Thông tin chung: - Tên đề tài: TÌNH TRẠNG, NHU CẦU VÀ YÊU CẦU ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI Ở NHỮNG ĐỐI TƯỢNG BỊ KHIẾM KHUYẾT HÀM MẶT TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNGƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG
Trang 1THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài:
TÌNH TRẠNG, NHU CẦU VÀ YÊU CẦU ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI Ở NHỮNG ĐỐI
TƯỢNG BỊ KHIẾM KHUYẾT HÀM MẶT TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNGƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG NĂM 2014
- Thời gian thực hiện: tháng 2 đến tháng 7năm 2014
2 Mục tiêu: Xác định tnhu cầu, yêu cầu điều trị phục hồi ở những bệnh nhân có khiếm
khuyết hàm mặt tại bệnh viên Răng Hàm Mặt Trung Ương TP Hồ Chí Minh
3 Nội dung chính:
4 Kết quả chính đạt được (khoa học, đào tạo, kinh tế-xã hội, ứng dụng, ):
Về kinh tế xã hội: giúp các bệnh viện, cá cở sở y tế dự trù nhân lực, trang thiết bị vàkinh phí điều trị cho bệnh nhân
5 Hiệu quả kinh tế - xã hội do đề tài mang lại:
• Kết quả nghiên cứu được chuyển giao cho bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương
TP Hồ Chí Minh
Trang 2
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TÌNH TRẠNG, NHU CẦU VÀ YÊU CẦU ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI Ở NHỮNG ĐỐI TƯỢNG BỊ
KHIẾM KHUYẾT HÀM MẶT TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TRONG NĂM 2014
Trang 3BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TÌNH TRẠNG, NHU CẦU VÀ YÊU CẦU ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI Ở NHỮNG ĐỐI TƯỢNG BỊ
KHIẾM KHUYẾT HÀM MẶT TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TRONG NĂM 2014
Trang 4DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
1 Sinh viên Võ Minh Tâm lớp RHM 2008
2 ThS Trần Ngọc Khánh Vân bộ môn Phục Hình khoa Răng Hàm Mặt Đại học
Y Dược TP Hồ Chí Minh
3 ThS Nguyễn Hiếu Hạnh bộ môn Phục Hình khoa Răng Hàm Mặt Đại học YDược TP Hồ Chí Minh
Trang 5
DANH MỤC BẢNG
Tổng quan tài liệu
1 Bảng 1.1 Tình hình các bệnh vùng hàm mặt trong 10 năm tại khoa phẫu
2 Bảng 1.2 Tỷ lệ mất răng do chấn thương hàm mặt, dị tật bẩm sinh và phẫu
thuật điều trị u bướu vùng hàm mặt của một số tác giả 11
Kết quả
3 Bảng 3.1 Phân bố đối tượng tham gia nghiên cứu theo nhóm nguyên nhân
4 Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo vị trí khiếm khuyết và theo
5 Bảng 3.3 Phân bố đối tượng theo tình trạng mất răng 24
6 Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng mất răng và theo
7 Bảng 3.5 Tỷ lệ các kiểu mất răng bán phần theo phân loại Kennedy ở hàm
8 Bảng 3.6 Tỉ lệ mất răng trên ở những đối tượng nghiên cứu theo tình trạng
9 Bảng 3.7 Tỉ lệ mất răng dưới ở những đối tượng nghiên cứu, theo tình trạng
10 Bảng 3.8 Tỉ lệ mất răng ở những đối tượng nghiên cứu theo tình trạng
11 Bảng 3.9 Phân bố trung bình số răng mất theo nhóm nguyên nhân gây
14 Bảng 3.12: Phân bố người có và không có mang phục hình thay thế răng mất
theo nhóm nguyên nhân gây khiếm khuyết và theo giới tính 28
15 Bảng 3.13 Nhu cầu phục hồi hàm mặt cả trong và ngoài miệng theo nhóm
16 Bảng 3.14: Phân bố nhu cầu phục hồi hàm trên, hàm dưới và ngoài miệng 30
17 Bảng 3.15: Nhu cầu phục hình thay thế răng mất theo các nhóm nguyên
18 Bảng 3.16: Tình trạng khiếm khuyết vùng hàm mặt ảnh hưởng đến chức
19 Bảng 3.17: Tình trạng mất răng ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai, phát âm,
21 Bảng 3.19: Yêu cầu làm phục hình thay thế răng mất 33
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Kết quả
1 Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ nam và nữ tham gia nghiên cứu 21
2 Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ giữa các nhóm nguyên nhân gây ra tình trạng khiếm
Bàn luận
3 Biểu đồ 4.1 Nhu cầu phục hình và tình trạng phục hình thay thế răng mất
4 Biểu đồ 4.2 Ảnh hưởng của khiếm khuyết hàm mặt đến phát âm, ăn nhai
5 Biểu đồ 4.3 Ảnh hưởng của mất răng đến ăn nhai, phát âm và thẫm mỹ 40
6 Biểu đồ 4.4 Yêu cầu phục hồi, mục đích yêu cầu phục hồi 41
7 Biểu đồ 4.6 Yêu cầu phục hình, mục đích yêu cầu phục hình 42
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Tổng quan tài liệu
1 Hình 1.1 Phân loại khiếm khuyết hàm trên theo chiều dọc của Brown
Trang 9Tình trạng dị tật bẩm sinh, bệnh lý u bướu và chấn thương vùng hàm mặt ngày cànggia tăng, dẫn đến số lượng bệnh nhân bị khiếm khuyết vùng hàm mặt cũng tăng theo Nhữngbệnh nhân này thường bị thiếu hỏng mô mềm, mô cứng hoặc cả hai trên vùng hàm mặt, làmảnh hưởng nhiều đến các chức năng và thẩm mỹ của hàm mặt, từ đó gây ra những tổnthương tâm lý, giảm sự tự tin trong giao tiếp, tạo sự mặc cảm trong xã hội, làm ảnh hưởnglớn đến chất lượng cuộc sống và công việc của họ Vì vậy, điều trị phục hồi khiếm khuyếthàm mặt (PHHM) trở thành một phần không thể thiếu trong việc chăm sóc sức khoẻ, giúpcải thiện, phục hồi các chức năng và thẩm mỹ cho các bệnh nhân bị khiếm khuyết vùng hàmmặt.
Việc xác định tình trạng, nhu cầu và yêu cầu điều trị phục hồi cho những bệnh nhân
bị khiếm khuyết hàm mặt trong cộng đồng không chỉ là vấn đề quan trọng của các nhà dịch
tễ học mà còn là vấn đề quan tâm của các nhà điều trị lâm sàng phục hồi khiếm khuyết hàmmặt, cũng như của các nhà hoạch định chính sách để xác định những ưu tiên điều trị, dự tínhnguồn nhân lực, ngân sách điều trị cho cộng đồng
Đã có nhiều nghiên cứu thăm dò sức khoẻ tổng quát, tình trạng và nhu cầu điều trị ở cácnhóm bệnh nhân đặc biệt, như ở người cao tuổi (nghiên cứu của Trương Mạnh Dũng (2009),
La Minh Tân và Nguyễn Trung Kiên (2011), Đức Hoàng Thanh Trúc (2004), Mai HoàngKhanh (2009), Huỳnh Anh Lan (2002) ), cho học sinh tiểu học (Nghiên cứu của Vũ Thị MaiAnh(2006), Trần Thị Bích Hà (2011), Nguyễn Thị Ngân Hà (2002), Trần Thuý Nga
Trang 10(2010) ), nhưng các nghiên cứu về tình trạng và nhu cầu điều trị phục hồi, phục hình răngcho các bệnh nhân bị khiếm khuyết vùng hàm mặt ở nước ta chưa có.
Câu hỏi nghiên cứu: Vậy tình trạng khiếm khuyết, nhu cầu, yêu cầu điều trị phục hồi,
phục hình răng của những bệnh nhân bị khiếm khuyết vùng hàm mặt là như thế nào?
Mục tiêu tổng quát : Khảo sát tình trạng, nhu cầu và yêu cầu điều trị phục hồi ở những
đối tượng bị khiếm khuyết vùng hàm mặt tại bệnh viện răng hàm mặt trung ương thành phố
Hồ Chí Minh trong năm 2014
Mục tiêu cụ thể sau:
1 Xác định tình trạng khiếm khuyết hàm mặt: tỉ lệ các nguyên nhân gây khiếm
khuyết vùng hàm mặt, tỉ lệ các khiếm khuyết hàm trên, hàm dưới, và những vùng hàm mặtkhác
2 Xác định tình trạng mất răng: tỉ lệ mất răng, tỉ lệ các kiểu mất răng từng phần
theo phân loại Kennedy, tỉ lệ mất răng theo tình trạng khiếm khuyết và theo nguyên nhân
3 Xác định tình trạng phục hồi khiếm khuyết hàm mặt và phục hình răng: tỉ lệ các
loại phục hồi khiếm khuyết hàm mặt đã thực hiện và tỉ lệ mang các loại phục hình răng
4 Xác định nhu cầu, yêu cầu phục hồi khiếm khuyết hàm mặt và phục hình răng.
Trang 11
Chương 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược các nhóm nguyên nhân chính gây khiếm khuyết vùng hàm mặt.
Khiếm khuyết hàm mặt được hiểu là tình trạng thiếu hỏng các mô hay các bộ phậnvùng hàm mặt do bẩm sinh,bệnh tật hay chấn thương Có nhiều nguyên nhân gây ra tìnhtrạng thiếu hỏng vùng hàm mặt, được chia ra làm hai nhóm chính, đó là thiếu hỏng do bẩmsinh và thiếu hỏng do mắc phải (chấn thương hàm mặt, phẫu thuật điều trị u bướu vùng hàmmặt)
1.1.1 Dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt:
Theo tổ chức sức khoẻ thế giới, dị tật bẩm sinh (DTBS) là dị tật có mặt ngay khi sinh,cho dù có được phát hiện ngay thời điểm đó hay không Về phân loại rất phức tạp và cónhiều hệ thống, mỗi hệ thống phân loại đều có những hạn chế nhất định và sử dụng chonhững mục đích nhất định [10]
Đầu thế kỷ 20, một số nghiên cứu nhận thấy trong 1000 trẻ mới sinh, có một trẻ bị dịtật khe hở môi hàm ếch (KHM - HE) bẩm sinh Theo Veau, Peron tỷ lệ này là 1/924 (1984 -
1972 ở Pháp) và 1/750 theo F.Burian (1962) ở Tiệp Khắc [3] Nhận thấy tỷ lệ dị tật môi hàm ếch bẩm sinh có xu hướng ngày càng tăng, vì vậy F.Burian đề nghị thành lập uỷ bannghiên cứu về nguyên nhân và biện pháp phòng bệnh tại đại hội lần thứ II của Hiệp hội quốc
-tế phẫu thuật tạo hình tại Luân Đôn năm 1969 Tuy nhiên, tỷ lệ này thay đổi ở mỗi nước và
sự khác biệt không lớn Nhưng theo Burdi và Habid, dân số châu Á có tỷ lệ dị tật khe hở môi
- hàm ếch ở mức cao, khoảng 2,1/1000 trẻ sơ sinh, trong khi đối với người da trắng là1/1000 Ở Mỹ, Lutz và Moor cho rằng tỷ lệ KHM - HE là 0,65/1000 Ở Đan Mạch, Fogh vàAderson ghi nhận tỷ lệ 1,04/1000 Tại Thuỵ Điển, theo Book là 1,34/1000 [12]
Ở Việt Nam, theo bác sĩ Nguyễn Huy Cận (1996) tỷ lệ này cũng xấp xỉ 1/1000 Theobác sĩ Phạm Gia Đức (1970), tỷ lệ này khoảng 1/640 Theo Nguyễn Thị Bá Thanh (1984), tạiviện phụ sản TP.Hồ Chí Minh, tỷ lệ này là 1/480 Nguyễn Công Út tại tỉnh Bến Tre cho rằng
1.1.2 Chấn thương hàm mặt và phẫu thuật điều trị chấn thương hàm mặt:
Những năm gần đây, đi đôi với sự bùng phát của phương tiện giao thông là chấn thươnghàm mặt tăng mạnh Tổn thương hàm mặt rất đa dạng, phức tạp,thậm chí dẫn đến tử vong.Việc phục hồi chức năng thẩm mỹ cho bệnh nhân sau chấn thương rất phức tạp, đòi hỏi mấtnhiều thời gian và tiền bạc Trên thế giới, tỷ lệ chấn thương ngày càng cao Trong đó, chấn
Trang 12thương vùng hàm mặt chiếm tỷ lệ khá lớn (theo D Gallas, riêng gãy xương hàm dưới chiếm15% gãy xương chung) và thường liên quan đến chấn thương sọ não, gây tử vong cao Có 4nhóm nguyên nhân chính gây ra chấn thương hàm mặt:
1 Tai nạn giao thông 2 Tai nạn lao động
3 Tai nạn sinh hoạt 4 Tai nạn do các nguyên nhân khác
Chấn thương hàm mặt có nguyên nhân chủ yếu là từ tai nạn giao thông, thường gặp ởcác quốc gia đang phát triển có hạ tầng và an toàn giao thông kém phát triển Trong khi đó,tại các quốc gia phát triển,nguyên nhân thường gặp là do tai nạn sinh hoạt, ẩu đả và tai nạntrong các hoạt động thể thao [6]
Lứa tuổi thường bị tai nạn là lứa tuổi đang dồi dào sức lao động Tai nạn ở nam giớixảy ra hơn hẳn so với nữ giới, vì nam giới thường tham gia nhiều vào các hoạt động nhưgiao thông, lao động nguy hiểm, hành động bạo lực nhiều hơn nữ và nam giới thường làngười điều khiển phương tiện giao thông
Trên thế giới, phần lớn các nghiên cứu cho thấy chấn thương vùng hàm mặt chiếm tỷ lệkhá cao (5-10%) và thường liên quan đến chấn thương sọ não gây tử vong cao [39], phần lớnchấn thương hàm mặt là do va đập (4-6%), trong đó gãy xương vùng hàm mặt chiếm 3-4%[16], [38], theo Kerim Ortakoglu thống kê trong 5 năm (1994 -1999) tại Bệnh việnDiyarbakir Military ở ThổNhỉ Kỳ có 157 bệnh nhân (223 ca) gãy xương vùng hàm mặtchiếm 6% các loại gãy xương [24] Ở Việt Nam, trong thống kê của ban an toàn giao thôngQuốc gia trong 10 năm qua (1991-2001), số vụ tai nạn tăng 3,5 lần, số người bị thương tăng
7 lần, số người tử vong tăng 5 lần [9] Lâm Ngọc Ấn thống kê trong 17 năm (1975 - 1993) ởViện Răng Hàm Mặt TP.Hồ Chí Minh có 2348 trường hợp chấn thương hàm mặt Trần VănTrường và Trương Mạnh Dũng thống kê trong 11 năm (1988 – 1999) tại Viện Răng HàmMặt - Hà Nội có 2147 trường hợp chấn thương hàm mặt Vũ Thị Thanh Vân thống kê tạiBệnh viện Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong 9 tháng đầu năm 2001 có 1500 trường hợp chấnthương do tai nạn giao thông, trong đó có 319 trường hợp (21%) chấn thương hàm mặt.Nguyễn Thế Dũng thống kê trong 22 năm (1981 – 2002) tại bệnh Viện Tỉnh Khánh Hoà có
650 trường hợp gãy xương hàm dưới [5]
Chấn thương hàm mặt gây ra nhiều tổn thương đa dạng và phức tạp, tổn thương nàynếu không được điều trị sớm và đúng mức sẽ ảnh hưởng nhiều đến giải phẫu, chức năng,thẩm mỹ và đặc biệt là giao tiếp của người bệnh, có lẽ không có vết thương nào mà bệnhnhân quan tâm và lo lắng hơn vết thương vùng hàm mặt Hiện nay, sự gia tăng của chấnthương nói chung và chấn thương vùng hàm mặt nói riêng do tai nạn giao thông vẫn đang làvấn đề nóng bỏng của xã hội cần được quan tâm
1.1.3 Phẫu thuật điều trị u bướu hoặc các bệnh lý khác vùng hàm mặt:
Trang 13
Một số bệnh lý vùng hàm mặt khi điều trị cần đến sự can thiệp của phẫu thuật, điềunày cũng làm xuất hiện các khiếm khuyết hàm mặt Các bệnh lý vùng hàm mặt thường đượcđiều trị bằng phẫu thuật như u bướu vùng hàm mặt, bệnh lý viêm nhiễm, bao gồm abces,viêm xương, viêm nấm, lao hạch, viêm tuyến, viêm khớp hay các biến dạng cần được tạohình như sẹo, phỏng, mất da đầu, di chứng noma, liệt mặt
Theo nghiên cứu tổng kết của Bùi Hữu Lâm năm 1986 về tình hình u tại viện rănghàm mặt trong 10 năm (1975-1985) thì trong thời gian đó, khoa phẫu thuật hàm mặt, việnrăng hàm mặt đã tiếp nhận điều trị nội trú cho 7810 bệnh nhân, trong đó số ca phẫu thuậtkhối u là 1858 ca (chiếm 23,9%), số ca phẫu thuật điều trị viêm nhiễm vùng hàm mặt (baogồm abces, plegnom,viêm xương, viêm nấm, lao hạch, viêm tuyến, viêm khớp…) có 1583 ca(chiếm 20,9%), số ca điều trị các biến dạng cần được tạo hình là 1040 ca (chiếm 13,3%) [8].Ung thư hốc miệng tương đối phổ biến, được xếp vào hàng thứ 6 trong các loại ung thư
và đã được công nhận là một vấn đề y tế cộng đồng cần phải được quan tâm nhiều hơn, đặcbiệt là những nước đang phát triển [7] Những số liệu trên đã cho thấy tình trạng thiếu hỏng
mô vùng hàm mặt gây ra bởi phẫu thuật để điều trị u bướu vùng hàm mặt chiếm tỷ lệ khôngnhỏ chút nào
Bảng 1.1 Tình hình các bệnh vùng hàm mặt trong 10 năm tại khoa phẫu thuật hàm
Dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt (Khe môi, hàm ếch, các dị tật
1.2 Tình trạng tâm sinh lý của bệnh nhân bị khiếm khuyết vùng hàm mặt.
1.2.1 Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân bị khiếm khuyết hàm mặt:
Trang 14
Khuôn mặt là phần nổi bật nhất của cơ thể Nó thể hiện đặc điểm, bản sắc cá nhân củamột con người Về chức năng, khuôn mặt giúp bộc lộ cảm xúc, tình cảm, thể hiện trình độ,
sự hiểu biết, sự đồng tình hay phản đối khi giao tiếp, nói cách khác khuôn mặt có thể thựchiện chức năng giao tiếp phi ngôn ngữ Trên khuôn mặt có những hệ thống thông với các cơquan khác của cơ thể như hệ thống hô hấp, hệ thống tiêu hoá Đây cũng là nơi tập trungnhiều cơ quan giác quan như thính giác, thị giác, xúc giác và khưú giác giúp con người thựchiện chức năng ăn nhai, hô hấp, quan sát, lắng nghe
Chính vì tầm quan trọng của vùng hàm mặt đối với mỗi người nên một khi nó bị biếndạng vì một nguyên nhân nào đó, có thể do dị tật bẩm sinh, chấn thương hay phẫu thuật loại
bỏ khối u đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng vào một số chức năng cơ bản nhất của con ngườinhư lời phát âm, vị giác,quá trình hô hấp, việc ăn uống và đặc biệt là làm biến dạng khuốnmặt, làm suy giảm nặng nề chức năng thẩm mỹ của khuôn mặt Những điều này đã đe doạđến tình cảm và gây khó khăn cho cuộc sống bình thường của họ Sự căng thẳng trong tâm
lý kết hợp với những biến đổi trong chức năng của các bộ phận vùng hàm mặt làm suy giảmchức năng vùng hàm mặt và tổng thể chất lượng cuộc sống [23]
Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng có sự biến đổi trong tâm lý của nhữngngười khiếm khuyết vùng hàm mặt so với những người bình thường Theo Wallace thìnhững biến dạng khuôn mặt do bẩm sinh hay mắc phải đều gây nhiều rối loạn chức năng tâm
lý xã hội [36] Những bệnh nhân có khuôn mặt bị biến dạng, rất sợ sự kỳ thị của xã hội Sự
kỳ thị là một dấu hiệu xấu gắn liền với người khác biệt với những người bình thường trong
xã hội Khi đó những người bị kỳ thị được cho là xấu so với những người khác Sự kỳ thị và
xa lánh của xã hội bao gồm những lời nói không hay, hành vi chế nhạo, sự ghét và cô lập[17]
Tâm lý bất ổn, luôn lo sợ về sự kỳ thị của xã hội làm cho các đối tượng bị khiếmkhuyết vùng hàm mặt thường rơi vào trạng thái buồn bã, hoảng loạn, thiếu sự tự tin khi tiếpxúc với người khác, điều đó dần dần đẩy họ ra xa khỏi xã hội, xa các mối quan hệ với bạn
bè, gia đình, đồng nghiệp, gây ảnh hương trầm trầm trọng đến chất lượng cuộc sống của họ
1.2.2 Các loại khiếm khiết vùng hàm mặt và những biến đổi chức năng kèm theo:
❖ Khiếm khuyết trong miệng:
Khiếm khuyết vùng hàm trên:
Các khiếm khuyết ở vòm miệng có thể do bẩm sinh hay do mắc phải bởi phẫu thuậthoặc/và chấn thương, nó biểu hiện dưới dạng các lỗ nhỏ thông từ khoang miệng đến xoanghàm trên, có thể bao gồm cả khẩu cái cứng và khẩu cái mềm, vách xương ổ, sàn xoang mũi.Các khiếm khuyết mắc phải ở hàm trên làm cho bệnh nhân bị thông xoang, rò rỉ dịch quamũi, chức năng nhai và trao đổi khí kém [25] Khiếm khuyết ở vùng khẩu cái mềm làm thay
Trang 15đổi sự hoạt động của khẩu cái mềm,ảnh hưởng đến các chức năng nói, nuốt, hay sự tiếp xúccủa màn hầu với các thành của họng khi màn hầu đóng lại.
Có nhiều cách phân loại khiếm khuyết vùng hàm trên theo các tác giả khác nhau, nhưcủa Aramany [13], Brown [19], Okay [27].Trong đó, cách phân loại của Brown được ứngdụng nhiều trong việc xác định tình trạng khiếm khuyết vùng hàm trên Theo chiều dọc,Brown phân khiếm khuyết hàm trên ra làm 4 loại:
+ Loại I: Khiếm khuyết không có lỗ thông giữa khoang miệng và xoang hàm trên
+ Loại II (khiếm khuyết nông): Có lỗ thông giữa khoang miệng và xoang hàm trên, nhưngkhông liên quan đến xương ổ mắt
+ Loại III (Khiếm khuyết sâu): Có liên quan với xương ổ mắt
+ Loại IV (Khiếm khuyết triệt để): Bao gồm cả xương ổ mắt
Loại I Loại II
Loại III Loại IV
Hình 1.1 Phân loại khiếm khuyết hàm trên theo chiều dọc của Brown (2000) [19].
Từ loại II đến loại IV có thể kèm theo các chữ cái a, b, c Theo chiều ngang, Brown phânloại khiếm khuyết hàm trên như sau: a-mất xương ổ răng ở một bên hàm trên, b- mất xương
ổ răng ở cả hai bên hàm trên, c-mất toàn bộ xương ổ răng hàm trên
Trang 16
Hình 1.2 Phân loại khiếm khuyết hàm trên theo chiều ngang của Brown (2000) [19].
Khiếm khuyết hàm dưới, lưỡi và các cấu trúc liên quan:
Những khiếm khuyết hàm dưới và các cấu trúc liên quan như sàn miệng, lưỡi sẽ dẫnđến sự suy giảm về giọng nói, khó nuốt, cứng hàm hay gây lệch hàm trong khi di chuyển,gây kiểm soát kém sự bài tiết nước bọt và gây các biến dạng thẩm mỹ trầm trọng [15]
Dựa trên số lượng và mức độ cắt xương, các khiếm khuyết hàm dưới có thể đượcphân loại thành các khiếm khuyết liên tục hay gián đoạn Gián đoạn hàm dưới nếu khôngđược nối lại sẽ làm thay đổi sự đối xứng của hàm dưới, dẫn đến chuyển động hàm dưới bịthay đổi Khiếm khuyết hàm dưới cũng có nhiều cách phân loại, trong đó, cách phân loại củaBoyd [18] thường được sử dụng Việc phân loại dựa trên ba chữ hoa và ba ký tự chữ thường:
H, C, L và o, m, s:
+ Khiếm khuyết loại H: Khiếm khuyết một phần cành ngang hay cành đứng bất
kỳ, bao gồm cả lồi cầu nhưng không qua đường giữa
+ Khiếm khuyết loại L: Giống như loại H nhưng không bao gồm lồi cầu
+ Khiếm khuyết loại C: Khiếm khuyết phân khúc trung tâm của hàm dưới, bao gồm
cả bốn răng cửa và hai răng nanh
Hình 1.3 Phân loại khiếm khuyết hàm dưới theo Boyd (1993) [18].
Trang 17
Có thể kết hợp nhiều loại H, C, L lại với nhau Các chữ o, m, s được thêm vào để biểuthị tình trạng khiếm khuyết biểu mô: o-không có khiếm khuyết da hay niêm mạc, S-có khiếmkhuyết da, m-Có khiếm khuyết niêm mạc, sm-có khiếm khuyết da và niêm mạc.
Mất răng:
Khiếm khuyết hàm mặt thường đi kèm với tình trạng mất răng trong miệng, tuỳ vàomức độ khiếm khuyết mô trong miệng mà tình trạng mất răng cũng xảy ra ít hay nhiều Theonghiên cứu của S.A.Odusanya (1987) trên những người Nigeria thì tỷ lệ mất răng do chấnthương chiếm 4,5% [32] trong tổng các nguyên nhân gây mất răng, còn nghiên cứu củaTemitope (2009) trên các trẻ em Nigeria thì tỷ lệ này tăng lên 12% [35] Ở Việt Nam, theokết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Hải và Nguyễn Toại thì gãy xương ổ răng và tổnthương răng chiếm 8,58% trong tổng số các loại chấn thương xương gây ra bởi chấn thươnghàm mặt [5]
Johnsen và Dixon (1984) phát hiện 32% trẻ DTBSKHM-HE mất một răng cửa haynhiều hơn do sâu răng và trẻ KHM-HE hai bên có tỷ lệ sâu răng cao hơn trẻ KHM-HE mộtbên
Trong một số trường hợp phẫu thuật loại bỏ khối u vùng hàm mặt, cắt bỏ một đoạnxương hàm là một phương pháp chính trong phẫu thuật [1], điều này cũng dẫn đến tình trạngmất răng Theo nghiên cứu của Hahn và cộng sự năm 2007 về chất lượng cuộc sống của cácbệnh nhân sau khi phẫu thuật điều trị ung thư vùng miệng cho kết quả trong 1652 bệnh nhân,chỉ có 35% bệnh nhân không mất răng trong quá trình điều trị, 23% số bệnh nhân bị mấtrăng lên đến 5 răng, 17% số bệnh nhân bị mất răng lên đến 10 răng, 25% số bệnh nhân bịmất hơn 10 răng [22]
Bảng 1.2 Tỷ lệ mất răng do chấn thương hàm mặt, dị tật bẩm sinh và phẫu thuật điều trị u
bướu vùng hàm mặt của một số tác giả:
S.A.Odusanya, 1987, Nigeria[32] Tỷ lệ mất răng do chấn thương hàm mặt chiếm
Trang 18bệnh nhân bị mất lên đến 10 răng, 25% số bệnh nhân
bị mất hơn 10 răng
Mất răng nếu không được phục hồi sẽ đưa đến những hậu quả tại chỗ như các răng cònlại hai bên bị xô lệch, răng đối diện trồi lên, đường cong Speee và khớp cắn thay đổi xấu,bệnh sâu răng, nha chu, chấn thương khớp cắn phát sinh đưa đến mất thêm những răng khác,xương ổ răng nơi mất bị tiêu nhanh, hình dạng mặt có thể bị thay đổi do rối loạn khớp cắn.Tình trạng mất răng cũng dẫn đến các hậu quả toàn than như tiêu hóa rối loạn do sự nhainghiền thức ăn không tốt, các răng còn lại phải sử dụng nhiều hơn nên mòn nhanh, nghiêngngả làm rối loạn khớp cắn, có thể gây hội chứng S.A.D.A.M (đau khớp thái dương hàm và
cơ nhai)
Có nhiều cách phân loại mất răng, nhưng cách phân loại thường được sử dụng nhiều nhất
là phân loại theo Kennedy Phân loại mất răng theo Kennedy [18], [31]: Bao gồm 4 loại cănbản I, II, II, IV và bổ sung thêm hai nhóm V và VI được xếp trong trường hợp mất răng gầntoàn bộ Phân loại này gồm:
Loại I: Mất răng sau hai bên
Loại II: Mất răng sau một bên
Loại III: Mất răng sau một bên và đoạn mất răng còn răng kẹp ở hai đầu
Loại IV: Mất răng phía trước, các răng sau còn đủ không cách đoạn
❖ Khiếm khuyết ngoài miệng:
Khuôn mặt là một phần nổi trội trên cơ thể người, nó thể hiện sắc thái, đặc điểm nhậndiện riêng của từng cá nhân Ngoài ra, khuôn mặt còn có nhiều chức năng như giúp bộc lộcảm xúc, sự đồng tình hay phản đối, sự hài lòng, giận dữ hay yêu mến Trên khuôn mặt tậptrung nhiều các cơ quan quan trọng như vị giác, khứu giác, thị giác, thính giác và cả xúc giácgiúp thực hiện chức năng cảm giác, ăn uống, quan sát, nghe, ngửi Do đó, khi có một khiếmkhuyết trên khuôn mặt cũng gây nhiều rối loạn tâm lý xã hội [23] và các rối loạn chức năngkèm theo đặc biệt là vấn đề ảnh hưởng đến thẩm mỹ Ở những bệnh nhân này, khuôn mặt bịbiến dạng so với người bình thường nên khả năng bộc lộ cảm xúc, khả năng giao tiếp cũng
bị hạn chế, kèm theo đó là sự suy giảm chức năng của các giác quan trên khuôn mặt Cáckhiếm khuyết hàm mặt ở ngoài miệng bao gồm:
Khiếm khuyết tai: Thường ảnh hưởng đến thẩm mỹ, nhưng khiếm khuyết này có thểđược giảm bớt nhờ sự che đậy của tóc và vì vị trí của tai nằm ở phía bên đầu nên cũng khôngquá bị chú ý Khiếm khuyết tai làm cho việc đón nhận các tần số âm thanh bị hạn chế, dẫnđến thính giác của những bệnh nhân bị khiếm khuyết tai bị suy giảm
Trang 19
Khiếm khuyết mũi: Mũi có vị trí nổi bật, nằm ở trung tâm và rất khó che giấu trênkhuôn mặt Khiếm khuyết mũi cũng gây ra tình trạng mất vẻ thẩm mỹ của khuôn mặt vàgiảm chức năng khứu giác.
Khiếm khuyết mắt hoặc/và ổ mắt: Có thể do bẩm sinh hoặc sau các thủ thuật khoét
bỏ nhãn cầu, thủ thuật khoét bỏ ổ mắt sẽ tạo ra các khiếm khuyết của mắt hay của ổ mắt.Thiếu hỏng mắt có thể phục hồi một cách đơn giảm bằng mắt giả,với điều kiện ổ mắt và mimắt còn nguyên vẹn Nhưng nếu khiếm khuyết ổ mắt thì việc khôi phục lại sẽ khó khăn hơnnhiều, vì khó tạo chính xác các gờ ổ mắt
1.2.3 Nhu cầu và yêu cầu điều trị:
Nhu cầu là những gì con người cần thiết để có cuộc sống khoẻ mạnh, khác với yêu cầu
là những gì con người muốn
Theo nhà tâm lý học Abraham Maslow, nhu cầu của con người được chia thành hainhóm chính: Nhu cầu cơ bản và nhu cầu bật cao Những nhu cầu cơ bản của con người đượcliệt kê theo một trật tự thứ bậc kiểu kim tự tháp Hệ thống phân cấp các nhu cầu từ thấp đếncao gồm: nhu cầu sinh lý, an toàn, xã hội, được kính trọng, tự khẳng định [33]
Nhu cầu điều trị các khiếm khuyết hàm mặt có thể được xếp vào nhu cầu sinh lý và nhucầu xã hội Nhu cầu điều trị phục hồi khiếm khuyết hàm mặt là những điều trị được đánh giábởi bác sĩ răng hàm mặt hay các chuyên gia về phẫu thuật hàm mặt và phục hình
Yêu cầu điều trị là những điều trị được đánh giá bởi bệnh nhân (các đối tượng tham gianghiên cứu) Yêu cầu điều trị phục hồi khiếm khuyết hàm mặt thể hiện thông việc trả lời cáccâu hỏi phỏng vấn trong phiếu điều tra, theo cảm nhận chủ quan của từng cá nhân có mongmuốn được điều trị phục hồi khiếm khuyết hàm mặt hay không Chính vì vậy, yêu cầu điềutrị phục hồi khiếm khuyết hàm mặt có tính chủ quan, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, nhậnthức thẩm mỹ của từng cá nhân, văn hoá, chủng tộc, giới tính, tuổi
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới.
Một số nghiên cứu liên quan:
+ Nghiên cứu của S.A.Odusanya [32] năm 1987 trên cộng đồng người Nigeria cho thấy tỉ lệmất răng do chấn thương hàm mặt chiếm 4,5%
Trang 20
+ Nghiên cứu Temitope [35] năm 2009 trên cộng đồng người Nigeria cho thấy tỉ lệ mất răng
do chân thương hàm mặt chiếm 12%
Ở Việt Nam:
+ Theo “ Tổng kết tình hình u tại viện răng hàm mặt trong 10 năm (1975 – 1985 )”, của Bùi
Hữu Lâm (năm 1986) [8], số bệnh nhân nhập viện điều trị do chấn thương hàm mặt chiếm20,9%, dị tật bẩm sinh chiếm 20,1%, còn lại là điều trị u bướu (23,9%) và các bệnh lý hàmmặt khác (35,1%)
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả.
2.2 Đối tượng nghiên cứu.
2.2.1 Tiêu chí chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện trên những đối tượng đủ tiêu chuẩn
đang điều trị tại BVRHMTW TP.Hồ Chí Minh từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2014
• Tiêu chuẩn chọn vào:
- Tất cả những bệnh nhân có khiếm khuyết vùng hàm mặt (không phân biệt tuổitác) đang điều trị tại BVRHMTW thành phố Hồ Chí Minh
- Bệnh nhân tiếp xúc tốt
• Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân có sức khoẻ toàn thân kém
- Bệnh nhân không tự nguyện tham gia nghiên cứu
2.2.2 Cỡ mẫu: 64 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đang điều trị tại BVRHMTW TP.Hồ Chí
Minh từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2014
2.3 Phương pháp nghiên cứu.
2.3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại BVRHMTW thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 2 đếntháng 4 năm 2014
2.3.2 Phương tiện nghiên cứu:
+ Bộ đồ khám nha khoa, đèn pin, găng tay, gạc, gòn, cây đè lưỡi
+ Phiếu khám theo mẫu của WHO có bổ sung
+ Bộ câu hỏi phỏng vấn theo mẫu hướng dẫn của bộ môn phục hình
2.3.3 Các biến số nghiên cứu:
- Biến số phân loại nguyên nhân gây khiếm khuyết hàm mặt:
Trang 21
1: Dị tật bẩm sinh 2: Chấn thương hàm mặt3: Phẫu thuật điều trị u bướu hoặc các bệnh lý khác vùng hàm mặt
- Biến số vê tình trạng khiếm khuyết hàm trên:
0: Không có khiếm khuyết hàm trêna: Mất xương ổ răng ở một bên hàm trên
b: Mất xương ổ răng ở cả hai bên hàm trên
c: mất toàn bộ xương ổ răng hàm trên
- Biến số về tình trạng khiếm khuyết vùng hàm dưới:
0: Không có khiếm khuyết vùng hàm dưới
H: Khiếm khuyết một phần cành ngang hay cành đứng bất kỳ, bao gồm cả lồicầu nhưng không qua đường giữa
L: Giống như loại H nhưng không bao gồm lồi cầu
C: Khiếm khuyết phân khúc trung tâm của hàm dưới,bao gồm cả bốn răng cửa
và hai răng nanh
- Biến số về tình trạng khiếm khuyết ngoài miệng:
0: Không có khiếm khuyết ngoài miệng 1: Khiếm khuyết ngoài miệng
- Biến số về tình trạng mất răng:
0: Răng còn tồn tại trên miệng 1: Răng mất (Vì bất cứ lý do nào)
2: Chân răng: Thân răng vỡ lớn hoặc không thấy trên lâm sàng, còn chân răng
- Biến số phân loại mất răng từng phần theo Kennedy:
1: Loại I 2: Loại II 3: Loại III
4: Loại IV 5: Loại V 6: Loại VI
- Biến số về tình trạng và nhu cầu phục hồi khiếm khuyết hàm mặt:
Tình trạng phục hồi hiện có:
0: Không có
1: Đã phẫu thuật tạo hình mô mềm
2: Đã phẫu thuật ghép mô xương/sụn
3: Đã kết hợp ghép mô xương/ sụn và tạo hình
4: Cần phục hồi giả thay thế5: Nẹp vis
- Biến số về tình trạng và nhu cầu phục hình răng:
4: Cần hàm giả toàn bộ
Trang 22
- Tình trạng phục hồi khiếm khuyết hàm mặt, phục hình răng: sự hiện diện có haykhông của các phục hồi khiếm khuyết hàm mặt, các phục hình răng Các chỉ số phục hồi,phục hình răng được ghi nhận cho mỗi hàm và các vùng hàm mặt khác.
- Nhu cầu phục hồi khiếm khuyết hàm mặt, phục hình răng: có hay không việc cầnthiết thực hiện phục hồi các khiếm khuyết hàm mặt, phục hình răng Tiêu chuẩn đánh giánhu cầu phục hồi khiếm khuyết hàm mặt dựa vào kế hoạch điều trị ghi trong hồ sơ bệnh ánsau khi đã hội chẩn Tiêu chuẩn đánh giá nhu cầu phục hình răng dựa vào đánh giá của giảngviên bộ môn phục hình - khoa răng hàm mặt, đại học Y-Dược TP.Hồ Chí Minh
- Yêu cầu phục hồi khiếm khuyết hàm mặt, phục hình răng: có hay không cần thiếtthực hiện phục hồi khiếm khuyết hàm mặt, phục hình răng, được đánh giá bởi ý kiến chủquan của đối tượng nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi về yêu cầu phục hồi và phục hìnhrăng
Khám trên 5 đối tượng bị khiếm khuyết vùng hàm mặt, điều trị tại BVRHMTW TP.HồChí Minh Mỗi điều tra viên cùng khám trên 5 đối tượng, mỗi đối tượng được khám xoayvòng 3 lần So sánh kết quả của các điều tra viên trên 15 phiếu khám, tính tỷ lệ phần trămthống nhất các mã số để tìm chỉ số Kappa
2.3.5 Thu thập số liệu:
Tra cứu hồ sơ kết hợp thăm khám lâm sàng ở từng đối tượng nghiên cứu, chủ yếu bằngcách quan sát qua nhìn, sờ, lắc Quan sát với sự trợ giúp của các dụng cụ thăm khám nhưgương, kẹp nha khoa, thám châm, khay khám do tổ chức y tế thế giới quy định
Phát bộ câu hỏi phỏng vấn cho đối tượng đọc, rồi sau đó phỏng vấn trực tiếp theo mẫucâu hỏi đã được xây dựng
2.3.6 Phân tích số liệu:
+ Số liệu được nhập vào phần mềm Excel
+ Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS Window 16.00
Trang 23
+ Sử dụng phép kiểm định thống kê ANOVA để so sánh trung bình số răng mất ở cácnhóm nguyên nhân (độ tin cậy 95%).
+ Sử dụng phép kiểm định χ2, Fisher’s exact test để so sánh mối liên hệ giữa tỉ lệ cácloại khiếm khuyết hàm mặt, tỉ lệ mất răng, tỉ lệ có phục hồi, tỉ lệ mang các loại phục hìnhrăng, tỉ lệ nhu cầu phục hồi, phục hình răng ở các nhóm nguyên nhân, so sánh mối liên hệgiữa tỉ lệ mất răng và không mất răng ở các đối tượng khiếm hàm trên, hàm dưới, khiếmkhuyết ngoài miệng (độ tin cậy 95%)
Chương 3 – KẾT QUẢ Thông tin về địa điểm và đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2014 tại khoa phẫu thuật hàmmặt, BVRHMTW thành phố Hồ Chí Minh Tổng cộng có 64 đối tượng tham gia nghiên cứu,bao gồm 36 nam (chiếm 56,2%) và 28 nữ (chiếm 43,8%) Các đối tượng có khiếm khuyếtvùng hàm mặt còn lại không tham gia nghiên cứu vì lý do sức khoẻ kém hoặc tâm thầnkhông ổn định
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ nam và nữ tham gia nghiên cứu.
Ở nam có 4 đối tượng dị tật bẩm sinh (chiếm 11,1%), 15 đối tượng chấn thương hàmmặt (chiếm 41,7%), 17 đối tượng phẫu thuật điều trị u bướu hoặc các bệnh lý khác (chiếm47,2) Ở nữ có 5 đối tượng dị tật bẩm sinh (chiếm 17,9%), 6 đối tượng chấn thương hàm mặt(chiếm 21,4%), 17 đối tượng phẫu thuật điều trị u bướu hoặc các bệnh lý khác (chiếm60,7%) (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng tham gia nghiên cứu theo nhóm nguyên nhân và theo giới: