78 4.4 Các yếu tố liên quan với kiến thức, nhận thức và hành vi về vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện .... 16 Mối liên quan giữa các yếu tố về nhận thức theo Mô hình Niềm tin s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-LÊ KIỀU CHINH
KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI VỆ SINH TAY
ĐỂ PHÒNG NGỪA NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN TRÊN SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH
NĂM HỌC 2018-2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-LÊ KIỀU CHINH
KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI VỆ SINH TAY
ĐỂ PHÒNG NGỪA NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN TRÊN SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong Luận văn này là được ghi nhận và phân tích mộtcách trung thực Luận văn này không có bất kì số liệu, văn bản, tài liệu đã được Đại học
Y Dược TP Hồ Chí Minh hay trường Đại học khác chấp nhận để cấp văn bằng đại học,sau đại học Luận văn này cũng không có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừkhi đã được công khai thừa nhận
Đề cương nghiên cứu đã được chấp thuận về mặt y đức từ Hội đồng đạo đức trongnghiên cứu y sinh học theo văn bản số 118/ĐHYD-HĐ ký ngày 20/3/2019
Người cam đoan Xác nhận
Lê Kiều Chinh
Trang 4MỤC LỤC
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
Mục tiêu tổng quát 4
Mục tiêu cụ thể 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 5
1.1 Các khái niệm chính và tầm quan trọng của vệ sinh tay 5
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến vệ sinh tay 5
1.1.2 Các khái niệm về kiến thức, nhận thức và hành vi 6
1.1.3 Tầm quan trọng của vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 7
1.2 Kiến thức về vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 8
1.2.1 Thời điểm vệ sinh tay 8
1.2.2 Kỹ thuật vệ sinh tay 10
1.2.2.1 Thời gian vệ sinh tay 10
1.2.2.2 Quy trình vệ sinh tay 11
1.2.3 Hóa chất vệ sinh tay 11
1.2.4 Mang găng tay 12
1.2.5 Chăm sóc tay 12
Trang 51.2.6 Bộ câu hỏi đánh giá về kiến thức vệ sinh tay để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh
viện của WHO 13
1.2.7 Các nghiên cứu về kiến thức 14
1.3 Hành vi về vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 17
1.3.1 Các mô hình hành vi sức khỏe phổ biến 17
1.3.2 Mô hình Niềm tin sức khỏe trong đánh giá vệ sinh tay 18
1.3.3 Mô hình Niềm tin sức khỏe đánh giá vệ sinh tay trên sinh viên thực tập 18
1.3.4 Các nghiên cứu về hành vi vệ sinh tay 23
1.4 Một số các yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi vệ sinh tay 25
1.5 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 29
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 32
2.1 Thiết kế nghiên cứu 32
2.2 Đối tượng nghiên cứu 32
2.2.1 Dân số mục tiêu 32
2.2.2 Dân số nghiên cứu 32
2.2.3 Cỡ mẫu 32
2.2.4 Kỹ thuật chọn mẫu 33
2.2.5 Tiêu chí chọn vào và loại ra 33
2.2.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa 34
2.3 Xử lý dữ kiện 34
2.3.1 Liệt kê và định nghĩa biến số 34
2.3.2 Dàn ý liên hệ giữa các biến số 40
Trang 62.4 Thu thập dữ kiện 41
2.4.1 Phương pháp thu thập dữ kiện 41
2.4.2 Công cụ thu thập dữ kiện 42
2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin 42
2.5 Phân tích dữ kiện 43
2.5.1 Số thống kê mô tả 43
2.5.2 Số thống kê phân tích 43
2.5.3 Kiểm soát nhiễu 44
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 45
3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 45
3.2 Kiến thức về vệ sinh tay để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 46
3.2.1 Kiến thức theo WHO 46
3.2.2 Kiến thức theo các khía cạnh khác 53
3.3 Hành vi vệ sinh tay để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 56
3.3.1 Đánh giá theo Mô hình Niềm tin sức khỏe 56
3.3.2 Đánh giá qua hình thức tự báo cáo 60
3.4 Các yếu tố liên quan với kiến thức và hành vi về vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 62
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 68
4.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 68
4.2 Kiến thức về vệ sinh tay để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 70
4.2.1 Kiến thức theo WHO 70
Trang 74.2.2 Kiến thức theo các khía cạnh 75
4.3 Hành vi vệ sinh tay để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 76
4.3.1 Đánh giá theo mô hình Niềm tin sức khỏe 76
4.3.2 Đánh giá theo hình tứ tự báo cáo 78
4.4 Các yếu tố liên quan với kiến thức, nhận thức và hành vi về vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 80
4.5 Điểm mạnh và điểm hạn chế của đề tài 81
4.6 Tính mới và tính ứng dụng của đề tài 83
KẾT LUẬN 84
ĐỀ XUẤT - KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ix
Tài liệu tiếng Việt ix
Tài liệu tiếng Anh ix
PHỤ LỤC 1 xiii
PHỤ LỤC 2 xiv
PHỤ LỤC 3 xv
PHỤ LỤC 4 xix
BẢN CÂU HỎI xix
Trang 8BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
(Centers for Disease Control and Prevention)
(Health Belief Model)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3 1 Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu (N=473) 45Bảng 3 2 Kiến thức về con đường lây truyền và nguồn vi khuẩn của nhiễm khuẩn bệnhviện theo WHO, so sánh giữa sinh viên y và sinh viên điều dưỡng 47Bảng 3 3 Kiến thức về mục đích của các thời điểm vệ sinh tay theo WHO, so sánh giữasinh viên y và sinh viên điều dưỡng 48Bảng 3 4 Kiến thức về chà tay và rửa tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện theoWHO, so sánh giữa sinh viên y và sinh viên diều dưỡng 50Bảng 3 5 Kiến thức về chà tay và rửa tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện theoWHO, so sánh giữa sinh viên y và sinh viên diều dưỡng 52Bảng 3 6 Kiến thức về các thời điểm bắt buộc vệ sinh tay, so sánh giữa sinh viên y vàsinh viên điều dưỡng 53Bảng 3 7 Kiến thức của sinh viên y đa khoa và sinh viên điều dưỡng về kỹ thuật vệ sinhtay 6 bước để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 54Bảng 3 8 Kiến thức về hoạt chất vệ sinh tay, so sánh giữa sinh viên y và sinh viên điềudưỡng 55Bảng 3 9 Kiến thức về việc mang găng tay, so sánh giữa sinh viên y và sinh viên điềudưỡng 55Bảng 3 10 Điểm trung bình nhận thức của sinh viên về vệ sinh tay phòng ngừa nhiễmkhuẩn bệnh viện theo Mô hình niềm tin sức khỏe, so sánh giữa sinh viên y và sinh viênđiều dưỡng 57Bảng 3 11 Hệ số tương quan giữa các yếu tố của Mô hình Niềm tin Sức khỏe 58Bảng 3 12 Hành vi vệ sinh tay theo 5 thời điểm, so sánh giữa sinh viên y và sinh viênđiều dưỡng 61Bảng 3 13 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân của sinh viên liên quan với kiến thức
về vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 62
Trang 10Bảng 3 14 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân của sinh viên liên quan với nhận thức
về vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 63Bảng 3 15 Mối liên quan giữa các đặc điểm cá nhân của sinh viên liên quan với hành vi
về vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 64Bảng 3 16 Mối liên quan giữa các yếu tố về nhận thức theo Mô hình Niềm tin sức khỏevới hành vi vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 65
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3 1 Các mức độ kiến thức của sinh viên về vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩnbệnh viện theo bản câu hỏi của Tổ chức Y tế Thế giới (N=473) 46Biểu đồ 3 2 Các mức độ nhận thức của sinh viên về vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩnbệnh viện theo Mô hình Niềm tin sức khỏe 56Biểu đồ 3 3 Các mức độ thực hiện hành vi vệ sinh tay phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnhviện của sinh viên, đánh giá qua hình thức tự báo cáo 60
Sơ đồ 1 1 Mối liên hệ giữa các khái niệm về vệ sinh tay, theo hướng dẫn của Bộ Y tế 5
Sơ đồ 1 2 Các yếu tố của mô hình Niềm tin sức khỏe 19
Sơ đồ 2 1 Sơ đồ tiến trình nghiên cứu 41
Trang 11Theo Thông tư số 18/2009/TT-BYT hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soátnhiễm khuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh, Bộ Y tế qui định NVYT bao gồm tất cảcác cán bộ đang tại cơ sở y tế (CSYT) như bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, kỹ thuật viên,… và
cả các sinh viên đến học tập tại các CSYT đó [2] Và điểm yếu của việc kiểm soát nằm
ở chính nhóm sinh viên thực tập (SVTT) này – những NVYT không chính thức Hàngngày, SVTT là một bộ phận không thể bỏ qua trong số các nhóm NVYT tham gia vàocông tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, góp phần gián tiếp hỗ trợ NVYT trong bối cảnhquá tải bệnh viện diễn ra ở nhiều nơi như hiện nay bên cạnh yêu cầu của việc học tập
Trang 12Tuy nhiên, vì tính chất tạm thời và hay thay đổi địa điểm thực tập của việc đi học,hơn nữa SVTT chưa phải là NVYT chính thức của bệnh viện nên hầu như đây khôngphải là thành phần được quan tâm giám sát trong các chương trình này, từ cả phía bệnhviện và từ phía bản thân của SVTT đó Thực tế cho thấy, Nguyễn Thị Thu Hà và cs thựchiện nghiên cứu vào năm 2015 tại Bệnh viện Quân Y 103 ghi nhận nhóm SVTT là đốitượng có tỉ lệ tuân thủ VST ở tất cả 5 thời điểm VST đều là thấp nhất so với các nhómNVYT khác như bác sĩ, điều dưỡng,… là những nhân viên chính thức của bệnh viện vàbáo cáo ghi nhận lỗi thì ít hơn so với NVYT chính thức tại bệnh viện [5], [17] Chưa kể,việc thực hiện VST trong bối cảnh thực hành lâm sàng có rất nhiều điều không như mongđợi Mặc dù, VST mang lại nhiều lợi ích và cũng rất đơn giản, dễ thực hiện nhưng kếtquả từ y văn cho thấy việc này được xem như một hoạt động thêm vào, là tùy chọn hơn
là hoạt động bắt buộc, và thường do áp lực bên ngoài hơn là động lực bên trong củachính các NVYT [17] Trên thế giới, những nghiên cứu về VST tiến hành trên sinh viêncho thấy kết quả đáng lo ngại Kiến thức, thái độ và thực hành về VST của sinh viên ykhoa và sinh viên điều dưỡng chỉ ở mức thấp đến trung bình [11], [12], [19], [20], [30],[33], [43], [44] Vậy nên, rõ ràng, tìm hiểu về VST trên nhóm SVTT là một điều vô cùngcần thiết để được thực hiện
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch từ khi thành lập đến nay hoạt động với
sứ mạng là đào tạo nguồn lực y tế chất lượng cao, nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầubảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân thì không chỉ qui mô đào tạo mà phạm
vi tuyển sinh của trường cũng ngày càng được mở rộng so với trước đây Điều đó giántiếp nói lên được tầm quan trọng của việc phân phối nhân lực y tế của nhà trường chokhu vực TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung, trong đó hai ngành đào tạo chủ lựccủa nhà trường hiện tại là ngành y đa khoa (6 năm) va cử nhân điều dưỡng (4 năm) Vậynên, vai trò của những sinh viên xuất thân từ trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạchcũng sẽ đóng góp một phần nhất định trong việc phòng chống và kiểm soát NKBV củatoàn ngành y tế,
Với tất cả những lý do về quy mô và sự nguy hiểm của NKBV, về tầm quan trọngcủa VST để phòng ngừa NKBV và với mong muốn có cái nhìn rõ hơn về VST trên đối
Trang 13tượng là SVTT, nghiên cứu này được tiến hành với các câu hỏi được đặt ra là: Tỉ lệ sinh
viên trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch có kiến thức tốt và hành vi tốt về VST phòng ngừa NKBV trong năm học 2018-2019 là bao nhiêu khi mô tả theo 2 ngành y đa khoa và cử nhân điều dưỡng? Các yếu tố nào có liên quan đến kiến thức
và hành vi VST phòng ngừa NKBV trên sinh viên?
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát
Xác định tỉ lệ sinh viên trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch có kiến thứctốt và hành vi tốt về vệ sinh tay để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện và các yếu
tố liên quan trong năm học 2018-2019 theo 2 ngành học y đa khoa và điều dưỡng
Mục tiêu cụ thể
1 Xác định tỉ lệ sinh viên có kiến thức tốt về vệ sinh tay để phòng ngừa nhiễm
khuẩn bệnh viện trong năm học 2018-2019 theo 2 ngành học y đa khoa vàđiều dưỡng
2 Xác định tỉ lệ sinh viên có hành vi tốt về vệ sinh tay để phòng ngừa nhiễm
khuẩn bệnh viện trong năm học 2018-2019 theo 2 ngành học y đa khoa vàđiều dưỡng
3 Xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi của sinh viên về vệ
sinh tay để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện trong năm học 2018-2019 theo
2 ngành học y đa khoa và điều dưỡng
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN
1.1 Các khái niệm chính và tầm quan trọng của vệ sinh tay 1.1.1 Các khái niệm liên quan đến vệ sinh tay
Các thuật ngữ trong nghiên cứu này được sử dụng theo hướng dẫn về thực hành VSTtrong các cơ sở khám chữa, bệnh của BYT ban hành năm 2017 [3] Cụ thể như sau:
- Vệ sinh tay (VST, Hand hygiene): Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay
hoặc chà tay
- Vệ sinh tay thường quy (Hand hygiene routines): Rửa tay với nước và xà phòng
thường hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn trong thời gian tối thiểu là 20giây
- Vệ sinh tay ngoại khoa (Surgical hand hygiene): Là rửa tay khử khuẩn hoặc chà
tay khử khuẩn được kíp phẫu thuật thực hiện trước mọi phẫu thuật nhằm loại bỏphổ vi khuẩn vãng lai và định cư trên tay (từ bàn tay tới khuỷu tay), thời gian tốithiểu là 3 phút
- Xà phòng thường (Normal/Plain soap): Là hợp chất có hoạt tính làm sạch, không
Chà taykhử khuẩn
Vệ sinh tay
Sơ đồ 1 1 Mối liên hệ giữa các khái niệm về vệ sinh tay,
theo hướng dẫn của Bộ Y tế
Trang 16- Xà phòng khử khuẩn (Antimicrobial soap): Là xà phòng ở dạng bánh hoặc
dung dịch có chứa chất khử khuẩn
- Dung dịch vệ sinh tay chứa cồn (Alcohol-based handrub): Là chế phẩm vệ sinh
tay dạng dung dịch, dạng gel hoặc dạng bọt chứa cồn isopropanol, ethanol hoặcn-propanol, hoặc kết hợp hai trong những thành phần này hoặc với một chất khửkhuẩn và được bổ sung chất làm ẩm, dưỡng da; được sử dụng bằng cách chà taycho tới khi cồn bay hơi hết, không sử dụng nước
- Rửa tay (Hand washing): Là VST với nước và xà phòng thường.
- Rửa tay khử khuẩn (Antiseptic handwash): Là VST với nước và xà phòng khử
khuẩn
- Chăm sóc tay (Hand care): Theo WHO thì đó là những việc làm để ngăn ngừa
tình trạng kích ứng da như sử dụng kem dưỡng da tay (ít nhất 1 ngày/lần); khôngrửa tay bằng xà phòng liền ngay sau khi sử dụng dung dịch VST chứa cồn; không
sử dụng nước nóng để VST; sau khi VST xong thì để tay khô hoàn toàn trước khi
mang găng tay [45].
Như vậy, trong nghiên cứu này, vì không quan tâm tới VST ngoại khoa, do đó từ đây
về sau thuật ngữ VST được sử dụng nhằm ý chỉ việc VST thường quy, trong đó bao gồm 2 kỹ thuật chính là: Rửa tay, tức là VST với nước và xà phòng (xà phòng thường/khử khuẩn) và Chà tay, tức là VST với dung dịch VST chứa cồn.
1.1.2 Các khái niệm về kiến thức, nhận thức và hành vi
- Trong nghiên cứu này, các khái niệm trên được sử dụng theo quan điểm của tácgiả Khateeb (2011) trong đề tài “Sử dụng mô hình Niềm tin sức khỏe để đánh giákiến thức, nhận thức và thực hành về vệ sinh tay trên sinh viên Saudi đang học ở
Hoa Kỳ” [34] Kiến thức (Knowledge) là các thông tin (information) đúng Hành
vi (Behavior) là bất kỳ điều gì một cá nhân thực hiện để đáp ứng lại với một tác
động đến từ môi trường bên trong hoặc bên ngoài Bên cạnh đó, còn có khái niệm
nhận thức (Perception) là sự diễn dịch lại thực tế qua góc nhìn của một cá nhân,
Trang 17do vậy nhận thức có thể đúng hoặc không, có thể có hoặc không có một cơ sởkhoa học nào cả.
1.1.3 Tầm quan trọng của vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh
viện
Trong bệnh viện, các tác nhân gây NKBV có thể là nội sinh hoặc ngoại sinh [1], [47].Tác nhân nội sinh là những VSV có sẵn trên người bệnh, nhiều nhất là ở các vết thươngnhiễm khuẩn, các chất thải, dịch tiết của người bệnh và thậm chí trên các vùng da lành
nhiều nhất là ở vùng bẹn, vùng hố nách, vùng nếp khuỷu tay, bàn tay của người bệnh[3] Tác nhân ngoại sinh thường đến từ những người bệnh khác hoặc môi trường chungquanh người bệnh [1], [47] Các tác nhân gây bệnh này có khả năng sống sót cao trongđiều kiện môi trường khô, làm ô nhiễm quần áo, ga giường, đồ dùng cá nhân và bề mặtcác phương tiện khác trong buồng bệnh [3]
Như vậy, dù là tác nhân nội sinh hay ngoại sinh thì nguồn bệnh chủ yếu của NKBVđều đến từ các VSV vốn luôn hiện diện thường trực trên người bệnh
Theo tài liệu hướng dẫn thực hiện VST phòng ngừa NKBV trong các cơ sở y tế, cácVSV này được chia làm 2 nhóm sau [3] Thứ nhất là vi khuẩn định cư, nhóm này thường
cư trú ở lớp sâu của biểu bì da, để loại bỏ cần thực hiện VST ngoại khoa; còn VSTthường quy không loại bỏ được các vi khuẩn này nhưng thực hiện thường xuyên có thểlàm giảm mức độ định cư của vi khuẩn trên tay Thứ hai là nhóm vi khuẩn vãng lai,nhóm này hiện diện trên da người bệnh hoặc trên các bề mặt môi trường bệnh viện (chăn,
ga giường, dụng cụ phương tiện phục vụ người bệnh) và làm ô nhiễm bàn tay trong quátrình chăm sóc và điều trị Mức độ ô nhiễm bàn tay phụ thuộc vào loại thao tác sạch/bẩn,
thời gian thực hiện thao tác và tần suất VST của NVYT Đây là thủ phạm chính gây
NKBV, và phổ vi khuẩn này có thể loại bỏ dễ dàng bằng VST thường quy [3].
Trang 18Các VSV này sẽ lây truyền từ vị trí này sang vị trí khác trên cùng một người bệnh,
từ người bệnh này sang người bệnh khác hoặc từ người bệnh sang dụng cụ và NVYThoặc ngược lại trong quá trình NVYT tiếp xúc và chăm sóc người bệnh Nếu không VSThoặc VST không đúng quy trình, bàn tay của NVYT chính là phương tiện lan truyềnbệnh nhanh chóng [3], [47]
Việc VST của NVYT đóng vai trò cốt lõi trong việc phòng chống NKBV Thực tếcho thấy, VST thực sự mang đến hiệu quả trong NKBV, giúp giảm tỉ lệ NKBV từ 30đến 50% [3] VST cũng được WHO thừa nhận như biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩnmang lại hiệu quả tốt nhất [1], [47]
1.2 Kiến thức về vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 1.2.1 Thời điểm vệ sinh tay
Theo WHO (2009), trong thực hành y khoa, có 5 thời điểm mà NVYT phải thực hiệnVST để phòng ngừa NKBV và 5 thời điểm này được khuyến cáo với thuật ngữ “5 thờiđiểm vệ sinh tay của tôi” (My 5 moments for hand hygiene) (Phụ lục 1) [1], [47] WHOcũng nhấn mạnh dù cho NVYT có sử dụng găng tay hay không thì việc VST đều cầnđược thực hiện khi rơi vào một trong 5 thời điểm trên
Bảng 1 1 Các thời điểm vệ sinh tay và mục đích của từng thời điểm (theo WHO năm
Thời
điểm 2
Trước khi thực hiện thủ thuật sạch, vô khuẩn
- Trước khi thao tác trên một dụng cụ xâm lấntrong chăm sóc người bệnh, bất kể có sử dụnggăng tay hay không
Bảo vệ người bệnh khỏinhững VSV có hại, baogồm cả VSV trên chínhngười bệnh, sẽ đi vào cơ thể
Trang 19Sau khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh
- Sau khi tiếp xúc với dịch tiết của cơ thể, niêmmạc, vùng da không lành lặn hoặc băng vếtthương
- Khi di chuyển từ chăm sóc bẩn sang chăm sócsạch trên cùng một người bệnh
- Sau khi tháo găng
Bảo vệ NVYT và môitrường chăm sóc sức khỏexung quanh
Thời
điểm 4
trường chăm sóc sức khỏexung quanh
- Sau khi tháo găng
Bảo vệ NVYT và môitrường chăm sóc sức khỏexung quanh
Trong 5 thời điểm này, đặc điểm chung của những thời điểm “trước” là để bảo vệ người bệnh, còn những thời điểm “sau” là nhằm bảo vệ cho NVYT và môi trường chăm
sóc sức khỏe xung quanh Như vậy, có đến 3/5 thời điểm phải VST là với mục đích nhằmbảo vệ NVYT Rõ ràng, VST không chỉ có lợi cho người bệnh mà còn là có lợi cả choNVYT
Ở Việt Nam, vào năm 2017, BYT chính thức sử dụng khuyến cáo này trong “Hướngdẫn thực hành vệ sinh tay trong các cơ sở khám, chữa bệnh” được ban hành kèm theoQuyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ trưởng BYT [3]
Trang 201.2.2 Kỹ thuật vệ sinh tay
Như đã đề cập phía trên, VST thường quy gồm 2 kỹ thuật chính là rửa tay và chà tay.Vậy vấn đề được đặt ra là khi nào NVYT nên rửa tay và khi nào thì nên chà tay? TheoWHO, việc quyết định chọn lựa kỹ thuật nào để thực hiện phụ thuộc vào từng tình huống
cụ thể trên lâm sàng [47] NVYT được khuyến cáo rửa tay, tức dùng nước và xà phòng
để VST khi
(1) nhìn thấy bằng mắt thường tay mình dơ,(2) tay mình tiếp xúc với máu, dịch tiết từ người bệnh,(3) sau khi đi vệ sinh hoặc
(4) nghi ngờ/xác định người bệnh nhiễm mầm bệnh có khả năng lây truyền cao
như Clostridium difficile, (tồn tại ở đường ruột)
Còn lại, khi không nhìn thấy bằng mắt thường tay mình dơ thì có thể chà tay, tức làdùng dung dịch VST chứa cồn Đặc biệt, hai kỹ thuật này hoàn toàn không phải đượckhuyến cáo tiếp nối nhau, tức là không cần rửa lại tay bằng nước và xà phòng sau khi đãchà tay dùng dung dịch VST chứa cồn [3] Điều này là không cần thiết, gây lãng phí thờigian một cách vô ích, thậm chí có thể tăng nguy cơ kích ứng da
Và ứng với mỗi kỹ thuật rửa tay hoặc chà tay nêu trên đều có quy trình với thời giankhác nhau cũng như các bước cụ thể khuyến cáo riêng [1], [47]
1.2.2.1 Thời gian vệ sinh tay
Thời gian VST ảnh hưởng tới mức độ loại bỏ vi khuẩn trên bàn tay [3] VST bằngnước và xà phòng thường trong 15 giây, lượng vi khuẩn giảm 0,6 log - 1,1 log; trong 30giây lượng vi khuẩn giảm 1,8 log- 2,8 log Lượng vi khuẩn ở bàn tay giảm 3,5 log khichà tay bằng dung dịch VST chứa cồn trong 30 giây; giảm 4 log - 5 log nếu chà tay trong
1 phút Theo các khuyến cáo hiện nay, thời gian VST tối thiểu cho toàn bộ quy trình là
20 đến 30 giây đối với chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn và 30 đến 60 giây đối vớirửa tay bằng xà phòng và nước [1], [3], [47]
Trang 211.2.2.2 Quy trình vệ sinh tay
Nếu VST không đúng theo quy trình thì sẽ không mang lại hiệu quả vì không loại bỏhết được VSV trên bàn tay của NVYT – nguyên nhân hàng đầu gây ra NKBV cho ngườibệnh [3] Các vị trí thường bị “bỏ quên” là đầu ngón tay, kẽ móng tay, kẽ ngón tay, mungón cái và mu bàn tay Giữa rửa tay và chà tay, dù mỗi kỹ thuật đều có các khuyến cáo
cụ thể riêng, tuy nhiên vẫn có chung những điểm chính là 6 bước dưới đây (hình ảnh
minh họa thêm ở Phụ lục 2):
- Bước 1: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau
- Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón của bàn tay kia vàngược lại
- Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau và miết mạnh các kẽ ngón tay
- Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay này vào lòng bàn tay kia
- Bước 5: Xoay ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (lòngbàn tay ôm lấy để làm sạch ngón cái)
- Bước 6: Xoay các đầu ngón tay của tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại
Ở bước cuối, nếu là rửa tay với xà phòng và nước, khuyến cáo được đưa ra là dùngkhăn sử dụng một lần lau khô tay và sau đó dùng chính khăn này để tắt vòi nước; còn
ở kỹ thuật chà tay, sau khi kết thúc các bước, chỉ việc đợi cho tay khô là được
1.2.3 Hóa chất vệ sinh tay
Như đã phân tích ở trên, trong một bối cảnh lâm sàng cụ thể, NVYT sẽ đưa ra quyếtđịnh xem nên lựa chọn kỹ thuật VST nào cho phù hợp Sau đó, loại hóa chất VST tươngứng sẽ được sử dụng Tuy nhiên, vì loại hóa chất khác nhau sẽ gây ra các tác dụng phụkhác nhau nên đôi khi chính vì để tránh các tác dụng phụ này, NVYT quyết định sử dụng
kỹ thuật VST khác đi so với chỉ định đúng trong trường hợp đó
Thực tế ghi nhận tác dụng không mong muốn của các hóa chất VST cũng là mộtnguyên nhân làm giảm tuân thủ VST ở NVYT Trên thực tế rất ít NVYT bị viêm da dị
Trang 22ứng do hóa chất VST trừ khi sử dụng loại hóa chất VST chất lượng không tốt (xà phòngbột, dung dịch xà phòng hoặc cồn không được bổ sung chất làm ẩm và dưỡng da) [3].
Về mức độ loại bỏ VSV ở bàn tay, dung dịch VST chứa cồn có hiệu quả tốt hơn mọihóa chất khác, theo sau là xà phòng khử khuẩn và cuối cùng là xà phòng thường [3] Do
đó, kỹ thuật chà tay thực hiện với thời gian nhanh hơn so với rửa tay, 20-30 giây chotoàn bộ quy trình chà tay so với 40-60 giây cho toàn bộ quy trình rửa tay Với những tínhnăng trên, kỹ thuật chà tay được khuyến cáo sử dụng trong thực hành VST thường quynhiều hơn, nhưng NVYT cũng cần lưu ý rằng dung dịch VST chứa cồn chỉ làm bất hoạtchứ không thể nào loại bỏ hoàn toàn tất cả các loại VSV gây bệnh cũng như các hóa chấtgây hại như kim loại nặng [16]
1.2.4 Mang găng tay
Mang găng tay hoàn toàn không thay thế được VST Điều này đã được khẳng địnhtrong hướng dẫn thực hành VST trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và khuyến cáocủa WHO [3], [45] Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà và cs
ở một số khoa lâm sàng Bệnh viện Quân Y 103 cho thấy có đến 30,81% NVYT cho rằngmang găng có thể thay thế được VST [5] Điều này đồng nghĩa với việc, cứ 3 NVYT thì
có 1 người thực hành không chính xác Việc hiểu lầm này sẽ dẫn đến lạm dụng găng tay,
sử dụng găng tay không đúng chỉ định Thực tế là khi thực hiện thăm khám và chăm sócngười bệnh, đôi lúc NVYT chỉ dùng một đôi găng từ đầu đến cuối buổi, điều đó khôngđảm bảo được yêu cầu chăm sóc sạch, và chỉ có tác dụng phòng ngừa cho NVYT màkhông đảm bảo an toàn cho người bệnh WHO cho rằng việc sử dụng găng tay khôngđúng chỉ định thậm chí còn tăng khả năng lây truyền mầm bệnh [45]
Sau khi tháo găng, NVYT có thể đánh giá bối cảnh lâm sàng hiện tại như thế nào đểquyết định nên rửa tay hay chà tay
1.2.5 Chăm sóc tay
Theo WHO, NVYT cần chăm sóc tay (hand care) để ngăn ngừa kích ứng da tay vàhạn chế cho mầm bệnh gia tăng trên tay mình [45] Các giải pháp được đưa ra để ngăn
Trang 23ngừa kích ứng da tay bao gồm (1) sử dụng kem dưỡng da tay; (2) không rửa tay bằng xàphòng liền ngay sau khi sử dụng dung dịch VST chứa cồn; (3) không sử dụng nước nóng
để VST và (4) sau khi VST xong thì để tay khô hoàn toàn trước mang găng tay
Các giải pháp được đưa ra để hạn chế cho mầm bệnh gia tăng trên tay NVYT baogồm (1) không đeo trang sức; (2) không sử dụng móng tay giả và (3) không gây tổnthương da như bị trầy, xước Với vùng da ngón tay dưới chỗ mang trang sức, nhiều VSVgây bệnh được ghi nhận hơn vùng da so với vùng da không mang trang sức Cụ thể, theohướng dẫn của BYT, mang nhẫn chính là yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng mang trựckhuẩn gram (-) và tụ cầu vàng Số lượng vi khuẩn phân lập được trên tay phụ thuộc vào
số lượng nhẫn mang trên tay Về việc sử dụng móng tay giả, vì nhiều nghiên cứu chothấy kẽ móng tay là nơi chứa nhiều VSV nhất trên bàn tay, do đó việc để móng tay dàihoặc mang móng tay giả sẽ làm gia tăng lượng vi khuẩn trú ngụ lên nhiều lần [3]
1.2.6 Bộ câu hỏi đánh giá về kiến thức vệ sinh tay để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của WHO
Từ năm 2009, bên cạnh tài liệu hướng dẫn về VST, WHO cũng cho ra đời bộ câu hỏi
tự trả lời (tự báo cáo) để khảo sát về kiến thức liên quan tới VST phòng ngừa NKBV
dùng cho NVYT (Phụ lục 3) Từ đó, có rất nhiều nghiên cứu dùng bộ câu hỏi này làmcông cụ, kể cả nghiên cứu trên đối tượng là SV y khoa như nghiên cứu của chúng tôi
Bộ công cụ bên cạnh các câu không tính điểm như câu 1 tới câu 11 hỏi về những thôngtin cá nhân (giới tính, tuổi, chức danh nghề nghiệp, khoa đang công tác,…), hỏi về việc
đã được huấn luyện về VST hay chưa, có sử dụng dung dịch VST chứa cồn để VSTthường quy không (câu 12 và câu 13), phần chính gồm các câu hỏi về các kiến thức liênquan tới VST và được tính điểm, cụ thể là:
- (1) Con đường chính lây truyền chéo mầm bệnh cho người bệnh khi nằm viện
(câu 14): trắc nghiệm 4 lựa chọn, tương ứng với 1 điểm nếu chọn đúng câu trả lời
là do bàn tay của NVYT không sạch;
Trang 24- (2) Nguồn chứa VSV gây ra NKBV (câu 15): trắc nghiệm 4 lựa chọn, tương ứng
với 1 điểm nếu chọn đúng câu trả lời là do vi khuẩn có sẵn trên người bệnh;
- (3) Các thời điểm cần VST để phòng ngừa NKBV và mục đích của các thời điểm(để bảo vệ người bệnh hay bảo vệ NVYT): 2 câu hỏi lớn là câu 16 và 17, mỗi câugồm 4 câu nhỏ với hình thức lựa chọn có/không cho mỗi thời điểm nêu ra, tương
ứng với 1 sự lựa chọn đúng là 1 điểm Như vậy, phần này được tối đa là 8 điểm;
- (4) Kiến thức về sự khác nhau giữa kỹ thuật rửa tay và chà tay: 1 câu hỏi lớn làcâu 18, trong đó có 4 câu hỏi nhỏ dưới dạng đúng/sai, tương ứng với 1 sự lựa
chọn đúng là 1 điểm Như vậy, phần này được tối đa là 4 điểm;
- (5) Thời gian tối thiểu cần để dung dịch VST chứa cồn có thể tiêu diệt vi khuẩn
trên bàn tay (câu 19): trắc nghiệm 4 lựa chọn, tương ứng với 1 điểm nếu chọn
đúng câu trả lời là do 20 giây;
- (6) Kỹ thuật VST nào (rửa tay hay chà tay) nên được sử dụng ứng với từng bốicảnh cụ thể (câu 20): 1 câu hỏi lớn có 6 câu hỏi nhỏ dưới dạng lựa chọn Rửatay/Chà tay/Không trả lời, tương ứng với 1 sự lựa chọn đúng là 1 điểm Như vậy,
phần này được tối đa là 6 điểm;
- (7) Những việc làm nên tránh để không làm tăng khả năng vi khuẩn trú ngụ trênbàn tay (câu 21): 1 câu hỏi lớn trong đó gồm 4 câu nhỏ với hình thức lựa chọncó/không cho mỗi việc làm được nêu ra, tương ứng với 1 sự lựa chọn đúng là 1
điểm Như vậy, phần này được tối đa là 4 điểm.
Tổng điểm tối đa là 25 điểm và kết quả về kiến thức được chia thành 3 mức độ:
- Kiến thức kém khi được <13 điểm (<50% tổng điểm)
- Kiến thức trung bình khi được từ 13 đến 18 điểm (từ 50% đến <75% tổng điểm)
- Kiến thức tốt khi được ≥19 điểm (≥75% tổng điểm)
1.2.7 Các nghiên cứu về kiến thức
Y văn thế giới cho thấy từ thời gian khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, có rất nhiềunhững nghiên cứu về VST trên đối tượng là SV Đó có thể là VST để phòng ngừa các
Trang 25bệnh truyền nhiễm trong cuộc sống hoặc chuyên biệt hơn là VST để phòng ngừa NKBVtrong các CSYT như mối quan tâm của nghiên cứu này Với chủ đề tương tự nghiên cứunày, trong khoảng từ 2013 đến này, có khá nhiều các nghiên cứu đáng quan tâm trênkhắp thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển giống như Việt Nam [11], [12], [19],[29], [30], [31], [32], [33], [40] Những nghiên cứu này vừa có những điểm tương đồngcũng vừa có những sự khác biệt.
Về thiết kế dịch tễ học, nghiên cứu cắt ngang mô tả là lựa chọn chung, được sử dụngtrong tất cả các nghiên cứu trên Về đối tượng, có sự đa dạng hơn, đó có thể là đơn thuầnchỉ trên một hoặc nhiều thành phần Chỉ thực hiện trên đối tượng SV y là sự lựa chọncủa các tác giả Kamble và cs ở Ấn Độ năm 2016, Bakarman và cs ở Saudi Abrabica năm
2018 [12], [30] Đối với nhóm nghiên cứu của tác giả Cruz và cs ở Saudi Abrabica năm
2015, Paudel và cs ở Nepal năm 2016, Oyapero và cs ở Nigeria năm 2018, họ lại chỉ tiếnhành nghiên cứu trên SV điều dưỡng [19], [36], [38] Còn lại là các nghiên cứu củaAriyarathne và cs năm 2013, Nair và cs năm 2014, Mohammed và cs năm 2015 thì thựchiện trên cả hai nhóm đối tượng là SV y và SV điều dưỡng [11], [32], [33] Đặc biệt, cónghiên cứu của tác giả Thakker và cs năm 2015 thì có cả 3 nhóm đối tượng là sinh viênngành y, ngành điều dưỡng và ngành nha [40]
Về công cụ và hình thức sử dụng công cụ đánh giá kiến thức thì khác nhau tùy nghiêncứu Trong đó, tác giả Paudel và cs sử dụng BCH gồm 10 câu hỏi có/không để đánh giákiến thức [38] Còn hình thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn được tác giả Oyapero và cs sửdụng [36] Cả hai sau đó phân nhóm mức độ kiến thức và dùng các điểm cắt tương tựnhư của WHO, là <50% – kiến thức kém, từ 50% đến dưới 75% – kiến thức trung bình
và từ 75% trở lên tương ứng với kiến thức tốt Còn lại, chủ yếu các nghiên cứu sử dụngBCH của WHO đã đề cập trên Tác giả Thakker và cs (2015) cùng với tác giả Kamble
và cs (2016) chọn hình thức gặp mặt trực tiếp sinh viên sau đó gửi BCH của WHO chosinh viên tự làm, sau đó thu lại [30], [40] Điểm chung của những nghiên cứu này đó là
cỡ mẫu không quá lớn – dưới 100 cho mỗi nhóm SV y, điều dưỡng hoặc nha; đồng thời,
Trang 26các SV này đi thực tập tại cùng 1 địa điểm nên thuận tiện để triển khai buổi gặp mặt.Tuy nhiên, khi cỡ mẫu lớn hơn như 523 SV trong nghiên cứu của Modi và cs năm 2017
ở Ấn Độ; 323 SV trong nghiên cứu của Kingston và cs năm 2018 ở Iran hoặc 453 SVtrong nghiên cứu của tác giả Bakarman và cs năm 2018 ở Saudi Abrabica thì bên cạnhbản giấy phát trực tiếp cho sinh viên, các phương pháp kết hợp với dùng thư điện tử(email) hoặc chỉ thuần gửi BCH qua thư điện tử được ưa chuộng hơn [12], [29], [31] Vềsau, những nghiên cứu không sử dụng BCH của WHO không được tiếp tục quan tâm vàphân tích thêm
Tại Việt Nam, tương tự trên thế giới, đa số các nghiên cứu về VST trên đối tượng làsinh viên hoặc học sinh thì chủ yếu là VST để phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm trongcuộc sống; còn nếu là chuyên biệt về mục đích để phòng ngừa NKBV thì lại được tiếnhành trên đối tượng NVYT là chính Một số ít các nghiên cứu thực hiện về VST phòngngừa NKBV và có khảo sát trên nhóm SVTT (140 sinh viêntrên tổng số 383 đối tượngtham gia) là nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà thực hiện tại bệnh viện Quân Y
103 năm 2015 [5] Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, BCH về kiến thức của WHO khôngđược sử dụng mà thay vào đó, tác giả tìm hiểu cụ thể về 3 nội dung kiến thức là (1) tácdụng của mang găng tay trong chăm sóc người bệnh, (2) 5 thời điểm VST được khuyếncáo, (3) so sánh hiệu quả của việc rửa tay và chà tay Theo kết quả ghi nhận được, tỉ lệngười tham gia trả lời chính xác ở từng nội dung trên đều dưới 50% cho thấy có mộtkhoảng trống kiến thức không hề nhỏ
Như vậy, nhìn chung, kiến thức của SVTT về VST phòng ngừa NKBV là còn chưatốt, thậm chí không muốn nói là rất tệ ở một số các nghiên cứu Điều này là không thểchấp nhận được khi mà hiệu quả của VST trong phòng ngừa NKBV là quá rõ ràng vàđầy đủ các bằng chứng khoa học
Trang 271.3 Hành vi về vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện 1.3.1 Các mô hình hành vi sức khỏe phổ biến
Theo WHO, có nhiều mô hình được sử dụng để cố gắng tiên đoán hoặc giải thích vềnhững gì ảnh hưởng lên hành vi sức khỏe của con người, trong đó có 3 nhóm mô hình
chính được chú ý: Một là những mô hình tập trung vào năng lực bên trong của cá nhân (Intrapersonal capacity); hai là những mô hình tập trung vào sự hỗ trợ và mối liên hệ giữa các cá nhân với nhau (Interpersonal supports); ba là những mô hình tập trung vào
sự hỗ trợ từ xã hội, cộng đồng (Environmental context) [49]
Những mô hình ở nhóm 1 là những mô hình liên quan đến tính sẵn sàng và khả năng
để tiến hành các hành vi có lợi cho sức khỏe dựa trên những đặc tính của người đó nhưtrình độ, các kỹ năng NT, lòng tin, các giá trị, động lực, mức độ tự tin (tôi có thể làmđược không?), lòng tự trọng (tôi có xứng đáng để khỏe mạnh không?) và sự cần thiết đểtán thành người khác Tính cách cá nhân (như là nhút nhát hay trơ lì) và các yếu tố ditruyền (như đối với trầm cảm hoặc nghiện rượu) cũng rất quan trọng Nhóm này baogồm rất nhiều mô hình nhất trong 3 nhóm và trong đó có nhiều mô hình đang được sửdụng rất phố biến như:
- Mô hình KAP (Knowledge, Attitude and Practise, hay còn có tên gọi khác là Therational model);
- Mô hình Niềm tin sức khỏe (Health Belief Model);
- Mô hình về các giai đoạn thay đổi hành vi (The transtheorical model of change);
- Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior);
- Mô hình giáo dục sức khỏe chủ động (The activated health education model).Với 2 nhóm sau – ở mức độ cộng đồng và nhóm, thật ra cũng là dựa vào đơn vị cơbản nhất – đơn vị cá nhân và những đặc tính của cá nhân ấy, tức là nhóm 1 Bởi lẽ, mỗi
cá nhân là một đơn vị cơ bản nhất của việc tăng cường sức khỏe
Trang 281.3.2 Mô hình Niềm tin sức khỏe trong đánh giá vệ sinh tay
Mô hình niềm tin sức khỏe (NTSK, Health Belief Model) là một trong số những mô hình phổ biến nhất thuộc nhóm 1 – nhóm tập trung vào năng lực bên trong của cá nhân.
Mô hình này được đề xuất lần đầu tiên vào những năm 1950 ở Hoa Kỳ bởi Hochbaum,Rosenstock và Kegels – là những nhà tâm lý học xã hội [42] Lý do được cho rằng bắtnguồn từ sự thất bại của Chương trình tầm soát lao, dù chương trình này được thực hiệnmiễn phí nhưng sự hưởng ứng từ phía người dân rất thấp Đây là mô hình được biết đếnrộng rãi nhất trong lĩnh vực thay đổi hành vi [21]
MH NTSK tập trung vào nhận thức của cá nhân về nguy cơ và lợi ích của hành vi –những điều mà có khả năng thúc đẩy thay đổi hành vi để bảo vệ sức khỏe [43] Bởi mỗi
cá nhân là một đơn vị cơ bản nhất của việc tăng cường sức khỏe Tất cả các mức độ nhưnhóm, tổ chức, cộng đồng và quốc gia đều bao gồm các cá thể Và như đã phân tích ởtrên, trong thực hành VST để phòng ngừa NKBV, bên cạnh mục đích phòng ngừa NKBVcho người bệnh thì mục đích bảo vệ NVYT cũng là một điều không thể phủ nhận vì cóđến 3/5 thời điểm phải VST là vì bảo vệ cho NVYT
Như vậy, xét về bản chất, MH NTSK là phù hợp để tìm hiểu và phân tích về hành viVST trong phòng ngừa NKBV trên NVYT nói chung, và trên SVTT nói riêng
1.3.3 Mô hình Niềm tin sức khỏe đánh giá vệ sinh tay trên sinh viên thực tập
Theo Anna Rosenberg (2016), MH NTSK sử dụng trong đánh giá VST có nhiều điềuthú vị đáng lưu ý [10] Có 6 yếu tố được cho rằng có ảnh hưởng đến quyết định thực hiệnhành vi, là các yếu tố loại trừ hoặc hỗ trợ lẫn nhau để dự đoán hành vi sức khỏe Các yếu
tố này được nghiên cứu viên sơ đồ hóa lại theo sơ đồ 1.2 bên dưới
Trang 29(1) Nhận thức sự cảm nhiễm là suy nghĩ chủ quan của một người về khả năng bản
thân mình tiếp xúc/phơi nhiễm với một bệnh/hành vi nào đó [27], [49] Trong việc thựchiện VST, yếu tố này được giải thích là việc liệu SVTT có tin rằng họ có nguy cơ liênquan đến các NKBV trên người bệnh hay không? NVYT nói chung và SVTT nói riêngthường tin rằng bàn tay của mình sạch hơn so với bàn tay các đồng nghiệp của mình và
do đó họ thường tin rằng bản thân mình ít có nguy cơ gây ra các nguy hiểm cho ngườibệnh [17] Từ đó, họ cũng không nhìn rõ thấy trách nhiệm của mình trong việc tại saophải VST, vì đơn giản họ không nghĩ mình sẽ không gây hại gì cho người bệnh
Những sinh viên mà có niềm tin rằng bản thân mình không có liên quan hoặc ít cónguy cơ gây ra NKBV cho người bệnh thường ít quan tâm đến những biện pháp GDSKđang diễn ra ở đơn vị đi thực tập hay các giờ lý thuyết trên giảng đường Ngược lại,những sinh viên có niềm tin rằng bàn tay của mình có liên quan đến NKBV thì sự khôngtuân thủ VST của sinh viên đó sẽ được gán cho những thiếu sót cá nhân; còn với mộtsinh viên cho rằng bàn tay của mình không hề có liên quan đến NKBV thì sự không tuânthủ VST của sinh viên đó sẽ được đổ lỗi cho các yếu tố bên ngoài hơn là nhìn nhận tráchnhiệm cá nhân, như là thiếu dụng cụ, thiếu dung dịch VST, không có thời gian, Dovậy, các can thiệp giáo dục đối với SVTT chủ yếu liên quan đến việc nâng cao nhận thức
Nhậnthức vềnăng lựcbản thân
Vệ sinh tay
Sựnhắcnhở
Nhận thức về sự đe dọa
- Nhận thức về sựcảm nhiễm
- Nhận thức về mức
độ nghiêm trọng
Đánh giá hành vi
- Nhận thức vềlợi ích
- Nhận thức vềrào cản
Sơ đồ 1 2 Các yếu tố của mô hình Niềm tin sức khỏe
Trang 30xung quanh các hành động của sinh viên mà đúng hơn là hướng dẫn các kiến thức đểxây dựng niềm tin đúng đắn cho của SV, tức là sinh viên cần hiểu được rằng: Bản thânNVYT hoàn toàn có khả năng gây ra NKBV cho người bệnh.
(2) Nhận thức mức độ nghiêm trọng là niềm tin, sự đánh giá của cá nhân về sự
nguy hiểm, mức độ gây hại của hành vi, của tình trạng và những hậu quả kèm theo sau
đó [27], [49] Cụ thể cho bối cảnh nghiên cứu về VST, yếu tố này chính là việc SVTTđánh giá về hậu quả của NKBV SVTT có nhận thức được về mức độ nghiêm trọng, sựnguy hiểm của vấn đề NKBV hay không? Từ đó, việc thực hiện VST liệu chỉ được coi
là vấn đề tùy chọn thôi (làm hay không cũng được) hay là điều bắt buộc phải làm đểphòng ngừa NKBV? Thực tế cho thấy, không ít các NVYT nói chung và SVTT nói riêngthường xem VST như một tùy chọn thêm vào nếu được chứ chưa phải là một việc làmbắt buộc trong thực hành chăm sóc người bệnh thường quy [17] Việc này tác động đáng
kể đến tỉ lệ tuân thủ VST Như vậy, liệu có một nhận thức cá nhân nào xuất phát từ bêntrong của SVTT khiến SVTT cảm nhận được mức độ nghiêm trọng của NKBV cũng nhưtác hại nghiệm trọng của việc kém tuân thủ VST trong kiểm soát NKBV? Từ đó, SVTTphải đối mặt với những dằn vặt, tự vấn nội tâm nếu bỏ qua việc VST trong thực hànhchăm sóc người bệnh Dù rằng bản thân những SVTT này chỉ đóng vai trò hỗ trợ trongquá trình thăm khám, theo dõi và hỗ trợ điều trị người bệnh chứ không phải đóng vai tròchính
Hai yếu tố này được gọi chung là nhận thức về mối đe dọa của vấn đề.
(3) Nhận thức về các lợi ích của VST trong phòng ngừa và kiểm soát NKBV là một
chỉ báo dương tính, ủng hộ khả năng tuân thủ VST của SVTT Thực tế từ nghiên cứucủa tác giả Cruz (2015) về các yếu tố tiên đoán hành vi VST trên nhóm sinh viên điềudưỡng ở Saudi thì bên cạnh các yếu yếu tố như giới tính (nam giới), năm học của sinhviên và việc được học về VST thì nhận thức về lợi ích của VST cũng là một trong cácyếu tố góp phần tăng sự tuân thủ trong thực hành [19] Tương tự vậy, Anna Rosenberg
Trang 31(2016) và cs nhận thấy một trong những yếu tố chính, quyết định việc có tuân thủ VSThay không chính là sự hiểu biết đầy đủ về lợi ích của việc thực hành VST [10].
(4) Nhận thức về các rào cản trong thực hành VST là một chỉ báo âm tính, ngược
lại với yếu tố nhận thức về các lợi ích Nếu chỉ có sự hiểu biết và nhận thức về lợi íchcủa VST (yếu tố 3) thôi thì không đủ để phản ánh liệu SVTT có tuân thủ VST hay không.Các rào cản bắt buộc đối với thực hành VST mà SVTT phải đổi mặt thay đổi tùy theoảnh hưởng về thể chất, tinh thần của mỗi cá nhân sinh viên và điều kiện cụ thể tại cơ sởthực tập đó Chẳng hạn, rào cản thường là những tình huống rất khác nhau như việc thấyVST làm mất thời gian, cản trở công việc nhất là trong các trường hợp khẩn cấp như kếtquả từ nghiên cứu của Nair và cs (2014) trên 98 sinh viên y khoa và 46 sinh viên điềudưỡng ở Ấn Độ [33] Rào cản có thể là do sinh viên quên hoặc sinh viên vốn có nhữngbệnh lý về da tay theo nghiên cứu của Foote và cs (2015) tại Canada trên các sinh viênđiều dưỡng [24] Bên cạnh đó, rào cản cũng có thể là các tác dụng phụ bất lợi của hóachất VST như kết quả từ nghiên cứu của Kingston và cs năm 2018 khi so sánh giữa rửatay và chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn của sinh viên y và sinh viên điều dưỡng ởIreland [29] Tác dụng phụ này thường là sự kích ứng da gây khó chịu, một số ít trườnghợp dị ứng với hóa chất VST Yêu cầu về tuân thủ VST cần liên tục sử dụng các sảnphẩm và thực hiện các thủ tục VST có thể dẫn đến các tác động gây hại này
Tuy nhiên, những rào cản này xảy ra chủ yếu là do thiếu kiến thức về quy trình củaVST đúng, kiến thức về các cách bảo vệ da cũng như có thể do sử dụng các sản phẩmkém chất lượng để VST [1], [3], [47]
Hai yếu tố thứ (3) và thứ (4) này được gọi chung là sự đánh giá hành vi NVYT
hoặc SVTT khi thực hiện VST sẽ xem xét đến các lợi ích, kết quả tích cực hoặc rào cảncủa hành động này mang lại Dựa trên kết quả của sự đánh giá, cân nhắc này, hành viVST sẽ được quyết định thực hiện hay không thực hiện
(5) Sự nhắc nhở hay còn gọi là tín hiệu để hành động là cái gì đó mà nó giúp chuyển
từ ý định sang hành động thực sự, có thể là các tác nhân bên trong hoặc bên ngoài Các
Trang 32tác nhân bên trong có thể là các dấu hiệu đau ngực, đau bụng, hắt xì,… – sự hiện hữunhất định của một số các yếu tố giúp chủ thể vẫn được nhắc nhớ về vấn đề Còn các tácnhân bên ngoài có thể bao gồm các hình thức truyền thông đại chúng về VST như hìnhảnh, tờ rơi, báo chí; lời của các bác sĩ, NVYT; lời nhắc nhở của những người xung quanh(các thành viên trong gia đình, bạn bè, thầy cô,…) [27], [37] Trong trường hợp này, các
sự nhấn mạnh từ bên ngoài cũng có thể bao gồm việc quan sát các hành động VST củacác NVYT khác ở CSYT hoặc của những bạn bè mình trong đợt thực tập [10] Nhữngđiều đó đều được xem như những tín hiệu quan trọng để thúc đẩy hành vi VST
(6) Sự nhận thức về năng lực bản thân: là yếu tố cuối cùng trong MH NTSK, được
bổ sung vào MH từ những năm 1980 Điều này liên quan đến mức độ mà NVYT/SVTTtin rằng bản thân học có khả năng thực hiện được VST trong thực hành lâm sàng theonhư khuyến cáo hay không; các rào cản đối với các biện pháp VST có thể được khắcphục và vượt qua hay không [10], [49] Hành động VST có nhiều khả năng được thựchiện nếu SVTT cảm thấy có động lực thôi thúc họ phải VST từ chính bên trong bản thân
họ và do vậy, nếu như không VST, họ sẽ có cảm giác có lỗi trong lòng
Ngoài ra, MH NTSK còn nhắc đến các yếu tố nền có thể tác động đến hành vi, baogồm các yếu tố nhân khẩu học như tuổi, giới, dân tộc, chủng tộc; các yếu tố tâm lý xãhội như nhân cách, nhóm xã hội, áp lực nhóm; các yếu tố cấu trúc như kiến thức, thái độ
về vấn đề sức khỏe [27], [37], [49]
Tóm lại, MH NTSK chỉ ra rằng hành vi VST có thể sẽ được thực hiện khi SV: (1)
Nhận thức được sự cảm nhiễm rằng bàn tay của NVYT là nguyên nhân gây ra NKBV
và kém tuân thủ VST có thể làm tăng nguy cơ mắc NKBV cho người bệnh; (2) Nhậnthức được mức độ nghiêm trọng khi cho rằng NKBV gây ra cho người bệnh là một trongnhững hậu quả nghiêm trọng đến từ việc mình đã không tuân thủ tốt VST; (3) Nhận thức
về lợi ích thu được từ VST đúng cách; (4) Nhận thức về rào cản khi thực hiện VST thấp;(5) Sự nhắc nhở từ xung quanh; (6) Sự tự nhận thức về năng lực bản thân, tức là niềm
Trang 33tin bản thân có thể thực hiện được việc VST Các yếu tố trên có thể độc lập hoặc kết hợplẫn nhau.
1.3.4 Các nghiên cứu về hành vi vệ sinh tay
Theo Thea và cs (2009) thì vào năm 1989, tại Đại học Southern Illinois, luận văn tiến
sĩ của Karaffa đã phát triển một Bảng kiểm về thực hành rửa tay (Handwashing PracticesInventory – HPI) dựa trên MH NTSK để đánh giá kiến thức, niềm tin về việc rửa tay ởsinh viên đại học [43] Cụ thể là có 17 câu thực hành, 18 câu về nhận thức về lợi ích vàrào cản, 8 câu nhận thức về nguy cơ mắc nhiễm trùng và 8 câu về nhận thức sự nghiêmtrọng của bệnh nhiễm trùng Kết quả cho thấy nhận thức của sinh viên về lợi ích, rào cản
và sự nghiêm trọng của bệnh cho thấy có giá trị tiên đoán hành vi rửa tay (qua hình thức
tự đánh giá) Tuy nhiên, giới hạn là chỉ thực hiện trên một nhóm nhỏ các sinh viên củaKhoa Sức khỏe trong trường đại học và không đo lường trực tiếp hành vi mà là qua sự
tự đánh giá của đối tượng Về sau, bảng kiểm này cũng không được phát triển thêm Tácgiả Thea sau đó phát triển riêng những công cụ khác, đánh giá về niềm tin và thực hànhVST của SV, cũng qua hình thức tự đánh giá với khung lý thuyết được sử dụng là Lýthuyết học tập xã hội (Social Cognitive Theory) – một mô hình lý giải hành vi thuộcnhóm 2 nói về sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các cá nhân [43] Do không phù hợp với khung lýthuyết là MH NTSK được sử dụng trong nghiên cứu này, công cụ trên không được sửdụng
Năm 2011, tác giả Najla và cs sử dụng MH NTSK để đánh giá hành vi VST của sinhviên Saudi Arabia đang theo học tại Hoa Kỳ [34] Trong đó, MH NTSK được triển khaivới 6 yếu tố trên qua 23 câu hỏi để đánh giá nhận thức (perception) của sinh viên vềVST; còn hành vi VST được đánh giá qua hình thức tự báo cáo Mỗi câu hỏi gồm có 6
sự lựa chọn trong đó 5 sự lựa chọn đầu là thang Likert 5 điểm, còn lựa chọn cuối cùng
là “Tôi không thể chọn” Tuy nhiên, hành vi VST được đánh giá trong nghiên cứu này
là hành vi VST trong cuộc sống hàng ngày, nhằm mục đích phòng ngừa các bệnh lâytruyền qua thực phẩm chứ không phải phòng ngừa NKBV
Trang 34Khác với lĩnh vực kiến thức, nhận thức và hành vi về VST trong khuôn khổ mục đíchphòng ngừa NKBV chưa có một công cụ thống nhất và phồ biến Các nghiên cứu củatác giả Ariyarathne và cs (2013) tại Sri Lanka; tác giả Nair và cs (2014) tại Ấn Độ; tácgiả Cruz và cs (2015) tại Saudi Abrabica hay của tác giả Oyapero và cs (2018) tại Nigeria
có đánh giá những điều này và mỗi nghiên cứu có các thức hơi khác nhau đôi chút [11],[19], [33], [36] Hai nghiên cứu đầu tiên của Ariyarathne và Nair sử dụng cùng sử dụngnhững công cụ giống nhau Để đánh giá nhận thức và thực hành về VST trong phòngngừa NKBV, một nhóm 10 câu hỏi và một nhóm 6 câu hỏi lần lượt được sử dụng, vớicác câu đều trả lời theo thang Likert 7 điểm [11], [33] Còn ở nghiên cứu của Cruz, 2 bộcông cụ đánh giá thái độ và thực hành dùng thang Likert 5 điểm thay cho thang 7 điểm[19] Kết luận sau cùng thì nghiên cứu của nhóm tác giả Ariyarathne và Cruz lại giốngnhau Đó là mỗi câu trả lời theo hướng tích cực được cho 1 điểm, còn lại là 0 điểm vàkết quả cuối cùng được chia làm 3 mức độ như sau:
- Nhận thức/ thực hành tốt khi được ≥75% tổng điểm
- Nhận thức/ thực hành trung bình khi được từ 50% đến <75% tổng điểm
- Nhận thức/ thực hành kém khi được <50% tổng điểmCòn tác giả Nair và cs thì báo cáo tỉ lệ của từng câu thay vì một kết luận chung Tuynhiên, trong cả 3 nghiên cứu trên, lý thuyết nào, mô hình hành vi nào được sử dụng đểlàm cơ sở lý luận đều không được lý giải rõ ràng
Các nghiên cứu sau đó của Vaishavi và cs (2015), của Kamble và cs (2016) thì lạichỉ đánh giá kiến thức về VST phòng ngừa NKBV mà không đánh giá nhận thức/thái độ
và hành vi [30], [40] Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu đánh giá nhận thức/thái độ vềVST phòng ngừa NKBV trên sinh viên nhưng không nêu rõ công cụ và cách làm [30],[31], [40]
Điều tương tự cũng quan sát thấy khi xét về việc đánh giá hành vi, thường không nói
rõ mô hình/lý thuyết nào sử dụng [11], [19], [29], [32], [33] Về phương pháp đánh giáhành vi VST, tự đánh giá/ tự báo cáo (self-report) chiếm ưu thế trong các nghiên cứu
Trang 35trên Tuy nhiên, tại sao lại như vậy? Bởi lẽ, khi đánh giá hành vi bằng hình thức tự báocáo của đối tượng thì sẽ có xu hướng kết quả có được sẽ tốt hơn mong đợi nếu đó lànhững hành vi tích cực hoặc những giá trị chung mà xã hội mong muốn tốt [14], [18],[23] Như vậy, kết quả ghi nhận sẽ có thể không chính xác Thế nhưng, hình thức tự báocáo bản thân nó cũng được đánh giá cao bởi một số ưu điểm riêng như nhanh chóng,hiệu quả và tiết kiệm [39] Và theo tài liệu hướng dẫn từ WHO, hình thức tự báo cáo củaNVYT (health-care wokers self-reporting) là một trong những hình thức đo lường trựctiếp hành vi VST được công nhận [46] Bên cạnh đó, thực tế bối cảnh ở trường Đại học
Y khoa Phạm Ngọc Thạch cho thấy lượng SVTT (khoảng 60 SV/đợt thực tập) thườngcao hơn lượng NVYT ở một khoa/phòng, nếu muốn đánh giá hành vi với hình thức quansát thì khó mà khả thi Ngoài ra, SVTT chưa phải là NVYT chính thức của CSYT, thườngkhông được ghi nhận trong các quan sát, theo dõi của khoa, phòng Chưa kế, với tínhchất của việc học, SVTT đến thường xuyên thay đổi địa điểm thực tập Tổng thể nhữngđiều này sẽ càng làm tăng gánh nặng về chi phí, nhận sự và tính khả thi khi thực hiệnnghiên cứu Điều đó lý giải tại sao trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng chọn đánh giáhành vi VST của sinh viên qua hình thức tự báo cáo như những nghiên cứu đã nêu ra ởtrên
1.4 Một số các yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi vệ sinh tay
Về kiến thức VST để phòng ngừa NKBV thu được từ các nghiên cứu, ở đây chỉ phântích những nghiên cứu sử dụng BCH về kiến thức của WHO để có cơ sở cho sự so sánh.Theo đó, phần lớn sinh viên y và sinh viên điều dưỡng mà các nghiên cứu trên quan tâmđều được kết luận chung là có kiến thức về VST trong phòng ngừa NKBV ở mức độtrung bình, tỉ lệ dao động từ khoảng 60 đến 85% sinh viên được khảo sát; chỉ khoảng 5đến 12% sinh viên có kiến thức tốt và ở mức độ kém là 5-22% [11], [12], [30], [31], [33],[40] Về sự khác biệt của ngành học, nhóm của tác giả Ariyaratne (2013); Niar (2014)
và D’Alessandro (2014) cùng cho rằng sinh viên điều dưỡng có kiến thức tốt hơn sinhviên y một cách có ý nghĩa thống kê; trong khi đó, kết quả ghi nhận từ nghiên cứu của
Trang 36Vaishavi và cs (2015) thì lại cho kết quả ngược lại [11], [20], [33], [40] Bên cạnh đó,
nữ sinh viên được cho là có kiến thức tốt hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với namsinh viên trong nghiên cứu thực hiện năm 2018 của Bakarman và cs nhưng kết quả hoàntoàn trái ngược lại được ghi nhận trong nghiên cứu của tác giả Cruz và cs năm 2015 [12],[28]
Đi vào các mục chi tiết thì tỉ lệ trả lời đúng ở từng kiến thức có sự khác nhau ở cácnghiên cứu với khoảng dao động khác lớn Đơn cử, chỉ có 27% sinh viên trong nghiêncứu của Kamble và cs năm 2016 (N=55) trả lời được con đường chính của lây truyềnmầm bệnh trong NKBV là do bàn tay của NVYT không sạch, trong khi tỉ lệ tương ứngtrong nghiên cứu của Nair và cs năm 2014 là 76% (N=144) và sự khác biệt này là có ýnghĩa thống kê với p<0,001 [30], [33] Về mục đích của các thời điểm VST, chủ yếu cácsinh viên không biết VST sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh người bệnh khôngphải để bảo vệ người bệnh mà là để bảo vệ cho chính NVYT Tỉ lệ trả lời đúng ở kiếnthức thường thấp dưới 30% Tình trạng tương tự cũng gặp ở các kiến thức khi so sáng
kỹ thuật rửa tay và chà tay với nhau Sinh viên thường trả lời sai ¾ câu ở mục này, trong
đó tỉ lệ kiến thức về thời gian tiêu diệt vi khuẩn (chà tay tiêu diệt vi khuẩn nhanh hơnrửa tay) đạt được kết quả khả quan hơn hết nhưng cũng chỉ xấp xỉ 50% sinh viên có câutrả lời đúng
Về hành vi VST để phòng ngừa NKBV, đa số các nghiên cứu đều báo cáo kết quảtheo 5 thời điểm khuyến cáo của WHO Tác giả Mohammed và Aliyu (2015) thực hiệntrên các sinh viên y và sinh viên điều dưỡng tại Đại học Bayero (ở Kano, Nigeria), kếtquả cho thấy sinh viên thực hiện VST nhiều nhất là sau khi tiếp xúc với dịch tiết từ ngườibệnh (97,08%) và sau khi tiếp xúc với người bệnh (94,89%); thấp hơn là trước khi tiếpxúc với người bệnh và trước khi mang găng tay, với tỉ lệ lần lượt là 52,55% và 29,93%[32] Năm 2018, tác giả Kingston thực hiện nghiên cứu trên các sinh viên y khoa và sinhviên điều dưỡng ở Ireland, nhận thấy tỉ lệ tuân thủ chung ở 5 thời điểm do WHO khuyếncáo dao động rất khác nhau [29] Đa phần, sinh viên điều dưỡng cao hơn sinh viên y, cụ
Trang 37thể tỉ lệ cao nhất là ở thời điểm sau khi tiếp xúc với dịch của người bệnh (99,5% ở sinhviên điều dưỡng và 91% sinh viên y) và tỉ lệ thấp nhất là ở thời điểm sau khi tiếp xúcvới môi trường xung quanh người bệnh (61,5% ở sinh viên điều dưỡng và 57,5% ở sinhviên y) Bên cạnh đó, theo Kingstion, rào cản của hành vi VST trên sinh viên là các vấn
đề về da mà sinh viên lo lắng Nghiên cứu ghi nhận trên 50% sinh viên cho rằng dùngdung dịch VST chứa cồn theo khuyến cáo sẽ làm tăng nhạy cảm và tổn thương da Ngoài
ra, yếu tố về nhận thức cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hành vi Về nhận thức VST đểphòng ngừa NKBV, tỉ lệ sinh viên đạt mức độ nhận thức tốt nhìn chung cũng chưa cao
và có mức độ dao động rất lớn nghiên cứu của tác giả Ariyaratne và cs (2013) ghi nhậntrên 195 sinh viên y thì chỉ có 11,5% sinh viên có nhận thức tốt, còn lại là 87% có nhậnthức trung bình và 1,5% là có nhận thức kém [11] Cũng trong nghiên cứu này, kết quảtrên 93 sinh viên điều dưỡng còn đáng báo động hơn Tỉ lệ sinh viên có nhận thức tốt,trung bình và kém lần lượt là 10%; 42% và 48% Trong khi đó, nghiên cứu của nhómtác giả Cruz và cs (2015) tiến hành trên 198 sinh viên điều dưỡng ở Saudi Arabica lạicho thấy một bức tranh hoàn toàn khác Theo đó, tỉ lệ sinh viên có nhận thức tốt là gần35%; hơn 50% sinh viên có nhận thức trung bình và còn lại là nhận thức kém Các yếu
tố có liên quan đến nhận thức tốt được ghi nhận giữa các nghiên cứu là sinh viên điềudưỡng có nhận thức tốt hơn một cách có ý nghĩa thống kê với sinh viên y và nữ thì cónhận thức tốt hơn nam [12], [29], [33]
Về các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ VST theo 5 thời điểm, điểm khá tương đồng
từ các nghiên cứu đó là sinh viên ngành điều dưỡng được cho là có hành vi VST tốt hơnnhóm sinh viên y theo kết quả từ nghiên cứu của Ariyaranthne và cs (2013); Nair và cs(2014); Mohammed và cs (2015) Kingston và cs (2018) [11], [29], [32], [33] Còn cáckết quả khác chưa thấy được sự thống nhất Theo tác giả Kingston và cs (2018), trongnhóm sinh viên y thì năm càng lớn tuân thủ càng tốt Ngược lại, ở sinh viên điều dưỡng,năm học càng nhỏ sinh viên tuân thủ càng tốt, kết quả từ nghiên cứu của Kingston vàCruz ủng hộ điều này[19], [29] Nam sinh viên được tác giả Cruz (2015) lại cho rằng sẽ
Trang 38tuân thủ tốt hơn nữ sinh viên nhưng theo các tác giả Foote (2015) và Bakarman (2018)lại cho rằng giới tính không liên quan tới việc tuân thủ VST [12], [19], [24].
Ở Việt Nam, như đã nói, đa số các nghiên cứu về VST phòng ngừa NKBV đều đượctiến hành trên NVYT Kết quả ghi nhận được khó mà có thể phóng chiếu cho nhómSVTT Tuy nhiên, điểm qua các kết quả này cũng góp phần giúp có cái nhìn về việc hành
vi VST được thực hiện như thế nào trong các CSYT hiện tại Năm 2013, nghiên cứu tạiBệnh viện Nhi Đồng 2, trên 1.554 NVYT của bệnh viện, tỉ lệ tuân thủ chung là 55,3%trong đó điều dưỡng cao hơn bác sĩ (62,8% và 45,8%) [7] Năm 2015, tác giả DươngDuy Quang và Nguyễn Thị Liên tiến hành khảo sát kiến thức, thái độ và hành vi về VSTthường quy của 220 NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa khu vực ĐịnhQuán (Đồng Nai) Kết quả ghi nhận tỉ lệ tuân thủ VST là 50,49% [8]
47.3%
70.9%
93.7% 81.4%
Sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh …
Sau khi tiếp xúc với người bệnh Sau khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh
Trước khi làm thủ thuật Trước khi tiếp xúc người bệnh
Trang 39tuân thủ theo quy trình này chỉ có 38,2% thực hiện đúng [7] Năm 2015, nghiên cứu củatác giả Hoàng Thị Hiền và cs tại Bệnh viện đa khoa Hòe Nhai (Hà Nội) chỉ có 39,1%NVYT sắp xếp được quy trình 6 bước [6].
1.5 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Được thành lập từ năm 1989 với tên gọi là Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng nhân lựcTP.HCM, trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch có sứ mệnh là đào tạo nguồn lực
tế chất lượng cao, nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng caosức khỏe nhân dân Hiện nay, cả qui mô đào tào cũng như phạm vi tuyển sinh của trườngngày càng được mở rộng ra các tỉnh ngoài TP.HCM Điều đó gián tiếp nói lên được tầmquan trọng của việc phân phối nhân lực y tế (chủ đạo là bác sĩ đa khoa và cử nhân điềudưỡng) của trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch cho khu vực TP.HCM và cả một
số khu vực lân cận Vậy nên, trong công cuộc phòng chống NKBV của toàn ngành y tế,những NVYT tương lai xuất thân từ trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch cũng sẽđóng góp những vai trò không nhỏ
Về mặt tổ chức lớp học hiện tại:
Đối với ngành Y đa khoa chính quy: đào tạo 6 năm với mỗi khóa gồm 4 lớp, được
ký hiệu A, B, C, D Việc chia lớp này là ngẫu nhiên, không dựa vào hộ khẩu sinh viêntrong hay ngoài thành phố cũng như không dựa vào kết quả tuyển sinh Sinh viên sẽ bắtđầu đi thực tập tại bệnh viện vào năm thứ 3 Ngoài ra, hệ bác sĩ đa khoa 6 năm còn cólớp Y Việt Đức – là hình thức kết hợp đào tạo giữa trường Phạm Ngọc Thạch với Đạihọc Johannes Gutenberg Mainz, Cộng hòa Liên bang Đức Vì chương trình đào tạo củalớp Y Việt Đức này có nhiều điều khác biệt do đó trong nghiên cứu này, chúng tôi khôngđưa sinh viên Y Việt Đức vào để khảo sát
Đối với ngành Cử nhân điều dưỡng chính quy: đào tạo 4 năm với mỗi khóa chỉ baogồm một lớp Việc đi thực tập tại bệnh viện cũng sẽ bắt đầu từ năm thứ 3 như sinh viên
Y Điểm khác biệt đó là từ năm 3, sinh viên sẽ được chọn chuyên ngành: Hoặc Cử nhân
Trang 40gây mê hồi sức hoặc học tiếp là cử nhân điều dưỡng Sau khi chọn chuyên ngành từ nămthứ 3 này, sinh viên sẽ học theo 2 lớp tương ứng với chuyên ngành đã chọn.
Tóm lại, sau quá trình tổng hợp và phân tích y văn, có một vài nội dung cần chú
trọng như sau:
Kiến thức về VST để phòng ngừa NKBV: Công cụ được sử dụng nhiều nhất là BCH
tự đánh giá của WHO Kết quả được chia thành 3 mức độ kiến thức kém/ trung bình/ tốttương ứng với % điểm số đạt được so với điểm tối đa lần lượt <50%, >50% đến dưới75% và từ 75% trở lên Khoảng 2/3 SVTT có kiến thức ở mức độ trung bình Còn về cụthể từng khía cạnh kiến thức trong đó thì có sự cao thấp không đồng đều ở nhiều khíacạnh kiến thức khác nhau
Hành vi về VST phòng ngừa NKBV: Hình thức đánh giá phổ biến nhất là tự báo cáo
dù đó không phải là hình thức tốt nhất, nhưng khả thi trên nhóm đối tượng là SVTT Kếtquả được chia thành 3 mức độ hành vi kém/ trung bình/ tốt tương ứng với % điểm số đạtđược so với điểm tối đa lần lượt <50%, >50% đến dưới 75% và từ 75% trở lên Đa sốsinh viên có VST theo 5 thời điểm khuyến cáo nhưng tỉ lệ có hành vi tốt còn dao độnglớn
Mối liên quan được ghi nhận từ các nghiên cứu: Đa phần có sự khác biệt có ý nghĩathống kê giữa nhóm sinh viên y và sinh viên điều dưỡng, giữa sinh viên năm nhỏ vớisinh viên năm lớn cũng như giữa giới nam và giới nữ nhưng cụ thể nhóm nào có kiếnthức, nhận thức và hành vi tốt hơn nhóm nào thì các kết quả hiện tại còn nhiều khác biệtgiữa các nghiên cứu Ngoài ra, ảnh hưởng đến việc tuân thủ hành vi VST còn có các yếu
tố về bệnh lý da tay và yếu tố về nhận thức Theo đó, nhận thức về VST để phòng ngừaNKBV do chưa có công cụ thống nhất, các BCH là do nghiên cứu tự xây dựng dựa trênmột số mô hình hành vi sức khỏe, trong đó nổi bật là MH NTSK Kết quả được chiathành 3 mức độ nhận thức kém/ trung bình/ tốt tương ứng với % điểm số đạt được so với