1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tập huấn điều dưỡng sử dụng thang điểm aldrete đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh

86 248 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ---LÂM TUYẾT HOA NGHIÊN CỨU TẬP HUẤN ĐIỀU DƯỠNG SỬ DỤNG THANG ĐIỂM ALDRETE ĐÁNH GIÁ NGƯỜI BỆNH PHÒNG HỒI TỈNH LUẬN VĂN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-LÂM TUYẾT HOA

NGHIÊN CỨU TẬP HUẤN ĐIỀU DƯỠNG

SỬ DỤNG THANG ĐIỂM ALDRETE ĐÁNH GIÁ NGƯỜI BỆNH PHÒNG HỒI TỈNH

LUẬN VĂN CAO HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-LÂM TUYẾT HOA

NGHIÊN CỨU TẬP HUẤN ĐIỀU DƯỠNG

SỬ DỤNG THANG ĐIỂM ALDRETE ĐÁNH GIÁ NGƯỜI BỆNH PHÒNG HỒI TỈNH

CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG

MÃ SỐ: 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS.BS TRẦN THIỆN TRUNG GS.TS SARA JARRETT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi Số liệu và kết quả nghiêncứu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ côngtrình nào

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

HỌC VIÊN THỰC HIỆN

Lâm Tuyết Hoa

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5

Mục tiêu tổng quát 5

Mục tiêu cụ thể 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

1.1 Đặc điểm phòng hồi tỉnh 6

1.2 Nhiệm vụ điều dưỡng phòng hồi tỉnh 7

1.3 Gây mê toàn diện 9

1.4 Quá trình hồi phục sau gây mê 10

1.5 Quy trình chăm sóc tại phòng hồi tỉnh 11

1.6 Các biến chứng hậu phẫu cần theo dõi 12

1.7 Thang điểm Aldrete 15

1.8 Các nghiên cứu liên quan 17

1.9 Mô hình học thuyết 18

1.10 Sơ lược về bệnh viện Quận Thủ Đức 19

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng và thiết kế nghiên cứu 22

2.1.1 Thiết kế nghiên cứu 22

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 22

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 22

2.1.4 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp chọn mẫu 22

2.2.1 Cỡ mẫu 22

2.2.2 Kỹ thuật chọn mẫu 22

Trang 5

2.3 Chương trình tập huấn 23

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.5 Công cụ thu thập số liệu 26

2.6 Liệt kê và định nghĩa các biến số 28

2.7 Nhập liệu và phân tích dự liệu 33

2.8 Kiểm soát sai lệch 34

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 36

3.1 Các đặc tính của mẫu nghiên cứu 36

3.1.1 Nhóm tuổi 36

3.1.2 Giới 37

3.1.3 Trình độ học vấn 38

3.1.4 Năm kinh nghiệm 39

3.1 Kiến thức và thực hành trong đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh của điều dưỡng trước và sau tập huấn 40

3.2.1 Kiến thức trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo thang điểm Aldrete của điều dưỡng trước tập huấn 40

3.2.2 Kiến thức trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo thang điểm Aldrete của điều dưỡng sau tập huấn 41

3.2.3 Thực hành trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo thang điểm Aldrete của điều dưỡng sau tập huấn so với trước tập huấn 42

3.2 Đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh của điều dưỡng phù hợp với đánh giá của bác sĩ trước và sau tập huấn 43

3.2.1 Đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh của điều dưỡng phù hợp với đánh giá của bác sĩ trước tập huấn 43

3.2.2 Đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh của điều dưỡng phù hợp với đánh giá của bác sĩ sau tập huấn 45

3.2.4 Quyết định chuyển BN của điều dưỡng phù hợp với bác sĩ trước và sau tập huấn 50

3.3 Sự hài lòng của điều dưỡng khi sử dụng thang điểm Aldrete để đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh 51

Trang 6

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54

4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 54

4.2 Kiến thức và thực hành trong đánh giá người bệnh của điều dưỡng trước và sau tập huấn 58

4.3 Đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh của điều dưỡng phù hợp với đánh giá của bác sĩ trước và sau tập huấn 60

4.4 Sự hài lòng của điều dưỡng khi sử dụng thang điểm Aldrete để đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh 63

4.5 Hạn chế của nghiên cứu 63

KẾT LUẬN 65

KIẾN NGHỊ 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO a PHỤ LỤC 1 e PHỤ LỤC 2 f PHỤ LỤC 3 g PHỤ LỤC 4 h PHỤ LỤC 5 i PHỤ LỤC 6 j

Trang 7

Post anaestheticdischarge scoringsystem

Saturation, Pain,Extremit movement,Emesis, Dialogue,Stable vitals signs

Phòng phục hồi sauphẫu thuật

Thang điểm đánh giáxuất viện sau gây mê

Độ bão hòa oxymáu, đau, vận động

tứ chi, nôn ói, giaotiếp, dấu hiệu sinhtồn ổn định

Bệnh nhân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Biến số và định nghĩa biến số 21Bảng 3.1 Kiến thức trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo thangđiểm Aldrete của điều dưỡng trước tập huấn 33Bảng 3.2 Kiến thức trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo

thang điểm Aldrete của điều dưỡng sau tập huấn 34Bảng 3.3 Tổng điểm của bệnh nhân theo thang Aldrete và quyết định

chuyển khoa/phòng của điều dưỡng trước và sau tập huấn 35Bảng 3.4 Thực hành ra quyết định chuyển bệnh nhân của điều dưỡng

được đánh giá theo thang điểm Aldrete trước và sau tập huấn 35Bảng 3.5 Tỉ lệ phù hợp đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh của

điều dưỡng với bác sĩ trước và sau tập huấn 40Bảng 3.5 Tỉ lệ phù hợp đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh của

điều dưỡng với bác sĩ trước và sau tập huấn 42Bảng 3.7 Quyết định chuyển bệnh nhân của của điều dưỡng phù hợp

với quyết định của bác sĩ trước và sau tập huấn 43Bảng 3.9 Sự đồng thuận của điều dưỡng khi sử dụng thang điểm Aldrete

để đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh 44

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Nhóm tuổi 29

Biểu đồ 3.2 Giới 30

Biểu đồ 3.3 Trình độ học vấn 31

Biểu đồ 3.4 Số năm kinh nghiệm 32

Biểu đồ 3.5 Đánh giá của điều dưỡng về thang Aldrete so với đánh giá của bác sĩ trên cùng bệnh nhân trước tập huấn 36

Biểu đồ 3.6 Đánh giá của điều dưỡng về thang Aldrete so với đánh giá của bác sĩ trên cùng bệnh nhân sau tập huấn 38

Biểu đồ 3.7 Điểm tổng đánh giá của điều dưỡng và bác sĩ trên cùng bệnh nhân trước tập huấn 41

Biểu đồ 3.8 Điểm tổng đánh giá của điều dưỡng và bác sĩ trên cùng bệnh nhân sau tập huấn (p=0,15) 41

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật là kỹ thuật mổ xẻ nhằm loại bỏ hoặc sửa chữa các tạng hưhỏng trong cơ thể con người, với mục đích đưa cơ thể trở về trạng thái bìnhthường hoặc gần như bình thường Thành công của nhiều phẫu thuật, đặc biệt

là những phẫu thuật phức tạp, phụ thuộc vào các biện pháp chăm sóc, điều trịtích cực trực tiếp ở giai đoạn ngay sau cuộc mổ Để đạt được mục đích này thìkhu phòng mổ sẽ được gắn liền với với phòng chăm sóc sau gây mê làPostanesthesia Care Units (PACUs) hay còn được gọi là phòng phục hồi saugây mê hoặc phòng hồi tỉnh, đây là tiêu chuẩn không thể thiếu của bệnh viện[39]

Sự hồi phục sau gây mê được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn hồi phụcsớm (giai đoạn I), hồi phục trung gian (giai đoạn II), và hồi phục muộn (giaiđoạn III) Sau khoảng thời gian phẫu thuật trong phòng mổ, ở những bệnhnhân được gây mê thì khoảng thời gian thoát mê được coi là rất quan trọng, vìđây là giai đoạn mà bệnh nhân gặp nhiều rối loạn sinh lý bao gồm hệ hô hấp,tuần hoàn, thần kinh trung ương, tiêu hóa, thận niệu, cho đến hệ cơ xươngkhóp cũng như hệ nội tiết [8], [9], [10], [33] Các biến chứng liên quan đếngây mê đã được đề cập sớm từ giữa thế kỷ thứ 19 khi mà lần đầu tiên sử dụnggây mê theo đường hô hấp [35] Theo hiệp hội phẫu thuật ngoại trú liên bang

Mỹ (FASA) thì tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật ở những cuộc mổ kéo dàidưới 1 giờ là 1/115 bệnh nhân, trong khi đó nếu các phẫu thuật đòi hỏi gây mêtrên 2 giờ thì tỷ lệ biến chứng là 1/48 bệnh nhân [11] Theo đó các biến chứngthường gặp trong khoảng thời gian hậu phẫu có triệu chứng buồn nôn và nôn

là 9.8%, thiếu oxy và cần hỗ trợ đường thở trên 6,8%, hạ thân nhiệt và run 65%, mê sảng ở bệnh nhân lớn tuổi 10% (ở những người trên 50 tuổi), hạhuyết áp (2,7%) [17] Điều này cho thấy tính chất quan trọng của công tácchăm sóc người bệnh tại phòng hồi tỉnh

Trang 11

5-Chăm sóc hậu phẫu hay quản lý người bệnh sau phẫu thuật được bắt đầungay từ khi cuộc phẫu thuật kết thúc cho đến khi người bệnh trở về trạng tháisinh lý ban đầu lúc chưa phẫu thuật Vì vậy người bệnh cần được theo dõichăm sóc một cách đặc biệt của các bác sĩ, điều dưỡng có khả năng và kinhnghiệm, đồng thời cũng cần có đầy đủ các phương tiện để theo dõi, giúp giảm

tử vong và biến chứng xảy ra sau phẫu thuật [21] Bên cạnh đó, khi không thểtheo dõi tình trạng bệnh nhân đang dần xấu đi và xử lý chậm trễ, có thể dẫnđến bệnh nhân tăng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng, thậm chí là tử vong[40] Một nghiên cứu vào năm 1990, cứ mỗi phút khi bệnh nhân nằm trongphòng chăm sóc đặc biệt, phòng hồi tỉnh cũng như nằm trên bàn mổ thì chúng

ta phải tiêu tốn hết 20 USD, không tính tiền chi trả cho chất xám và thời giansau mổ [8]

Trên thế giới có nhiều hướng dẫn về quản lý bệnh nhân thời gian hậuphẫu được phát triển và thực hiện [50], tuy nhiên đa số chỉ nói về vai trò củabác sĩ gây mê- người chịu trách nhiệm chính cho bệnh nhân của mình đến khirời phòng hồi tỉnh để về khoa/phòng, trong khi đó trách nhiệm đánh giá sựsẵn sàng của bệnh nhân để rời phòng hồi tỉnh thường giao cho điều dưỡng đãđược đào tạo Người điều dưỡng sẽ gặp khó khăn trong việc quyết định thờigian cho bệnh nhân ra khỏi hậu phẫu vì cần có y lệnh của bác sĩ gây mê, sựchờ đợi hồ sơ cũng như ý kiến đánh giá là một trong những nguyên nhân gâychậm trễ [15], [23] Một nghiên cứu cho thấy 76% bệnh nhân đã bị trì hoãnvận chuyển ra khỏi PACU, trong đó 26% bệnh nhân đã phải chờ đến 30 phút[23] Khoảng thời gian không cần thiết mà bệnh nhân phải ở lại phòng hồitỉnh này có thể gây tồn đọng hồ sơ làm chậm lịch trình phẫu thuật dẫn đếnảnh hưởng tới dịch vụ chăm sóc, làm tăng chi phí điều trị, cũng như sự hàilòng của bệnh nhân, thân nhân Theo đó nghiên cứu tại Porto Alegre đã kếtluận có mối tương quan chặt chẽ giữa khối lượng công việc điều dưỡng và

Trang 12

thời gian BN ở lại đơn vị chăm sóc sau gây mê [15], [18], [29] Chính vì lý do

đó mà các tiêu chí, các quy định của bệnh viện hay hệ thống tính điểm cho

BN từ phòng hồi tỉnh chuyển về khoa/phòng cần được sử dụng

Năm 1970, Aldrete and Kroulik [13] đã thiết kế một hệ thống tính điểmnhằm đánh giá sự hồi phục sau gây mê và trong thời gian đó không có mộtcông cụ nào được xác nhận là an toàn cho BN rời phòng hồi tỉnh [35] Aldrete

đã nhận ra sự cần thiết của một công cụ giám sát có thể sử dụng để chuẩn hóaviệc chăm sóc bệnh nhân phẫu thuật trên toàn thế giới Vào năm 1995, ông đã

tiêu chuẩn chăm sóc thay vì trước đó sử dụng chỉ số màu da để đánh giá độbão hòa oxy trong máu [12] Hệ thống tính điểm của Aldrete [16] gồm 5 lĩnhvục, với điểm 0, 1, hoặc 2 cho mỗi lĩnh vực , điểm tối đa là 10 và chỉ cần đạtđược 9/10 điểm bệnh nhân đã có đủ tiêu chuẩn rời phòng hồi tỉnh Do tính dễ

sử dụng, thang điểm Aldrete đã trở thành tiêu chuẩn đánh giá lâm sàng về sựhồi phục thể chất của bệnh nhân trong nhiều PACU trên toàn thế giới

Mặc dù thang điếm Aldrete khá phổ biến trên thế giới, nhưng hiện naytại Việt Nam chỉ có các bệnh viện quốc tế và một số bệnh viện lớn đã áp dụnglàm tiêu chuẩn đánh giá người bệnh có đủ điều kiện rời phòng hồi tỉnh [7].Nghiên cứu của Dowling năm 2015 đã khuyến cáo rằng điều dưỡng cần đượchướng dẫn sử dụng và huấn luyện định kỳ để có thể sử dụng tốt và hiệu quảthang điểm Aldrete, cũng như thống nhất với các thành viên trong đội chămsóc, bao gồm cả bác sĩ

Hiện tại, khoa Gây mê Hồi sức bệnh viện quận Thủ Đức đã có quy trình

sử dụng thang điểm Aldrete để đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh, tuy nhiênchưa có nghiên cứu nào khảo sát về mức độ sử dụng cũng như kiến thức, thựchành của điều dưỡng Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tập huấn

Trang 13

điều dưỡng sử dụng thang điểm Aldrete đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh”nhằm thống kê tỉ lệ điều dưỡng có thực hiện đúng hay sai và sau tập huấn cácđiều dưỡng ấy có thay đổi kiến thức, thực hành của mình hay không.

Trang 14

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Điều dưỡng sẽ cải thiện như thế nào về kiến thức và thực hành sau khiđược tập huấn sử dụng thang điểm Aldrete để đánh giá người bệnh tại phònghồi tỉnh là bao nhiêu?

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm phòng hồi tỉnh

Vào thế kỷ thứ 19 khi mà phương pháp gây mê đã được sử dụng hơn

160 năm thì PACU chỉ mới phổ biến trong khoảng 50 năm qua, đươc giớithiệu và trở thành cơ sở tiên phong cho sự hồi phục của bệnh nhân ngay sauphẫu phuật vào năm 1923 [24], [44] Phòng hồi sức thường được nối liền vớiphòng mổ bằng dãy hành lang kín, bằng phẳng, mục đích là để có thể vậnchuyển bệnh nhân trở lại phòng mổ một cách nhanh chóng, an toàn nếu cần

và cũng dễ dàng hơn cho việc thăm khám liên tục của phẫu thuật viên và bác

sĩ gây mê

Quy mô phòng có thể tùy theo từng bệnh viện nhưng số giường bệnhphải đáp ứng đủ cho số lượng bệnh nhân mổ dự kiến tối đa Theo quy định

phủ vật liệu nhân tạo chống mài mòn, chống nấm móc, chống tĩnh điện, tường

sử dụng vật liệu chịu nước, chất tẩy khuẩn và có sơn kháng khuẩn,có hệ thốngchiếu sáng, phòng - chữa cháy, cấp không khí sạch, các hệ thống máy móc kỹ

Trong giai đoạn hồi tỉnh người bệnh sẽ rất dễ bị kích thích bởi các tácđộng bên ngoài như tiếng ồn, vì vậy phòng cũng cần phải được yên tĩnh và ởmỗi giường bệnh phải có chuông gọi khẩn cấp cho bệnh nhân sử dụng khicần Ngoài không gian giường bệnh, phòng hồi tỉnh còn có khu vực trung tâmcho bác sĩ, điều dưỡng lưu trữ hồ sơ bệnh án, thuốc và các thiết bị cần thiết,tất nhiên khu vực đó phải là không gian mở để có thể theo dõi sát bệnh nhân

Mục tiêu chăm sóc của phòng hậu phẫu là chăm sóc người bệnh chođến khi hết thuốc mê, dấu hiệu sinh tồn ổn định, người bệnh không còn chảymáu, người bệnh định hướng được (trừ trường hợp về sọ não) thì chuyển sang

Trang 16

trại bệnh, thường phòng hậu phẫu chỉ lưu người bệnh trong 24 giờ sau mổ.Nếu sau thời gian này tình trạng bệnh trở nặng thì người bệnh sẽ được chuyểnsang phòng hồi sức tích cực Nhân lực cho phòng hồi tỉnh tối thiểu gồm mộtbác sỹ gây mê – hồi sức, điều dưỡng viên (số lượng điều dưỡng viên tuỳthuộc vào số giường hồi tỉnh với tỷ lệ hai điều dưỡng viên phụ trách nămgiường bệnh và một hộ lý [5].

Phòng hồi tỉnh tại bệnh viện quận Thủ Đức nối liền với khu phòng mổ

động Bên trong có 15 giường (gấp 2 lần số bàn phẫu thuật là 7 bàn) cùng 15

đều được trang bị chuông gọi khẩn cấp, hệ thống oxy âm tường Ngoài ra,phòng hồi tỉnh có 2 máy hút đàm di động, 1 máy sốc điện, 3 đèn hồng ngoạisười ấm bệnh nhân Mỗi giường đều có cây dịch truyền riêng và có thêm 3cây dịch truyền di động, khoa cũng trang bị 2 máy làm ấm máu-dịch truyền.Hiện tại, phòng hồi tỉnh có 1 bộ dụng cụ để cấp cứu đường thở và 2 máy thở.Nhiệt độ phòng đảm bảo nhờ hệ thống 4 máy lạnh, đầy đủ đèn và sáng sủa,thường xuyên được kiểm tra và bảo trì Phòng hành chánh ngay sát cạnhphòng hồi tỉnh và có cửa sổ lớn để có thể thao dõi bên ngoài, trong đó có các

tủ thuốc với cơ số rõ ràng

1.2 Nhiệm vụ điều dưỡng phòng hồi tỉnh

Bộ Y Tế Việt Nam [5] quy định về nhân lực của khoa Gây mê-hồi sức

bộ phận hồi tỉnh gồm: 1 bác sĩ gây mê, số lượng điều dưỡng viên tùy thuộcvào số giường bệnh với tỷ lệ 2 điều dưỡng phụ trách 5 giường bệnh, và 1 hộ

lý Ngoài ra, thông tư cũng có hướng dẫn nhiệm vụ của người điều dưỡng tại

bộ phận hồi tỉnh rõ ràng:

Trang 17

- Theo dõi, phát hiện và xử trí cấp cứu ban đầu kịp thời trong phạm vicho phép.

- Chuẩn bị đầy đủ giường bệnh, trang thiết bị, vật tư tiêu hao sẵn sàngđón người bệnh từ phòng mổ

- Phụ giúp bác sĩ gây mê – hồi sức trong thăm khám và điều trị ngườibệnh tại bộ phận

- Đánh giá người bệnh theo các thang điểm quy định

- Theo dõi, ghi chép đầy đủ, chính xác, trung thực diễn biến củangười bệnh, việc thực hiện y lệnh vào bảng theo dõi và hồ sơ bệnhán

Califonia [38] là tiểu bang duy nhất đã hợp pháp được tỉ lệ điều dưỡng:bệnh nhân tối thiểu bắt buộc phải duy trì mọi lúc trong từng khoa/phòng.Trong đó tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân trong phòng hồi tỉnh là 1:2

Sau khi ra khỏi phòng mổ, bệnh nhân sẽ được bàn giao từ điều dưỡngphòng mổ sang điều dưỡng phòng hồi tỉnh Ngay sau đó người điều dưỡnghồi tỉnh phải nhận định tình trạng người bệnh, bao gồm: dấu hiệu sinh tồn, trigiác, tình trạng vết mổ, dẫn lưu, bệnh, loại phẫu thuật… Họ là người chịutrách nhiệm quan sát và chăm sóc sau phẫu thuật cho bệnh nhân và đảm bảorằng họ tỉnh táo một cách an toàn sau gây mê Cũng như điều dưỡng ở các vịtrí khác, điều dưỡng phòng hồi tỉnh cũng làm việc trong môi trường có nhịp

độ nhanh, phải nhanh chóng đưa ra quyết định quan trọng nhằm cung cấpdịch vụ chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân, cần siêng năng theo dõi người bệnhkhi đang thoát khỏi thuốc an thần và hành động ngay lập tức nếu có bất kỳbiến chứng nào xảy ra Phần lớn điều dưỡng làm việc tại PACU là niềm an ủicho bệnh nhân vừa trải qua phẫu thuật vì họ có thể cảm thấy sợ hãi và bối rốikhi mới thức dậy và thuốc mê có thể làm trầm trọng thêm cảm giác đó ở một

Trang 18

số bệnh nhân, vì vậy một điều dưỡng thành công sẽ có thể xử lý tình huốngnày một cách cẩn thận để bệnh nhân an tâm và tiếp tục hồi phục Bên cạnh đó,điều dưỡng phòng hồi tỉnh còn có vai trò liên lạc với người nhà bệnh nhân, họcần kỹ năng giao tiếp tốt để có thể truyền đạt rõ ràng các hướng dẫn và trả lờibất kỳ câu hỏi nào.

Tại phòng hồi tỉnh bệnh viện quận Thủ Đức, điều dường được chia làm 2ca: sáng từ 7g đến 16g và đêm từ 16g đến 7g sáng hôm sau Thông thường casáng sẽ có 4 đến 5 điều dưỡng tham gia chăm sóc trực tiếp người bệnh và 1điều dưỡng hành chánh làm công việc liên quan đến thuốc và vật tư y tế Cađêm có 3 đến 4 điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân và không có điều dưỡnghành chánh Như vậy, tỉ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân khoảng 1:3 Tuy nhiên,khác với các bệnh viện khác, điều dưỡng tại phòng hồi tỉnh bệnh viện quậnThủ Đức có trách nhiệm vận chuyển người bệnh về khoa/phòng; vì vậy, nhómđiều dưỡng tham gia chăm sóc trực tiếp sẽ phân công một nửa ở tại khoa làm

hồ sơ bệnh án và một nửa sẽ vận chuyển người bệnh về khoa/phòng khi có ylệnh

1.3 Gây mê toàn diện

Hiện nay, phương pháp gây mê toàn diện[3] có khuynh hướng sử dụngnhiều, do có ưu điểm là mê ổn định, tránh được quá liều thuốc mê Trongphương pháp này, bác sĩ sẽ khởi mê bằng thuốc mê đường tĩnh mạch, duy trì

mê với thuốc mê hơi Khí mê sẽ qua đường nội khí quản cùng với thuốc giảmđau họ morphine và thuốc giãn cơ qua đường tĩnh mạch Ngoài ra, bác sĩ cóthể khởi mê bằng khí mê, thuốc mê hơi qua đường hô hấp, sau đó đăt nội khíquản rồi duy trì mê bằng thuốc mê hơi, khí mê qua đường nội khí quản cùngthuốc giảm đau họ morphine và thuốc giãn cơ qua đường tình mạch Bên cạnh

đó, phương pháp này còn được phát triển cao hơn bằng kỹ thuật sử dụng các

Trang 19

thuốc mê hơi, khí mê để gây mê với hệ thống mê kín, qua đó họ sẽ áp dụng kỹthuật gây mê với lưu lượng cao, lưu lượng trung bình, lưu lượng thấp hoặc tốithiểu.

Với phương pháp gây mê này, bệnh nhân sẽ ít bị biến loạn tuần hoàn, hôhấp, an toàn, giảm tai biến quá liều thuốc mê, ít biến chứng gây mê, tiết kiệmthuốc mê, tránh được ô nhiễm môi trường và tạo điều kiện tốt cho phẫu thuật

1.4 Quá trình hồi phục sau gây mê

Ngay sau khi ngừng gây mê, ở mỗi bệnh viện sẽ có tiêu chí khác nhau

để chuyển bệnh từ phòng mổ sang phòng hậu phẫu Tại Mỹ, một số cơ sở yêucầu bệnh nhân phải lấy lại được các phản xạ của cơ thể, tỉnh táo và có thể đápứng các mệnh lệnh cơ bản, trong khi đó ở Anh lại chuyển bệnh nhân khi họvẫn còn đang ngủ, chưa lấy lại ý thức và chuyển đến phòng hậu phẫu để cóthể tỉnh dậy một cách tự nhiên [44] Phục hồi sau phẫu thuật là một quá trìnhliên tục, trong đó bệnh nhân sẽ không được coi là hoàn toàn phục hồi nếu nhưchưa trở về trạng thái sinh lý trước phẫu thuật Toàn bộ quá trình này có thểkéo dài vài ngày, nhưng nó có thể được chia làm ba giai đoạn riêng biệt [19]:

- Giai đoạn I: giai đoạn phục hồi sớm, bắt đầu từ lúc bệnh nhân đượcngừng gây mê cho đến khi đã phục hồi được các phản xạ, chức năngvận động, và thường diễn ra trong đơn vị chăm sóc đặc biệt vì bệnhnhân cần được theo dõi, giám sát một cách chặt chẽ

- Giai đoạn II: giai đoạn phục hồi trung gian, thường diễn ra ở các khoa,phòng lâm sàng, khi đó người bệnh sẽ được cung cấp thức ăn, nướcuống và sẵn sàng về nhà

- Giai đoạn III: giai đoạn phục hồi muộn là lúc bệnh nhân được xuất viện

và trải qua quá trình bình phục hoàn toàn tại nhà Quá trình này có thểkéo dài đến 6 tuần [20]

Trang 20

Khi bệnh nhân được đánh giá đã hồi phục đủ và sẵn sàng chuyển sanggiai đoạn II thì thang điểm Aldrete có thể được sử dụng [13].

1.5 Quy trình chăm sóc tại phòng hồi tỉnh

Khoa Hồi sức sau mổ được trang bị đội ngũ nhân viên có trình độchuyên môn tốt, yêu nghề, làm việc nghiêm túc và phải thường xuyên theodõi đánh giá tình trạng bệnh nhân Để hạn chế cũng như tránh các thiếu sót,cần chăm sóc theo thứ tự ưu tiên các cơ quan như sau: chăm sóc toàn thể toàndiện, cơ quan hô hấp, tuần hoàn, thần kinh trung ương, tiêu hóa, tiết niệu, vậnđộng và đặc biệt là cơ quan phẫu thuật vừa xong [8]:

- Chú ý quan sát tần số, tính chất nhịp thở, các dấu hiệu khó thở

- Luôn cung cấp đủ oxy, qua nội khí quản, mặt nạ hay oxy 2 nhánh

- Làm sạch đường thở bằng cách hút đàm nhớt, chất nôn, cần nghe phổitrước và sau khi hút đàm

- Ngoài ra tư thế người bệnh cũng không kém phần quan trọng, ở nhữngbệnh còn mê cho nằm đầu bằng, mặt nghiêng một bên, kê gối sau lưng,còn ở những bệnh nhân tỉnh thì nên nằm tư thế fowler đồng thời hướngdẫn họ cách tập thở, hít thở sâu

 Tim mạch

Người bệnh có nguy cơ bị hạ huyết áp, tăng huyết áp hay rối loạn nhịptim, người điều dưỡng cần:

Trang 21

- Nhận định, theo dõi: mạch, huyết áp và ghi thành biểu đồ.

- Phát hiện máu chảy qua vết mổ, ống dẫn lưu

- Quan sát tình trạng da niêm cũng như lượng nước xuất nhập thườngxuyên

- Nâng đỡ bệnh nhân nhẹ nhàng tránh tụt huyết áp tư thế

- Thực hiện truyền dịch, truyền máu theo y lệnh

 Thần kinh

Bệnh nhân sẽ trải qua phương pháp vô cảm (gây mê hoặc gây tê) tùy theo tínhchất cuộc phẫu thuật, vì thế khi được chuyển ra phòng hồi tỉnh sẽ có bệnhnhân mê vẫn còn ngủ hoặc ngược lại Nhiệm vụ của người điều dưỡng là:

- Ghi nhận những thuốc mê, thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc giảm đau

mà bệnh nhân đã dùng vì chúng có ảnh hưởng đến sự tỉnh táo

- Đánh giá người bệnh qua thang điểm Glasgow

- Đảm bảo an toàn cho người bệnh vì giai đoạn này họ rất dễ bị kíchthích, vật vã

- Theo dõi vận động, cảm giác của chi đồng thời tránh chèn ép khi xoaytrở

 Nước tiểu

Lượng nước tiểu trung bình của mỗi người khoảng 1ml/kg/giờ [8], cần phảitheo dõi số lượng, màu sắc, tính chất nước tiểu mỗi giờ, vì nó là chỉ số quantrọng để đánh giá tình trạng tuần hoàn nội tạng người bệnh sau mổ, đặc biệt làtrường hợp mổ phức tạp

1.6 Các biến chứng hậu phẫu cần theo dõi

 Biến chứng hô hấp

- Tắc nghẽn đường hô hấp trên

Trang 22

 Nguyên nhân: tụt lưỡi, co thắt thanh quản, phù nề thanh môn, dịchtiết, dịch nôn hay máu trong đường thở, nguyên nhân bên ngoài đèvào đường thở.

đồng bộ, nghe ran rít trước cổ

tiết, corticoid, phun khí dung, đặt nội khí quản, mở khí quản

- Giảm thông khí phế nang

Morphin, thuốc dãn cơ, thuốc mê tĩnh mạch), hạ thân nhiệt, chảymáu hoặc thiếu máu não, đau, tràn khí- tràn dịch màng phổi, béophì

sức, mạch nhanh, huyết áp tăng nhưng nếu bệnh nhân vô toan hôhấp nặng thì huyết áp và mạch sẽ giảm

kháng họ Morphin, thuốc dãn cơ, điều trị đau, dẫn lưu màng phổi

 Rối loạn tuần hoàn

- Hạ huyết áp

nhịp

của máu, theo dõi sát huyết động, độ bão hòa oxy

- Tăng huyết áp

khí, dung thuốc hạ áp

Trang 23

- Rối loạn nhịp tim

tích tuần hoàn, đau, hạ thân nhiệt nhiều, dung thuốc kháng cholin,thiếu máu cơ tim, rối loạn điện giải, toan hô hấp, tăng huyết áp

 Kích thích sau phẫu thuật

bảo bệnh nhân không đè lên dẫn lưu hay ống thông tiểu

 Đau sau phẫu thuật

Thực hiện y lệnh thuốc giảm đau theo giờ, tránh tình trạng bệnh nhânxuất hiện cảm giác đau rồi mới cho thuốc Một số thuốc giảm dùng tronggiai đoạn hồi tỉnh: paracetamol, thuốc nhóm NSAID, thuốc á phiện(fentanyl, tramadol), thuốc phiện (morphin)

 Rối loạn chức năng thận

Có nhiều nguyên nhân khác nhau, do thận chưa được bù dịch đủ tronglúc mổ, hay do nguyên nhân thực thể Vì vậy cần tìm hiểu rõ nguyên nhân

để xử trí chính xác

 Rối loạn đông chảy máu

sau mổ vẫn còn chảy máu

 Hạ thân nhiệt

vì thông thường máu được dự trữ ở nhiệt độ rất thấp, mổ bụng phải

Trang 24

rửa ổ bụng với dung dịch nhiệt độ thấp, hay để ruột bên ngoài ổbụng.

gian lưu trú và trước khi ra phòng hồi tỉnh, ủ ấm dịch truyền

1.7 Thang điểm Aldrete

Thang đo Aldrete [12], [13], [26] là một hệ thống tính điểm thông dụngđược sử dụng để đánh giá tình trạng người bệnh có đủ tiêu chuẩn rời phònghồi tỉnh để về khoa lâm sàng hay chuyển sang giai đoạn hồi phục II, hệ thốngđiểm Aldrete được phát minh vào năm 1970, bởi bác sĩ gây mê người MexicoJorge Antonio Aldrete, khi ông đang làm việc tại bệnh viện cựu chiến binhDenver, và hê thống này đã được đánh giá về tính hiệu quả do Wiley và cộng

sự [53] vào năm 2002 Vào năm 1995 thang đo Aldrete đã được cải tiến, thay

bão hòa oxy máu Thời gian để đánh giá tình trạng người bệnh là ngay lập tứcsau khi đến phòng hồi tỉnh và mỗi giờ sau đó, cho đến khi họ sẵn sàng vềkhoa lâm sàng Các dấu hiệu được đánh giá bao gồm [13]:

Trang 25

Thông số Mô tả Điểm

Sau khi đánh giá các dấu hiệu, tổng điểm bệnh nhân đạt được là 9 hoặc

10 thì sẽ có đủ chuẩn để chuyển sang giai đoạn phục hồi tiếp theo Tuy rằng

hệ thống tính điểm Aldrete rất dễ sử dụng, là hướng dẫn đáng tin cậy và được

áp dụng làm tiêu chí rời phòng hồi tỉnh cho các điều dưỡng ở nhiều cơ sởbệnh viện, nhưng vẫn có một số hạn chế:

- Hệ thống không bao gồm các đánh giá về mức độ đau hay nôn ói, trongkhi đó các dấu hiệu này được tìm thấy ở 9.8% ở người bệnh phòng hồitỉnh [33], gây khó chịu cho họ và khó khăn cho việc điều trị, thườnglàm chậm trễ sự phục hồi toàn diện cũng như xuất về khoa lâm sàngcủa các bệnh nhân

Trang 26

- Hệ thống không bao gồm nhiều tiêu chí cho các yêu cầu cụ thể, ví dụnhư tăng thời gian ở phòng hồi tỉnh nếu bệnh nhân mẫn cảm, nguy cơcao bị bí tiểu Trong những trường hợp đó, các hướng dẫn bổ sung cầnđược thiết lập và tuân theo.

- Các chỉ số dấu hiệu sinh tồn sau mổ của bệnh nhân có thể không chínhxác do đã tăng cao từ trước mổ, chẳng hạn huyết áp cao liên quan lolắng

1.8 Các nghiên cứu liên quan

Các hệ thống chấm điểm tiêu chuẩn sau gây mê đã được sử dụngthành công để hỗ trợ cho bệnh nhân rời đơn vị chăm sóc sau gây mê tronghơn 40 năm, không thay thế mà kết hợp cùng các phán đoán lâm sàng tốt, vàcung cấp các tài liệu ngắn gọn, đã chuẩn hóa cho sự sẵn sàng xuất khoa củabệnh nhân [12, 14, 16, 19, 32] Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu vềtiêu chuẩn đánh giá bệnh nhân: tiêu chuẩn Aldrete được công bố vào năm

1970 [13], tiêu chuẩn PADSS nghiên cứu vào năm 1995 để so sánh với tiêuchí xuất viện lâm sàng đã có [32], hay hệ thống tính điểm fast-track vào năm

1999 bao gồm thêm dấu hiệu đau và nôn ói [25], ngoài ra vào năm 2013 tiêuchí SPEEDS đã được phát triển để đánh giá và dự đoán người bệnh nào có thể

bỏ qua giai đoạn hồi phục I mà chuyển thẳng sang giai đoạn II [31] Tuynhiên thang điểm Aldrete được coi là dễ sử dụng, là tiêu chuẩn vàng để giảmthiểu lỗi từ các đánh giá chủ quan, và là công cụ giúp điều dưỡng ra quyếtđịnh về thời gian lưu trú tại phòng hồi tỉnh của bệnh nhân [33, 35, 52]

Bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu chứng mình rằng sử dụngthang điểm Aldrete bệnh nhân sẽ không cần ở lại quá lâu khi họ đã sẵn sàngrời trong phòng hồi tỉnh cũng như giảm bớt gánh nặng công việc cho ngườiđiều dưỡng [15, 18, 23, 24, 29, 52] Tại Việt Nam, thang điểm Aldrete đã

Trang 27

Thông tin nhân

Kiến thức

và thực hành trước tập huấn

Kiến thức

và thực hành sau tập huấn

Thay đổi kiến thức và thực hành

Không thay đổi kiến thức và thực hành

Tập huấn

Phản hồi

được biết đến, và xuất hiện trong các bài nghiên cứu như một công cụ cầnthiết cho sự rời phòng hậu phẫu Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên biệt để đánhgiá hiệu quả của thang điểm này hiện chưa được công khai, vì vậy tôi muốnthực hiện nghiên cứu nhằm chứng minh thang điểm Aldrete thật sự phù hợp

và cần thiết cho công việc hằng ngày của điều dưỡng tại đơn vị chăm sóc saumổ

1.9 Mô hình học thuyết

Để tiến hành nghiên cứu này, tôi cần xem xét, chọn lọc giữa các họcthuyết để hướng dẫn cho quá trình của mình, và Học thuyết Hệ thống Tổngquát (General System Theory) của Ludwig Von Bertalanffy [48] dường nhưrất thích hợp với đề tài của tôi

Trang 28

Khung nghiên cứu

1.10 Sơ lược về bệnh viện Quận Thủ Đức

Bệnh viện quận Thủ Đức là bệnh viện hạng I với mô hình 800 giường,thực hiện trên 3,500 lượt bệnh nhân ngoại trú/ ngày, bình quân tiếp nhậnkhoảng 150 trường hợp cấp cứu/ ngày, với đội ngũ nhân viên khoảng hơn1,200 người trong đó trình độ chuyên môn đại học và sau đại học là 357người với 9 phòng và 32 khoa tương đương như một bệnh viện đầu ngành

Khoa phẫu thuật gây mê hồi sức thuộc khối lâm sàng gồm 7 phòng mổtương đương 7 bàn mổ và 1 phòng hồi tỉnh có 15 giường, ngoài ra còn có các

Điều dưỡng phòng hồi tỉnh làm việc tại Bệnh viện quận

Đánh giá lại kiến thức và thực hành bằng bộ câu hỏi

(1), (2) Nghiên cứu can thiệp trước

và sau.

Trang 29

phòng: khám tiền mê, tiền phẫu, hành chánh, kho vật tư y tế, kho vô trùng vàkhu rửa dụng cụ Khoa có 1 bác sĩ Trưởng khoa, 2 bác sĩ Phó khoa, 1 Điềudưỡng trưởng và 28 bác sĩ gây mê với gần 70 điều dưỡng Điều dưỡng đượcchia thành 3 tổ: tổ gây mê, dụng cụ và hồi tỉnh, mỗi tổ có 1 tổ trưởng quản lýcác thành viên cũng như phân công công việc, đồng thời quản lý thuốc, vật tư

y tế, các giấy tờ/sổ sách và các máy móc thuộc phòng hồi tỉnh

Phòng hồi tỉnh chia ra 2 khu: khu giường bệnh và khu theo dõi của điềudưỡng- bác sĩ, thông với nhau bằng cửa sổ lớn Mỗi ngày phòng hồi tỉnh nhận

từ phòng mổ khoảng 60-80 trường hợp, trong đó có khoảng 30-40 trường hợp

sử dụng phương pháp gây mê nội khí quản, còn lại là gây tê hoặc tiền mê.Bệnh viện quận Thủ Đức là bệnh viện đa khoa, do đó bệnh nhân ở phòng hồitỉnh cũng thuộc các khoa khác nhau, từ ngoại tổng quát, ung bướu, tai mũihọng, ngoại thần kinh, niệu, ngoại lồng ngực, chấn thương chỉnh hình, vàsản… Bệnh nhân cũng thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, từ trẻ em vài thángtuổi đến người già trên 90 tuổi Ngoài ra, phòng hồi tỉnh cũng có các bệnhnhân nội soi không đau, hay tán soi ngoài cơ thể, sau theo dõi sẽ được vềtrong ngày mà không phải xuất sang khoa/phòng

Điều dưỡng phòng hồi tỉnh bao gồm 30 người với độ tuổi, trình độ họcvẫn cũng như kinh nghiệm làm việc khác nhau Các điều dưỡng được chiatheo 2 ca 4 kíp, trong mỗi kíp sẽ bao gồm điều dưỡng cột 1; cột 2; cột 3; cột 4

và điều dưỡng cột 1 sẽ chịu trách nhiệm chính cũng như phân công cho mỗibạn trong tua Ngoài các điều dưỡng trong tua, tổ hồi tỉnh còn có các điềudưỡng luân phiên nhau làm hành chánh, là đi làm tua ngày và không cần trựcgác, thường đây là những điều dưỡng đang có bầu hoặc có con nhỏ Hiện tại,khoa Gây mê bệnh viện quận Thủ Đức đã có quy trình sử dụng thang điểmAldrete để đánh giá người bệnh được rời phòng hồi tỉnh về khoa/phòng, tuy

Trang 30

nhiên các điều dưỡng vẫn chưa áp dụng thang điểm này vào công việc đánhgiá bệnh nhân hằng ngày một cách chính xác và hiệu quả.

Trang 31

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và thiết kế nghiên cứu

2.1.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp trước sau

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Phòng hồi tỉnh thuộc khoa Gây mê Hồi sức bệnh viện quận Thủ Đức

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020

2.1.4 Đối tượng nghiên cứu

Điều dưỡng đang công tác tại phòng hồi tỉnh thuộc khoa Gây mê Hồi sứcbệnh viện Quận Thủ Đức

thuộc khoa Gây mê Hồi sức bệnh viện Quận Thủ Đức

- Điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu

- Điều dưỡng trực tiếp chăm sóc bệnh nhân tại phòng hồi tỉnh

Trang 32

về kiến thức và cách sử dụng thang điểm Aldrete để đánh giá người bệnhphòng hồi tỉnh Phương tiện sử dụng trong buổi tập huấn là bài trình chiếu,bộcâu hỏi kiểm tra trước-sau và bản phát tay.

Toàn bộ chương trình tập huấn đã được tham khảo ý kiến từ Ban lãnhđạo Khoa Gây mê hồi sức – Bệnh viện quận Thủ Đức

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

Sau khi có được sự đồng thuận của hội đồng đạo đức Đại học Y Dượcthành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định sô 678/ĐHYD-HDDD và sự đồng ýcủa ban lãnh đạo bệnh viện Quận Thủ Đức, nghiên cứu viên sẽ đến Khoa Gây

mê Hồi sức gặp gỡ và tiếp xúc với các điều dưỡng phòng hồi tỉnh của khoa đểgiải thích về lý do và ý nghĩa của nghiên cứu này

Người tham gia nghiên cứu được phát phiếu thông tin nghiên cứu, giảithích về quy trình nghiên cứu, cũng như được giải đáp rõ ràng các thắc mắc,quyền lợi mà người tham gia nghiên cứu có được Điều dưỡng đồng ý thamgia sẽ được tư vấn ký vào bản đồng thuận nghiên cứu

Mỗi điều dưỡng tham gia nghiên cứu sẽ được phát bộ câu hỏi gồmphiếu thông tin về nhân khẩu học (1) và phiếu bao gồm các tiêu chí của hệ

Trang 33

thống điểm Aldrete để đánh giá người bệnh (2) Các điều dưỡng sẽ chọn chomình một bệnh nhân để đánh giá, thời điểm đánh giá phải trùng với thời điểmđánh giá của bác sĩ, và bệnh nhân được chọn phải trải qua cuộc phẫu thuật vớiphương pháp vô cảm là gây mê nội khí quản Điều dưỡng cần ghi số giườngcủa bệnh nhân đã chọn, tiến hành đánh giá đủ năm tiêu chí theo thang điểmAldrete, sau đó tổng điểm và ra quyết định chuyển/ không chuyển bệnh nhân.Sau khi hoàn thành hai bộ câu hỏi, nghiên cứu viên sẽ thu lại ngay lập tức.

Nghiên cứu viên tiến hành thu thập số liệu vào giờ hành chính ca ngày.Mỗi bệnh nhân được lựa chọn là khác nhau cho mỗi điều dưỡng và mỗi điềudưỡng chỉ cần hoàn thành một bộ câu hỏi cho mỗi giai đoạn Thời điểm đánhgiá bệnh nhân là sau ba mươi phút đến hai giờ, tùy vào điều dưỡng lựa chọn

và thời điểm bác sĩ cũng phải đánh giá bệnh nhân cũng phải trùng với điềudưỡng

Nghiên cứu có sự trợ giúp của nhóm bác sĩ, với mục đích xác định đánhgiá của điều dưỡng là đúng hay sai Nhóm bác sĩ này đã thống nhất cách đánhgiá bệnh nhân theo thang điểm Aldrete với nghiên cứu viên và sử dụng phiếuđánh giá người bệnh số (2) Nghiên cứu viên là người trực tiếp giám sát cácquá trình đánh giá ở các thời điểm trước và sau tập huấn

Nghiên cứu được chia làm 3 giai đoạn:

 Giai đoạn 1: Đánh giá trước tập huấn

Bước 1: Mỗi điều dưỡng lựa chọn một bệnh nhân mới chưa được ai đánh giáqua

Trang 34

Bước 2: Nghiên cứu viên đồng thời phát cho điều dưỡng lẫn bác sĩ bộ câu hỏi(2) là đánh giá người bệnh theo thang điểm Aldrete, với mục đích bác sĩ vàđiều dưỡng có thể đánh giá trên cùng bệnh nhân và cùng thời điểm.

Bước 3: Nghiên cứu viên quan sát, kiểm tra và chắc chắn rằng bác sĩ và điềudưỡng hoàn thành đánh giá người bệnh một cách độc lập Nghiên cứu viên sẽchủ động và trực tiếp thu lại của mỗi người

 Giai đoạn 2: Tiến hành tập huấn điều dưỡng về thang điểm Aldrete

Vì tình hình dịch Covid không thể tập trung nhiều người, vì vậy chúng tôichia nhỏ nhóm điều dưỡng thành 4 nhóm với khoảng 6 đến 7 người mộtnhóm Buổi tập huấn được tiến hành vào buổi sáng trong khoảng 30 phúttrước khi có bệnh nhân chuyển từ phòng mổ ra phòng hồi tỉnh

Bước 1: Mỗi điều dưỡng hoàn thành bộ câu hỏi khảo sát kiến thức về thangđiểm Aldrete

Bước 2: Nghiên cứu viên tiến hành tập huấn dụa trên bài trình chiếu và bảnphát tay

Bước 3: Mỗi điều dưỡng hoàn thành bộ câu hỏi khảo sát kiến thức về thangđiểm Aldrete như trước lúc được tập huấn

 Giai đoạn 3: Đánh giá sau tập huấn

Bước 1: Mỗi điều dưỡng lựa chọn một bệnh nhân mới chưa được ai đánh giáqua

Bước 2: Nghiên cứu viên đồng thời phát cho điều dưỡng lẫn bác sĩ bộ câu hỏi(2) là đánh giá người bệnh theo thang điểm Aldrete, với mục đích bác sĩ vàđiều dưỡng có thể đánh giá trên cùng bệnh nhân và cùng thời điểm

Trang 35

Bước 3: Nghiên cứu viên quan sát, kiểm tra và chắc chắn rằng bác sĩ và điềudưỡng hoàn thành đánh giá người bệnh một cách độc lập Nghiên cứu viên sẽchủ động và trực tiếp thu lại của mỗi người.

Bước 4: Sau khi điều dưỡng đã hoàn thành xong phần đánh giá của mình,nghiên cứu viên tiếp tục phát cho điều dưỡng bộ câu hỏi khảo sát mức độ hàilòng khi sử dụng thang điểm Aldrete đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh vàocông việc chăm sóc hằng ngày

Như vậy, kết thúc nghiên cứu, chúng tôi thu thập được 60 bảng đánh giá bệnhnhân bằng thang điểm Alrete của điều dưỡng và 60 bảng đánh giá của bác sĩ

2.5 Công cụ thu thập số liệu

Công cụ trước tập huấn bao gồm:

- Phiếu thông tin nhân khẩu học dành cho điều dưỡng (1): thu thập cácthông tin cơ bản của điều dưỡng bao gồm tên, tuổi, giới tính, trình độchuyên môn và số năm kinh nghiệm

- Phiếu đánh giá người bệnh qua sử dụng thang điểm Aldrete (2): được

sử dụng bởi các điều dưỡng và bác sĩ Phiếu đánh giá của bác sĩ và điềudưỡng là như nhau với thông tin cần được thu thập bao gồm số giườngcủa người bệnh và thời điểm đánh giá Trong đó, phiếu đánh giá có 5tiêu chí của thang điểm Aldrete với các mức cho điểm từ 0 đến 2 Cuốicùng điều dưỡng và bác sĩ sẽ cần tổng điểm cho đánh giá của mình và

ra quyết định chuyển/ không chuyển

Công cụ trong tập huấn:

- Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức của điều dưỡng về thang điểm Aldrete:bao gồm 5 câu hỏi, trong đó câu hỏi 1, 2, 3 khảo sát sự hiểu biết củađiều dưỡng về thang điểm Aldrete và điều dưỡng sẽ lựa chọn câu trả lời

Trang 36

đúng nhất trong tổng số bốn đáp án; câu hỏi 4 và 5 sẽ dựa vào tìnhhuống giả định để khảo sát cách điều dưỡng cho điểm ở từng tiêu chí

và ra quyết định chuyển/ không chuyển

Công cụ sau tập huấn bao gồm:

- Phiếu thông tin (1) và phiếu đánh giá (2) như ở giai đoạn trước tậphuấn

- Bộ câu hỏi về mức độ hài lòng khi sử dụng thang điểm Aldrete củađiều dưỡng, đã được sử dụng thành công trong nghiên cứu của tác giảLan Hương [51] năm 2020 Điều dưỡng sẽ có 5 lựa chọn theo thangđiểm Likert với 1= “Rất không đồng ý”, 2= “Không đồng ý”, 3=

“Không ý kiến”, 4= “Đồng ý”, 5= “Rất đồng ý”

Trang 37

2.6 Liệt kê và định nghĩa các biến số

Bảng 2 2: Biến số và định nghĩa biến số

biến số

Loại biến số

Các biến số về đặc tính mẫu

đi năm sinh (tính theo dương lịch)

≤ 30 tuổi

>30 tuổi

Biến địnhlượng liêntục

nhân dân

NamNữ

Biến thứtự

>10 năm

Biến địnhlượng thứtự

Biến số kiến thức của điều dưỡng

ĐúngSai

giá

Trang 38

Biến số Cách tính Giá trị

biến số

Loại biến số

BN tại phòng hậu phẫu, Do JorgeAntonio Aldrete phát minh vàonăm 1970, gồm có 5 dấu hiện cầntheo dõi, đánh giá BN

ĐúngSai

120/70 mmHg, cử động được cả 4chi, gọi tỉnh, thở đều, SpO2 98%,thở oxy canula 3l/p)

Điều dưỡng có kiến thức đúng khichọn số điểm 8

ĐúngSai

ĐúngSai

BN, đặc điểm của thang Aldrete,

ĐúngSai

giá

Trang 39

Biến số Cách tính Giá trị

biến số

Loại biến số

tính tổng điểm, quyết định chuyển

Biến số về thực hành của điều dưỡng

chuyển BN

Đúng khi quyết định chưa chuyển

Aldrete<9, và quyết định chuyểnkhi tổng điểm ≥ 9

ĐúngSai

2 chi; 2 - Cử động tứ chi tự nhiênhoặc theo y lệnh

ĐúngSai

Biếnnhị giá

Đánh giá về hô

hấp

Đúng khi điều dưỡng đánh giá bệnhnhân trùng khớp với đánh giá củabác sĩ theo thang đánh giá: 0-Ngưng thở; 1- Thở chậm/nông hoặckhó thở; 2- Thở đều/sâu, ho tốt

ĐúngSai

Biếnnhị giá

Đánh giá về tuần

hoàn

Đúng khi điều dưỡng đánh giá bệnhnhân trùng khớp với đánh giá củabác sĩ theo thang đánh giá: 0-Huyết áp > ±50 mmHg mức trước

ĐúngSai

Biếnnhị giá

Trang 40

Biến số Cách tính Giá trị

biến số

Loại biến số

mổ; 1- Huyết áp < ±20-50 mmHgmức trước mổ; 2 - Huyết áp < ±20mmHg mức trước mổ

Đánh giá về tri

giác

Đúng khi điều dưỡng đánh giá bệnhnhân trùng khớp với đánh giá củabác sĩ theo thang đánh giá: 0- Gọikhông tỉnh; 1- Gọi tỉnh; 2- Tỉnh táohoàn toàn

ĐúngSai

Biếnnhị giá

Đánh giá về oxy

hóa máu

Đúng khi điều dưỡng đánh giá bệnhnhân trùng khớp với đánh giá củabác sĩ theo thang đánh giá: 0- SpO2

< 90% dù đã thở oxy; 1- SpO2 >

90% khi được thở oxy; 2- SpO2 >

90% với khí phòng

ĐúngSai

Biếnnhị giá

Sự phù hợp về

tổng điểm

Đúng khi điều dưỡng cho tổngđiểm bệnh nhân trùng khớp vớitổng điểm của bác sĩ cho

ĐúngSai

Biếnnhị giá

ĐúngSai

Biếnnhị giá

Sự hài lòng của điều dưỡng khi sử dụng thang điểm Aldrete

Ngày đăng: 25/04/2021, 11:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w