1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả chương trình hướng dẫn kỹ thuật sử dụng bình xịt định liều cho người bệnh hen phế quản

91 39 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo sáng kiến toàn cầu về hen phế quản GINA năm 2017, 80% người bệnhhen không sử dụng thuốc hít đúng cách, khoảng 50% người bệnh kể cả người lớn vàtrẻ em không tuân thủ việc dùng thuốc

Trang 1

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN VĂN CHƯỜNG

HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH HƯỚNG DẪN

KỸ THUẬT SỬ DỤNG BÌNH XỊT ĐỊNH LIỀU

CHO NGƯỜI BỆNH HEN PHẾ QUẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

Trang 2

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN VĂN CHƯỜNG

HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH HƯỚNG DẪN

KỸ THUẬT SỬ DỤNG BÌNH XỊT ĐỊNH LIỀU CHO NGƯỜI BỆNH HEN PHẾ QUẢN

Ngành: Điều dưỡng

Mã số: 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS TS TRẦN THIỆN TRUNG

TS ANN HENDERSON

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu vàkết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trongbất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả

Nguyễn Văn Chường

Trang 4

MỤC LỤC

Mục lục i

Bảng đối chiếu thuật ngữ Việt – Anh iii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng, hình và sơ đồ v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Câu hỏi nghiên cứu 2

Mục tiêu nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về hen phế quản 3

1.2 Tổng quan về sử dụng thuốc hít trong điều trị hen phế quản 10

1.3 Các nghiên cứu liên quan 20

1.4 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 23

1.5 Ứng dụng học thuyết điều dưỡng vào nghiên cứu 23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4 Liệt kê và định nghĩa biến số nghiên cứu 26

2.5 Thu thập số liệu 29

2.6 Kiểm soát sai lệch 30

2.7 Phương pháp quản lý và phân tích số liệu 30

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 31

2.9 Tính ứng dụng của nghiên cứu 32

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đặc điểm người bệnh hen phế quản 33

3.2 Tỷ lệ người bệnh hen phế quản thực hiện đúng kỹ thuật sử dụng BXĐL trước và sau can thiệp 36

Trang 5

3.3 Mối liên quan giữa kỹ thuật sử dụng BXĐL với các đặc điểm của người bệnh

hen phế quản 38

3.4 Mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh hen phế quản theo ACT 44

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 48

4.1 Đặc điểm người bệnh hen phế quản 48

4.2 Tỷ lệ người bệnh hen phế quản thực hiện đúng kỹ thuật sử dụng BXĐL 53

4.3 Mối liên quan giữa kỹ thuật sử dụng BXĐL với các đặc điểm của người bệnh hen phế quản 57

4.4 Mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh hen phế quản theo ACT 59

4.5 Điểm mạnh và điểm yếu của nghiên cứu 61

KẾT LUẬN 63

KIẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT – ANH

in first second

Thể tích thở ra gắng sứctrong giây đầu tiên

FEV1

hen phế quản

GINA

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Bảng 1.1 Phân loại hen phế quản theo mức độ nặng nhẹ 6

Bảng 1.2 Phân loại hen theo mức độ kiểm soát hen 7

Bảng 1.3 Đánh giá việc kiểm soát triệu chứng bệnh hen 8

Bảng 1.4 Trắc nghiệm kiểm soát hen ACT ở trẻ 12 tuổi và người lớn 10

Bảng 3.1 Thông tin chung về người bệnh 33

Bảng 3.2 Thông tin về bệnh hen phế quản 35

Bảng 3.3 Tỷ lệ người bệnh hen phế quản thực hiện đúng từng bước kỹ thuật sử dụng BXĐL 36

Bảng 3.4 Tỷ lệ người bệnh hen phế quản sử dụng đúng kỹ thuật BXĐL 37

Bảng 3.5 Mối liên quan giữa độ tuổi và kỹ thuật sử dụng BXĐL 38

Bảng 3.6 Liên quan giữa giới và kỹ thuật sử dụng BXĐL 39

Bảng 3.7 Liên quan giữa trình độ học vấn và kỹ thuật sử dụng BXĐL 40

Bảng 3.8 Liên quan giữa tình trạng kinh tế và kỹ thuật sử dụng BXĐL 41

Bảng 3.9 Liên quan giữa số năm mắc bệnh HPQ và kỹ thuật sử dụng BXĐL 42

Bảng 3.10 Liên quan giữa thời gian sử dụng và kỹ thuật sử dụng BXĐL 42

Bảng 3.11 Liên quan giữa hướng dẫn trước đây và kỹ thuật sử dụng BXĐL 43

Bảng 3.12 Điểm mức độ kiểm soát cơn hen từng nội dung theo ACT 44

Bảng 3.13 Điểm trung bình giữa điểm kiểm soát cơn hen trước can thiệp và sau can thiệp 46

Bảng 3.14 Mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh hen phế quản theo ACT 46

Hình 1.1 Ba cơ chế động học liên quan đến sự lắng đọng của thuốc ở đường hô hấp 111

Sơ đồ 1.1 Ứng dụng học thuyết điều dưỡng vào nghiên cứu 24

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hen phế quản (HPQ) là một bệnh hô hấp mạn tính thường gặp và nghiêmtrọng, phổ biến trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến 1-18% dân số ở các quốc gia khácnhau [34] Theo báo cáo của Mạng lưới hen toàn cầu (GAN) năm 2016, số ngườibệnh hen trên toàn thế giới ước tính có khoảng 339 triệu người, dự báo đến năm

2025 người bệnh hen trên toàn cầu có thể tăng lên khoảng 400 triệu người [33],[34].Tuy nhiên, số người bệnh hen được chẩn đoán và điều trị đúng cách chỉ có khoảng5% [34] Năm 2015, toàn cầu có khoảng 383 nghìn người chết do bệnh HPQ [63].Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc HPQ là 4,1%, trong đó ở trẻ em là 3,2% và người lớn là4,3% [7] Bệnh HPQ gây nên một gánh nặng lớn cho người bệnh, gia đình và cộngđồng, vì gây ra các triệu chứng hô hấp, ảnh hưởng đến hoạt động, đôi khi xuất hiệncác cơn hen kịch phát cần phải chăm sóc y tế khẩn cấp và có thể gây tử vong [34].Bệnh hen có thể điều trị được một cách hiệu quả và người bệnh có thể kiểm soát tốt

kiểm soát triệu chứng của bệnh HPQ, tránh các cơn hen nặng kịch phát và cải thiện

thuốc được phân bố trực tiếp đến đường hô hấp, có tác dụng nhanh, liều lượng thấp,hạn chế tác dụng phụ toàn thân và có thể mang theo bên người [17], [51] Trong cácloại thuốc dạng hít, bình xịt định liều (BXĐL) là thiết bị được sử dụng phổ biếnnhất Tuy nhiên, các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy nhiều ngườibệnh HPQ sử dụng thuốc hít không đúng và sau các chương trình can thiệp, giáodục thì tăng đáng kể tỉ lệ người bệnh sử dụng thuốc hít đúng kĩ thuật, tuân thủ sửdụng thuốc hít trong điều trị và kiểm soát cơn hen [5], [14], [16], [42], [47], [54],[57] Theo sáng kiến toàn cầu về hen phế quản (GINA) năm 2017, 80% người bệnhhen không sử dụng thuốc hít đúng cách, khoảng 50% người bệnh kể cả người lớn vàtrẻ em không tuân thủ việc dùng thuốc được kê toa để kiểm soát cơn hen, chính điềunày đã làm cho việc kiểm soát triệu chứng kém và tăng số cơn hen kịch phát [34].Hiện nay ở Việt Nam có nhiều bệnh viện đã triển khai các mô hình tuyên truyền

Trang 10

giáo dục sức khỏe cho người bệnh hen như: Câu lạc bộ bệnh nhân hen phế quản,phòng khám và tư vấn bệnh hen… để nâng cao nhận thức, kỹ năng thực hành sửdụng thực hành thuốc đúng và hỗ trợ kiểm soát cơn hen cho người bệnh HPQ [9].Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, các mô hình tuyên truyền giáo dục sứckhỏe cho người bệnh hen cũng đã được triển khai tuy nhiên việc đánh giá hiệu quảcủa các mô hình này chưa được thực hiện đầy đủ Với mục đích đánh giá hiệu quảcông tác hướng dẫn kỹ thuật sử dụng bình xịt định liều của điều dưỡng (ĐD) nhằmnâng cao hơn nữa kỹ thuật sử dụng BXĐL trong điều trị và kiểm soát cơn hen của

người bệnh HPQ Chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Hiệu quả chương trình hướng

dẫn kỹ thuật sử dụng bình xịt định liều cho người bệnh hen phế quản”.

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Chương trình hướng dẫn kỹ thuật sử dụng BXĐL cho người bệnh HPQ cóhiệu quả như thế nào trong việc kiểm soát cơn hen?

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiệu quả chương trình hướng dẫn kỹ thuật sử dụng BXĐL thông quaviệc sử dụng BXĐL đúng kỹ thuật và mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnhHPQ trước và sau can thiệp

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về hen phế quản

1.1.1 Định nghĩa về hen phế quản

Hen phế quản là một bệnh viêm mạn tính niêm mạc phế quản, với sự tham giacủa nhiều tế bào và thành phần tế bào, làm tăng phản ứng của phế quản thườngxuyên với nhiều tác nhân kích thích, dẫn đến co thắt lan tỏa cơ trơn phế quản gâytắc nghẽn, hạn chế luồng khí đường thở, làm xuất hiện các triệu chứng như thở khòkhè, khó thở, tức ngực và ho thay đổi theo thời gian bệnh xảy ra, tần suất và cường

độ bệnh Sự co thắt phế quản không cố định, thường có thể hồi phục tự nhiên hoặcsau khi dùng thuốc giãn phế quản [1], [3], [34]

1.1.2 Nguyên nhân

Các yếu tố chủ thể của người bệnh

- Yếu tố di truyền, cơ địa dị ứng, các gen liên quan đến sự hình thành IgE, các chấttrung gian hóa học, sự gia tăng đáp ứng đường thở và yếu tố quyết định tỷ lệ giữađáp ứng miễn dịch Th1 và Th2

- Giới: Trẻ trai có nguy cơ mắc hen nhiều hơn trẻ gái, ở người lớn nữ lại mắc hennhiều hơn nam

- Béo phì, suy dinh dưỡng, đẻ non là yếu tố nguy cơ mắc hen [3]

Các yếu tố môi trường

- Dị nguyên trong nhà: mạt bụi nhà, lông thú (chó, mèo, chuột ), gián, nấm, mốc,thuốc men, hóa chất

- Dị nguyên ngoài nhà: bụi đường phố, phấn hoa, nấm mốc, các hóa chất, chất lênmen, yếu tố nhiễm trùng (chủ yếu là virus), hương khói các loại

- Nhiễm trùng: chủ yếu là nhiễm virus

- Thuốc lá: hút thuốc chủ động và bị động

- Các yếu tố nghề nghiệp: than, bụi bông, hoá chất

- Ô nhiễm môi trường không khí: khí thải của phuơng tiện giao thông, các loại khí ônhiễm, hoá chất [3]

Trang 12

Các yếu tố nguy cơ kịch phát cơn hen

- Tiếp xúc với các dị nguyên

- Thay đổi thời tiết, khí hậu, không khí lạnh

- Vận động quá sức, gắng sức

- Một số mùi vị đặc biệt, hương khói các loại (đặc biệt khói thuốc lá)

- Cảm xúc mạnh, thay đổi cảm xúc…[3]

1.1.3 Cơ chế bệnh sinh của bệnh hen phế quản

Cơ chế bệnh sinh của bệnh HPQ rất phức tạp nhưng có thể mô tả tóm tắt bằng

sự tương tác của ba quá trình bệnh lý cơ bản là: Viêm mạn tính đường thở do cơ chếmiễn dịch, tăng tính đáp ứng của phế quản và co thắt phế quản Quá trình tương tácnày có sự tác động do các yếu tố chủ thể của người bệnh và các yếu tố kích thíchdẫn đến hậu quả làm xuất hiện các triệu chứng hen và cơn hen [3]

- Viêm mạn tính đường thở là quá trình chủ yếu trong cơ chế bệnh sinh HPQ: do tácdụng của các tế bào viêm (đại thực bào, tế bào Th1, Th2, tế bào mast, eosinophil,lympho bào, tế bào biểu mô, tế bào nội mô) và các chất trung gian hóa học, chủ yếu

là các chất trung gian tiên phát (histamin, serotonin, bradykinin…), các chất trunggian thứ phát (leucotrien, prostaglandin, các nuropeptid), các cytokin (interleukin,TNFα, INFγ…) [3]

- Tăng tính đáp ứng của phế quản với các yếu tố nội sinh và ngoại lai vừa là nguyênnhân vừa là hậu quả của quá trình viêm mạn tính làm co thắt các cơ trơn gây phù nềniêm mạc và tăng xuất tiết Kết quả là xuất hiện các triệu chứng của hen như: khóthở, khò khè, nặng ngực và ho Các triệu chứng này thường xuất hiện hoặc nặng lênvào ban đêm và sáng sớm vì có liên quan đến chức năng của hệ phó giao cảm [3]

- Co thắt phế quản là cơ chế chủ yếu gây giới hạn luồng khí thở trong hen, nhưngphù nề và sung huyết đường dẫn khí và bít tắc lòng phế quản do chất xuất tiết cũng

có thể góp phần Giới hạn luồng khí thở biểu hiện bởi giảm thể tích thở ra gắng sứctrong giây đầu tiên (FEV1), giảm tỉ lệ giữa FEV1 và dung tích sống gắng sức(FVC), giảm lưu lượng thở ra đỉnh (PEF) và tăng sức cản đường thở Sự đóng sớm

Trang 13

của các phế quản nhỏ trong thì thở ra gây ứ khí phổi và tăng thể tích khí cặn, đặcbiệt là trong các đợt kịch phát và trong hen nặng [12].

1.1.4 Chẩn đoán hen phế quản

Lâm sàng

- Khó thở: cơn khó thở, khò khè xuất hiện hoặc nặng lên về đêm và sáng sớm hoặc

khi tiếp xúc với một số dị nguyên hay các yếu tố nguy cơ Khó thở chủ yếu thì thở

ra, người bệnh phải cúi người về phía trước Cơn khó thở kéo dài 5 -15 phút, có khi

khó thở sẽ giảm với thuốc giãn phế quản hay tự nhiên nếu cơn nhẹ [1]

- Ho: Triệu chứng này đôi khi nổi bật ở một số người bệnh Ho đờm vàng hay lượngđờm tăng cần lưu ý nhiễm trùng hô hấp

- Khó thở thì thở ra, nhịp thở chậm, co kéo các cơ hô hấp phụ

- Nghe phổi có ran rít, ran ngáy

Cận lâm sàng

- Đo chức năng hô hấp

giá tắc nghẽn và mức độ nặng nhẹ của cơn hen, giúp khẳng định chẩn đoán hen.+ PEF được đo nhiều lần bằng lưu lượng đỉnh kế Sau khi hít thuốc giãn phế quản,PEF tăng 60 lít/phút hoặc tăng ≥ 20% so với trước khi dùng thuốc, hoặc PEF thayđổi hàng ngày ≥ 20%, gợi ý chẩn đoán hen

khi hít thuốc giãn phế quản (nếu vẫn nghi ngờ có thể đo lại lần 2)

Trang 14

nguyên đặc hiệu [1], [3], [5].

Chẩn đoán phân biệt

Khi chẩn đoán hen, cần phân biệt với các bệnh sau [1], [3]

- Tắc nghẽn đường hô hấp trên: u chèn ép, bệnh thanh quản

- Tắc nghẽn khí quản, phế quản: khối u chèn ép, dị vật đường thở (tiếng thở rít cốđịnh, không đáp ứng với thuốc giãn phế quản)

- Giãn phế quản: thường có ho khạc đờm từ nhiều năm với những đợt đờm nhày

mủ Chụp phim phổi chuẩn hoặc chụp cắt lớp vi tính sẽ xác định bệnh

- Hen tim: suy tim trái do tăng huyết áp, bệnh van tim, bệnh cơ tim Hỏi tiền sử,khám lâm sàng, chụp X-quang tim phổi, điện tâm đồ sẽ giúp xác định chẩn đoán

- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: trên 40 tuổi, tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào, ho khạcđờm kéo dài, khó thở liên tục chức năng hô hấp có rối loạn thông khí tắc nghẽnkhông hồi phục hoàn toàn

- Trào ngược dạ dày - thực quản với ho, khó thở hay xuất hiện khi nằm, cúi người

về phía trước Soi dạ dày thực quản giúp xác định chẩn đoán

- Rò thực quản - khí quản: ho, khó thở hay xuất hiện, tăng lên khi ăn uống Soi,chụp thực quản, dạ dày có cản quang giúp xác định chẩn đoán

1.1.5 Phân loại hen phế quản

Phân loại theo mức độ nặng nhẹ [1], [3]

Bảng 1.1 Phân loại hen phế quản theo mức độ nặng nhẹ

chứng ban ngày

Triệu chứng ban đêm

Mức độ cơn hen ảnh hưởng hoạt động

PEF, FEV 1

Dao động PEF

-30%

Trang 15

60-> 30%

Bậc 4

(Nặng)

Thườngxuyên, liêntục

động thể lực

Phân loại theo mức độ kiểm soát hen [1], [3]

Để đánh giá mức độ đáp ứng với điều trị, mức độ kiểm soát hen trong lâmsàng có tính thực hành hơn, giúp cho việc chỉ định và theo dõi điều trị người bệnh

Chưa được kiểm soát

(hoặc ≤ 2 lần/ tuần)

> 2 lần/tuần

≥ 3 đặc điểmcủa hen kiểmsoát một phầntrong bất kỳtuần nào

2 Triệu chứng thức giấc

ban đêm

4 Nhu cầu dùng thuốc

cắt cơn điều trị cấp cứu

Không(hoặc ≤ 2 lần /tuần)

1.1.6 Đánh giá kiểm soát hen

Kiểm soát hen là mức độ ảnh hưởng của hen có thể quan sát thấy được trên

bệnh nhân, hoặc giảm đi, hoặc mất đi do điều trị Kiểm soát hen gồm có hai vấn đề:kiểm soát triệu chứng và các yếu tố nguy cơ làm kết quả bệnh xấu hơn [34]

Trang 16

Mức độ kiểm soát triệu chứng bệnh hen

Bảng 1.3 Đánh giá việc kiểm soát triệu chứng bệnh hen

Trong 4 tuần qua, bệnh nhân có Kiểm soát

hoàn toàn

Kiểm soát một phần

Không kiểm soát

Triệu chứng ban ngày hơn hai

lần/tuần?

Không có tiêuchuẩn nào

1-2tiêu chuẩn

3-4tiêu chuẩn

Bất kỳ đêm nào thức giấc do hen?

Cần dùng thuốc cắt cơn vì triệu

chứng hen >2 lần/tuần?

Giới hạn bất kỳ hoạt động nào do

hen?

Các yếu tố nguy cơ làm bệnh hen xấu hơn

- Đánh giá các yếu tố nguy cơ ngay lúc chẩn đoán và định kỳ, đặc biệt đối với cácbệnh nhân thường có cơn kịch phát Đo FEV1 lúc bắt đầu điều trị, sau 3-6 thángđiều trị kiểm soát để ghi lại chức năng hô hấp tốt nhất, sau đó định kỳ để liên tụcđánh giá nguy cơ

- Các yếu tố nguy cơ độc lập thay đổi được của đợt kịch phát gồm:

• Các triệu chứng hen không kiểm soát (như trên)

• Corticosteroid dạng hít không được chỉ định, kém tuân thủ corticosteroid dạng hít,

kỹ thuật hít không đúng

• Sử dụng thuốc đồng vận beta2 giãn phế quản tác dụng ngắn nhiều (tỷ lệ tử vongtăng nếu > 1x200 liều-lọ/tháng)

• FEV1 thấp, đặc biệt nếu <60% dự đoán

• Có các vấn đề nghiêm trọng về tâm lý hay đời sống – kinh tế

• Phơi nhiễm: hút thuốc lá, tiếp xúc với dị nguyên nếu nhạy cảm

• Bệnh đi kèm: béo phì, viêm mũi xoang, dị ứng thức ăn đã xác định

• Tăng bạch cầu ái toan trong đờm và máu

• Mang thai

• Đã được đặt nội khí quản hoặc hồi sức tích cực vì hen

Trang 17

• Có 1 hoặc nhiều đợt kịch phát nặng trong 12 tháng qua.

 Có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ đợt kịch phát ngay cảkhi các triệu chứng được kiểm soát tốt

- Yếu tố nguy cơ hình thành giới hạn luồng khí cố định bao gồm thiếu điều trị bằngcorticosteroid dạng hít; tiếp xúc với khói thuốc lá, hóa chất độc hại, phơi nhiễmnghề nghiệp; FEV1 thấp; tăng tiết nhầy mạn tính; tăng bạch cầu ái toan trong đờmhoặc trong máu

- Yếu tố nguy cơ do tác dụng phụ của thuốc gồm:

• Toàn thân: thường xuyên dùng corticosteroid uống; corticosteroid dạng hít liềucao và/hoặc mạnh trong một thời gian dài; dùng kèm thuốc ức chế P450

• Tại chỗ: corticosteroid dạng hít liều cao và/hoặc mạnh; kỹ thuật hít kém

Test kiểm soát hen ACT

- Test kiểm soát hen (ACT) là một bảng câu hỏi đơn giản, dễ áp dụng và hiệu quả,không cần sử dụng thông số chức năng hô hấp, được áp dụng phổ biến ở nhiều nướctrên thế giới Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy test kiểm soát hen ACT là mộtcông cụ đáng tin cậy để đo lường mức độ kiểm soát hen suyễn, phù hợp với mức độtăng đáp ứng phế quản của người bệnh và cũng phù hợp với xét nghiệm đánh giáchức năng thông khí phổi [35], [40], [50] Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng chothấy test kiểm soát hen ACT phiên bản tiếng Việt rất hữu ích trong việc xác địnhngười bệnh ngoại trú mắc bệnh hen suyễn không kiểm soát được hoặc được kiểm soátmột phần do GINA xác định, người bệnh có thể đánh giá mức độ kiểm soát hen ngay

tại nhà khá chính xác, khách quan và không cần đo chức năng hô hấp [9], [10], [53].

- Bảng trắc nghiệm ACT gồm 5 câu hỏi, mỗi câu hỏi có 5 câu trả lời được đánh số

từ 1-5, tương ứng với số điểm Người bệnh tự trả lời bằng cách khoanh tròn vào con

số của mỗi câu hỏi Sau đó cộng điểm của 5 câu hỏi, sẽ được điểm kiểm soát hencủa người bệnh [10]

- Đánh giá mức độ kiểm soát cơn hen dựa vào test ACT:

+ 25 điểm: Hen được kiểm soát hoàn toàn

+ 20-24 điểm: Hen được kiểm soát tốt

Trang 18

+ <20 điểm: Hen chưa được kiểm soát.

Bảng 1.4 Trắc nghiệm kiểm soát hen ACT ở trẻ 12 tuổi và người lớn [3]

1.2 Tổng quan về sử dụng thuốc hít trong điều trị hen phế quản

1.2.1 Vai trò của các thuốc hít trong điều trị hen phế quản

HPQ là bệnh mạn tính, người bệnh phải dùng thuốc điều trị lâu dài nên cácthuốc dạng hít được khuyến cáo nhiều hơn các thuốc dạng uống do hiệu quả cao và

có nhiều ưu điểm hơn thuốc uống như: thuốc được đưa trực tiếp tới niêm mạc phếquản với liều lượng thấp, thuốc có tác dụng nhanh và giảm tối thiểu các tác dụngphụ toàn thân của thuốc [6], [13], [17], [51] Các thuốc đồng vận beta2 giãn phếquản tác dụng ngắn được sử dụng nhiều nhất ở dạng hít giúp giảm co thắt phế quảncấp và ngừa co thắt phế quản do gắng sức Thuốc corticoid dạng hít không hiệu quảtrong cơn cấp, nhưng được chỉ định cho kiểm soát lâu dài, giúp cải thiện chức năngphổi, giảm nhu cầu corticoid uống [3], [8] Hiệu quả điều trị của thuốc dạng hítkhông chỉ phụ thuộc vào chất lượng của thuốc mà còn phụ thuộc rất lớn vào kỹthuật hít và sử dụng dụng cụ hít của người bệnh [17] Thực tế trên lâm sàng hiệnnay, lựa chọn các dụng cụ hít chủ yếu dựa vào tính chất dược lý của thuốc chứ chưa

Trang 19

có sự cân nhắc đến tính năng của các dụng cụ hít và khả năng thực hành dụng cụ hítcủa người bệnh [60] Vì vậy, hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc dạng hít đúng kỹthuật là một vấn đề quan trọng góp phần thành công trong điều trị và kiểm soát cơnhen.

1.2.2 Nguyên lý lắng đọng thuốc ở đường hô hấp

Để có thể hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc hít đúng kỹ thuật, nhân viên y

tế cần phải biết các nguyên lý cơ bản của sự lắng đọng thuốc ở đường hô hấp khi sửdụng thuốc dạng hít Sự lắng đọng thuốc ở đường hô hấp sẽ phụ thuộc 3 yếu tố làcông thức hoá học của thuốc, đặc tính kỹ thuật của dụng cụ và kỹ thuật hít của bệnhnhân Về nguyên lý, thuốc sử dụng qua đường hít sẽ bám vào niêm mạc đường hôhấp theo 3 cơ chế chính: va chạm do lực quán tính, lắng tụ do trọng lực và va chạm

Trang 20

đường hô hấp theo cách này và phần lớn thuốc bị bám dính ở chỗ chuyển hướngđầu tiên là vùng hầu họng Các hạt thuốc có kích thước nhỏ hơn hay tốc độ dichuyển chậm hơn sẽ có lực quán tính thấp do đó dễ dàng chuyển hướng khi cần và

có khả năng đi sâu vào các đường dẫn khí nhỏ hơn ở ngoại biên Tuy nhiên, khicàng vào sâu, tốc độ của hạt thuốc càng giảm cho đến khi gia tốc của hạt thuốckhông thắng nổi trọng lực thì hạt thuốc sẽ bị rớt xuống do trọng lực khoảng 9%thuốc lắng đọng ở niêm mạc đường hô hấp theo cơ chế này và xảy ra trong giaiđoạn người bệnh hít vào chậm hay nín thở Còn lại các hạt thuốc do kích thước quánhỏ nên có trọng lượng thấp sẽ di chuyển sâu vào các phế quản tận hay phế nang vàchuyển động hỗn loạn trong đó theo chuyển động Brown Tại đây, một số hạt thuốc

sẽ dính vào niêm mạc đường hô hấp do va chạm (1% lượng thuốc lắng đọng theo cơ

với các hạt thuốc có kích thước trong khoảng 1–10µm thì chỉ có 2 cơ chế là quántính và trọng lực Cơ chế thứ 3, chuyển động Brown, chỉ áp dụng cho các hạt cókích thước <1µm đo đó không có vai trò nhiều trong cơ chế lắng đọng thuốc đườnghít Khi hít đúng kỹ thuật chỉ có 10 - 40% thuốc đi được vào nơi có thể tạo ra hiệuquả điều trị (niêm mạc phế quản và phế nang) còn 60-90% thuốc sẽ đính vào vùnghầu họng sau đó được nuốt vào đường tiêu hoá và chỉ gây tác dụng phụ mà không

có tác dụng chính Để lượng thuốc đi vào đường hô hấp tối đa và có thể tạo ra hiệuquả điều trị tối ưu, các yếu tố như kích thước hạt thuốc, lực hít (lưu lượng hít) hay

kỹ thuật hít của người bệnh và kháng trở của dụng cụ hít cần phải được xem xét

Lắng đọng thuốc phụ thuộc vào kích thước hạt thuốc

- Các hạt có kích thước <1µm có khả năng đi sâu vào đường dẫn khí ngoại biên hayphế nang hoặc bị thở ra ngoài ở thì thở ra, những hạt có kích thước 1–5 µm sẽ lắngđọng ở đường dẫn khí lớn hay ở các phế quản dẫn còn các hạt có kích thước >5 µm

có xu hướng lắng đọng ở vùng hầu họng Do vậy một dụng cụ hít được cho là tốtkhi tạo ra phần lớn các hạt thuốc có kích thước nhỏ (1-5 µm) vì các hạt thuốc này sẽ

có cơ hội đi vào những vùng chứa các thụ thể tiếp nhận thuốc [17]

Trang 21

Lắng đọng thuốc dựa vào lưu lượng hít vào của bệnh nhân

- Lưu lượng hít vào hay lực hít vào đóng vai trò rất quan trọng trong việc đưa thuốcvào đường hô hấp Về nguyên tắc, các dụng cụ hít hay phun thuốc thì người bệnhcần hít vào chậm và sâu với lưu lượng khoảng 30 lít/phút còn đối với các dụng cụkhông tự đưa thuốc ra khỏi dụng cụ như dạng bình hít bột khô thì người bệnh cầnhít vào mạnh và sâu ngay từ đầu với lưu lượng 30-90 lít/phút

- Lưu lượng hít vào 30 lít/phút có thể thực hiện được khi người bệnh hít vào chậmtrong thời gian 4-5 giây ở người lớn Sở dĩ có được sự tương đồng giữa lưu lượng

và thời gian như vậy vì sau khi thở ra hết sức (làm trống phổi) rồi hít vào hết sứcngười bệnh sẽ huy động được một thể tích khí gọi là dung tích sống Dung tích này

ở người lớn trung bình là 2,5 lít Với tốc độ hít chậm 30 lít/phút hay 0,5 lít/giây thìtrong 5 giây người hít sẽ hít khí đầy phổi (2,5 lít) Đối với dụng cụ bình xịt địnhliều, nếu hít vào nhanh sẽ làm tăng lực quán tính của hạt thuốc nên làm tăng nguy

cơ lắng đọng thuốc ở vùng hầu họng và giảm cơ hội thuốc đi sâu vào đường dẫn khíngoại biên Do vậy, với bình xịt định liều, cần hít thuốc chậm để giảm tác dụng phụ

ở vùng hầu họng và tăng lượng thuốc vào phổi Sự lắng đọng thuốc sẽ tăng hơn nữakhi người bệnh nín thở khoảng 10 giây sau khi đã hít vào tối đa Với dụng cụ hítdạng bột khô, do thuốc không tự ra khỏi bình thuốc nên người bệnh cần hít mạnh đểlấy thuốc ra khỏi bình Ngoài ra, sự phối hợp giữa lực hít của người bệnh và khánglực của dụng cụ hít sẽ tạo ra một năng lượng xoáy bên trong dụng cụ Năng lượngnày sẽ giúp tách hạt thuốc ra khỏi chất chuyên chở và góp phần tạo ra kích thướchạt thuốc Do vậy, lực hít của người bệnh qua dụng cụ hít bột khô sẽ quyết địnhhiệu quả của điều trị Nếu người bệnh không có khả năng tạo ra năng lượng xoáynày thì chất lượng hạt thuốc không đạt và khả năng thuốc lắng đọng ở phổi là rấtthấp Tóm lại, lưu lượng hít vào của người bệnh sẽ quyết định đáng kể đến vị trílắng đọng thuốc ở đường hô hấp Để tối đa hoá sự lắng đọng này ở phổi, cần hítchậm và sâu khi dùng các loại thuốc phun/xịt và hít nhanh sâu khi dùng các loạithuốc hít bột khô [17]

Trang 22

Lắng đọng thuốc phụ thuộc vào kháng lực của dụng cụ hít

- Mỗi dụng cụ hít đều có kháng lực và kháng lực góp phần tạo ra chất lượng hạtthuốc ở bình hít bột khô Kháng lực đó theo thứ tự từ thấp lên cao là bình xịt địnhliều, accuhaler, turbohaler và handihaler Với dụng cụ có kháng lực càng cao thì đòihỏi người dùng phải hít càng mạnh để đem thuốc vào đường hô hấp Nếu sử dụngcùng một lực hít thì với dụng cụ có kháng lực thấp hơn sẽ tạo ra lưu lượng hít vàocao hơn Do vậy, khi sử dụng bình xịt định liều người bệnh cần giảm tốc độ hít (hítchậm 4-5 giây) để lưu lượng hít vào qua dụng cụ này không quá cao làm tăng lựcquán tính của hạt thuốc và đưa đến tăng tác dụng phụ tại vùng hầu họng, giảm tácdụng chính ở đường hô hấp Tuy nhiên đây lại là một trong những sai sót rất haygặp khi sử dụng loại dụng cụ này

- Bình hít bột khô có kháng trở cao hơn nên người bệnh cần phải có một lực hít đủmạnh để có thể lấy thuốc ra khỏi dụng cụ và đồng thời tạo ra lưu lượng hít vào vừa

đủ để đưa thuốc vào phổi Khả năng tạo ra lưu lượng phù hợp khi dùng những dụng

cụ này có thể khó khăn đối với một số người bệnh như trẻ em quá nhỏ hay ngườilớn tuổi [17]

1.2.3 Một số thuốc hít thường được sử dụng trong điều trị hen phế quản

Trong điều trị hen phế quản, các loại thuốc trong ống hít có thể chia thành cácnhóm: thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn, thuốc giãn phế quản tác dụng dài vàcorticoid Ngoài ra còn có sự kết hợp thuốc hít chứa 2 loại thuốc Hiện nay, cácdụng cụ hít đang được sử dụng là bình xịt định liều (BXĐL), bình hít bột khô vàmáy phun khí dung [13], [17] Trong đó, BXĐL là dụng cụ hít được sử dụng phổbiến nhất ở bệnh nhân điều trị ngoại trú

Bình xịt định liều

- Là thiết bị phun hít cầm tay dùng lực đẩy để phân bố thuốc BXĐL có ống kimloại có áp lực chứa thuốc dạng bột hoặc dung dịch, chất surfactant, propellant, vanđịnh liều Ống kim loại này được bọc bên ngoài bằng ống nhựa, có ống ngậm

- Ưu điểm: Rẻ tiền, cung cấp nhiều loại thuốc khác nhau, phân bố đa liều, ít nguy cơnhiễm khuẩn, dễ mang theo

Trang 23

- Nhược điểm: Cần sự khởi động chính xác và phối hợp tốt giữa động tác xịt thuốc

với hít vào, kỹ thuật hít cần phải chậm và sâu, hiệu ứng gây lạnh - “Cold-Freon” do

thuốc tác động trực tiếp vào thành sau họng và thuốc có thể đọng lại ở miệng, họngsau xịt [2], [17], [26]

- Để khắc phục nhược điểm của BXĐL, một dụng cụ hỗ trợ được dùng kèm làbuồng đệm, có tác dụng giúp người bệnh có thể hít thuốc vào phổi nhiều hơn, ítlắng đọng ở vùng hầu họng hơn mà không cần phải phối hợp chặt chẽ động tác xịtthuốc và hít vào Sử dụng buồng đệm đã được chứng minh cải thiện hiệu quả kỹthuật hít ở người bệnh dùng BXĐL đặc biệt là đối với những người bệnh sử dụngBXĐL khó khăn [43], [52] Đồng thời, hiện nay các BXĐL được thiết kế với chấtđẩy hydrofluoralkane (HFA) có tia xịt yếu hơn, hạt thuốc mịn hơn và ấm hơn nêncũng giảm đáng kể hiệu ứng gây lạnh - “Cold-Freon” [17]

- Kỹ thuật sử dụng BXĐL như sau [2]:

+ Ấn bình xịt 1 lần để phóng thích thuốc đồng thời hít vào chậm qua miệng

+ Bỏ bình hít ra, tiếp tục giữ nhịp thở, đếm chậm đến 10 để thuốc vào sâu trongphổi

Trang 24

- Ưu điểm: Không cần sự phối hợp động tác xịt thuốc và hít vào, không cần giữ

nhịp thở sau khi hít, không chứa lực đẩy nên không bị hiệu ứng gây lạnh

“Cold-Freon”, dễ mang theo

- Nhược điểm: Đòi hỏi lưu lượng thở thích hợp để phân bố thuốc, thuốc có thể lắngđọng ở vùng hầu họng và độ ẩm làm thuốc vón cục ảnh hưởng đến phân bố thuốc [2]

Các dạng bình hít bột khô [2]

- Diskus/Accuhaler: ống chứa 1 cuộn, dải lá kép có 60 nang, mỗi nang chứa 1 liều

thuốc bột Liều thuốc thay đổi từ 50-500 mcg tùy thuộc mỗi sản phẩm Khi sử dụng,mỗi nang sẽ dịch chuyển vào vị trí và lớp vỏ được xé ra bằng vòng cuộn, khí hít vào

đi qua nang đã bị chọc thủng giúp phân bố thuốc Kỹ thuật sử dụng như sau:

+ Mở dụng cụ, lên nòng đến khi nghe tiếng click

+ Thở ra hết

+ Ngậm kín miệng quanh ống ngậm

+ Giữ Diskus ở tư thế ngang khi hít

+ Hít vào sâu và đều

+ Đưa dụng cụ ra khỏi miệng, giữ nhịp thở trong 10 giây sau đó thở ra

- Aerolizer: nang thuốc đặt vào bên trong dụng cụ, khi ấn nhả nút bên cạnh sẽ chọc

thủng nang và thuốc sẽ phân tán vào dòng khí khi bệnh nhân hít nhanh và sâu quaống ngậm Kỹ thuật sử dụng như sau:

+ Mở nắp và giữ dụng cụ ở tư thế thẳng

+ Xoay ống ngậm ngược chiều kim đồng hồ

+ Đặt nang thuốc vào lỗ ở đáy dụng cụ

+ Xoay phần đáy theo chiều kim đồng hồ để đóng lại

+ Ấn, nhả cả hai nút để chọc thủng nang

+ Giữ dụng cụ ở tư thế ngang và hít sâu

+ Bỏ dụng cụ ra khỏi miệng, giữ nhịp thở trong 10 giây

+ Thở ra

+ Mở dụng cụ và kiểm tra nang thuốc, nếu còn bột thuốc lặp lại các bước trên.+ Lấy vỏ nang thuốc và đóng ống ngậm

Trang 25

- HandiHaler: dụng cụ hít để phân bố tiotropium bromid dạng bột khô, nang thuốc

đặt ở giữa buồng của dụng cụ, khi ấn nhả nút xanh, nang thuốc bị chọc thủng, khihít vào dòng khí phân bố thuốc qua ống ngậm Kỹ thuật sử dụng như sau:

+ Lấy nang thuốc ra khỏi vỉ (ngay trước khi sử dụng)

+ Đặt nang thuốc vào giữa buồng

+ Đóng ống ngậm chặt đến khi nghe tiếng click

+ Giữ dụng cụ tư thế thẳng, ấn mạnh nút chọc và bỏ tay

+ Giữ dụng cụ ở tư thế ngang, thở ra hết, sau đó hít sâu Trong khi hít sẽ nghe hoặccảm nhận thấy nang thuốc rung nhẹ Bỏ dụng cụ ra khỏi miệng

+ Nín thở trong 10 giây hoặc đến khi muốn thở ra

+ Thở ra chậm cho đến hết rồi hít thêm một lần nữa

+ Sau khi sử dụng, mở ống ngậm, lấy vỏ nang ra

+ Đóng ống ngậm và nắp đậy để bảo quản

- Turbuhaler: ống hít có bộ đếm liều hiển thị chính xác lượng thuốc còn lại Nếu

không có bộ đếm liều, kiểm tra chỉ thị đỏ ở cửa sổ bên của thiết bị, khi thấy vạch đỏ

là còn khoảng 20 liều Kỹ thuật sử dụng như sau:

+ Giữ Turbuhaler ở vị trí thẳng đứng, vặn và mở nắp đậy ống thuốc

+ Vặn phần đế qua bên trái hết mức, sau đó vặn ngược lại đến khi nghe tiếng click.+ Thở ra hết

+ Ngậm kín ống thuốc, hít vào bằng miệng mạnh, sâu đến khi không hít thêm được nữa.+ Lấy ống thuốc ra, ngậm miệng lại, giữ nhịp thở trong 10 giây sau đó thở ra (nếucần hít lần nữa thì làm lại các bước trên)

+ Đậy nắp ống thuốc lại, súc miệng thật kỹ sau hít thuốc bằng nước để tránh nhữngtác dụng phụ của thuốc có thể gây ra tại họng

Khí dung

- Là thiết bị chuyển dung dịch thuốc thành dạng phun sương để tối ưu hóa sự lắngđọng thuốc ở đường hô hấp dưới Các thuốc có thể sử dụng dưới dạng khí dung baogồm corticosteroid, thuốc giãn phế quản, thuốc kháng cholinergic, kháng sinh,thuốc làm loãng đờm

Trang 26

- Ưu điểm: sử dụng cho bệnh nhân yếu hoặc không thể sử dụng thuốc dạng xịt, hít;

có thể không cần bệnh nhân phối hợp, cho phép dùng liều thuốc lớn hơn

- Nhược điểm: thời gian cài đặt và sử dụng lâu, giá thành cao hơn, cồng kềnh

- Kỹ thuật sử dụng như sau: [2]

+ Đặt máy khí dung lên bề mặt phẳng

+ Lắp các bộ phận của máy và cắm nguồn điện

+ Rửa tay

+ Dùng ống nhỏ giọt hoặc ống tiêm sạch để lấy một lượng nước muối sinh lý 0,9%(theo liều lượng đã được bác sĩ quy định) cho vào cốc đựng thuốc (nếu dùng loạithuốc đã pha sẵn thì không cần dùng nước muối)

+ Dùng ống nhỏ giọt hoặc ống tiêm sạch để lấy một lượng thuốc (theo liều lượng đãđược bác sĩ quy định) cho vào cốc đựng thuốc cùng với nước muối Có thể dùngloại đã phân sẵn từng liều nhỏ trong ống nhựa Đóng nắp

+ Gắn phần đầu của ống đựng thuốc với ống ngậm hoặc chụp mũi - miệng

+ Gắn phần cuối của ống đựng thuốc với ống nối phần nén khí

+ Đặt chụp mũi - miệng lên mặt và chỉnh dây cho mặt nạ áp sát vừa khít (hoặc đưaống ngậm vào miệng)

+ Bật máy và kiểm tra xem thuốc có được phun ra không

+ Thở chậm và sâu bằng miệng (hít vào sâu, ngừng lại 1-2 giây rồi thở ra) cho đếnkhi hết thuốc trong cốc đựng, khoảng 10-20 phút

+ Trong khi khí dung định kỳ theo dõi đáp ứng của bệnh nhân để kịp thời phát hiệncác bất thường

+ Dừng máy ngay khi không thấy khí phun ra

1.2.4 Thực trạng sử dụng bình xịt định liều trong điều trị hen phế quản

Bình xịt định liều là dụng cụ hít được sử dụng phổ biến nhất ở người bệnhHPQ vì rẻ tiền, thuận tiện và có thể cung cấp nhiều loại thuốc điều trị hen khác nhau[17] Mặc dù BXĐL được sử dụng rộng rãi nhưng có rất nhiều người bệnh sử dụngkhông đúng kỹ thuật thậm chí khi người bệnh đã được hướng dẫn cụ thể [17], [42],[46], [54] Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy hơn 60% người bệnh HPQ sử dụng

Trang 27

BXĐL không đúng kỹ thuật sau khi được hướng dẫn [18], [25], [46], [55] Nhiềunghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn khi người bệnh sử dụng BXĐL bao gồmthở ra hết sức, sự phối hợp giữa động tác xịt thuốc với hít vào, kỹ thuật hít chậm vàsâu [17], [27], [43], [44] Nghiên cứu của Bonds và cộng sự (2015) [25] cho thấychỉ có 7% người bệnh sử dụng BXĐL thực hiện kỹ thuật hoàn hảo, trong số nhữngngười thực hiện không đúng kỹ thuật thì có 63% thực hiện sai 3 bước trở lên vàbước thường sai nhiều nhất là không thở ra hết sức chiếm 66%, bước sai ít nhất làkhông đặt ống ngậm vào miệng và ngậm kín Nghiên cứu của Arora và cộng sự(2014) [20], kết quả cho thấy người bệnh sử dụng BXĐL có tỷ lệ mắc lỗi cao nhấtchiếm 94,3%, sử dụng BXĐL kèm buồng đệm tỷ lệ sai chiếm 78% và lỗi thườnggặp là: không thở ra hết sức chiếm 40%, không nín thở chiếm 45,7% và không lắcBXĐL chiếm 37,1% Theo nghiên cứu của Levy và cộng sự (2013) [46], có 58%người bệnh HPQ không sử dụng đúng BXĐL ở lần kiểm tra đầu tiên và ngườibệnh thực hiện sai chủ yếu ba bước: không thở ra hết sức, phối hợp giữa động tácxịt thuốc với hít vào và giữ nhịp thở Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả NgôThanh Trúc (2014) [16], tỷ lệ người bệnh HPQ thực hành sử dụng BXĐLkhông đúng 6 bước theo bảng kiểm là 63,8% và 3 bước thực hành có tỷ lệ đúngthấp nhất là: “thở ra chậm” chiếm 56,3%, “hít vào chậm đồng thời ấn bình và tiếptục hít vào thật sâu” chiếm 56,5%, “nín thở 10 giây” chiếm 58,3% Nghiên cứu củaNguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2017) [6], đã cho thấy tỷ lệ người bệnh sử dụngBXĐL sai hoặc bỏ qua từ 2 bước trở lên khoảng 52%, tỷ lệ sai hoặc bỏ qua bướcthở ra hết sức là 51,9% và xịt thuốc đồng thời hít vào qua miệng chậm và sâu là54,5% Nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Thúy (2018) [15], cho thấy tỷ lệ ngườibệnh thực hành đúng kỹ thuật BXĐL trước can thiệp là 32,4% và sau can thiệp tănglên 82,4% Như vậy, các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy có một tỷ lệ lớnngười bệnh HPQ sử dụng BXĐL chưa đúng kỹ thuật kể cả sau các chương trìnhgiáo dục sức khỏe.

Nhiều nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng và hiệu quả của việc giáodục thường xuyên về kỹ thuật hít, duy trì kỹ thuật theo thời gian cho người bệnh

Trang 28

[22], [52], [54] Có đến 50% người bệnh được dạy cách sử dụng BXĐL đúng cáchnhưng sau đó gặp khó khăn trong việc duy trì kỹ thuật đúng [22] Nghiên cứu cũngcho thấy sử dụng BXĐL không đúng cách có thể dẫn đến kiểm soát henkém, tăng chi phí, tăng nguy cơ nhập viện và sử dụng thuốc corticoid toàn thân[18], [23], [31], [43] Người bệnh sử dụng BXĐL không đúng kỹ thuật sẽ kiểmsoát hen kém hơn so với người sử dụng BXĐL chính xác hoặc sử dụng BXĐL kếthợp với buồng đệm [43] Nghiên cứu của Al-Kalaldeh và cộng sự (2016) [18], kếtquả chỉ ra rằng 93% bệnh nhân kiểm soát hen tốt thì sử dụng BXĐL đúng kỹthuật và 85% bệnh nhân kiểm soát hen kém thì sử dụng BXĐL không đúng kỹthuật Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy một tỷ lệ lớn người bệnh sử dụng BXĐLkhông đúng kỹ thuật có liên quan đến các yếu tố như độ tuổi, giới tính, trình độ họcvấn và nghề nghiệp [28], [52], [54].

1.3 Các nghiên cứu liên quan

1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của các nước trên thế giới về đánh giá tác động các can thiệp cảithiện kỹ thuật sử dụng thuốc hít đến kết quả điều trị và kiểm soát cơn hen của ngườibệnh hen đã cho thấy tỷ lệ cao người bệnh sử dụng thuốc hít không đúng kỹ thuật,sau các can thiệp tỷ lệ người bệnh sử dụng thuốc hít đúng kỹ thuật tăng đáng kể vàgóp phần vào điều trị và kiểm soát cơn hen [18], [52], [54] Nghiên cứu của Lee JK,Yang YH (2010) [45] “Đánh giá chương trình giáo dục cho bệnh nhân hen phế quản

sử dụng thuốc hít” đã đưa ra kết quả: Nhóm can thiệp có số lượng kiến thức

về thuốc hít và kỹ thuật hít cao hơn đáng kể so với nhóm chứng Từ đó, tác giả đưa

ra khuyến nghị rằng chương trình giáo dục cần được sử dụng trong thực hành lâmsàng như một sự can thiệp điều dưỡng hiệu quả cho người bệnh HPQ Theo nghiêncứu “Ảnh hưởng sự can thiệp của dược sĩ đối với việc kiểm soát hen suyễn: Một thửnghiệm ngẫu nhiên cụm” của Garcia-Cardenas và các cộng sự (2013) [31], kết quảchỉ ra rằng: Sự can thiệp giúp người bệnh HPQ cải thiện sự tuân thủ thuốc khoảng40,3%, kỹ thuật hít là 56,2% ở nhóm can thiệp và sự can thiệp góp phần tăngcường kiểm soát cơn hen Trong khi đó, không có thay đổi đáng kể nào đối với

Trang 29

nhóm chứng Nghiên cứu ảnh hưởng của giáo dục kỹ thuật sử dụng thuốc hít vàoviệc cải thiện kỹ thuật hít ở những người > 55 tuổi mắc bệnh HPQ của Crane vàcộng sự (2014) [28], đã chứng minh rằng kỹ thuật hít của người bệnh kém Trướckhi giáo dục, tỷ lệ người bệnh ở nhóm can thiệp hít đúng kỹ thuật là 21% và ở nhómchứng là 16% Ba tháng sau chương trình giáo dục, tỷ lệ người bệnh ở nhóm canthiệp sử dụng đúng kỹ thuật là 48% Vì vậy, việc giáo dục kỹ thuật sử dụngthuốc hít giúp cải thiện kỹ thuật hít đúng ở bệnh nhân lớn tuổi Nghiên cứu củaBaddar và cộng sự (2014) [23] về “Kiểm soát cơn hen: tầm quan trọng của việc tuânthủ và đánh giá kỹ thuật ống hít” nhằm đánh giá mối quan hệ giữa sự tuân thủ sửdụng thuốc, kỹ thuật hít và mức độ kiểm soát hen Kết quả cho thấy, những ngườibệnh tuân thủ sử dụng thuốc và có kỹ thuật hít tốt thì kiểm soát cơn hen tốt hơn Theonghiên cứu của Mac Hale (2014) [47] “Một nghiên cứu can thiệp do điều dưỡngtrưởng: Thúc đẩy việc tuân thủ việc sử dụng ống hít Diskus ở bệnh nhân hen phếquản” đã đưa ra kết quả: Kỹ thuật, sự tuân thủ và mức độ tin cậy của người bệnhđược cải thiện do điều dưỡng giáo dục lặp đi lặp lại trong ba lần thăm khám; và hiệuquả của chương trình được duy trì đến 6 tháng sau khi hoàn thành chương trình giáodục Nghiên cứu của Yildiz (2014) [64] đánh giá kỹ thuật sử dụng thuốc hít và vai tròcủa giáo dục liên quan đến kiểm soát hen ở người bệnh hen suyễn đã kết luận: Theodõi, kiểm tra lại kỹ thuật sử dụng thuốc hít của người bệnh và sửa chữa lỗi sai củanhân viên y tế có liên quan đến giảm tỷ lệ người bệnh sử dụng thuốc hít không đúng

bình xịt định liều và đáp ứng sau chương trình giáo dục” của Jolly và các cộng sự(2015) [39] đã đưa ra kết luận rằng: Kỹ thuật sử dụng ống hít của người bệnh đượccải thiện sau chương trình can thiệp giáo dục có hệ thống Phương pháp thực hành kỹthuật minh họa tất cả các bước chứng minh hiệu quả hơn hướng dẫn bằng văn bảnđơn giản Nghiên cứu của Al-Kalaldeh và các cộng sự (2016) [18] về “Hiệu quả giáodục thuốc hít của điều dưỡng về kỹ thuật hít và sự tuân thủ ở những bệnh nhân mắcbệnh phổi tắc nghẽn”, đã kết luận: Chương trình giáo dục kỹ thuật hít được thực hiệnbởi điều dưỡng giúp cải thiện đáng kể sự tuân thủ và thực hiện thành thạo thuốc hít

Trang 30

của người bệnh; đánh giá kỹ thuật hít đúng là rất quan trọng để điều dưỡng giáo dụcnâng cao kỹ năng sử dụng thuốc hít cho người bệnh.

1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cũng chỉ ra rằng tỷ lệ người bệnh HPQ có kỹthuật sử dụng thuốc hít sử dụng thuốc còn rất hạn chế Theo nghiên cứu của tác giảNguyễn Ngọc Thụy và Nguyễn Thị Tố Như (2003) [14] về “Khảo sát cách sử dụngống phun khí dung định liều của các bệnh nhân hen phế quản và bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính” Kết quả cho thấy, trước khi hướng dẫn chỉ có 28,6% người bệnhthực hiên kỹ thuật đạt yêu cầu và chỉ có 6% người bệnh thực hiện kỹ thuật đạt tối

ưu Sau khi giáo dục, tỷ lệ người bệnh đạt kỹ thuật tối ưu là 60%, có kỹ thuật đạtyêu cầu là 82,5% và tỷ lệ người bệnh thực hiện sai tất cả các bước kỹ thuật sử dụngBXĐL giảm rất đáng kể Nghiên cứu của tác giả Ngô Thanh Trúc và các cộng sự(2014) [16] về “Nghiên cứu điều dưỡng về kiến thức, thái độ và chăm sóc tại nhàcủa người lớn mắc bệnh hen” Kết quả chỉ ra rằng: tỷ lệ người bệnh thực hành

sử dụng BXĐL đúng 6 bước theo bảng kiểm trong nghiên cứu chiếm 31,7% Theotác giả Phan Thu Phương và Trịnh Thị Ngọc (2015) [11] về nghiên cứu “Kiến thức,thái độ, thực hành về bệnh hen phế quản của bệnh nhân mắc hen phế quản” Kết quảcho thấy 38,5% người bệnh thực hành sử dụng thuốc đúng trước hướng dẫn và 65%người bệnh thực hành đúng sau hướng dẫn, trong đó thực hành sử dụng BXĐLđúng là 24% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2017) [6] về

“Phân tích sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị và kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít trênbệnh nhân tại khoa phục hồi chức năng hô hấp - phòng CMU tại bệnh viện phổi BắcGiang”, đã cho thấy hơn 70% người bệnh sử dụng BXĐL không đúng kỹ thuật.Nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Thúy (2018) [15] về “Hiệu quả giáo dục sức khỏecủa điều dưỡng nâng cao kiến thức về bệnh và thực hành sử dụng dụng cụ hít ởngười lớn mắc bệnh hen” đã kết luận: sau can thiệp tỷ lệ người bệnh thực hành đúng

kỹ thuật BXĐL đã tăng từ 32,4% lên 82,4% và sự cải thiện có ý nghĩa thống kê; yếu

tố giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn tác động đến hiệu quả can thiệp trong việctiếp nhận thực hành sử dụng dung cụ hít của người bệnh

Trang 31

1.4 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu

Được thành lập trên cơ sở tiền thân là Trung tâm Y tế toàn khoa Nha Trang,vào ngày 02/04/1975 (sau khi quân giải phóng tiếp quản) Hiện nay bệnh viện Đakhoa tỉnh Khánh Hòa đang được tiếp tục nâng cấp lên thành bệnh viện Đa khoa Khuvực Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ với quy mô 1.000 giường bệnh trực thuộc Sở

Y tế tỉnh Khánh Hòa Qua quá trình phát triển, bệnh viện hiện tại có 38 khoa phònggồm: 9 phòng chức năng, 21 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng; tổng nhân lực hiện

có 1208 công nhân viên chức - lao động và 1 Trung tâm dịch vụ Y tế Bệnh viện Đakhoa tỉnh Khánh Hòa đã có nhiều đóng góp trong công tác chăm sóc sức khỏe nhândân, đồng thời không ngừng phát triển về chuyên môn cũng như mở rộng cơ sở hạtầng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu khám và chữa bệnh của nhân dân trong tỉnh và khuvực lân cận, cũng như bạn bè quốc tế tới du lịch hay sống và làm việc tại tỉnh KhánhHòa Hiện tại, bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đang quản lý, thăm khám và điềutrị hơn 260 người bệnh HPQ, đây là điểm thuận lợi cho chúng tôi tiến hành can thiệp

và đánh giá kỹ thuật sử dụng BXĐL, mức độ kiểm soát hen của người bệnh

1.5 Ứng dụng học thuyết điều dưỡng vào nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã chọn mô hình nâng cao sức khỏetheo học thuyết Pender Mô hình nâng cao sức khỏe là một học thuyết được xây dựng

việc ứng dụng mô hình này là nhằm tìm ra đặc tính riêng biệt của từng cá nhân và kinhnghiệm riêng biệt Chính những đặc tính và kinh nghiệm này chi phối các hoạt độngcủa cá nhân, thúc đẩy hoặc gây cản trở đối với các hành vi và lối sống của mỗi người.Trong nghiên cứu này, hành vi nâng cao sức khỏe là cải thiện kỹ thuật sử dụng

trợ của xã hội, gia đình, sự hướng dẫn của nhân viên y tế là những thuận lợi giúp

người bệnh nâng cao kỹ thuật sử dụng BXĐL trong điều trị và dự phòng HPQ Vìvậy, nghiên cứu này áp dụng học thuyết Pender là phù hợp

Trang 32

Sơ đồ 1.1 Ứng dụng học thuyết điều dưỡng vào nghiên cứu

ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN

VÀ KINH NGHIỆM

Cam kết với kế hoạch hành động

KẾT QUẢ CỦA HÀNH VI

Nhận thức về lợi ích:

Kiểm soát cơn hen,giảm số lần nhập viện,nâng cao chất lượngcuộc sống

Cải thiện kỹ thuật sử dụng bình xịt định liều và mức độ kiểm soát cơn hen

Trang 33

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Quần thể đích

- Người bệnh đủ 18 tuổi trở lên đến khám và điều trị HPQ tại khoa Khám bệnh,khoa Nội tổng quát thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa

2.1.2 Quần thể lấy mẫu

- Người bệnh đủ 18 tuổi trở lên đến khám và điều trị HPQ tại khoa Khám bệnh,khoa Nội tổng quát thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, thời gian từtháng 02/2019 đến tháng 06/2019

2.1.3 Tiêu chí chọn mẫu

Tiêu chí chọn vào

- Người bệnh đủ 18 tuổi trở lên

- Chẩn đoán hen phế quản

- Đang sử dụng BXĐL

- Không có hoặc đã qua cơn hen nặng

Tiêu chí loại ra

- Người bệnh không thể thực hiện động tác ấn xịt thuốc

- Người bệnh khiếm thị hoặc khiếm thính

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian

- Thời gian nghiên cứu: Tháng 06/2018 đến tháng 07/2019

- Thời gian thu thập số liệu: Tháng 02/2019 đến tháng 06/2019

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Khám bệnh, khoa Nội tổng quát thần kinhBệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu bán thực nghiệm đánh giá trước sau can thiệp

Trang 34

2.3.2 Cỡ mẫu

Sử dụng công thức:

Trong đó:

n: cỡ mẫu tối thiểu của nhóm trước và sau can thiệp

α: sai lầm loại 1, tính bằng 5%

β: sai lầm loại 2, tính bằng 10%

q = (p1+ p2)2/2

p: Giá trị phụ thuộc q, p = 1- p

Z2(α,β) = 10,5

Thay vào công thức ==> n= 52,54 ==> n= 53

Theo tính toán, số lượng cỡ mẫu cần thiết là 53, tuy nhiên người bệnh có thể

bỏ tham gia nghiên cứu sau 1 tháng nên lấy thêm 20% Như vậy, cỡ mẫu được chọncho nghiên cứu là 64 người bệnh HPQ

2.3.3 Kỹ thuật chọn mẫu

- Phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn cho đến khi đủ cỡ mẫu Lấy mẫu thuậntiện trong các ngày khi người bệnh đến khám và điều trị tại khoa Khám bệnh, khoaNội tổng quát thần kinh Người bệnh đủ tiêu chí chọn vào sẽ được đánh giá kỹ thuật

sử dụng BXĐL và mức độ kiểm soát cơn hen (đánh giá trước can thiệp), sau đónghiên cứu viên hướng dẫn kỹ thuật sử dụng BXĐL đúng cho từng người bệnh Sau

1 tháng, nghiên cứu viên theo dõi lịch tái khám và mời người bệnh tham gia đánhgiá sau can thiệp

2.4 Liệt kê và định nghĩa biến số nghiên cứu

2.4.1 Biến số về đặc điểm người bệnh

- Tuổi: là biến số thứ tự, được tính từ năm sinh của người bệnh đến năm tiến hànhnghiên cứu (2019) và chia thành 3 nhóm: 18-40 tuổi, 41-60 tuổi và trên 60 tuổi

Trang 35

- Giới: là biến nhị giá, có 2 giá trị: nam, nữ.

- Dân tộc: là biến danh định, chia thành 2 nhóm: Dân tộc Kinh và dân tộc khác (ghi

cụ thể)

- Nơi cư trú: là biến danh định, là nơi sinh sống của người bệnh được chia thành 2nhóm: Người bệnh ở Thành phố Nha Trang và nhóm người bệnh đến từ các huyện,thị xã trong tỉnh Khánh Hòa hoặc từ các tỉnh khác (ghi cụ thể địa chỉ)

- Trình độ học vấn: là biến số thứ tự, chia thành 4 nhóm: nhóm ≤ tiểu học (bao gồm

mù chữ và học từ lớp 1 đến lớp 5), trung học cơ sở (THCS) (học từ lớp 6 đến lớp 9),trung học phổ thông (THPT) (học từ lớp 10 đến lớp 12) và trung cấp/cao đẳng/đạihọc/sau đại học

- Nghề nghiệp: là biến danh định, chia thành 6 nhóm: Hưu trí/già, cán bộ viên chức,công nhân, nông dân, kinh doanh/buôn bán, nội trợ và nhóm nghề nghiệp khác

- Tình trạng kinh tế gia đình: là biến thứ tự, thể hiện mức thu nhập bình quân đầungười/ tháng của người bệnh, có 4 giá trị: Nghèo, cận nghèo, trung bình, khá

+ Nghèo: thu nhập dưới 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và dưới900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

+ Cận nghèo: thu nhập dưới 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn vàdưới 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

+ Trung bình: thu nhập trên 1.100.000 - 1.500.000 đồng/người/tháng ở khu vựcnông thôn và trên 1.400.000 - 1.9500.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.+ Khá: thu nhập trên 1.500.000 - 2.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn

và trên 1.9500.000 - 3.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

- Tình trạng hôn nhân: là biến nhị giá, chia thành 2 nhóm: nhóm người bệnh đã kếthôn và nhóm khác (độc thân, góa)

- Số năm mắc bệnh HPQ: là biến số thứ tự, được chia thành 3 nhóm: dưới 5 năm,

5-10 năm và trên 5-10 năm

- Quản lý hen tại bệnh viện: là biến nhị giá, có 2 giá trị: Có, không

- Thời gian sử dụng BXĐL: là biến thứ tự, được chia thành 3 nhóm: dưới 1 năm,

1-5 năm và trên 1-5 năm

Trang 36

- Ai là người hướng dẫn kỹ thuật sử dụng BXĐL: là biến danh định, đó là người hướng dẫn người bệnh kỹ thuật sử dụng BXĐL, chia thành 5 nhóm: Người bệnh tự tham khảo, bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên nhà thuốc và đối tượng khác

2.4.2 Biến số thực hành của người bệnh về kỹ thuật sử dụng BXĐL

- Là kỹ năng hít và sử dụng BXĐL đúng kỹ thuật của người bệnh, bao gồm 6 bước thực hiện, được đánh giá đúng và sai dựa theo bảng kiểm trước khi hướng dẫn kỹ thuật hít và sau đó 1 tháng

- Nghiên cứu viên quan sát trực tiếp người bệnh thực hiện kỹ thuật sử dụng BXĐL

và đánh giá dựa theo bảng kiểm sau đây:

STT Các bước kỹ thuật sử dụng bình xịt định liều

2.4.3 Biến số mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh

- Là khả năng kiểm soát cơn hen của người bệnh trước và sau hướng dẫn kỹ thuật

sử dụng BXĐL, người bệnh tự đánh giá dựa vào test kiểm soát hen ACT

- Phương pháp người bệnh tự đánh giá mức độ kiểm soát hen dựa vào test ACT: + Bước 1: Đọc các câu hỏi một cách cẩn thận, khoanh tròn điểm số của mỗi câu hỏi

và ghi số điểm vào ô vuông ở cột điểm

+ Bước 2: Cộng điểm của 5 câu hỏi và ghi số điểm vào ô vuông ở hàng tổng số điểm

+ Bước 3: Xác định mức độ kiểm soát hen dựa vào tổng điểm ACT

Trang 37

- Đánh giá mức độ kiểm soát cơn hen dựa vào test ACT:

+ 25 điểm: Hen được kiểm soát hoàn toàn

+ 20-24 điểm: Hen được kiểm soát tốt

+ <20 điểm: Hen không được kiểm soát

2.4.4 Đánh giá hiệu quả can thiệp

- Nghiên cứu viên sẽ đánh giá kỹ thuật sử dụng BXĐL và mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh dựa vào test ACT ở thời điểm tham gia nghiên cứu (trước khi

có biện pháp can thiệp) và đánh giá lại sau can thiệp 1 tháng Hiệu quả can thiệp được thể hiện ở sự cải thiện của người bệnh về kỹ thuật sử dụng BXĐL đúng và mức độ kiểm soát cơn hen sau chương trình hướng dẫn kỹ thuật sử dụng BXĐL

2.5 Thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

- Nghiên cứu được tiến hành thông qua bộ câu hỏi dành cho mỗi đối tượng nghiên cứu Bộ câu hỏi được xây dựng dựa theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hen người lớn của Bộ Y tế năm 2009 [3], hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh hô hấp của Bộ

Y tế năm 2012 [2], bộ câu hỏi của tác giả Ngô Thanh Trúc (2014) “Nghiên cứu điều dưỡng về kiến thức, thái độ và chăm sóc tại nhà của người lớn mắc bệnh hen” [16]

Bộ câu hỏi gồm có 3 phần:

trực tiếp

+ Phần 2: Đánh giá thực hành về kỹ thuật sử dụng BXĐL theo bảng kiểm gồm 6 bước, nghiên cứu viên đánh giá bằng cách quan sát

+ Phần 3: Đánh giá mức độ kiểm soát cơn hen bằng test kiểm soát hen ACT, người

bệnh tự chấm điểm kiểm soát hen theo bảng câu hỏi của test ACT

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Bước 1: Liên hệ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, khoa Khám bệnh và khoa Nội tổng quát thần kinh

- Bước 2: Chọn người bệnh đến khám và điều trị HPQ tại khoa Khám bệnh và khoa Nội tổng quát thần kinh thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn mẫu

Trang 38

- Bước 3: Nghiên cứu viên sẽ đến gặp người bệnh, thông báo các thông tin về nghiên cứu, giải thích người bệnh không bị ảnh hưởng gì khi tham gia nghiên cứu, mọi thông tin liên quan đến người bệnh sẽ được giữ bí mật Sự tham gia của các người bệnh được thể hiện qua bảng đồng ý tham gia nghiên cứu (Phụ lục 1)

- Bước 4: Nghiên cứu viên thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn thông tin

cá nhân, quan sát trực tiếp người bệnh thực hiện kỹ thuật sử dụng BXĐL và người bệnh tự đánh giá mức độ kiểm soát cơn hen bằng test kiểm soát hen ACT theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (Phụ lục 2) Thời gian thu thập khoảng 15 - 20 phút

- Bước 5: Nghiên cứu viên hướng dẫn kỹ thuật sử dụng BXĐL đúng cho người bệnh Phương pháp hướng dẫn gồm:

+ Hướng dẫn từng kỹ thuật bằng lời nói

+ Minh họa kỹ thuật bằng tờ thông tin về cách sử dụng BXĐL (Phụ lục 4)

+ Thực hiện minh họa kỹ thuật động tác cho người bệnh xem

- Bước 6: Sau 1 tháng, đánh giá lại kỹ thuật sử dụng BXĐL theo bảng kiểm và mức

độ kiểm soát cơn hen bằng test kiểm soát hen ACT (Phụ lục 3)

2.5.3 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả

- Người bệnh hiểu rõ nội dung, ý nghĩa các câu hỏi trong bộ câu hỏi

- Người bệnh thực hiện đầy đủ các bước kỹ thuật sử dụng BXĐL

2.6 Kiểm soát sai lệch

2.6.1 Kiểm soát sai lệch chọn lựa

- Tiến hành điều tra thử 10% người bệnh theo đúng tiêu chuẩn đã chọn Các phiếu đánh giá thử sẽ được xem xét, kiểm tra cẩn thận để loại bỏ những thông tin không cần thiết hoặc bổ sung những thông tin thiếu trong quá trình tiến hành thu thập số liệu

2.6.2 Kiểm soát sai lệch thông tin

- Nghiên cứu viên thu thập thông tin và đánh giá kỹ thuật để khắc phục sai số hệ thống

2.7 Phương pháp quản lý và phân tích số liệu

2.7.1 Kiểm tra số liệu

- Các phiếu thu thập số liệu phải được điền đầy đủ các thông tin phỏng vấn và đánh

giá đối tượng tham gia

Trang 39

2.7.2 Mã hóa thông tin từ phiếu khảo sát

- Tất cả các dữ liệu sau khi thu thập sẽ được kiểm tra tính phù hợp và mã hóa bởi người nghiên cứu

- Tạo tập tin dữ liệu trên máy vi tính, kiểm tra tính chính xác của dữ liệu trước khi đăng xuất sang phần mềm

2.7.3 Phân tích dữ liệu

- Quản lý số liệu và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 22.0

- Tính các thống kê mô tả tần số (n), tỷ lệ (%), trung bình, độ lệch chuẩn

- Sử dụng phép kiểm Mc Nemar, Fisher’s exact đánh giá tỉ lệ người bệnh sử dụng BXĐL đúng kỹ thuật trước và sau hướng dẫn

- Sử dụng phép kiểm Wilcoxon Signed Rank đánh giá mức độ kiểm soát hen của người bệnh trước và sau hướng dẫn

- Phân tích mối liên quan giữa kỹ thuật sử dụng BXĐL với một số đặc điểm của người bệnh HPQ

- Kết quả thống kê với độ tin cậy 95% và có ý nghĩa với p<0.05

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Đề cương nghiên cứu được phê duyệt do hội đồng Đạo đức của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

- Nghiên cứu viên liên hệ với Ban giám đốc bệnh viên Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, khoa Khám bệnh, khoa Nội tổng quát thần kinh để xin phép làm nghiên cứu và tìm kiếm sự giúp đỡ hỗ trợ của bệnh viện và khoa

- Đối tượng tham gia nghiên cứu là tự nguyện và có thể từ chối tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu

- Nghiên cứu viên giải thích rõ mục đích và nội dung nghiên cứu và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu Nếu đồng ý tham gia, đối tượng tham gia nghiên cứu được ký giấy chấp thuận bằng văn bản

- Mọi thông tin cá nhân của đối tượng tham gia nghiên cứu đều được bảo mật Các

số liệu thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục

vụ cho mục đích nào khác

Trang 40

2.9 Tính ứng dụng của nghiên cứu

- Nghiên cứu này giúp ĐD xác định kỹ năng thực hành sử dụng BXĐL của người bệnh HPQ trong điều trị và kiểm soát cơn hen, từ đó sẽ hướng dẫn cho người bệnh

kỹ thuật hít và sử dụng BXĐL tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát cơn hen, giảm số lần tái nhập viện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh

- Nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khác kế tiếp có liên quan và tài liệu phục vụ cho giảng dạy, thực hành lâm sàng

Ngày đăng: 25/04/2021, 11:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Anh, Ngô Quý Châu (2011), "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Bệnh Nội Khoa", Nhà xuất bản Y học, Bệnh viện Bạch Mai-Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Bệnh Nội Khoa
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh, Ngô Quý Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
4. Nguyễn Quang Chính (2017), "Nghiên cứu thực trạng và giải pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe trong kiểm soát bệnh hen phế quản ở người trưởng thành tại huyện An Dương, Hải Phòng", Luận án Tiến sĩ, Đại học Y Dược Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và giải pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe trong kiểm soát bệnh hen phế quản ở người trưởng thành tại huyện An Dương, Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Quang Chính
Năm: 2017
5. Hà Tấn Đức (2001), "Một số nhận xét về hiểu biết bệnh hen ở bệnh nhân hen phế quản", Tạp chí nghiên cứu y học, 5 (4), pp. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về hiểu biết bệnh hen ở bệnh nhân hen phế quản
Tác giả: Hà Tấn Đức
Năm: 2001
6. Nguyễn Thị Thu Hằng (2017), "Phân tích sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị và kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít trên bệnh nhân tại khoa phục hồi chức năng hô hấp- phòng CMU tại bệnh viện phổi Bắc Giang", Luận văn Chuyên khoa cấp I, Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị và kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít trên bệnh nhân tại khoa phục hồi chức năng hô hấp- phòng CMU tại bệnh viện phổi Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng
Năm: 2017
7. Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Văn Đoàn (2011), "Dịch tễ học và tình hình kiểm soát hen ở người trưởng thành Việt Nam", Tạp chí y tế công cộng, 4 (2), pp. 123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học và tình hình kiểm soát hen ở người trưởng thành Việt Nam
Tác giả: Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Văn Đoàn
Năm: 2011
8. Châu Ngọc Hoa (2012), "Điều trị học nội khoa", Nhà xuất bản Y học TP. Hồ Chí Minh, pp. 336-344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị học nội khoa
Tác giả: Châu Ngọc Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2012
9. Bùi Thị Hương, Bùi Văn Dân, Hoàng Thị Lâm (2016), "Đánh giá mức độ kiểm soát hen bằng ACT đối với bệnh nhân câu lạc bộ hen bệnh viện đại học Y Hà Nội", Tạp chí nghiên cứu y học, 99 (1), pp. 131-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ kiểm soát hen bằng ACT đối với bệnh nhân câu lạc bộ hen bệnh viện đại học Y Hà Nội
Tác giả: Bùi Thị Hương, Bùi Văn Dân, Hoàng Thị Lâm
Năm: 2016
10. Lê Văn Nhi (2010), "Đánh giá mức độ kiểm soát hen bằng bảng trắc nghiệm ACT", Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 14 (2), pp. 232-238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ kiểm soát hen bằng bảng trắc nghiệm ACT
Tác giả: Lê Văn Nhi
Năm: 2010
11. Phan Thu Phương, Trịnh Thị Ngọc (2015), "Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh hen phế quản của bệnh nhân mắc hen phế quản", Tạp chí y học dự phòng, 25 (4), pp. 157 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh hen phế quản của bệnh nhân mắc hen phế quản
Tác giả: Phan Thu Phương, Trịnh Thị Ngọc
Năm: 2015
12. Nguyễn Văn Thọ. Sinh bệnh học hen phế quản. 2016; Available from: http://www.hoihohaptphcm.org/index.php/chuyende/menuchucnanghohap/311-sinh-benh-hoc-hen-phe-quan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh bệnh học hen phế quản
13. Nguyễn Hoài Thu (2016), "Đánh giá tuân thủ điều trị và kỹ thuật sừ dụng các thuốc dạng hít trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Bạch Mai", Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tuân thủ điều trị và kỹ thuật sừ dụng các thuốc dạng hít trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Hoài Thu
Năm: 2016
14. Nguyễn Ngọc Thụy, Nguyễn Thị Tố Như (2003), "Khảo sát cách sử dụng ống phun khí dung định liều của các bệnh nhân hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính", Tạp chí nghiên cứu y học, 7 (1), pp. 103-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát cách sử dụng ống phun khí dung định liều của các bệnh nhân hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thụy, Nguyễn Thị Tố Như
Năm: 2003
15. Phạm Thị Thanh Thúy (2018), "Hiệu quả giáo dục sức khỏe của điều dưỡng nâng cao kiến thức về bệnh và thực hành sử dụng dụng cụ hít ở người lớn mắc bệnh hen", Luận văn Thạc sĩ, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả giáo dục sức khỏe của điều dưỡng nâng cao kiến thức về bệnh và thực hành sử dụng dụng cụ hít ở người lớn mắc bệnh hen
Tác giả: Phạm Thị Thanh Thúy
Năm: 2018
16. Ngô Thanh Trúc, Nguyễn Thị Thu Ba, Champion J. D. (2014), "Nghiên cứu điều dưỡng về kiến thức, thái độ và chăm sóc tại nhà của người lớn mắc bệnh hen", Tạp chí nghiên cứu y học, 18 (5), pp. 184-189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu điều dưỡng về kiến thức, thái độ và chăm sóc tại nhà của người lớn mắc bệnh hen
Tác giả: Ngô Thanh Trúc, Nguyễn Thị Thu Ba, Champion J. D
Năm: 2014
17. Nguyễn Như Vinh. Những điểm cần biết về các loại dụng cụ hít thuốc trong hô hấp. 2016 [cited 2018 28/05]; Available from:http://www.hoihohaptphcm.org/chuyende/menuchucnanghohap/240-nhung-diem-can-biet-ve-cac-dung-cu-hit-thuoc-trong-ho-hap Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm cần biết về các loại dụng cụ hít thuốc trong hô hấp
18. Al-Kalaldeh M, El-Rahman M A, El-Ata A (2016), "Effectiveness of nurse- driven inhaler education on inhaler proficiency and compliance among obstructive lung disease patients: A quasi-experimental study", Canadian Journal of Nursing Research, 48 (2), pp. 48-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effectiveness of nurse-driven inhaler education on inhaler proficiency and compliance among obstructive lung disease patients: A quasi-experimental study
Tác giả: Al-Kalaldeh M, El-Rahman M A, El-Ata A
Năm: 2016
19. Ammari W G, Chrystyn H (2013), "Optimizing the inhalation flow and technique through metered dose inhalers of asthmatic adults and children attending a community pharmacy", Journal of Asthma, 50 (5), pp. 505-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Optimizing the inhalation flow and technique through metered dose inhalers of asthmatic adults and children attending a community pharmacy
Tác giả: Ammari W G, Chrystyn H
Năm: 2013
20. Arora P, Kumar L, Vohra V, et al (2014), "Evaluating the technique of using inhalation device in COPD and bronchial asthma patients", Respiratory Medicine, 108 (7), pp. 992-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating the technique of using inhalation device in COPD and bronchial asthma patients
Tác giả: Arora P, Kumar L, Vohra V, et al
Năm: 2014
21. Axtell S, Haines S, Fairclough J (2017), "Effectiveness of various methods of teaching proper inhaler technique", Journal of Pharmacy Practice, 30 (2), pp. 195-201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effectiveness of various methods of teaching proper inhaler technique
Tác giả: Axtell S, Haines S, Fairclough J
Năm: 2017
22. Azzi E, Srour P, Armour C, et al (2017), "Practice makes perfect: self-reported adherence a positive marker of inhaler technique maintenance", Primary Care Respiratory Medicine, 27 (1), pp. 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Practice makes perfect: self-reported adherence a positive marker of inhaler technique maintenance
Tác giả: Azzi E, Srour P, Armour C, et al
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm