở thành hiện thực và là mong ước của hàng triệu con người trên trái đất Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân ngày càng ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi thế giới Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang ngày càng phát triển nhanh chóng Đây là những sự kiện lịch sử chính trị rất lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng canh tân nói chung và tư tưởng canh tân về chính trị nói riêng ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.1.2 Điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX với việc hình thành tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam

Bên cạnh sự tác động mạnh mẽ những sự kiện lịch sử thế giới, thì hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam là một trong những điều kiện hết sức quan trọng, góp phần hình thành tư tưởng Canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam

Vào cuối thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam ngày càng lạc hậu, trì trệ, suy thoái, đặc biệt là bảo thủ lạc hậu về tư tưởng, làm cho các vương triều nhà Nguyễn bị lung lay Và trước khi thực dân Pháp xâm lược (1858), Việt Nam

đã rơi vào tình trạng khủng hoảng về tư tưởng, kinh tế, chính trị - xã hội, trước hết là khủng hoảng về đường lối, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 30

Về điều kiện kinh tế, do không có đường lối chính trị dựa trên một triết

lý, một hệ tư tưởng vững vàng và trong hoàn cảnh đất nước vẫn chỉ là một

nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, nhà Nguyễn đã sử dụng chính sách trọng

nông, ức thương nhằm bảo vệ quyền lực chính trị cho mình, lại vô trách

nhiệm đối với xã hội đã dẫn đến khủng hoảng ngày càng trầm trọng Mặc dù

đã cố gắng áp dụng một số chính sách trong nông nghiệp như khai hoang, lập

ấp, quân điền, bảo vệ đê điều, sung công ruộng tư, nhằm phục hồi lại nền nông nghiệp tiêu điều, nhưng việc ổn định đời sống nhân dân vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn Những chính sách đó không đủ sức mở đường cho nền kinh tế nông nghiệp phát triển lên một trình độ cao hơn, không đủ sức mạnh tạo ra bước đột phá về kinh tế Có thể nói bức tranh toàn cảnh của nông nghiệp và nông thôn dưới triều Nguyễn vẫn mang tính tự phát, chưa có

sự chú trọng về khoa học kỹ thuật, nông dân ở hàng loạt thôn, xã bỏ ruộng,

bỏ quê hương đi phiêu tán

Nền kinh tế thời bấy giờ của Việt Nam, chủ yếu là nông nghiệp nên mọi thu chi trong ngân sách quốc gia đều chủ yếu dựa vào nguồn địa tô Trong tình trạng đất nước suy tàn như vậy, hơn nữa tri thức về kinh tế sản xuất hàng hóa và thị trường còn non yếu, nhà nước phong kiến triều Nguyễn

đã tự phát đặt nghề nông lên vị trí hàng đầu trong nền kinh tế Một mặt xuất phát từ quan niệm “vương đạo” trong nền chính trị - đạo đức đã lỗi thời, mặt khác, do không có kiến thức kinh tế phù hợp với thời đại và lại tôn sùng Nho giáo, cho nên Vua triều Nguyễn chưa nhận thức được việc giao thương là quan trọng Và trong lúc phụ thuộc vào thực dân Pháp, nhà Nguyễn đã phần nào nhận thức được những yếu kém của mình, lo sợ phương Tây thôn tính quyền lực, lo sợ người Pháp mượn việc truyền đạo, mở cửa thông thương để thâu tóm kinh tế, và ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng: kinh tế không chỉ là kinh tế mà còn là kinh tế chính trị, là mầm mống của sự xâm lăng

Trang 31

Ngay từ thời Gia Long, triều đình nhà Nguyễn đã nhận thức được vấn đề đó, nên đã thực thi đóng cửa thông thương, kiểm soát ngoại thương, giữ độc quyền buôn bán với nước ngoài, nhằm đối phó với hiểm họa các nước phương Tây Đây cũng là thời kỳ xuất hiện mâu thuẫn giữa lợi ích của giai cấp tư sản với triều đình nhà Nguyễn, và là tiền đề cho xâm lược Pháp dùng chính sách kinh tế chính trị để chia rẽ ngay trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn Chính sách trọng nông ức thương, là biểu hiện đặc trưng của lối tư duy bảo thủ trong xã hội phong kiến Việt Nam, được áp dụng triệt để ở triều Nguyễn, tạo ra một xã hội khép kín Chính sách hạn chế thương mại đó không chỉ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hàng hóa, mà còn tạo

ra mâu thuẫn trong xã hội Công ngiệp dưới triều Nguyễn không được chú trọng trong nền kinh tế, thành phần chính của nó chỉ là thủ công nghiệp Triều Nguyễn có chính sách khuyến khích nghề thủ công, nhưng không phải

vì sự phát triển sản xuất mà là đáp ứng nhu cầu xa xỉ của vua quan nhà Nguyễn, “thường bắt thợ giỏi chuyên làm hàng cho nhu cầu tiêu dùng của triều đình” [79, tr 289], chính sách như vậy sẽ hạn chế sự phát triển của thủ công nghiệp

Trong điều kiện lịch sử ấy, sự tác động của ý thức xã hội, cùng với những hạn chế do lý luận tư tưởng thời bấy giờ chưa phát triển, lại phải đương đầu với nguy cơ bị thôn tính về kinh tế - xã hội do sự phát triển của thương mại phương Tây đe dọa, việc xuất hiện tư tưởng mới - tư tưởng canh tân, cải cách đi trước thực tiễn xã hội là điều tất yếu Trong lúc nhà Nguyễn không đủ trí tuệ và tầm nhìn, nhân dân lại chưa có những điều kiện để phát triển kinh tế công nghiệp, thì hàng hóa phương Tây đã tác động đến tư tưởng thực dụng, mâu thuẫn với tư tưởng truyền thống, sẽ làm mầm mống cho một cuộc cách mạng; nhưng trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam lúc đó chưa

Trang 32

hội tụ đủ tiền đề kinh tế - xã hội cần thiết Vì vậy, xu thế canh Tân, đổi mới

tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng chính trị sẽ tất yếu xuất hiện

Bên cạnh điều kiện kinh tế thì điều kiện chính trị - xã hội cũng góp

phần quan trọng vào quá trình canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam

Về tính chất xã hội, với các cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã

biến xã hội Việt Nam thành một xã hội thuộc địa, có các yếu tố của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đan xen với những quan hệ sản xuất, với những yếu tố của kiến trúc thượng tầng phong kiến Cho nên, tính chất xã hội Việt Nam giai đoạn này là chế độ thuộc địa nửa phong kiến

Về cơ cấu tổ chức và bộ máy cai trị của thực dân, phong kiến, ở nước

ta đã xuất hiện những thay đổi lớn so với trước đó Những ngày đầu tháng 9

- 1858, tiếng súng của thực dân Pháp bắt đầu tấn công xâm lược nước ta Dân tộc ta bắt đầu cuộc chiến không cân sức, và cuối cùng ngày 6-6-1884, triều đình nhà Nguyễn buộc phải ký hiệp ước Patơnốt nhường quyền cai trị

và bảo hộ cho thực dân Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Sau hiệp ước ấy, thực dân Pháp tiếp tục từng bước áp dụng chính sách thống trị ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam kỳ

Ở nước ta, thực dân Pháp thực hiện chủ trương “chia để trị” Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ có ba hình thức cai trị khác nhau của chính quền thực dân Nam kỳ là đất thuộc địa trực thuộc cai trị của Pháp, không liên quan đến

chế độ phong kiến Tại Nam Kỳ thực dân Pháp ra sác lệnh thành lập Hội

đồng thuộc địa Nam Kỳ (8-2-1880), với danh nghĩa là cơ quan tư vấn kinh tế không dính dáng đến chính trị, nhưng thực chất là cơ quan cai trị của thực dân Đứng đầu hội đồng là Thống đốc Nam Kỳ do người Pháp đặt ra và chi phối hoàn toàn về quyền lực cai trị

Trang 33

Tại Trung Kỳ, thực dân Pháp thực hiện duy trì “chính phủ Nam triều”,

về thực chất đây là bộ máy bù nhìn, mọi quyền hành đặt dưới quyền Khâm

sứ người Pháp Dưới vua là Hội đồng phụ chính và Phủ tôn nhân cùng các viên Cơ mật, Đồ sát, giúp việc cho nhà vua Tuy nhiên, mọi quyết định của

bộ máy phong kiến đều phải thông qua Khâm sứ, các chức quan lại trong triều cho đến các cấp đều phải thông qua Khâm sứ chuẩn y hoặc bổ nhiệm Khâm sứ có hội đồng giúp việc và chủ yếu là người Pháp Bên cạnh các Khâm sứ người Pháp, thực dân Pháp vẫn duy trì bộ máy phong kiến song hành, đứng đầu tỉnh là Tổng đốc, Tuần phủ, và các cơ quan giúp việc Dưới các tỉnh là các phủ hoặc huyện, châu (miền núi), có các tri phủ, tri huyện, tri châu thay mặt cho Công sứ và Tổng đốc, cai quản từng vùng địa phương Về thực chất, ở Trung kỳ, quyền lực thực sự nằm trong tay Khâm sứ, với chức danh Chủ tịch Bảo hộ ở Trung Kỳ

Tại Bắc Kỳ thực dân Pháp chủ trương “nửa bảo hộ”, đứng đầu Bắc kỳ

là Thống sứ người Pháp, và hội đồng giúp việc Hệ thống chính quyền từ cấp tỉnh xuống cơ sở ở Bắc Kỳ cũng giống như ở Trung Kỳ Cấp chính quyền cơ

sở làng, xã ở nước ta tời bấy giờ vẫn là bộ máy quan lại cũ của chế độ phong kiến Tổ chức này là một bộ phận gần như độc lập trong giới hạn nhất định ở địa phương Nhưng chế độ thực dân vẫn nắm được một cách hết sức tinh vi

và khôn khéo che giấu bản chất bóc lột của chúng đối với trình độ nhận thức hạn chế của nhân dân lao động

Như vậy, có thể nói thực chất quyền hành chính trị ở ba kỳ đã chuyển sang tay bộ máy chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp Mặc dù vẫn còn người Việt trong bộ máy cai trị, cũng như việc duy trì bộ máy quan lại cũ của chế độ phong kiến nhưng về bản chất chính trị là thực hiện chiến lược

“dùng người Việt trị người Việt” đặt dưới sự đô hộ của thực dân Pháp Sự thống trị của thực dân Pháp từ kinh tế, chính trị, dần dần đến các lĩnh vực

Trang 34

khác như văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế và tất cả là thống trị toàn bộ xã hội Việt Nam

Cho đến giai đoạn những năm 20 của thế kỷ XX, thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng hoàn thiện bộ máy thực dân đô hộ trên lãnh thổ Việt Nam Chế độ phong kiến thực sự đi vào con đường suy vong không thể cứu vãn nổi, nó trở thành một cái bóng núp sau chế độ chính trị của thực dân Sau

đó, mặc dù thực dân Pháp có những thay đổi, điều chỉnh nhất định về cơ cấu

bộ máy hành chính nhằm xoa dịu tình hình chính trị ở thuộc địa nhưng về thực chất không thay đổi bản chất chính trị Chẳng hạn, lập các Viện dân biểu Bắc Kỳ, Trung Kỳ, mở rộng các công sở cho người Pháp, người Việt có bằng cấp ngang nhau, tăng cường người Việt trong các cơ quan Chủ yếu chính sách của thực dân Pháp trong những năm 20 của thế kỷ XX là nhằm tranh thủ và lôi kéo một số bộ phận nhỏ trong giới địa chủ, tư sản, tri thức Việt Nam Cho nên về cơ sở xã hội, chỉ có một bộ phận nhỏ là theo chân của thực dân còn lại đa số nhân dân lao động đứng hẳn về trận tuyến chống lại thực dân và phong kiến Sự thống trị của thực dân Pháp đã bao trùm toàn bộ

xã hội Việt Nam Từ đó, dẫn đến hệ quả là xuất hiện rất nhiều phong trào đấu tranh chống lại sự đô hộ của thực dân Pháp Đồng thời, hơn lúc nào hết, tình hình đó thúc đẩy chủ nghĩa yêu nước phát triển, trở thành triết lý sống, triết lý sinh tồn của dân tộc Việt Nam

Về cơ cấu xã hội, nước ta có sự thay đổi đáng kể Từ năm 1848 - 1883,

dân số khoảng 7,2 triệu người, đầu thế kỷ XX, khoảng 13 triệu người, năm

1931 khoảng 17,7 triệu người Trong xã hội phong kiến cơ cấu xã hội, giai cấp bao gồm tầng lớp quan lại, quý tộc; giai cấp địa chủ; giai cấp nông dân; tầng lớp tri thức; tầng lớp thợ thủ công, thương nhân, dân nghèo thành thị Trong xã hội phong kiến nửa thuộc địa, cơ cấu xã hội có thêm giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản, tư sản

Trang 35

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời dựa trên cơ sở chủ yếu là giai cấp

nông dân bằng nhiều con đường Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp non trẻ nhất, là những người hoạt động sản xuất trong các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, các ngành giao thông, ra đời trong hoàn cảnh xâm lược của thực dân Pháp chứ không phải từ sự phát triển của kinh tế tư bản dân tộc, và ra đời trước giai cấp tư sản, đại diện cho phương thức sản xuất mới Do vậy, khi giai cấp địa chủ phong kiến mất vai trò lịch sử thì tất yếu giai cấp công nhân, với vị trí của mình, trở thành giai cấp lãnh đạo xã hội, trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng của dân tộc

Giai cấp nông dân, chiếm 90% dân số cả nước, là lực lượng cơ bản

chống thực dân và phong kiến Họ trở thành đối tượng để thực dân và phong kiến bóc lột, giai cấp này phân hóa thành phú nông, trung nông, bần nông và

cố nông Nói chung các tầng lớp dân cư đều khó khăn, bị thực dân phong kiến bóc lột bằng phu phen, thuế khóa, một bộ phận bị bần cùng hóa, vào hầm mỏ làm thuê, hoặc làm tôi tớ ở vùng nông thôn

Giai cấp địa chủ Việt Nam, là giai cấp thống trị trong xã hội phong

kiến, nhưng đến xã hội thực dân nửa phong kiến thì đã mất dần vai trò thống trị, trở thành tay sai cho thực dân Pháp Mặc dù mất vai trò thống trị nhưng một bộ phận giai cấp địa chủ, ngày càng gắn bó chặt chẽ với thực dân, mặt khác, thực dân Pháp thấy rằng, đây là chỗ dựa vững chắc nên tạo điều kiện cho lực lượng này phát triển, làm nền tảng xã hội cho chế độ thuộc địa ở Việt Nam

Tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, hình thành đầu thế kỷ XX, chủ yếu các

vùng đô thị Tầng lớp này rất mỏng manh và yếu ớt nên không đứng lên làm cách mạng được, trong phong trào cách mạng dân chủ tư sản, những người đại diện và lãnh đạo là một tầng lớp đặc biệt, đó là sĩ phu tư sản hóa, nhưng

Trang 36

cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp này lãnh đạo cũng nhanh chóng bị thực dân Pháp dập tắt

Sự phân hóa giai cấp trong xã hội nước ta đã dẫn đến mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc giữa giai cấp công nhân, nông dân, các tầng lớp lao động với địa chủ phong kiến và thực dân Pháp Lực lượng cách mạng chống lại thực dân, phong kiến là công nhân, nông dân, tri thức và các tầng lớp lao động tiến bộ khác, trong đó giai cấp công nhân là giai cấp vươn lên lãnh đạo cách mạng Đặc biệt, những năm cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX, xuất hiện nhiều tổ chức cộng sản, là hạt nhân của phong trào công nhân và trở thành những tổ chức tiền thân cho sự ra đời Đảng cộng sản Việt Nam năm 1930

Phong trào yêu nước và phong trào cách mạng nước ta cuối thế kỷ

XIX đầu thế kỷ XX phát triển mạnh mẽ, thể hiện tinh thần yêu nước quật cường của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và phong kiến Đó là phong trào Cần Vương (1885 -1886) với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu là khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 - 1892) của Nguyễn Thiện Thuật, Khởi ngĩa Ba Đình (18866 - 1887) của Phạm Bành và Đinh Công Tráng, Khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1895) của Phan Đình Phùng; phong trào Yên Thế (1883 - 1913) do Đề Thám lãnh đạo; phong trào nông dân mang màu sắc tôn giáo ở Nam Bộ đứng lên chống thực dân phong kiến Các cuộc khởi nghĩa đã khơi dậy tinh thần yêu nước của dân tộc ta tạo nên một khí thế hào hùng chống ngoại xâm và phong kiến Sau đó là phong trào cách mạng như phong trào cách mạng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu với xu hướng vũ trang bạo động, của Phan Châu Trinh với xu hướng bất bạo động Bên cạnh đó, các cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản, tiêu tư sản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng Năm 1919 xuất hiện phong trào tẩy chay tư sản Hoa kiều, phong trào đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn (1923), phong trào đấu tranh trên diễn đàn báo chí đòi tự do, dân chủ, tuyên

Trang 37

truyền một số tư tưởng tiến bộ của Phương Tây Từ năm 1920 đến 1925, nổ

ra 25 cuộc bãi công, các cuộc đấu tranh ngày càng thể hiện trình độ tổ chức

và tính chất tự giác của nó Như vậy, giai cấp công nhân, mặc dù với số lượng ít ỏi nhưng cũng có nhiều phong trào đấu tranh thể hiện bản chất cách mạng của giai cấp mình

Tóm lại, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị - xã hội nước ta diễn biến phức tạp Giai cấp địa chủ phong kiến vì lợi ích của giai cấp mình đã cam chịu làm tay sai cho thực dân Pháp, còn lại đa số nhân dân lao động đều muốn đứng lên làm cách mạng, đòi lại độc lập cho dân tộc Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thời bấy giờ, là mâu thuẫn sâu sắc giữa một bên là quyền lợi dân tộc và bên là quyền lợi của giai cấp địa chủ phong kiến Nếu bảo vệ lợi ích dân tộc thì phải từ bỏ lợi ích giai cấp hoặc có thể mất lợi ích giai cấp và cả lợi ích dân tộc Mâu thuẫn ấy đã phát triển đỉnh điểm, nó tác động rất lớn đến tư duy của các nhà tư tưởng từ phương diện thực tiễn Trong tầng lớp sĩ phu tiến bộ, một bộ phận có nhận thức tiến bộ,

đã đề xuất những tư tưởng mới, tiến bộ, phản ánh tính chất phức tạp của đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn này

Cùng với điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội thì điều kiện văn hóa

giáo dục, khoa học - kỹ thuật là một trong những yêu tố quan trọng, góp

phần hình thành tư tưởng canh tân về chính trị thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam Trong giai đoạn này, bên cạnh chính sách nô dịch văn hóa thực dân Pháp, xã hội nước ta còn có sự chủ động tiếp thu tư tưởng tiến bộ, khoa học, kỹ thuật của bộ phận tri thức yêu nước tiến bộ nên tình hình văn hóa, khoa học - kỹ thuật đã có nhiều chuyển biến so với trước đó

Về văn hóa, giáo dục, thực dân Pháp thực hiện chủ trương ngu dân về

giáo dục, đầu độc về văn hóa, được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu cai trị dân tộc ta Cho nên, tùy vào từng giai đoạn, với yêu cầu chính trị

Trang 38

cụ thể mà Pháp có những thay đổi phù hợp với chủ trương chính trị Ban đầu thực dân Pháp vẫn duy trì nền học vấn Nho Gia, mặt khác mở các trường dạy tiếng Pháp và văn hóa Pháp Thực dân Pháp khai thác triệt để những tác dụng của Nho gia trong xã hội Việt Nam, nhằm làm cho “gia đình vững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ” [26, tr.186], phục vụ ý đồ thực dân Trong lúc đó, giai cấp địa chủ phong kiến coi Nho gia là cứu cánh, nên ra sức níu kéo nền học vấn bảo thủ này Do vậy cuối thời nhà Nguyễn, nền Nho học có những thay đổi trong việc nhận thức lại các phạm trù triết học như trời, mệnh trời, quan hệ giữa trời và người, lý và khí,…theo khuynh hướng tiến bộ và duy vật hơn Nho học bắt đầu chú ý đến thực học, coi trọng cả tri thức lẫn thực hành, cố gắng sử dụng tri thức trong học tập để ứng dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống Sự duy trì học vấn Nho gia cũng cho là tình thế bắt buộc đối với thực dân Pháp, nên dần dần, chúng đi đến xóa bỏ hoàn toàn, vì có những yếu tố không phù hợp

và cản trở sự cai trị của thực dân Pháp Thay vào đó, thực dân Pháp có những chủ trương cải cách mạnh mẽ nền văn hóa, giáo dục phù hợp với công cuộc khai thác thuộc địa Dần dần về sau, chữ Hán mất vị trí độc tôn trong giáo dục, các văn tự Hán được thay thế bằng các văn bản tiếng Pháp, hoặc nếu tồn tại thì các giá trị pháp lý không bằng văn bản tiếng Pháp Thực dân Pháp tiến hành mở các trường đào tạo ra đội ngũ thông dịch viên và những người phục vụ trong bộ máy chính quyền là chủ yếu, còn đào tạo nghề phát triển rất ít Nhìn chung, trong nền giáo dục thực dân, chủ yếu dành cho con

em các tầng lớp trên, những nhà giàu có, còn đại đa số con em nhân dân lao động vẫn thất học, số lượng người Việt mù chữ khá cao

Về văn hóa, vào cuối thế kỷ XIX, nền văn minh phương Tây bắt đầu xâm

nhập vào nước ta, tại Bắc Kỳ, viện Hàn Lâm được thành lập, gồm các nhà khoa bảng Việt Nam Cùng với việc truyền bá tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ được truyền

Trang 39

bá rộng rãi và cũng được đưa vào trường học để giảng dạy Đây là điều rất thuận lợi cho việc truyền bá tư tưởng và phát triển học thuật, kỹ thuật

Bên cạnh việc xuất hiện chữ quốc ngữ ở Việt Nam lúc này đã, còn xuất hiện các tờ báo, các cơ sở in ấn, các nhà xuất bản, tạo điều kiện cho việc truyền bá tư tưởng Mặc dù có những tờ báo ra đời là tiếng nói phục vụ cho chế độ phong kiến thực dân, nhưng bên cạnh đó có rất nhiều tờ báo thể hiện

tinh thần dân tộc và yêu nước Ở Hà Nội có báo Thực nghiệp dân báo, Khai

hóa nhân báo, ở Sài Gòn có báo Diễn đàn Đông Dương, tiếng vang Annam….Các báo này, chủ yếu là quảng cáo cho chủ nghĩa Pháp - Việt đề

huề, dựa vào Pháp để chống lại tư sản Hoa kiều, cổ động cho phong trào

thực nghiệp của dân tộc Các báo La Cloche fêlée (Tiếng chuông rè),

L’Annam (Nước Nam), Jeunne Annam (Nước Nam trẻ), Le Nhaque’ (Người

nhà quê)…đã tích cực truyền bá những tư tưởng tiến bộ như công khai truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản, truyền bá tư tưởng mácxít, phản đối, vạch

rõ chủ nghĩa cải lương phản bội lại lợi ích của dân tộc, chống lại chủ nghĩa thực dân và phong kiến Các tác phẩm văn học trong thời kỳ này có những thay đổi đáng kể, đặc biệt là về thể loại, về nội dung phản ánh, tạo nên luồng gió mới trên diễn đàn văn học Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ XX

Về khoa học, kỹ thuật, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã cho xây dựng

các cơ sở nghiên cứu khoa học như Viện Hải dương học, thành lập Hội đồng nghiên cứu khoa học (1982) Về thực chất, thực dân Pháp tập trung các kỹ sư

để nghiên cứu, tìm hiểu tài nguyên, của cải đất nước ta, phục vụ cho mục tiêu khai thác thuộc địa Cho nên trình độ kỹ thuật trong nền kinh tế nước ta đạt mức độ rất thấp so với sự phát triển chung của thế giới và các nước tiên tiến trong khu vực

Những biến đổi về văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật đã tạo nên những biến đổi trong nhận thức và tư tưởng của nhân dân ta thời kỳ này

Trang 40

Mặc dù, thực dân Pháp áp đặt ách nô dịch về nền văn hóa, giáo dục nhưng với tinh thần tự tôn, độc lập, tự chủ, trong đời sống nhân dân ta đã có những thay đổi nhất định về sự hiểu biết thế giới xung quanh, về chính trị, xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật Mặt khác, trong đội ngũ trí thức, một bộ phận có

ý thức tự tôn dân tộc đã tích cực, chủ động tiếp thu tư tưởng tiến bộ của phương Tây nói riêng và nhân loại nói chung, để truyền bá trong đời sống tinh thần của xã hội Những tri thức mới về các lĩnh vực của nền văn minh nhân loại được truyền bá vào nước ta, đây là yếu tố rất cần thiết cho việc đổi mới tư duy của các nhà tư tưởng, làm cho họ có thêm nhận thức mới, tạo ra một sức bứt phá mãnh liệt với hệ tư tưởng phong kiến Trong tầng lớp sĩ phu tiến bộ như Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, hay như các trí thức Tây học như Nguyễn An Ninh, do tác động của tri thức khoa học

đã tạo nên bước chuyển rất quan trọng trong tư tưởng của họ, là những tư tưởng tiến bộ đương thời

Từ thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam trước 1858, cho thấy, thời điểm trước khi Pháp xâm lược, nô dịch Việt Nam, thì xã hội Việt Nam tất yếu phải xuất hiện nhu cầu phải canh tân, cải cách Mặc dù, biết rằng

“thuở ấy xã hội Việt Nam chưa cấp bách đòi hỏi phải phát triển tư bản chủ nghĩa”, nhưng “công cuộc chống ngoại xâm lại cấp bách đòi hỏi phải duy tân, tự cường, bằng không, bằng trễ thì mất nước” [28, tr.53]

Chính vì vậy, khi đề cập đến việc tìm hiểu tiền đề hình thành tư tưởng canh tân cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, hầu hết các nhà nghiên

cứu đều cho rằng: chính điều kiện lịch sử đặc biệt của thời kỳ này là yêu cầu

cấp thiết của công cuộc chống thực dân Pháp xâm lược, đã làm xuất hiện xu hướng canh tân, đổi mới ở Việt Nam Hơn nữa, thực hiện canh tân được xem như một trong những giải pháp khắc phục cuộc khủng hoảng của đất nước lúc đó Những nhà canh tân cho rằng, để có điều kiện chiến thắng thực dân

Ngày đăng: 25/04/2021, 12:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w