Từ đó cho thấy việc nghiên cứu, đánh giá các không gian được gọi là “quảng trường” hay “công trường” ở TP.HCM và đề xuất giải pháp định hướng, tổ chức quảng trường đáp ứng nhu cầu của ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔ THỊ HỌC
******
VÕ THANH TUYỀN
ĐÁNH GIÁ CÁC QUẢNG TRƯỜNG
Ở TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÔ THỊ HỌC
MÃ NGÀNH: 60.58.01.08
TP.Hồ Chí Minh - năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔ THỊ HỌC
******
VÕ THANH TUYỀN
ĐÁNH GIÁ CÁC QUẢNG TRƯỜNG
Ở TRUNG TÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Ðể hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của Thầy Cô, bạn
bè, đồng nghiệp và những nguời có liên quan trong cuộc nghiên cứu cũng như sự ủng hộ của gia đình trong suốt thời gian qua
Em xin gửi lòng biết ơn chân thành đến cha mẹ em, nguời đã luôn theo sau ủng hộ em
về vật chất và tinh thần Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Minh Hòa cùng Thầy Cô khoa Đô thị học đã giúp em định hướng đề tài và hình thức luận văn phù hợp Đặc biệt xin cảm ơn TS.KTS Lê Thị Hồng Na đã huớng dẫn tận tình cho em trong luận văn tốt nghiệp Bên cạnh đó, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS KTS Lê Quang Ninh, ThS KTS Huỳnh Tương Thân, ThS KTS Phạm Quang Hân, TS.KTS Nguyễn Thị Bích Ngọc, TS KTS Nguyễn Phương Nga và chị Lê Thị Thanh Tuyền đã hỗ trợ huớng dẫn em thời gian qua Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ nhiệt tình về tài liệu và hỗ trợ thực hiện khảo sát trong suốt thời gian dài Đặc biệt là sự hỗ trợ của em Nguyễn Phương Quang (sinh viên khoa Đô thị học), Hoàng Tuấn Cường (sinh viên khoa Lịch sử) và Hoàng Nhật Giang (sinh viên ngành kiến trúc trường Đại học Bách Khoa)
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy Cô để luận văn hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn Xin chúc sức khỏe và thành công!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2016 Tác giả
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài Đánh giá các quảng trường ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và triển vọng là kết quả công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn của TS.KTS Lê Thị Hồng Na Các tài liệu được trích dẫn trong luận văn đều
có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tác giả
Võ Thanh Tuyền
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT TIẾNG VIỆT i
TÓM TẮT TIẾNG ANH iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH x
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xvi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 8
5 Khung phân tích/ khung nghiên cứu 9
6 Các phương pháp và kỹ thuật thực hiện 9
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9
8 Cấu trúc luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1.Các khái niệm 11
1.1.1 Quảng trường 11
1.1.2 Cấu trúc đô thị 14
1.1.3 Đời sống đô thị 16
Trang 61.2 Cơ sở lý luận 17
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển quảng trường 17
1.2.2 Các lý thuyết tiếp cận ứng dụng trong đề tài 29
1.2.3 Chức năng quảng trường 33
1.2.4 Phân loại quảng trường 36
1.2.5 Quy mô quảng trường 40
1.2.6 Vai trò quảng trường 40
1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của quảng trường 44
1.2.8 Các quảng trường tiêu biểu 51
1.3 Cơ sở thực tiễn 56
1.3.1 Tổng quan về trung tâm TP.HCM 56
1.3.2 Tổng quan các không gian được gọi là “quảng trường” hay “công trường” ở trung tâm TP.HCM .57
1.4 Tiểu kết chương 1 59
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO QUẢNG TRƯỜNG Ở TRUNG TÂM TP.HCM 61
2.1 Sự hình thành và biến đổi của các không gian được quen gọi là “quảng trường” hay “công trường” ở trung tâm TP.HCM 61
2.1.1 Tổng quan sự hình thành các không gian được quen gọi là “quảng trường” hay “công trường” ở trung tâm TP.HCM 61
2.1.2 Phân tích sự biến đổi các không gian được gọi là quảng trường ở trung tâm TP.HCM từ khi hình thành đến nay 73
2.2 Đánh giá thực trạng các không gian được gọi là quảng trường hay công trường ở trung tâm TP.HCM 84
2.2.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu người sử dụng 84
2.2.2 Khả năng đáp ứng các yếu tố cấu trúc cần thiết của quảng trường 89
2.2.3 Sự đồng thuận của chính quyền và chuyên gia trong cách gọi một không gian 110
Trang 72.2.4 Tính hiệu quả của các không gian quen được gọi là “quảng trường” hay “công trường”
ở TP.HCM 116
2.3 Đề xuất giải pháp định hướng phát triển cho quảng trường ở trung tâm TP.HCM 122
2.3.1 Triển vọng hình thành quảng trường ở trung tâm TP.HCM 122
2.3.2 Định hướng giải pháp cho việc hình thành và phát triển quảng trường ở trung tâm TP.HCM .130
2.4 Tiểu kết chương 2 132
PHẦN KẾT LUẬN 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142 PHỤ LỤC (Xem phụ lục đính kèm)
Trang 8kết và các quảng trường cũ thường “mất đi vai trò mà chúng từng có”1 Bên cạnh đó, ThS KTS Lý Thế Dân cho rằng TP.HCM rất cần một quảng trường lớn dành cho các dịp sinh hoạt lễ hội long trọng2 Đã có nhiều đề tài, tác giả nghiên cứu về quảng trường tại TP.HCM nhưng chưa có đề tài nào đánh giá chi tiết thực trạng và nêu rõ triển vọng của quảng trường tại thành phố này Từ đó cho thấy việc nghiên cứu, đánh giá các không gian được gọi là “quảng trường” hay “công trường” ở TP.HCM và đề xuất giải pháp định hướng, tổ chức quảng trường đáp ứng nhu cầu của người dân đô thị và chính quyền thành phố là cần thiết
Đề tài được sử dụng một số phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp thu thập
và xử lý thông tin sẵn có, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn sâu/ phỏng vấn nhanh và phương pháp quan sát Trong giới hạn luận văn, có 6 không gian điển hình ở trung tâm TP.HCM được nghiên cứu Đó là những không gian được quen gọi
là “quảng trường” hay “công trường” như công viên Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường đi bộ Nguyễn Huệ, công trường Công xã Paris, công trường Mê Linh, công trường Quách Thị Trang, công trường Lam Sơn và công trường Quốc tế Trong đó, không gian trên công trường Lam Sơn chưa thể tiếp cận hiện trạng do đang là công trường thi công Qua các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy rằng quảng trường được xem là một không gian công cộng có tính chất mở, được bao bọc xung quanh bằng những con
Trang 9ii
đường hay công trình xây dựng, là không gian công cộng trống trải, là nơi có thể tụ họp người đông và là nơi mọi công dân đều có thể tham gia hoạt động cộng đồng Quảng trường có vai trò quan trọng trong cấu trúc đô thị (điều tiết giao thông, điều hòa vi khí hậu) và trong đời sống đô thị (vai trò vật lý, sinh thái, tâm lý, xã hội, chính trị) Kết quả nghiên cứu cho thấy, do sự thay đổi trong cấu trúc đô thị và nhu cầu giải quyết các vấn đề của đô thị phát triển tự phát mà hiện nay những không gian được gọi là “quảng trường” hay “công trường” ở Sài Gòn xưa đã mất đi nhiều chức năng vốn có Trong 6 không gian nghiên cứu có 3 không gian (50%) mang chức năng chính là điều phối giao thông, 3 không gian (50%) còn lại có chức năng chính là không gian công cộng Đặc biệt, chỉ có không gian công cộng ở đường Nguyễn Huệ có chức năng chính là đường đi bộ, phục vụ được các hoạt động có thể tập trung nhiều người nhất Hơn nữa, thực tế cho thấy có sự pha trộn
về công năng sử dụng như đảo giao thông có thêm chức năng của không gian công cộng, không gian công cộng có thêm chức năng điều phối luồng giao thông nhất định,… Thêm vào đó, 6 không gian nghiên cứu này đều không phải là quảng trường đúng nghĩa theo nhận định của phần lớn các chuyên gia, người sử dụng, chính quyền thành phố và kết quả đánh giá cơ bản dựa trên các yếu tố hình thành và phát triển quảng trường
Kết quả khảo sát cho thấy mong muốn của người dân đô thị về quảng trường là nó cần rộng, thoáng, đa dạng và đạt hiệu quả để tránh lãng phí Trên cơ sở vai trò quan trọng của quảng trường và nhu cầu sử dụng quảng trường của người dân, du khách và chính quyền thành phố mà quảng trường cần được quan tâm nghiên cứu, thiết kế và xây dựng phù hợp TP.HCM có triển vọng hình thành quảng trường trung tâm theo quy hoạch của UBND đã phê duyệt Hình thức xây dựng quảng trường theo hợp đồng xây dựng – chuyển giao và UBND TP.HCM đã chọn được nhà đầu tư thực hiện Mặc dù triển vọng hình thành quảng trường có thể thực hiện được nhưng còn rất cần có sự đồng lòng và cách tổ chức thực hiện nghiêm túc của chính quyền thành phố và các bên liên quan với mục đích chung là phát triển đô thị bền vững
Trang 10iii
ABSTRACT
Square is a special public space of the urban area, playing important role in the urban structure and urban life This type of space needs to be assessed and constructed so as to suit the climate conditions, to meet the demands of the citizens, tourists and the city administration, to tap into its social utility and contribute to the urban sustainable development The conclusion of Architect Ta Nam Chien’s 2011 research shows that the squares in Vietnam reveal several shortcomings in design, management and the old squares tend to “lose its original function”3 In addition, MA Architect Ly The Dan reckons that Ho Chi Minh City needs a large square for formal occasions4 There are many researches and scholars studying the squares in Ho Chi Minh City but few of them are able to appraise in detail the current state and prospects of these squares Hence, it is necessary to carry out research to access the so called “square” space in Ho Chi Minh city and to suggest solution, direction and organization of this space to meet the demands of the respective citizens and administration
The research methodologies used in this paper include collection and assessment of existing information, questionnaire, interview and observation Within its limit, this paper will focus on 6 typical spaces existing in the centre of Ho Chi Minh City These spaces are often called as ‘square’ such as President Ho Chi Minh Statute Park, Nguyen Hue Pedestrian Street, Paris Commune Square, Me Linh Square, Quach Thi Trang Square, Lam Son Square, and International Square Among them, we could not access the Lam Son Square due to its being under construction
Both domestic and international researches show that square is considered as an open public space, surrounded by streets or constructions This is also seen as an empty public space used for large gathering and community activities Square has important role in the
3 Tạ Nam Chiến, Kiến trúc quảng trường ở các đô thị lớn Việt Nam (Square architecture within the metropolis in Vietnam) http://www.baoxaydung.com.vn/news/vn/quy-hoach-kien-truc/kien-truc-quang-truong-o-cac-do-thi-lon-viet-nam.html, date: 12/09/2015
4 Lý Thế Dân (5/2003), “Quảng trường đô thị vấn đề cần được quan tâm” (Issues of Urban Squares), Văn hóa xưa & nay (Past and Present Culture Journal), No 140
Trang 11iv
urban structure (i.e traffic management, microclimate control), and in the urban life (physical, ecological, psychological, social and political roles) The conclusion of these researches points out that changes in the urban structure and demands of solving spontaneous issues of urban development make the so called square of old Saigon lose its original functions The main function of three of the above mentioned squares (50%) is traffic management, and that of the other three (50%) is serving as public space Most significantly, Nguyen Hue Pedestrian Street is the only one whose main function is acting
as the pedestrian zone and as a public space for large gathering In reality, there is also the overlapping of functions such as traffic intersection also serves as a public space and public space has certain contribution to traffic management In addition, opinion of experts, users, and city administration, and basic evaluation of their development show that the 6 specified spaces do not adhere strictly to the definition of square
The survey result reckons that urban citizens expect the square space to be open, spacious, diverse and efficient in term of expenditure Due to its important role and demands of citizens, tourists and the city administration, it is necessary to pay more attention to research, design, and appropriate construction of square A center square is expected to
be established in Ho Chi Minh City, according to the ratified plan of the Ho Chi Minh City People’s Committee This square will be constructed on contract and assignment basis The People’s Committee has finalized its selection of investor and contractor However, the establishment of this type of square requires consensus and efficient management of the city administration and concerned parties, focusing on the general goal of sustainable urban development
Trang 12v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Các phương pháp và kỹ thuật thực hiện đề tài Tác giả lập ra từ kết quả
57
Bảng 4 Đặc điểm vị trí các không gian nghiên cứu điển hình Tác giả lập ra từ kết quả
nghiên cứu
58
Bảng 5 Sự thay đổi chức năng các công trình xung quanh
không gian nghiên cứu
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
83a
Bảng 6 Sự thay đổi hoạt động của các không gian nghiên cứu Tác giả lập ra từ kết quả
nghiên cứu
83a
Bảng 7 So sánh khả năng đáp ứng các yếu tố cần thiết của
quảng trường giữa công viên Tượng đài Chủ tịch Hồ
Chí Minh và đường đi bộ Nguyễn Huệ và quảng trường
Plaza de Mayo (thành phố Buenos Aires, Argentia)
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
89
Bảng 8 So sánh khả năng đáp ứng các yếu tố cần thiết của
quảng trường giữa công trường Công xã Paris và
quảng trường nhà thờ Cathedral Square (thành phố
Christchurch Newzeland)
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
93
Bảng 9 So sánh khả năng đáp ứng các yếu tố cần thiết của
quảng trường giữa công trường Quách Thị Trang và
quảng trường Zhongshan (thành phố Dalian, Trung
Quốc)
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
97
Bảng 10 So sánh khả năng đáp ứng các yếu tố cần thiết của
quảng trường giữa công trường Mê Linh và quảng
trường Zhongshan (thành phố Dalian, Trung Quốc)
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
100
Trang 13vi
Bảng 11 So sánh khả năng đáp ứng các yếu tố cần thiết của
quảng trường giữa công trường Quốc tế và quảng
trường Zhongshan (thành phố Dalian, Trung Quốc)
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
103
Bảng 12 Chức năng chính và phụ của các không gian nghiên
cứu điển hình
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
108
Bảng 13 So sánh sự đồng thuận về cách gọi không gian nghiên
cứu của chính quyền thành phố và chuyên gia
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
111
Bảng 14 Khả năng đáp ứng các yếu tố cần thiết của quảng
trường – trường hợp dự án quảng trường trung tâm
TP.HCM tại Thủ Thiêm
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
128
Trang 14vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
quả nghiên cứu 10
Sơ đồ 2 Sự hình thành và phát triển quảng trường trên thế giới Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu 22
Sơ đồ 3 Sự hình thành và phát triển quảng trường ở TP.HCM Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu
28
quả nghiên cứu
33
Sơ đồ 5 Chức năng của quảng trường Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu 34
Sơ đồ 6 Sự phân bố không gian tĩnh, động trong quảng trường Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu 36
Sơ đồ 7 Phân loại quảng trường theo chức năng (theo ThS.KTS Lý
Thế Dân)
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 39
Sơ đồ 8 Vai trò của quảng trường Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu 41
Sơ đồ 9 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của
quảng trường
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 50
Sơ đồ 10 Từ kênh đào Charner đến Công viên Tượng đài Chủ tịch Hồ
Chí Minh và đường đi bộ Nguyễn Huệ
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 73
Sơ đồ 11 Từ “place Eugène-Cuniac” đến Công trường Quách Thị Trang Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu 73
Sơ đồ 12 Từ quảng trường Francis Garnier đến công trường Lam Sơn Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu 73
Sơ đồ 13 Từ công trường Hòa Bình đến công trường Công xã Paris Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu 75
Sơ đồ 14 Từ quảng trường Rigault de Genouilly đến công trường Mê
Linh
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 75
Sơ đồ 15 Từ công trường Ba binh đến công trường Quốc tế Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu 75
Sơ đồ 16 Các giai đoạn thay đổi cấu trúc không gian trên đường
Nguyễn Huệ
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 76
Trang 15viii
Sơ đồ 17 Các giai đoạn thay đổi cấu trúc không gian trên Công trường
Quách Thị Trang
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 78
Sơ đồ 18 Các giai đoạn thay đổi cấu trúc không gian trên công trường
Lam Sơn
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 79
Sơ đồ 19 Các giai đoạn thay đổi cấu trúc không gian trên công trường
Công xã Paris
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 80
Sơ đồ 20 Các giai đoạn thay đổi cấu trúc không gian trên công trường
Mê Linh
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 81
Sơ đồ 21 Các giai đoạn thay đổi cấu trúc không gian trên công trường
Quốc tế
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu 82
Trang 16ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 So sánh số lượng người tham gia các địa điểm nghiên cứu
vào các ngày trong năm
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
85
Biểu đồ 2 So sánh tỉ lệ thành phần người sử dụng ở các địa điểm
nghiên cứu
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
86
Biểu đồ 3 So sánh lượng người tham gia các địa điểm nghiên cứu
theo tuổi
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
87
Biểu đồ 4 Từ trái sang phải, từ trên xuống dưới: Ý kiến người sử
dụng về chức năng không gian (a) Nguyễn Huệ; (b) công trường Quách Thị Trang; (c) công trường Công xã Paris;
(d) Công trường Mê Linh; (e) Công trường Quốc tế
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
115
Biểu đồ 5 Từ trái sang phải: (a) Nhu cầu của người dân (kết quả
khảo sát bảng hỏi giấy); (b) Nhu cầu của người dân (kết quả khảo sát bảng hỏi online)
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
123
Biểu đồ 6 Từ trái sang phải: (a) Tỷ lệ thích sử dụng không gian công
cộng (kết quả khảo sát bảng hỏi giấy); (b) Tỷ lệ thích sử dụng không gian công cộng (kết quả khảo sát bảng hỏi online)
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
123
Biểu đồ 7 Tỷ lệ các hoạt động của người đã đến các quảng trường Tác giả lập ra từ kết
quả nghiên cứu
124
Biểu đồ 8 Từ trái sang phải: Tỷ lệ mong muốn đặc điểm quảng
trường ở trung tâm TP.HCM (a) Kết quả khảo sát bảng giấy); (b) Kết quả khảo sát online
Tác giả lập ra từ kết quả nghiên cứu
124
Trang 17x
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
CHƯƠNG 1
Hình 1.1 Từ trái sang phải: (a) Agora trong đô thị Hy Lạp cổ
đại; (b) Mặt bằng Agora trong đô thị Hy Lạp cổ đại
http://ashui.com greeceathensaegeaninfo.com
18
Hình 1.2 Từ trái sang phải: (a) Toàn cảnh Forum La Mã; (b)
Bản đồ Forum La Mã cổ đại https://en.wikipedia.org
19
Hình 1.3 Từ trái sang phải: (a) Piazza san Marco – Venice
– Italia năm 1496; (b) Piazza san Marco – Venice
– Italia những năm thế kỷ XIX
https://en.wikipedia.org
19
Hình 1.4 Từ trái sang phải: (a) Toàn cảnh Quảng trường
République; (b) Một góc Quảng trường
République
https://www.toposmagazine.com
http://worldalldetails.com
21
Hình 1.5 Từ trái sang phải: (a) Toàn cảnh công viên - quảng
trường Washington; (b) Công viên quảng trường
hiện vị trí phố chợ và quảng trường quân sự
Hồ Viết Vinh (2005), Cải tạo và xây dựng mới các quảng trường tại
thành phố Hồ Chí Minh
24
Hình 1.7 Quảng trường Wenceslas – Cộng hóa Séc, có bố
trí ghế ngồi nghỉ, và các tiện tích khác https://commons.wikimedia.org
Hình 1.11 Từ trái sang phải: (a) Tương tác xã hội ở Quảng
trường Times, Mỹ; (b) Tương tác xã hội thông qua hoạt động chợ ở Quảng trường Djemaa el Fna,
Morocco
http://www.hivietnam.net
43
Trang 18xi
Hình 1.12 Từ trái sang phải: (a)Diễu binh ở quảng trường Ba
Đình; (b)Diễu binh ở quảng trường Đỏ
thánh Phê-rô; (b) Quy mô quảng trường thánh Phê
– rô có sức chứa tới 250.000 người
Ảnh chụp từ google earth
http://1.bp.blogspot.com
52
Hình 1.15 Từ trái sang phải: (a) Quảng trường Plaza Mayor
chụp từ trên cao; (b) Các hoạt động trên quảng
trường
Ảnh chụp từ google earth https://commons.wikimedia.org
52
Hình 1.16 Quảng trường Place des Vosges http://sharonsantoni.com/ 53 Hình 1.17 Quảng trường Piazza San Marco Ảnh chụp từ google earth 53 Hình 1.18 Quảng trường Plaza Mayo http://turismo.culturamix.com 54 Hình 1.19 Quảng trường Zócalo http://tapchitaichinh.vn 54 Hình 1.20 Quảng trường Thiên An Môn http://vietnamese.cri.cn 54 Hình 1.21 Từ trái sang phải: (a) Toàn cảnh quảng trường Ba
Đình – Hà Nội; (b) Hình chụp 1 góc quảng trường
Ba Đình
http://1tour.vn Ảnh tác giả chụp
Hình 1.23 Từ trái sang phải: (a) Phối cảnh tổng thể; (b) Hình
chụp 1 góc quảng trường Lâm Viên
trước Tòa Hòa Giải (số 115 Charner) http://qpdesign.vn
61
Trang 19xii
Hình 2.4 Từ trái sang phải: (a) Lễ hội rước rồng (festival de
dragon) trong ngày Tết Đoan ngọ của người Hoa trên đường Charner, trước Hôtel de Ville; (b) Lễ hội (có lẽ là 14/7) trên đường Charner Theo dấu trên con tem và chữ ký thì carte này gửi đi vào
tháng 12/1907
http://www.namkyluctinh.com
62
Hình 2.5 Từ trái sang phải: (a) Toàn cảnh đường Nguyễn
Huệ trước năm 1975; (b) Đường Nguyễn Huệ trước năm 1975; (c) Đường Nguyễn Huệ trước
2014
http://ttbngtr.blogspot.com http://qpdesign.vn
http://batdongsan.com.vn
62
Hình 2.6 Từ trái sang phải: (a) Dinh Xã Tây và bãi cỏ phía
trước khoảng TK XX; (b) Công viên trước Dinh
Xã Tây trước 1975
https://www.flickr.com
http://qpdesign.vn
63
Hình 2.7 Đường đi bộ Nguyễn Huệ Ảnh tác giả tự chụp 63
Hình 2.8 Đường đi bộ Nguyễn Huệ thu hút rất nhiều người
đến vui chơi, tham quan
http://vnexpress.net 63
Hình 2.9 Từ trái sang phải: (a) Place Eugene Cuniac khoảng
năm 1920s; (b) Place Eugène-Cuniac năm 1929
sau khi được xây dựng với vườn cỏ bên trong
http://belleindochine.free.fr
http://www.historicvietnam.com
64
Hình 2.10 Báo Écho Annamite 9/6/1927 có đăng quảng cáo
gánh xiếc Long Tiên ở Place de Cuniac
công trường; (b) Tượng Trần Nguyên Hãn trên
công trường Diên Hồng trước năm 1975
http://www.historicvietnam.com
https://www.flickr.com
65
Hình 2.14 Từ trái sang phải: (a) Công trường Quách Thị
Trang khi còn tượng Trần Nguyên Hãn; (b) Mật
độ giao thông cao xung quanh công trường Quách
Thị Trang
http://afamily1.vcmedia.vn Ảnh tác giả tự chụp
66
Trang 20xiii
Hình 2.15 Từ trái sang phải: (a) Quang cảnh quảng trường
trước Nhà hát; (b) Không khí ngày hội trên quảng trường (khoảng đầu TK XX); (c) Không khí ngày
hội trên quảng trường (khoảng 1920s)
https://www.flickr.com
http://tranthanhnhan1963g.blogsp
ot.com
67
Hình 2.16 Từ trái sang phải: (a) Đây còn là không gian dành
cho các hoạt động thư giãn, nghỉ ngơi của người dân; (b) Quảng trường trước Nhà hát; Cận cảnh
tượng viên sĩ quan Francis Garnier và place
Francis Garnier
http://tranthanhnhan1963g.blogsp ot.com
https://www.flickr.com
67
Hình 2.17 Công trường Lam Sơn cuối thập niên 1950 Kiến
trúc cảnh quan bên trong công trường thoáng đãng
Hình 2.20 Từ trái sang phải: (a) Công trường Công xã Paris
xưa; (b) Một góc quảng trường năm 1945 (nhìn từ
Nhà thờ Đức Bà)
http://saigonamthuc.thanhnien.vn 68
Hình 2.21 Công trường Kennedy https://www.flickr.com 68 Hình 2.22 Công trường Công xã Paris ngày nay http://vnrs2015.org 68 Hình 2.23 Chỗ gặp nhau giữa đường rue Impériale (Hai Bà
Trưng), quai Napoléon (Tôn Đức Thắng) trên bản
đồ năm 1863
http://www.historicvietnam.com 69
Hình 2.24 Quảng trường Rigault de Genouilly năm 1910 có
tượng của Đô đốc Rigault de Genouilly
http://www.chanphuocliem.com 69
Hình 2.25 Trạm xe lửa hơi nước Sài Gòn – Chợ Lớn đối diện
quảng trường
http://www.historicvietnam.com 70
Hình 2.26 Quảng trường Rigault de Genouilly đầu thế kỷ XX
với tượng Rigault de Genouilly đã bị dỡ bỏ
http://www.chanphuocliem.com 70
Hình 2.27 Toàn cảnh Công trường Mê Linh năm 1963 http://depplus.vn 70
Trang 21xiv
Hình 2.28 Tượng Trần Hưng Đạo hướng về sông Sài Gòn
trên công trường Mê Linh còn thoáng đãng những
năm 1967
http://namrom64.blogspot.com 70
Hình 2.29 Từ trái sang phải: (a) Một góc công trường Mê
Linh ngày nay; (b) Công trường Mê Linh ngày nay
Tây năm 1923s; (b) Công viên Tượng đài Chủ tịch
Hồ Chí Minh năm 2015
http://tranthanhnhan1963g.blogsp ot.com
Ảnh tác giả chụp
77
Hình 2.36 Từ trái sang phải: (a) Đường Charner (1934); (b)
Đường đi bộ Nguyễn Huệ (2015)
https://tan218ntl.wordpress.com
Ảnh tác giả chụp
77
Hình 2.37 Từ trái sang phải: (a) Quảng trường Cuniac sau
1920s; (b) Công trường Quách Thị Trang 2015
https://hiepblog.wordpress.com
http://dantri.com.vn
78
Hình 2.38 Từ trái sang phải: (a) Quảng trường Francis
Garnier đầu TK XX; (b) Công trường Lam Sơn
năm 2015
https://www.flickr.com
Ảnh tác giả chụp
80
Hình 2.39 Từ trái sang phải: (a) Công trường Công xã Paris
khoảng TK XX; (b) Công trường Công xã Paris
năm 2015
http://www.tinhquehuong.org
http://Zing.vn
81
Hình 2.40 Từ trái sang phải: (a) Quảng trường Rigault de
Genouilly đầu TK XX; (b) Công trường Mê Linh
năm 2015
http://www.chanphuocliem.com
http://saigoneer.vn
82
Hình 2.41 Từ trái sang phải: (a) Công trường Ba binh khoảng
năm 1921; (b) Công trường Quốc tế năm 2015
http://www.lophocvuive.com
http://dvhnn.org.vn
83
Hình 2.42 Từ trái sang phải: (a) Đường đi bộ Nguyễn Huệ;
(b) Quảng trường Wenceslas
Ảnh tác giả chụp
https://www.expedia.com.vn
92
Trang 22xv
Hình 2.43 Từ trái sang phải: (a) Vòng xoay Ngã Bảy; (b)
Vòng xoay chợ Đà Lạt; (c) Công trường Quách
Thị Trang
http://www.congich10.com http://static.panoramio.com
http://photos.wikimapia.org
100
Hình 2.44 Từ trái sang: (a) Washington circle; (b) Công
trường Mê Linh
thấy công viên trước Nhà hát TP.HCM sau khi xây
xong tuyến Metro
Ảnh tác giả chụp Sa bàn Khu trung
Trang 23TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
UBND Uỷ ban Nhân dân
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 24PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đô thị là một không gian sống được hình thành từ sự kết hợp những khoảng đặc của công trình kiến trúc và những khoảng rỗng của đường phố, quảng trường, công viên cây xanh,… tất cả tạo nên hình thái và cấu trúc đô thị Một đô thị hài hòa
về mặt xã hội và hạ tầng chỉ có thể được tạo nên “khi người dân cảm thấy thoải mái
khi sống trong đô thị đó và sự tương tác giữa các cư dân thành phố được kích thích
và phát triển một cách tích cực”1 Bên cạnh đó, phát triển bền vững là mục tiêu hướng đến của các đô thị Trong đó, sự cân bằng giữa tự nhiên, kinh tế và xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển đô thị
Là thành phần không thể thiếu trong cấu trúc đô thị, quảng trường là điểm nút trong hình thái không gian và là nơi thể hiện những đặc trưng của thành phố Không chỉ là đại biểu cho không gian đặc trưng của đô thị, quảng trường còn là không gian
công cộng giúp “cư dân đô thị trao đổi về mặt xã hội và kinh tế”2 Quảng trường là hình ảnh đại diện cho đô thị Là một thành phần trong đô thị, vẻ đẹp của quảng trường chính là vẻ đẹp của đô thị
Trên thế giới hay Việt Nam, nước phát triển hay đang phát triển, quảng trường vẫn tồn tại trong nó những chức năng quan trọng trong cấu trúc và đời sống đô thị Từ
thời cổ đại, quảng trường là yếu tố “không thể thiếu trong đô thị”3, đến thời hiện đại, mỗi thành phố đều cần hình thành một quảng trường như cần trái tim trong cơ thể thống nhất Ở mỗi nền văn minh của nhân loại, ở mỗi lịch sử phát triển, các đô thị đã hình thành những quảng trường với đặc trưng riêng Tuy nhiên, việc gìn giữ hay tổ chức không gian quảng trường với chức năng như thế nào để phù hợp với nhu cầu thị dân trong đô thị hiện đại thì không phải đô thị nào cũng đáp ứng được Nhìn lại TP.HCM sau hơn 300 năm phát triển, từ không gian người dân quen gọi là “quảng
1 Lê Hà Phong, Quảng trường – Trái tim của đô thị, truong-trai-tim-cua-do-thi.html, ngày cập nhật: 04/2014
http://ashui.com/mag/chuyenmuc/quy-hoach-do-thi/10032-quang-2 Lê Hà Phong, Quảng trường – Trái tim của đô thị, truong-trai-tim-cua-do-thi.html, ngày cập nhật: 04/2014
http://ashui.com/mag/chuyenmuc/quy-hoach-do-thi/10032-quang-3 Nguyễn Lâm, Sự hình thành các quảng trường tại các đô thị trên thế giới và thực trạng Việt Nam,
thuc-trang-viet-nam.html, ngày cập nhật: 12/2011
Trang 25http://ashui.com/mag/chuyenmuc/quy-hoach-do-thi/6021-su-hinh-thanh-cac-quang-truong-tai-cac-do-thi-tren-the-gioi-va-2
trường” hay “công trường” như công trường Quách Thị Trang đến không gian công cộng mới cải tạo trên đường Nguyễn Huệ, đó là những không gian còn gặp phải những vấn đề như bị thay đổi chức năng, quá nhỏ về diện tích, Theo PGS.TS Nguyễn Minh Hoà (Nguyên Trưởng khoa Đô thị học, trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn – Đại học Quốc Gia TP.HCM) cho rằng “Sài Gòn sau 300 năm hình
thành chưa có quảng trường thành phố nào đúng nghĩa mà chỉ có những khoảng không gian chuyển tiếp giữa các ô phố và công trình công cộng được gọi là quảng trường như Mê Linh, Quách Thị Trang, 30-4,… thành phố này vô cùng thiếu không gian công cộng dành cho người dân, đặc biệt là các không gian có quy mô lớn.”4
Bên cạnh đó, theo KTS Tạ Nam Chiến, các không gian quảng trường “thường bị các
phương tiện cơ giới lấn át” khiến cho các chức năng của quảng trường bị hạn chế,
tính phục vụ người dân dành cho các sinh hoạt cộng đồng chưa cao, các quảng trường chưa được quy hoạch và tổ chức hợp lý 5
Từ đó cho thấy việc nghiên cứu, đánh giá các không gian được quen gọi là
“quảng trường” hay “công trường” ở TP.HCM và tìm ra giải pháp giúp hình thành quảng trường đáp ứng nhu cầu của người dân đô thị và chính quyền thành phố là cần thiết Xuất phát từ vấn đề chung về quảng trường trong đô thị và vấn đề các không
gian được quen gọi là “quảng trường” hay “công trường” ở TP.HCM, đề tài “Đánh
giá các quảng trường ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh – thực trạng và triển vọng” được thực hiện với mong muốn cho thấy được tầm quan trọng của quảng
trường trong cấu trúc và đời sống đô thị cũng như đánh giá được thực trạng quảng trường ở TP.HCM Hơn nữa, những định hướng giải pháp giúp hình thành quảng trường hiệu quả về công năng, đáp ứng tính mĩ quan và nhân văn, góp phần vào sự phát triển của không gian công cộng đô thị và cả thành phố nói chung trong mục tiêu phát triển đô thị bền vững cũng là một trong những mục đích của đề tài
Trang 26http://www.baoxaydung.com.vn/news/vn/quy-hoach-3
2 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Không gian công cộng trong đô thị nói chung và quảng trường nói riêng là một trong những đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhằm giúp xây dựng đô thị phát triển bền vững Liên quan đến việc nghiên cứu về quảng trường, đã có một số
đề tài luận văn, nghiên cứu khoa học, sách, kỷ yếu, bài báo cung cấp thông tin về những khía cạnh khác nhau của quảng trường như sự xuất hiện của những địa danh được mang tên quảng trường hay công trường ở Sài Gòn xưa; lịch sử hình thành quảng trường công cộng đô thị; khái niệm, đặc điểm, chức năng, tiêu chuẩn thiết kế của quảng trường; mô tả và đánh giá các quảng trường trên thế giới và ở TP.HCM và
về những triển vọng hình thành quảng trường ở TP.HCM trong tương lai
Về sự xuất hiện của những địa danh được mang tên quảng trường hay công trường ở Sài Gòn xưa đã có nhiều tác phẩm đề cập đến, điển hình như tác giả Trần
Hữu Quang đã thực hiện quyển sách “Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu” (2002), ở đây quảng trường được nhắc đến trong việc quy hoạch theo kiến trúc của phương
Tây, là một nơi cần thiết cho một đô thị nhưng vẫn chưa nêu cụ thể cho các quảng
trường của Sài Gòn vào thời gian đó TS Lê Trung Hoa với tác phẩm “Nguyên tắc
và phương pháp nghiên cứu địa danh (Địa danh thành phố Hồ Chí Minh)” (2003) đã nêu lên các khái niệm như “bùng binh”, “quảng trường”, “quảng trường
Công xã Paris”, tác giả cho thấy khái niệm “quảng trường” là một từ Hán Việt theo sau là tên địa danh hay tiếng pháp (như “Công xã Paris”) để chỉ địa danh cụ thể Bài
viết “Điểm nhấn kiến trúc và điểm nhấn đô thị”(2011) của GS TS KTS Hoàng
Đạo Kính đã nói đến một số điểm nhấn kiến trúc được xem là tiêu biểu của chùa, đình của Việt Nam, từ đó mở rộng ra điểm nhấn của đô thị là quảng trường Và một
số bài báo như “quảng trường Quách Thị Trang” của tác giả Phan Văn Hoàng để
giải thích lý do quảng trường trước Chợ Bến Thành mang tên Quách Thị Trang, bài
viết trên tạp chí Sài Gòn xưa & nay “Việc xây dựng ở Sài Gòn cuối thế kỷ XIX”
của tác giả Hoài Anh đã viết về lịch sử hình thành và bị phá hủy Tháp Đồng Hồ và quảng trường Đồng Hồ do chính phủ Pháp xây dựng
Về lịch sử hình thành quảng trường công cộng đô thị có các tác phẩm như sách
“Lịch sử xây dựng đô thị cổ đại và trung đại phương Tây” (2002) của TS KTS
Trang 274
Nguyễn Quốc Thông, nội dung tác phẩm đã xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của các đô thị cổ đại như Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ, Trung Quốc từ thời cổ đại đến trung đại, trong đó quảng trường có vai trò quan trọng trong các hoạt động công cộng của đô thị Tác giả đã chỉ ra các cấu trúc không gian quy hoạch quảng trường, các loại quảng trường, các biểu tượng cũng như phong cách kiến trúc của quảng trường ở
từng giai đoạn lịch sử Tương tự, trong quyển sách “Quy hoạch đô thị cổ đại và trung đại Thế giới” (1995), PGS TS Đặng Thái Hoàng đã mô tả sơ lược về sự hình thành từ agora ở Hy Lạp, forum ở La Mã đến quảng trường Bên cạnh đó bài viết “Sự hình thành các quảng trường tại các đô thị trên thế giới và thực trạng Việt Nam” (2011) của tác giả Nguyễn Lâm đã nêu cách tổng quát lịch sử về các quảng
trường nổi tiếng của Italia, Pháp, Trung Quốc, các đặc điểm hình thành nên các quảng trường, thể hiện chức cơ bản nhất của quảng trường Qua đó, có thể thấy rằng quảng trường từ xưa trên thế giới đã được chú trọng, nhất là các nước phương Tây
Một số tác phẩm bàn về các vấn đề cơ bản như khái niệm, đặc điểm, chức năng, tiêu chuẩn thiết kế của quảng trường,… nhưng chỉ ở mức độ khái quát chung Quyển
sách “Kiến trúc nhỏ, tiểu phẩm tiểu cảnh kiến trúc, quảng trường thành phố”
(2003) của nhóm tác giả Võ Đình Diệp, Việt Hà, Nguyễn Ngọc Giả và Nguyễn Hà Cương đã cho thấy khái niệm quảng trường thành phố, những nhân tố khống chế hình thái không gian của quảng trường, quảng trường thành phố và hình tượng thành phố, kích thước, quy mô quảng trường thành phố, cấu thành quảng trường thành phố và thủ pháp xử lý không gian quảng trường Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc đưa ra các nội dung khái quát về quảng trường thành phố Do đó, tác phẩm vẫn chưa làm rõ được sự khác nhau giữa quảng trường và một số không gian mở khác Tiêu chuẩn xây
dựng 104: 2007 “Đường đô thị - yêu cầu thiết kế” của Bộ Xây Dựng theo quyết
định số 22 /2007/QĐ- BXD ngày 30/5/2007 đã nêu khái niệm và phân loại các loại quảng trường cùng với chức năng đi kèm Tuy nhiên, nội dung chưa được đưa ra là quy chuẩn về quy mô của quảng trường cũng như yêu cầu thiết kế chi tiết cho quảng
trường Bên cạnh đó, bài viết trên tạp chí Văn hóa xưa & nay “Quảng trường đô thị vấn đề cần được quan tâm” (2003) của ThS KTS Lý Thế Dân nêu những đặc điểm
và chức năng cơ bản quan trọng của quảng trường của Hy Lạp cũng như La Mã đi với
Trang 285
kèm với một số kiến trúc chủ đạo và điểm nhấn bằng các tiểu cảnh dành cho quảng trường ở hai nước cổ đại này GS.TS Nguyễn Thế Bá cũng đã thực hiện quyển sách
“Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị” (2004) Trong đó, các loại quảng trường,
quy mô quảng trường, hình thức tổ chức quảng trường đã được giới thiệu
Có một số tác phẩm khác đã mô tả và đánh giá các quảng trường trên thế giới, Việt Nam và cụ thể ở TP.HCM Cũng trong bài viết trên tạp chí Văn hóa xưa & nay
“Quảng trường đô thị vấn đề cần được quan tâm” (2003) của ThS.KTS Lý Thế
Dân đã nhận định về sự cần thiết của quảng trường ở TP.HCM đủ lớn để phục vụ cho các dịp sinh hoạt lễ hội long trọng, bên cạnh đó phải đáp ứng nhu cầu của người dân
GS.Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng đã nhận định trong quyển sách “Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh” – tập III: nghệ thuật (1998) rằng một số quảng trường
ở thành phố không còn phù hợp với cảnh quan đô thị hiện đại Trong quyển sách “Xu hướng mới kiến trúc – đô thị thế giới & Việt Nam thời hội nhập” (2003) của
KTS Nguyễn Hữu Thái, tác giả đã nhận ra rằng chính những không gian công cộng rộng lớn như quảng trường Time Square, Wall Street, Broadwway đã mang đến cái
“hồn đô thị”, nơi hội tụ được nhiều nền văn hóa Và Sài Gòn với các phương án quy hoạch xây dựng không gian đô thị mới lại thiếu vắng những không gian công cộng như quảng trường, công viên phục vụ cho lễ hội, tụ tập cho các nền văn hóa có tại đô thị này KTS Tạ Nam Chiến cũng đã nhận định rằng mỗi thành phố cần có quảng trường để phục vụ các hoạt động công cộng của đô thị, tuy nhiên các đô thị hiện nay đang thiếu quảng trường, một số quảng trường sẵn có đã mất đi chức năng mà chúng
từng có trong bài viết “Kiến trúc quảng trường ở các đô thị lớn Việt Nam” Bài viết “Quảng trường, máu và khát vọng dân chủ”, của Jonathan Glancey, đã chỉ ra
hàng loạt quảng trường nổi tiếng kèm theo đặc điểm và các mốc lịch sử đã diễn ra tại các quảng trường này Tác giả cũng đã so sánh và nêu ra các đặc điểm kiến trúc của quảng trường của các nước Châu Âu và có nhận xét những quảng trường rộng dần trở thành nút giao thông khổng lồ và hỗn độn thay cho chức năng chính của quảng
trường Bài viết “Quảng trường trong quy hoạch xây dựng đô thị”, của PGS.TS
Nguyễn Hồng Tiến nêu ra các đặc điểm cũng như đặc trưng nổi bật và các số liệu một
số quảng trường trên thế giới và Việt Nam Tác giả kết luận về vai trò quan trọng của
Trang 296
quảng trường trong các lĩnh vực đời sống như chính trị, văn hóa,… trong đô thị nên
có sự lựa chọn quy hoạch các yếu tố của quảng trường phù hợp nhất
Về những triển vọng hình thành quảng trường ở TP.HCM trong tương lai, tác giả Nhung Nguyễn và Minh Huy đã bàn về quảng trường Thủ Thiêm trong bài báo
“Quảng trường trung tâm và Công viên bờ sông khu đô thị mới Thủ Thiêm mang đặc trưng bản sắc văn hóa Việt Nam” (2011) Các tác giả đã trình bày nhu
cầu về quảng trường ở thành phố và quảng trường trung tâm Thủ Thiêm kết hợp với công viên bờ sông được xây dựng là rất cần thiết Dự án quảng trường tại Thủ Thiêm
trong tương lai cũng đã được giới thiệu Bài viết “Duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết quảng trường trung tâm và công viên bờ sông khu đô thị mới Thủ Thiêm”
(2012) của Văn Nam nêu lên nhận xét của tác giả về dự án quy hoạch xây dựng quảng trường và công viên với các số liệu tỉ lệ quy hoạch và quy mô thông qua quyết
định quy hoạch được duyệt Kỷ yếu “Cuộc thi thiết kế Quảng trường trung tâm Thủ Thiêm – Công viên bờ sông – Cầu đi bộ Thành phố Hồ Chí Minh – Việt Nam” của Ban quản lý Đầu tư Xây dựng Thủ Thiêm có nhiều bài viết của các chuyên
gia nhận định và đưa ra ý kiến về quảng trường ở Thủ Thiêm trong tương lai
Ngoài ra, đề tài nghiên cứu ứng dụng “Cải tạo và xây dựng mới các quảng trường ở TP.HCM” (2005) của TS.KTS Hồ Viết Vinh đã cho thấy tổng quan cơ sở
lý luận về quảng trường Tuy nhiên, tác giả chưa làm rõ khái niệm quảng trường và công trường ở Sài Gòn – TP.HCM Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quảng trường theo tiêu chuẩn riêng của tác giả thì chưa phù hợp với quảng trường phổ biến ở các thành phố khác của Việt Nam và trên thế giới Do nếu theo chuẩn riêng của tác giả khi áp dụng vào các không gian ở TP.HCM thì dễ bị nhầm lẫn giữa công viên và các không gian mở khác với quảng trường
Những tổng quan trên cho thấy nhiều khía cạnh khác nhau của quảng trường đã được nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có đề tài nào phân tích, đánh giá chi tiết về những không gian được gọi là “quảng trường” hay “công trường” ở TP.HCM hiện nay, cũng như chưa có đề tài nghiên cứu sâu về triển vọng hình thành và phát triển quảng trường ở TP.HCM để phù hợp nhu cầu người dân và chính quyền thành phố Do đó,
đề tài này được thực hiện với mong muốn nghiên cứu về không gian được gọi là
Trang 307
“quảng trường” hay “công trường” ở TP.HCM hiện nay có phải là quảng trường đô thị hay không, nhu cầu của công dân về không gian quảng trường trong đô thị cũng như khả năng hình thành và phát triển quảng trường ở TP.HCM Những đề tài đã nghiên cứu trước đó là cơ sở lý luận góp phần hình thành đề tài mới “Đánh giá các
“quảng trường” ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và triển vọng”
Tìm hiểu sự hình thành và biến đổi của các không gian được gọi là
“quảng trường” hay “công trường” ở khu trung tâm TP.HCM
Đánh giá thực trạng các không gian được gọi là “quảng trường” hay
“công trường” ở khu trung tâm TP.HCM và kết luận được hiện tại trung tâm TP.HCM có quảng trường hay không
Tìm hiểu khả năng hình thành và phát triển quảng trường ở trung tâm TP.HCM và định hướng giải pháp
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các không gian được gọi là “quảng trường” trong
đô thị Đó là những không gian diễn ra các hoạt động công cộng của thành phố Sự đánh giá quảng trường ở đây theo góc độ so sánh với thuật ngữ quảng trường phổ biến trên thế giới (từ tiếng Anh là “city square”, “town square”)
Phạm vi nghiên cứu:
V ề không gian: trong phạm vi khu trung tâm TP.HCM Đây là không gian
mang nhiều giá trị lịch sử, văn hóa lâu đời, chính nơi đây là xuất hiện những tên gọi
“quảng trường” hay “công trường” ở TP.HCM 6 không gian được quen gọi là
Trang 318
“quảng trường” hay “công trường” ở trung tâm TP.HCM được lựa chọn làm không gian nghiên cứu điển hình Cụ thể là công viên Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường đi bộ Nguyễn Huệ, công trường Công xã Paris, công trường Mê Linh, công trường Quách Thị Trang, công trường Lam Sơn và công trường Quốc tế Phần lớn các không gian này mang tính đại diện cho các không gian mở tương tự ở TP.HCM
V ề thời gian: từ thời kỳ phong kiến đến hiện nay để làm rõ hơn sự hình thành
và biến đổi các không gian được gọi là “quảng trường” hay “công trường” ở TP.HCM
4 Nhiệm vụ nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm kiếm, tra cứu và xử lý các thông tin sẵn có về quảng trường
Tìm hiểu được chức năng, vai trò của quảng trường trong cấu trúc và đời sống đô thị
Tìm hiểu được các yếu tố hình thành và phát triển quảng trường và đặc biệt tìm ra được các tiêu chí, đặc điểm cấu trúc của quảng trường để có thể gọi đúng là không gian của một quảng trường
Tìm hiểu những quảng trường ở các nước trên thế giới và Việt Nam, chọn lọc những quảng trường đặc trưng trên thế giới để so sánh và làm kinh nghiệm cho sự hình thành, phát triển quảng trường ở trung tâm TP.HCM
Khảo sát, tìm hiểu sự hình thành và biến đổi của các không gian được gọi là
“quảng trường” đã có ở TP.HCM qua các giai đoạn
Đánh giá thực trạng các không gian được quen gọi là “quảng trường” hay
“công trường” ở TP.HCM
Nghiên cứu triển vọng hình thành quảng trường ở TP.HCM và định hướng giải pháp chung
- Câu hỏi nghiên cứu
Để làm rõ mục tiêu cần nghiên cứu, đề tài cần làm rõ 2 câu hỏi nghiên cứu sau:
Thực trạng quảng trường ở trung tâm TP.HCM như thế nào?
Trang 329
Những triển vọng hình thành và phát triển quảng trường ở trung tâm TP.HCM như thế nào?
5 Khung phân tích/ khung nghiên cứu
Khung phân tích các lý thuyết về quảng trường được thể hiện trong sơ đồ 4, trang 33
6 Các phương pháp và kỹ thuật thực hiện
Vì tính chất đề tài là đánh giá không gian và tìm hiểu triển vọng nên đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính để có những thông tin đa dạng, đầy đủ và khách quan nhất Phương pháp này được thực hiện bởi một số công
cụ nghiên cứu bao gồm thu thập và xử lý thông tin sẵn có, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và quan sát Các công cụ và lý do sử dụng công cụ này được thể hiện
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng như một hệ thống cơ sở dữ liệu đáng tin cậy cho việc nghiên cứu, đào tạo, về các lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, quy hoạch và đô thị học
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được các nhà quản lý đô thị, Sở Quy hoạch kiến trúc, Sở Quy hoạch xây dựng, Sở Xây dựng,… tham khảo để quản lý, hoạch định chiến lược phát triển quảng trường tại TP.HCM nói riêng và trong các đô thị Việt Nam nói chung
Trang 33Bảng 1 Các phương pháp và kỹ thuật thực hiện đề tài
Thu thập
và xử lý
thông tin
sẵn có
- Tham khảo các thông
tin từ các nguồn tài liệu
khác nhau trong và ngoài
nước
- Xử lý dữ liệu
1 Tìm các đầu sách, luận văn, kỷ yếu, bài báo,… trên website các thư viện và các trang website khác
2 Đọc và lựa chọn nội dung phù hợp
3 Dịch các tài liệu tiếng Anh
4 Ghi chú, photo để làm tài liệu
5 Đọc lại và phân nhóm nội dung
6 Đọc hiểu và xử lý bằng cách lập bảng thống kê, sơ đồ
- Dựa trên thông tin liên quan đề tài để hoàn thành cơ bản cấu trúc luận văn
- Kết hợp nhiều thông tin để xây dựng kết quả tổng hợp cơ sở lý luận của riêng đề tài
- Là một trong những cơ sở để xây dựng các bảng hỏi, câu hỏi phỏng vấn sâu, bảng quan sát tham dự,…
- Triển khai và chỉnh sửa các mục chương 2: Đánh giá thực trạng và giải pháp dựa trên các tài liệu đã xử lý sao cho logic với chương 1: Cơ sở lý luận
- Có dữ liệu để mô tả sự hình thành và phát triển các không gian nghiên cứu
- Kết hợp khảo sát thực tế và phỏng vấn sâu để xem xét cách gọi tên không gian nghiên cứu ở các thời kỳ trước kia và hiện nay
- Cho thấy cái nhìn rõ hơn về không gian nghiên cứu và một không gian quảng trường thực sự trên thế giới khác nhau chỗ nào
- Bổ sung thêm các thông tin về thực trạng không gian nghiên cứu không thể tìm được bằng phương pháp khác
Điều tra
bằng
bảng hỏi
Xây dựng nội dung 2
bảng hỏi dựa trên thông
tin dữ liệu sẵn có và khảo
sát thực tế sơ bộ
- Khảo sát thực tế sơ bộ tại 6 không gian nghiên cứu điển hình Kết hợp nội dung đã xử
lý ở thông tin sẵn có để xây dựng bảng hỏi phù hợp nội dung, bao gồm:
+ Bảng khảo sát người sử dụng các không gian nghiên cứu điển hình (i): để khảo sát
những người đến sử dụng các không gian nghiên cứu điển hình (100 người ở mỗi không gian điển hình) Thời gian khảo sát kéo dài trong 5 tháng (từ tháng 10/2015 đến tháng 02/2016), mỗi tháng khảo sát với số lượng là 20 người để đa dạng đối tượng Cách chọn mẫu phi xác suất, mẫu thuận tiện Đặc điểm mẫu là những người đang hoạt động trên các không gian nghiên cứu Tổng số lượng mẫu thực tế là 500 để đảm bảo độ tin cậy cao
+ Bảng khảo sát nhu cầu sử dụng quảng trường ở trung tâm TP.HCM (ii): để khảo sát
những người đang sống và làm việc tại TP.HCM (100 người), khảo sát bằng phương thức bảng hỏi online và được thực hiện sau khi khảo sát xong bảng (i) để đa dạng thêm đối tượng và xác định rõ nhu cầu Cách chọn mẫu phi xác suất, chọn mẫu theo mạng quan hệ Đối tượng là những người đang sống và làm việc tại TP.HCM
- Xử lý bằng SPSS, được thể hiện qua biểu đồ Kết quả điều tra được tập hợp để rút ra kết luận thể hiện trong chương 2
- Thu thập những thông tin cần thiết cho nội dung đánh giá thực trạng 6 không gian nghiên cứu điển hình qua cái nhìn của số đông công dân đã tham gia các không gian này
- Cho thấy được nhận định của số đông công dân về loại không gian công cộng nghiên cứu điển hình này có phải là quảng trường hay không
- Kết luận được nhu cầu của công dân về quảng trường ở TP.HCM Từ đó xem xét TP.HCM có cần hình thành quảng trường hay không và hình thành như thế nào
Trang 34Phỏng
vấn sâu
Thu thập những ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu
- Xây dựng một số câu hỏi cần thu thập thông tin
- Phỏng vấn 8 chuyên gia là cán bộ quản lý thành phố, các kiến trúc sư, các nhà quy hoạch và quản lý đô thị và chuyên gia đã có thời gian gắn bó lâu dài với Sài Gòn – TP.HCM Hình thức phỏng vấn gồm phỏng vấn sâu hoặc phỏng vấn nhanh tuỳ điều kiện của mỗi chuyên gia Hỏi kết hợp trò chuyện nhằm khơi gợi các chuyên gia nêu lên quan điểm cá nhân nhiều vấn đề thuộc quảng trường
- Hỏi sâu thêm các vấn đề được khơi gợi nếu cần thiết
- Rã băng phỏng vấn
- Chọn lọc và thể hiện vào nội dung luận văn
- Rút ra được kết luận về việc trung tâm TP.HCM hiện nay có quảng trường hay không, những không gian nghiên cứu hiện nay đang gặp phải những vấn
đề gì dưới góc nhìn khác nhau của mỗi chuyên gia
- Định hướng thêm nội dung luận văn và bổ sung, chỉnh sửa các vấn đề cần thiết sau khi được sự góp ý của các chuyên gia
Quan sát Quan sát chi tiết 6 không
gian nghiên cứu điển hình dựa trên nội dung bảng khảo sát đã được thiết kế
- Dựa trên kết quả nghiên cứu tài liệu sẵn có và phỏng vấn sâu để lập bảng khảo sát gồm:
+ Bảng khảo sát khả năng đáp ứng nhu cầu của người sử dụng
+ Bảng khảo sát khả năng đáp ứng các tiêu chí cấu trúc cần thiết của quảng trường
+ Bảng khảo sát tính hiệu quả
- Thực hiện quan sát trên 6 không gian nghiên cứu điển hình, ghi nhận và chụp ảnh
Thời gian quan sát song song với điều tra bằng bảng hỏi
- Kết quả quan sát nhằm góp phần phục vụ cho nội dung đánh giá thực trạng quảng trường ở trung tâm TP.HCM qua 6 không gian nghiên cứu điển hình Nội dung đánh giá gồm khả năng đáp ứng nhu cầu công dân khi sử dụng quảng trường, đánh giá các yếu tố cấu trúc của không gian để xem xét không gian nghiên cứu này có thực sự đạt chuẩn là quảng trường hay không và đánh giá tính hiệu quả của không gian khi hoạt động
Trang 3510
8 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc của luận văn được mô tả trong sơ đồ 1
Sơ đồ 1 Cấu trúc luận văn
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
- Các lý thuyết ứng dụng trong đề tài
- Lịch sử hình thành và phát triển quảng trường
- Chức năng quảng trường
- Phân loại quảng trường
- Quy mô quảng trường
- Vai trò quảng trường
- Các yếu tố ảnh hưởng sự hình thành và phát triển của quảng trường
- Các quảng trường tiêu biểu
Cơ sở thực tiễn
- T ổng quan về trung tâm TP.HCM
- Tổng quan thực trạng các không gian được gọi là
“quảng trường” ở trung tâm TP.HCM
TIỂU KẾT
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỊNH
HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO QUẢNG TRƯỜNG Ở TRUNG TÂM TP.HCM
Sự hình thành và biến
đối của các không gian
được gọi là quảng
trường ở trung tâm
TP.HCM
Đánh giá thực trạng quảng trường ở trung tâm TP.HCM
Đề xuất giải pháp định hướng phát triển cho quảng trường ở trung tâm TP.HCM
- Triển vọng hình thành quảng trường
ở trung tâm TP.HCM
- Đề xuất giải pháp định hướng phát triển cho quảng trường ở trung tâm TP.HCM
TIỂU KẾT
PHẦN KẾT LUẬN
Các khái niệm
- Khả năng đáp ứng nhu cầu người sử dụng
- Khả năng đáp ứng các yếu tố cần thiết của quảng trường
- Tính hiệu quả của quảng trường/ công trường
Trang 36Theo từ điển Hán Việt, “quảng” có nghĩa là rộng rãi, “trường” có nghĩa là “chỗ
chỉ đến không gian rộng rãi, bằng phẳng, nhiều người có thể tụ họp Theo từ điển
Tiếng Việt, “quảng trường” là khu đất trống, rộng trong thành phố, xung quanh
thường có những kiến trúc thích hợp7
Xét ở góc độ thuật ngữ chuyên ngành, đã có nhiều khái niệm về quảng trường Mỗi một tác giả trên thế giới đã đưa ra khái niệm quảng trường ở một góc độ khác nhau Một số khái niệm được đề cập trong nội dung bên dưới
Năm 1948, Gaston Bardet cho rằng quảng trường là một không gian được bao bọc, yên tĩnh, kiểu như là Forum hay sân khấu ngoài trời Phương tiện giao thông
6 Đào Duy Anh (2001), Từ điển Hán – Việt, NXB Khoa học Xã hội, tp HCM, Tr 156, Tr 517
7 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Viêt, NXB Đà Nẵng, Tr 802
Trang 3712
thường chỉ lướt qua khu vực này ở bên trên một cạnh hoặc chỉ một góc quảng trường.8
Thêm vào đó, đến năm 1984, theo Kenvin Luynch, quảng trường (từ tiếng Anh
là “square” hay “plaza”) là một kiểu thức khác của không gian mở đô thị, chiếm giữ phần chủ yếu trong lịch sử phát triển của các thành phố châu Âu Quảng trường là nơi tập trung các hoạt động, tại vị trí trung tâm của các khu vực tập trung trong đô thị Về hình thức, quảng trường này luôn được lát bề mặt, được đóng kín bằng các công trình xây dựng xung quanh, được bao xung quanh bằng những con đường hoặc là có liên
hệ với nó Không gian quảng trường còn có những đặc trưng hấp dẫn người tụ họp và tạo thuận lợi cho việc hội họp bằng vòi phun, ghế dài ngồi, chỗ che mưa nắng và những kiến trúc trang trí nhỏ tạo sự vui thích Cây xanh có thể có hoặc không Các quảng trường ở Italia là những kiểu hình nguyên mẫu nhất Tại một vài thành phố ở Bắc Mỹ, nơi mà sự đông đúc thường tập trung ở các con đường, hình thức quảng trường này đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể Ở một số nơi khác, những sự vay mượn hình thức quảng trường có thể dẫn đến sự buồn tẻ và trống vắng.9
Pierre Merlin cũng đã định nghĩa về khái niệm quảng trường vào năm 1988, theo ông, quảng trường là vị trí không gian công cộng trống trải được tạo thành bởi toàn bộ không gian trống và được bao xung quanh bằng những công trình Sự quan trọng của không gian này và vai trò của nó khác nhau bởi nền văn hóa, giai đoạn lịch
sử và mức độ tập trung hoạt động công cộng Quảng trường là một thành phần trong cấu trúc không gian đô thị ở các thành phố thời kỳ Cổ đại Quảng trường ở Hy Lạp và
La Mã có Agora và Forum, không gian này đã trở thành biểu tượng của cuộc sống cộng đồng và không gian đô thị.10
Còn theo định nghĩa của Başak Zeka trong nghiên cứu về quảng trường năm
2011, mỗi quốc gia trên thế giới có cách gọi riêng cho thuật ngữ quảng trường như ở Tây Ban Nha là “Plaza”, ở Ý là “Piazza” còn ở Thổ Nhĩ Kỳ là “Meydan” Nghĩa của
Trang 3813
từ “Plaza” là “bất kỳ không gian đô thị rộng, thường liên quan đến các tòa nhà danh
giá”, nghĩa của từ “piazza” để chỉ “quảng trường (square) hay không gian mở (open space)” và nghĩa của từ “Meydan” là “không gian rộng, vắng và là nơi tổ chức các buổi họp hoặc để giải trí” Các thuật ngữ trên có đặc điểm chung là “không gian mở với mục đích công cộng” Do đó, theo Başak Zeka, quảng trường là nơi công cộng mà
mọi người đều được tham gia hoạt động và là không gian mở trong đó bao gồm nhiều chức năng khác nhau.11
Ở Việt Nam, theo Bộ Xây Dựng, “Quảng trường trong đô thị là một khu đất
rộng có không gian mở, một điểm nhấn của đô thị kết hợp giữa công trình kiến trúc
và hệ thống giao thông; xung quanh có đường phố lớn đi, đến và các công trình xây dựng quy mô lớn, có chức năng khác nhau Ở quảng trường có tốc độ giao thông
Như vậy, nhìn chung khái niệm quảng trường vẫn có những điểm chung về tính chất mở của không gian, được bao bọc xung quanh bằng những con đường hay công trình xây dựng, là không gian công cộng trống trải, là nơi có thể tụ họp người đông và
là nơi mọi công dân đều có thể tham gia hoạt động công cộng
Bên cạnh khái niệm “quảng trường”, khái niệm “công trường” được xuất hiện
ở Sài Gòn – TP.HCM còn để chỉ một không gian công cộng Đặc biệt, khái niệm đó chỉ được sử dụng để đặt tên một dạng không gian công cộng ở Sài Gòn trước năm
1975 với các không gian tiêu biểu như công trường Mê Linh, công trường Quách Thị
Trang, công trường Công xã Paris, Nó được định nghĩa là một “public open
square” (quảng trường công cộng mở) hay “public square” (quảng trường công
cộng) hay “traffic circle” (vòng xoay giao thông) 13 Trong từ điển Hán Việt, “công”
có nghĩa là chung, “trường” có nghĩa là khoảng đất trống14, “công trường” có thể
hiểu là một khoảng không gian công cộng trống trải Thực tế từ xưa cho thấy không gian này là nơi để mọi người dân có thể tụ họp, để diễn ra các hoạt động từ cá nhân
11 Başak Zeka (2010), The human meaning of urban squares, pg.23
12 Bộ Xây Dựng, “Đường đô thị - yêu cầu thiết kế”, Quyết định số 22/2007/QĐ- BXD ngày 30/5/2007
13 “Quảng trường và công trường”,
https://www.lib.washington.edu/SouthEastAsia/vsg/elist_2012/Quang%20Truong%20and%20Cong%20Truong.htm, ngày cập nhật: 2012
14 Vĩnh Cao – Nguyễn Phổ, Từ lâm Hán Việt từ điển, NXB Thuận Hóa
Trang 3914
đến cộng đồng, từ hoạt động bình thường đến những buổi lễ trang trọng Ở Sài Gòn –
TP.HCM, từ “công trường” và “quảng trường” hay được gọi thay thế cho nhau để
mô tả cùng một địa điểm, đôi khi ở bài viết này được gọi là công trường, ở tác phẩm khác lại được gọi là quảng trường (ví dụ: bài viết “Công trường Quách Thị Trang
phường Bến Thành, Quận 1” của UBND Quận 1 gọi là “công trường Quách Thị
trong quyển sách Sài Gòn Xưa gọi là “quảng trường Quách Thị Trang”16) Có thể nhận thấy, người Sài Gòn xưa cho rằng công trường là một quảng trường nhỏ, một số gắn liền với chức năng điều tiết giao thông, một số là khoảng trống nhằm tôn vinh công trình kiến trúc, nhưng tụ chung lại đây đều là không gian trống mọi người có thể
tụ tập đông người, vui chơi và hoạt động tự do Tuy nhiên, khi TP.HCM phát triển, không gian được cho là công trường nhỏ này đã được cải tạo chủ yếu phục vụ chức
năng đảo giao thông Và ngày nay, trong từ điển Tiếng Việt, “công trường” được định nghĩa là “nơi tiến hành công việc xây dựng hoặc khai thác, có tập trung người
mang ý nghĩa của một quảng trường nhỏ Vì vậy, theo TS.KTS Lê Quang Ninh
(nguyên giám đốc Sở Xây Dựng TP.HCM) “công trường cũng trở thành một cái tên
15 Xem “Công trường Quách Thị Trang phường Bến Thành, Quận 1”, nguồn:
http://www.quan1.hochiminhcity.gov.vn/GIOI-THIEU/Tong-quan-dia-ly-lich-su/ctl/Detail/mid/11406&ArticleID=ARTICLE15093647
16 Xem Phan Văn Hoàng, “Quảng trường Quách Thị Trang”, Sài Gòn xưa
17 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Tr.211
18 TS.KTS Lê Quang Ninh, phỏng vấn sâu ngày 27/07/2015, biên bản rã băng số 3
19 Tài liệu tóm tắt thiết kế đô thị, Tổ chức hợp tác Anh, Tổng công ty nhà ở, Llewelyn-Davies, Tr 30
Trang 4015
Đô thị được xem như một hệ thống Mỗi hệ thống luôn gắn liền với hình thức tổ chức nhất định của các khu chức năng Cấu trúc đô thị chính là bộ khung góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển đô thị Thành phần cấu tạo nên cấu trúc
đô thị bao gồm hệ thống giao thông đô thị và hệ thống các khu chức năng trong đô thị (các đơn vị chức năng trong đô thị được bố trí thành hệ thống)
Cấu trúc đô thị luôn tồn tại trong đô thị nhằm định hướng phát triển theo một nguyên tắc đảm bảo sự cân đối hài hòa các thành phần của đô thị Cấu trúc đô thị quyết định các giải pháp quy hoạch các thành phần đất đai trong đô thị và hướng đến
sự phát triển lâu dài và bền vững cho đô thị Các tuyến đường giao thông, quảng trường, các tiểu đảo, thường có chức năng là cơ sở cho việc xây dựng bố cục đô thị,
hình thành bộ mặt kiến trúc hài hòa “Những khoảng không gian trống như quảng
trường, tuyến đường giao thông là hành lang hút gió tự nhiên góp phần điều hòa vi khí hậu đô thị như tạo thành các hành lang hút gió, mang theo độ ẩm mát từ các
Trong thiết kế đô thị, việc thiết lập cấu trúc đô thị ngoài quan tâm đến khung di chuyển, hiệu quả năng lượng, các trụ sở, cảnh đẹp tiêu biểu và các điểm nhấn còn phải quan tâm đến phong cảnh Nói đến phong cảnh, có thể nghĩ đến nhiều yếu tố như khoảng không gian mở, nước, công viên, quảng trường21 Theo GS.TS.KTS Hoàng
Đạo Kính, “thiết kế đô thị liên quan tới ba phạm trù cơ bản: công năng, trật tự, thẩm
mỹ Công năng là xuất phát điểm, là nguyên cớ, là cái đáp ứng để đảm bảo cho sự vận hành Trật tự là tổ chức, là sắp đặt, là sự giải quyết các mối quan hệ trong điều tiết, đảm bảo cho tính bền vững Thẩm mỹ là sự hài hòa giữa công năng và trật tự, sự hài hòa giữa vĩ mô và vi mô, giữa kiến trúc và môi trường, giữa cái nói trên với con người xã hội, là sự kiến tạo môi trường nhân văn của đô thị”22 Thiết kế quảng trường cũng là một phần trong thiết kế đô thị Do đó, thiết kế quảng trường đều phải chú ý đến ba phạm trù cơ bản trên
20 Nguyễn Văn Tài (1988), Vấn đề tổ chức phát triển giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, TP.HCM, Tr.12,13
21 Tài liệu tóm tắt thiết kế đô thị, Tổ chức hợp tác Anh, Tổng công ty nhà ở, Llewelyn-Davies
22 Hoàng Đạo Kính (2013), Văn hóa kiến trúc, NXB Tri Thức, Hà Nội, Tr.258