Đây là một chứng bệnh nặng đe dọa cuộc sống của người caotuổi; đồng thời cũng là gánh nặng với gia đình người bệnh, cộng đồng và xã hội.Người mắc sa sút trí tuệ bị mất dần khả năng tự ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS ĐỖ VĂN DŨNG
GS TS FAYE HUMMEL
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Điều dưỡng này được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô ở Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình cung cấp kiến thức và tạo mọi điều kiện cho em thực hiện.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường, các thầy cô của khoa Điều Dưỡng – Kỹ Thuật Y Học trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp nhiều ý kiến quý báo để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Em xin trân trọng cảm ơn ban giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, tập thể bác sĩ, điều dưỡng của khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Đỗ Văn Dũng – Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, người thầy đã hết lòng chỉ dẫn em thực hiện đề tài này.
Xin gửi lời cảm ơn đến những người cao tuổi và thân nhân đã nhiệt tình hợp tác, cung cấp thông tin cho em trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến cha mẹ, những người
đã có công sinh thành dưỡng dục và những người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh giúp đỡ em trong cuộc sống.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày …… , tháng …., năm 2019
Ký tên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả được nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Ngoan
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về sa sút trí tuệ 4
1.1.1 Khái niệm của bệnh sa sút trí tuệ 4
1.1.2 Nguyên nhân của sa sút trí tuệ 4
1.1.3 Các giai đoạn của sa sút trí tuệ 5
1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ 7
1.2 Tình hình nghiên cứu sa sút trí tuệ trên thế giới 8
1.3 Tình hình nghiên cứu sa sút trí tuệ tại Việt Nam 10
1.4 Chất lượng cuộc sống của người bệnh sa sút trí tuệ 12
1.4.1 CLCS của người bệnh SSTT và các phương pháp đánh giá 12
1.4.1.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống 12
1.4.1.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống 12
1.5 Chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ 13
1.6 Cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh SSTT 15
1.7 Mô hình học thuyết điều dưỡng áp dụng vào nghiên cứu 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.1 Người cao tuổi mắc hội chứng sa sút trí tuệ 18
2.1.2 Người chăm sóc chính 18
2.2 Địa điểm nghiên cứu .19
2.3 Thời gian nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
Trang 62.4.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4.2 Cỡ mẫu 19
2.4.3 Kỹ thuật chọn mẫu .19
2.4.4 Quy trình nghiên cứu và công cụ thu thập thông tin 19
2.4.4.1 Quy trình nghiên cứu 19
2.4.4.2 Công cụ thu thập số liệu 20
2.4.5 Biến số 21
2.4.6 Phương pháp khống chế sai số 38
2.5 Xử lí số liệu 38
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 40
3.1 Đặc điểm chung của người cao tuổi mắc SSTT 40
3.2 Đặc điểm lâm sàng của người cao tuổi mắc SSTT 42
3.3 Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc sa sút trí tuệ 46
3.4 Chất lượng cuộc sống của người bệnh theo một số đặc điểm lâm sàng 48
3.5 Mối tương quan giữa CLCS của người bệnh SSTT và một số yếu tố 53
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 55
4.1 Đặc điểm chung của người cao tuổi mắc SSTT 55
4.2 Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc SSTT 60
4.3 Quan điểm của bệnh nhân và người chăm sóc về CLCS 62
4.4 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh SSTT 63
4.5 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 68
KẾT LUẬN 70
KIẾN NGHỊ 71
Trang 7Phụ lục 1:Phiếu đồng ý thỏa thuận tham gia vào nghiên cứu Phụ lục 2:Phiếu thu thập số liệu
Phụ lục 3: Phiếu hướng dẫn phỏng vấn
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
version 4 (Sách Thống kê Chẩn đoán các Rối loạn tâmthần tái bản lần thứ 4)
Phân loại Quốc tế các bệnh tật)
thần thu gọn)
thần kinh)
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.2 Biến số nghiên cứu 21Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung của người cao tuổi mắc sa sút trí tuệ 40Bảng 3.2 Một số đặc điểm lâm sàng của người cao tuổi mắc SSTT 42Bảng 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng hành vi, tâm thần theo đánh giá trạng tháitâm thần kinh NPI 44Bảng 3.4 Điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sa sút trí tuệ ……… 46Bảng 3.5.Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân theo một số đặc điểm cá nhân 47Bảng 3.6 Chất lượng cuộc sống theo giai đoạn bệnh và bệnh mạn tính kèm theo 48Bảng 3.7 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân theo các đặc điểm lâm sàng 50Bảng 3.8 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân SSTT theo các triệu chứng hành vi,tâm thần NPI 51Bảng 3.9 Tương quan giữa chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và một số đặcđiểm lâm sàng 53
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn lão hóa dân số kể từ năm 2011, vàthời gian chuyển đổi từ giai đoạn “lão hóa dân số” sang “dân số già” của Việt Namchỉ mất khoảng từ 17 – 20 năm, ngắn hơn nhiều so với những quốc gia có trình độphát triển cao hơn[13] như Pháp mất 115 năm, Thụy Điển mất 85 năm, Hoa Kỳ mất
69 năm, Nhật Bản và Trung Quốc mất 26 năm, Thái Lan mất 22 năm [14] Cùng với
sự “già hoá dân số”, mô hình bệnh tật ở Việt Nam cũng đang thay đổi rõ rệt, với sựgia tăng nhanh chóng của các bệnh thoái hoá, đặc biệt là bệnh sa sút trí tuệ
Theo số liệu của châu Âu, nếu ở nhóm tuổi 60-64 tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ là1%, thì ở nhóm 65-69 tuổi tỷ lệ này là 2%, nhóm 70-74 tuổi là 4%, nhóm 75-
79 tuổi là 8%, nhóm 80-84 tuổi là 16% [21] Trung bình cứ sau 5 năm, tỷ lệ này lạităng gần gấp đôi Từ 85 tuổi trở lên, trung bình cứ ba người có một người mắc bệnhAlzheimer và ở độ tuổi từ 95 trở lên thì cứ hai người có một người mắc sa sút trítuệ [59] Không những do tỷ lệ mắc bệnh cao ở nhóm tuổi này, mà bệnh còn gâyảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của bản thân người cao tuổi cũng nhưngười nhà bệnh nhân Đây là một chứng bệnh nặng đe dọa cuộc sống của người caotuổi; đồng thời cũng là gánh nặng với gia đình người bệnh, cộng đồng và xã hội.Người mắc sa sút trí tuệ bị mất dần khả năng tự chăm sóc và ngày càng phụ thuộcvào người khác trong việc thực hiện các hoạt động thể chất và tinh thần cơ bản nhất,đặc biệt giai đoạn cuối cần có sự chăm sóc và theo dõi thường xuyên Chi phí chobệnh sa sút trí tuệ rất tốn kém, chỉ đứng sau các bệnh tim mạch và ung thư.[54],[55],[56] Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng cuộc sống cho những bệnh nhân
sa sút trí tuệ cũng là một vấn đề đáng quan tâm đối với cộng đồng và xã hội
Tuy nhiên, ở Việt Nam nói chung cũng như Thành phố Hồ Chí Minh nóiriêng, đến nay mới chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về sa sút trí tuệ, các côngtrình này chủ yếu tập trung nghiên cứu về dịch tễ học của bệnh, có rất ít đề tàinghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc hội chứng sa sút trí tuệ.Trên thực tế, phần lớn những người cao tuổi mắc chứng sa sút trí tuệ vẫnkhông được chăm sóc đúng cách [20] Nhằm bước đầu đánh giá chất lượng cuộc
Trang 11sống và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người caotuổi mắc hội chứng sa sút trí tuệ, từ đó làm cơ sở để kiến nghị một số biện phápgiúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc hội chứng sa sút trí tuệ.
Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Chất lượng cuộc sống của người cao tuổimắc hội chứng sa sút trí tuệ và các yếu tố liên quan”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định điểm số trung bình chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi mắc hộichứng sa sút trí tuệ bằng phương pháp phỏng vấn theo thang đo Quality of Life –Alzheimer Disease/QOL – AD
2 So sánh quan điểm của người chăm sóc chính và bệnh nhân về chất lượngcuộc sống của bệnh nhân dựa trên điểm số của thang đo Quality of Life –Alzheimer Disease/QOL – AD
3 Xác định các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổimắc hội chứng sa sút trí tuệ
Trang 13CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về sa sút trí tuệ
1.1.1 Khái niệm của bệnh sa sút trí tuệ
Sa sút trí tuệ (SSTT) là một hội chứng lâm sàng bao gồm một tập hợp các triệuchứng phản ánh sự suy giảm toàn bộ về trí nhớ và trí tuệ nhưng không mất ý thức,gây trở ngại đến các hoạt động xã hội và nghề nghiệp của một cá thể đối tượng Sasút trí tuệ không phải là một bệnh riêng biệt nhưng có thể do nhiều rối loạn khácnhau tác động lên não Nói cách khác, đây là trạng thái suy giảm nhận thức nặngxảy ra ở những người tình trạng ý thức vẫn bình thường và không mắc những bệnh
có thể gây ra suy giảm nhận thức (như mê sảng, trầm cảm) [57],[58]
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) [69]: "Sa sút trí tuệ là
sự phối hợp rối loạn tiến triển về trí nhớ và quá trình ý niệm hóa, ở mức độ gây tổnhại tới hoạt động sống hàng ngày, xuất hiện tối thiểu từ sáu tháng qua với rối loạn ítnhất một trong những chức năng như ngôn ngữ, tính toán, phán đoán, rối loạn tưduy trừu tượng, điều phối động tác, nhận biết hoặc biến đổi nhân cách"
SSTT với quên lành tính của tuổi già là tình trạng giảm trí nhớ sinh lý củangười cao tuổi, hệ quả của sự lão hóa trong đó các quá trình hoạt động thầnkinh-tâm lý bị chậm đi [17] Người có chứng quên lành tính của tuổi già tiếp thucác thông tin mới và nhớ lại các thông tin mới ghi được chậm hơn người bìnhthường, tuy nhiên nếu có thêm thời gian để thực hiện những hoạt động này họ vẫnđạt được các thành tích trí tuệ ở mức của người bình thường Các hoạt động thườngngày cũng không bị ảnh hưởng [10]
1.1.2 Nguyên nhân của sa sút trí tuệ
Sa sút trí tuệ có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau Tùy theo nguyên nhân
có thể phân loại sa sút trí tuệ do thoái hóa và không do thoái hóa Căn cứ trên vị trítổn thương và các biểu hiện lâm sàng có thể phân loại sa sút trí tuệ thành sa sút trítuệ vỏ não và dưới vỏ não[1]
Sau đây là phân loại sa sút trí tuệ theo nguyên nhân :
Trang 14Sa sút trí tuệ nguyên phát (kiểu vỏ não): Bệnh Alzheimer, bệnh Pick, các hộichứng sa sút trí tuệ thùy trán, phức hợp sa sút trí tuệ kết hợp với một dạngAlzheimer.
Sa sút trí tuệ của bệnh mạch não: Nhồi máu não nhiều ổ, nhồi máu não ở vịtrí chiến lược, trạng thái ổ khuyết, bệnh Binswanger, sa sút trí tuệ mạch máu hỗnhợp
Sa sút trí tuệ kiểu dưới vỏ não: Sa sút trí tuệ kết hợp với bệnh Parkinson,bệnh liệt trên nhân tiến triển, teo nhiều hệ thống, bệnh Huntington
Sa sút trí tuệ kiểu dưới vỏ – dưới vỏ: Bệnh thể Lewy lan tỏa, thoái hoá vỏ não
- hạch đáy
Sa sút trí tuệ do nhiễm độc: rượu, kim loại nặng hoặc các độc chất khác
Sa sút trí tuệ do nhiễm vi khuẩn, vi-rút: vi-rút gây ra hội chứng suy giảmmiễn dịch mắc phải ở người (HIV), các hội chứng sau viêm não; giang mai thầnkinh; bệnh Lyme; bệnh Creutzfeldt - Jakob
* SSTT do bất thường cấu trúc não bộ: Tràn dịch não áp lực bình thường,máu tụ dưới màng cứng mạn tính, u não
* SSTT do nguyên nhân khác: SSTT giả dạng của trầm cảm, suy giáp, thiếuvitamin B12, các bệnh chuyển hóa [10], [1]
1.1.3 Các giai đoạn của sa sút trí tuệ
Cách phân chia giai đoạn thích hợp nhất hiện nay là dựa vào những tiêu chínhư mức biểu hiện của rối loạn chức năng các nhận thức, mức ảnh hưởng tới cáchoạt động sống hàng ngày và điểm thực hiện trắc nghiệm kiểm tra trạng thái tâm tríthu nhỏ của Folstein (MMSE) [62]:
Sa sút trí tuệ giai đoạn sớm (20 - 24 điểm MMSE)
Triệu chứng nổi bật nhất là giảm trí nhớ gần hay trí nhớ ngắn hạn.Bệnh nhân thường biểu lộ thiếu sót này dưới hình thức nhắc lại một câu hỏi đã hỏinhiều lần, thậm chí hai câu hỏi cùng một nội dung được nhắc lại chỉ cách nhau vàiphút, hoặc hay đi tìm đồ dùng cá nhân vì không nhớ đã để ở đâu Vì thế bệnhnhân thường hay có thêm hoang tưởng bị mất cắp Tình trạng quên các từ ngữ
Trang 15dùng thường ngày khiến bệnh nhân phải diễn đạt theo kiểu nói vòng vo, chẳng hạnnhư không nhớ từ "khăn quàng", nên phải nói là một vật quấn quanh cổ áo Các sinhhoạt thường ngày như lái xe, quản lý nhà cửa, quản lý tiền bạc cũng ngày càng trởnên khó khăn [7].
Thay đổi nhân cách, các rối loạn cảm xúc, sự suy giảm khả năng nhận xét vàđánh giá cũng xuất hiện trong giai đoạn sớm của sa sút trí tuệ Các rối loạn cảm xúc
có thể dao động giữa hai thái cực là trạng thái trầm cảm và trạng thái hưng phấn.Bệnh nhân thường có những thay đổi tính tình như trở nên khó tính hơn trước, dễnóng giận và dễ kích động Trong giai đoạn sớm này, bệnh nhân thường có khảnăng bù đắp những thiếu sót về trí nhớ nếu như họ được sinh hoạt trong khung cảnhgia đình đã quen thuộc; tuy nhiên các thiếu sót về nhận thức và hành vi sẽ bộc lộ
dễ dàng nếu họ bị rơi vào những tình huống mới gặp
Sa sút trí tuệ giai đoạn trung gian (10-19 điểm MMSE)
Là giai đoạn tiếp theo trong đó bệnh nhân bắt đầu biểu lộ những biến đổitrong sinh hoạt hàng ngày như tắm rửa, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân, cụ thể là thựchiện khó khăn hay không thực hiện được các hoạt động này như lúc bình thường.Bệnh nhân mất hoàn toàn khả năng tiếp thu những thông tin mới, không lưugiữ được các thông tin chủ yếu về môi trường xung quanh do đó bị rối loạn địnhhướng nặng về không gian và thời gian Bệnh nhân có thể không nhận biết vị tríngay cả khi ở trong nhà mình Bệnh nhân dễ té ngã và gặp các tai nạn trong giaiđoạn này Các rối loạn hành vi tiếp tục xuất hiện và trở nên nặng hơn Bệnh nhân cónhiều hoang tưởng hơn, đặc biệt hoang tưởng bị ám hại do đó càng nghi kỵ ngườixung quanh Các rối loạn hành vi khác cũng được gặp như hung dữ tấn công ngườikhác, tình dục bất thường, kích động không điển hình
Sa sút trí tuệ giai đoạn nặng (dưới 10 điểm MMSE)
Đây là giai đoạn cuối của diễn biến bệnh trong đó bệnh nhân mất hẳn và toàn
bộ các khả năng sinh hoạt thường ngày, hoàn toàn lệ thuộc vào người khác trongcác hoạt động thường ngày như ăn uống, đại tiểu tiện, tắm rửa và di chuyển Bệnhnhân mất mọi thể loại trí nhớ gần và xa, không còn nhận biết được người thân trong
Trang 16gia đình nữa Do mất khả năng đi lại nên bệnh nhân nằm liệt giường Tăng nguy cơthiếu dinh dưỡng và tăng nguy cơ viêm phổi do nuốt nhầm do bị mất các cử độngmang tính phản xạ như nhai và nuốt Sự lệ thuộc hoàn toàn vào người khác có khiđưa bệnh nhân đến tình huống phải vào nhà dưỡng lão Các biến chứng của giaiđoạn cuối là kiệt nước, thiếu dinh dưỡng, viêm phổi do nuốt nhầm và loét do tỳ đè,trong chừng mực nào đó có thể phòng ngừa được nhờ chế độ chăm sóc thật tốt.Nguyên nhân tử vong hay gặp gồm có nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiết niệu vàngoài da.
1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ
Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ theo Sách Thống kê Chẩn đoán các Rối loạn tâm thần (DSM-IV)[3], [10]:
(1) Suy giảm trí nhớ (mất khả năng thu nhận các thông tin mới và mất khảnăng nhớ lại các thông tin vừa mới tiếp nhận)
(2) Có ít nhất một trong các rối loạn nhận thức sau đây:
- Mất ngôn ngữ (không diễn đạt được, không hiểu được)
- Mất vận động hữu ý (không thực hiện được các động tác có được do huấnluyện, mặc dù không bị liệt)
- Mất nhận thức (mất khả năng nhận biết đồ vật, mặc dù chức năng giác quanvẫn bình thường)
- Rối loạn chức năng tiến hành các kế hoạch (ví dụ: Lập kế hoạch, tổ chức,phân chia giai đoạn, trừu tượng hoá)
(3) Các suy giảm ở (l) và (2) gây cản trở lớn cho sinh hoạt thường ngày vàgiao tiếp xã hội và tình trạng này ngày càng nặng dần
(4) Các suy giảm trí nhớ và nhận thức xảy đến trong bối cảnh bệnhnhân không bị mê sảng
(5) Không có sự hiện diện của các bệnh khác vốn có có thể gây ra rối loạnnhận thức (ví dụ: Tâm thần phân liệt, trầm cảm)
Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ theo Bảng Phân loại Quốc tế các
Trang 17(1) Suy giảm trí nhớ ngắn hạn (gần) và trí nhớ dài hạn (xa).
(2) Có ít nhất một trong các bất thường sau: Suy giảm tư duy trừutượng; suy giảm phán đoán, nhận xét; các rối loạn khác của chức năng thần kinh caocấp; biến đổi nhân cách
(3) Suy giảm quan hệ xã hội và nghề nghiệp do các rối loạn về trí nhớ và trítuệ ở trên gây ra
(4) Không xuất hiện trong bối cảnh đang bị mê sảng
(5) Có sự hiện diện của các yếu tố sau đây:
- Có bằng chứng về bất thường thực thể đã gây ra những suy giảm về trí tuệ
và suy giảm về chức năng trí tuệ
Các suy giảm về trí nhớ và chức năng trí tuệ không là hệ quả của một bệnhtâm thần khác
1.2 Các công trình nghiên cứu sa sút trí tuệ trên thế giới
Theo kết quả dự báo của Nghiên cứu Delph [61], hiện tại trên toàn thế giới
có khoảng 24,3 triệu người mắc sa sút trí tuệ, mỗi năm có thêm 4,6 triệu trườnghợp mắc mới Theo dự báo, cứ hai mươi năm, số người mắc sa sút trí tuệ sẽ tănglên gấp đôi và như vậy đến năm 2040 ước tính sẽ có 81,1 triệu người mắc sa súttrí tuệ Hầu hết số người này sống ở các nước đang phát triển (khoảng 60%năm 2001 và sẽ tăng lên 71% vào năm 2040)
Theo nghiên cứu của Karttunen về “ Triệu chứng thần kinh và chất lượng cuộcsống của bệnh nhân Alzheimer giai đoạn nhẹ và rất nhẹ” cho thấy tuổi trung bìnhcủa bệnh nhân Alzheimer là 75,1±6,6 [36]
Kết quả nghiên cứu của Logsdon và cộng sự về “chất lượng cuộc sống củangười bệnh sa sút trí tuệ”, tuổi trung bình của bệnh nhân là 77,2 ± 6,8 [40] Điểm sốchất lượng cuộc sống do bệnh nhân tự đánh giá là 36,6 ± 6,7, do người chăm sócđánh giá là 30,8 ± 6,3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnhnhân SSTT trong nghiên cứu là điểm số MMSE (hệ số tương quan là 0,258); Trầmcảm (hệ số tương quan -0,218) Nghiên cứu này được tiến hành tại các nhà dưỡnglão, người bệnh được chăm sóc bởi đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, môi trường
Trang 18nghĩ dưỡng phù hợp Tuy nhiên người bệnh ít tiếp xúc với sự quan tâm của giađình.
Trong nghiên cứu “Các dự báo về xếp hạng của người chăm sóc về chất lượngcuộc sống của bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer” của Gary Naglie, bệnh nhân có tuổithọ trung bình là 80,7±7,9 [44] Tuổi thọ khá cao
Nghiên cứu “ Sử dụng thang đo QOL - AD để đo lường chất lượng cuộc sốngcủa bệnh nhân sa sút trí tuệ” của Hoe và cộng sự [31] cho thấy bệnh nhân SSTT có
độ tuổi từ 55 đến 94, trung bình là 81 Nghiên cứu này cho thấy sử dụng thang đoQOL – AD để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân SSTT có độ tin cậycao
Nghiên cứu của Cassel C.K [24] và Chen M [25] về “Alzheimer được kiểm tralại 25 năm sau: đó là "bệnh" hay là tình trạng lão hóa trong tự nhiên” đều nhận định
tỷ lệ SSTT đạt tới 30-40% đối với nhóm từ 89 tuổi trở lên và vượt quá 50% ở nhómtuổi ≥ 90 Theo đó thì Alzheimer là một căn bệnh thoái hóa thần kinh hay gặp ở tuổigià, khác hoàn toàn với tình trạng lão hóa trong tự nhiên
Một phân tích dự báo khác của Trung tâm Nghiên cứu Lão khoa tạiViện Karolinska, Thụy Điển [66] cũng cho kết quả tương tự: Năm 2000, trênthế giới có 25 triệu người mắc sa sút trí tuệ, trong đó 46% sống ở châu Á, 30% ởchâu Âu và 12% ở Bắc Mỹ, 2% sống ở các nước kém phát triển Tỷ lệ mắc toàn
bộ sa sút trí tuệ ở người trên 65 tuổi là 5,1% (chiếm khoảng 0,5% tổng dânsố) Số trường hợp mắc mới sa sút trí tuệ năm 2000 là 4,6 triệu người Nghiên cứucũng dự báo số người già mắc sa sút trí tuệ sẽ tăng từ 25 triệu người năm 2000 lên
63 triệu năm 2030 (41 triệu ở các nước đang phát triển) và 114 triệu năm 2050 (84triệu ở các nước đang phát triển)
Ở Pháp, nghiên cứu thuần tập PAQUID [60] ở 1.461 người trên 75 tuổi chothấy 17,8% đối tượng mắc sa sút trí tuệ, 38,5% số này sống trong các trungtâm dưỡng lão Bệnh Alzheimer là nguyên nhân chủ yếu của sa sút trí tuệ, chiếm79,6% Hạn chế của nghiên cứu này là chưa làm rõ môi trường sống có thể ảnhhưởng đến SSTT
Trang 191.3 Tình hình nghiên cứu sa sút trí tuệ tại Việt Nam
Năm 2001, Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia đã tiến hành nghiên cứu mộtquần thể gồm 8.965 người thuộc hai phường của thành phố Thái Nguyên, trong đó
có 727 người trên 60 tuổi Kết quả cho biết tỷ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ ở ngườicao tuổi là 7,9%, tỷ lệ này tăng rõ rệt theo tuổi (4,2%, 10,6%, 16,6% tươngứng với các nhóm tuổi 60-69, 70-79, và trên 80 tuổi [6]
Khảo sát của Trần Viết Nghị và cộng sự (Viện Sức khoẻ Tâm thần năm 2000)trên 8.956 người cao tuổi (nam từ 60 tuổi, nữ từ 55 tuổi trở lên) thuộc hai phường
ở thành phố Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ mắc SSTT là 0,64% trong dân số chung và7,9% ở người cao tuổi (≥ 60 tuổi) [16]
Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại các nghiên cứu chuyên sâu về sa súttrí tuệ còn khá ít Năm 2005, Bệnh viện Lão khoa Trung ương thành lập Đơn
vị nghiên cứu về trí nhớ và sa sút trí tuệ với nhiệm vụ trọng tâm là nghiêncứu đặc điểm sa sút trí tuệ ở Việt Nam, biện pháp điều trị và quản lý bệnh nhân.Một khảo sát được Bệnh viện Tâm thần tiến hành trên 258 người từ 65 tuổitrở lên được chọn ngẫu nhiên từ cộng đồng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ
số về tình trạng nhận thức chung (MMSE) trung bình trong nghiên cứu là14,71±7,13 Có 66,7% bệnh nhân có hành động tái diễn; 44,1% bệnh nhân có rốiloạn cảm xúc; 43,2% bệnh nhân có hoang tưởng; 39,2% bệnh nhân có trầm cảm;35% bệnh nhân có kích động hoặc hung hãn; 32,5% bệnh nhân có rối loạn hành viban đêm Điểm số chất lượng cuộc sống trung bình của bệnh nhân do bệnh nhân tự
Trang 20đánh giá là 27,5 (±4,1) cao hơn so với người chăm sóc đánh giá là 24,7(±4,3)(p<0,05; Mann-Whitney test) Những bệnh nhân có trầm cảm, thờ ơ vô cảm, cóhành vi bất thường ban đêm có điểm chất lượng cuộc sống theo người chăm sócđánh giá thấp hơn đáng kể so với những người không có triệu chứng này (p<0,05;Mann-Whitney test) [19].
Nghiên cứu “ Đặc điểm dịch tể học sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại hai quậnhuyện Hà Nội” năm 2014 của Nguyễn Văn Tuấn và cộng sự cho thấy Người caotuổi ở độ tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ càng cao, cứ sau mỗi độ 5 nămtuổi, tỷ lệ này có xu hướng tăng lên 1,5 đến 2 lần: ở nhóm 60 - 64 tuổi là 0,6%, 65 -
69 tuổi: 1,8%, 70 - 74 tuổi: 3,5%, 75 - 79 tuổi: 5,7%, 80 - 84 tuổi: 11,2%, 85 - 89tuổi: 8,6% và từ 90 tuổi trở lên thì tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ chiếm tới 25,0% Sự khácbiệt có ý nghĩa
thống kê (p<0,001) Tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ có xu hướng giảm đi ở những người cótrình độ học vấn cao Tỷ lệ mắc cao nhất ở nhóm biết đọc - biết viết (10,9%), thấpnhất ở nhóm có trình độ học vấn cao (từ đại học – cao đẳng - trung cấp chuyênnghiệp trở lên) (1,8%), (p<0,001) [5]
Nghiên cứu “ Nghiên cứu đặc điểm sa sút trí tuệ tại cộng đồng” của NguyễnKim Việt và cộng sự cho thấy: Nhóm tuổi trên 80 có tỷ lệ SSTT cao nhất: 16,6%;tất cả các bệnh nhân đều có điểm MMSE dưới 20 SSTT mức độ nhẹ có tỷ lệ 2,7%[18]
Nghiên cứu “ Nghiên cứu về dịch tễ học của sa sút trí tuệ tại cộng đồng” củaPhạm Thắng và cộng sự cho thấy: Trình độ văn hoá càng cao, tỷ lệ hiện mắc cànggiảm: Tỷ lệ 10,0% ở nhóm trình độ văn hoá thấp nhất, giảm còn 2,0% ở nhóm tốtnghiệp phổ thông trung học trở lên Tỷ lệ hiện mắc SSTT tăng nhẹ ở nhóm người cótiền sử tăng huyết áp (5,8 so với 4,3), đái đường (9,5 so với 4,5) khi so sánh vớinhóm không có các tiền sử này Tỷ lệ hiện mắc SSTT tăng cao ở nhóm người cótiền sử đột quỵ, chấn thương sọ não, trầm cảm, Parkinson, tiền sử có người thânmắc SSTT [11]
Trang 21Tuy chưa có một điều tra mang tính đại diện cho thực trạng sa sút trí tuệ ởngười cao tuổi tại Việt Nam nhưng qua một số nghiên cứu đã được tiến hành thì tỷ
lệ mắc sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer tại Việt Nam cũng tương tự như ở các nướckhác trong khu vực
1.4 Chất lượng cuộc sống của người bệnh sa sút trí tuệ
1.4.1 Chất lượng cuộc sống của người bệnh sa sút trí tuệ và các phương pháp đánh giá
1.4.1.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống
Mặc dù khái niệm chất lượng cuộc sống đã được sử dụng nhiều, tuy nhiêncho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất toàn cầu cho khái niệm này[73]
Trước Công nguyên, Aristotle đã định nghĩa “chất lượng cuộc sống” là một
“cuộc sống tốt” hoặc “công việc trôi chảy” [70]
Theo Nhóm nghiên cứu về chất lượng cuộc sống thuộc Tổ chức Y tế Thế
giới (WHOQOL-Group) năm 1995 định nghĩa chất lượng cuộc sống là: “Sự nhận thức của mỗi cá nhân về tình trạng hiện tại của mỗi cá nhân đó theo những chuẩn mực về văn hóa và sự thẩm định về giá trị xã hội mà cá nhân đó đang sống; những nhận thức này gắn kiền với mục tiêu, kỳ vọng và những mối quan tâm của cá nhân đó” [74], [68].
1.4.1.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống
Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sa sút trí tuệ rất cần thiết, khôngchỉ phản ánh tác động của bệnh đến cuộc sống của bệnh nhân mà còn giúp đánhgiá hiệu quả của điều trị, chăm sóc một cách rõ ràng
Đối chiếu với định nghĩa về sức khỏe của TCYTTG, chất lượng cuộc sống liênquan đến sức khỏe nói chung được coi là cấu trúc nhiều chiều bao gồm sức khỏe thểlực, sức khỏe tâm trí, chức năng xã hội và toàn trạng nói chung Một trong nhữngquan niệm về chất lượng cuộc sống có ảnh hưởng nhiều nhất là quan niệm củaLawton Ông đã đưa ra khung khái niệm về chất lượng cuộc sống ở người cao tuổibao gồm bốn lĩnh vực quan trọng: năng lực nhận thức, thể trạng tâm trí, môi
Trang 22trường khách quan, nhận thức về chất lượng cuộc sống [67] Nhiều bộ công cụkhác nhau đã được xây dựng để đánh giá chất lượng cuộc sống và được phânloại là đánh giá theo bệnh đặc thù (Disease specific QOL measures) hoặc đánhgiá chung (Generic measures).
Trong đó bộ công cụ đánh giá Chất lượng cuộc sống trong bệnh Alzheimer(Quality of Life – Alzheimer Disease/QOL – AD) là bộ công cụ bao quát, có cấutrúc bao gồm cả các chỉ số khách quan và chủ quan của chất lượng cuộc sống
và được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu trên toàn thế giới Bộ câu hỏi này
đã được dịch ra nhiều thứ tiếng Tính đến năm 2009, bộ câu hỏi này đã được dịch
ra 24 thứ tiếng khác nhau, đã được đánh giá giá trị về mặt ngôn ngữ tại 31 quốcgia, được sử dụng trong nhiều nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới Bộ công cụnày có độ tin cậy nội tại cao thể hiện qua chỉ số Cronbach alpha từ 0,78 đến 0,88[64],[65], [63]
1.5 Chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ
Bệnh nhân sa sút trí tuệ có biểu hiện suy giảm các mặt hoạt động tâm trí, nhất
là các hoạt động chăm sóc cá nhân, các hoạt động quan hệ xã hội do vậy cần đượcchăm sóc tốt tại gia đình Chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ là một thử thách lớn
Sự suy sụp chậm chạp và không rõ giới hạn đòi hỏi người chăm sóc phải rèn luyệntính nhẫn nại, sự hiểu biết, tình thương và óc sáng tạo Điểm quan trọng của việcchăm sóc là tập trung vào những công việc mà người bệnh sa sút trí tuệ vẫn cònthấy thích thú.[66]
Đầu tiên là trợ giúp về trí nhớ: nhằm hổ trợ cho người bệnh khả năng độc lập
Có thể viết ra cho bệnh nhân danh sách các công việc phải làm trong ngày, các sốđiện thoại thường dùng, nhất là số điện thoại của trung tâm giúp đỡ và hướng dẫncác tác vụ đơn giản, như cách pha cà phê, cách sử dụng điện thoại
Tiếp theo là chú ý đến kết cấu nhà ở: Môi trường nhà ở tạo cảm giác bình yênthoải mái và giảm thiếu các sự cố về cư xử Vị trí lạ, tiếng ồn ào, đông người, làmngười bệnh có cảm giác bất an, lo âu và nhiều suy nghĩ khó khăn hơn
Trang 23thang Một số trường hợp cần phải dùng đến những thẻ bỏ túi đơn giản , như “ Hãygọi về nhà” có kèm sổ điện thoại bên dưới, hoặc đeo vòng tay cho bệnh nhân có ghi
rõ tên tuổi, số điện thoại liên lạc và câu ghi chủ “Suy giảm trí nhớ”, Sự đi lạc củabệnh nhân có thể chỉ đơn giản là họ đang tìm kiếm một vật gì đó, như tìm nhà tắm,hay đang cố thực hiện một công việc có ý nghĩa Việc tổ chức cho họ những cuộc đi
bộ vì sức khỏe hàng ngày giúp bệnh nhân giảm bớt tình trạng đi lang thang
Điều cần chú ý nữa là đến buổi tối cần xếp đặt thời gian có trình tự: Thái độ
đềm, tránh xa tiếng ồn của tivi, những bữa ăn tối và các thành viên hiếu động tronggia đình (như trẻ con) Giới hạn lượng caffein trong ngày, những bài thể dục thânthể hàng ngày cũng giúp ích cho sự thư giãn trong giấc ngủ ban đêm
Biện pháp hiệu quả giúp cải thiện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho người bệnh
là tăng cường giao tiếp: Khi nói chuyện với người bệnh, nên chú ý đứng gần họ để
có thể thấy, cầm tay, vai thể hiện sự thân mật và chăm sóc Nói chậm rãi, câu đơngiản và đừng thúc giục họ trả lời Nên dùng nhiều cử chỉ và dấu hiệu, như chỉ vàocác đồ vật Tránh hỏi những câu quá phức tạp dễ làm cho bệnh nhân nản lòng khiphải tìm câu trả lời một cách khó khăn
Bên cạnh đó tạo một môi trường an toànđể tránh những nguy cơ tổn thương
cho người bệnh: Hãy tạo cho nhà của người bệnh trở thành một nơi thân thiện và an
toàn, sắp xếp đồ đạc vào những vị trí cố định, tránh lộn xộn và ngã đổ Khóa tủthuốc, rượu, vật nhọn hay vũ khí, các chất có thể gây ngộ độc, các vật dụng và công
cụ nguy hiểm Dời các dụng cụ điện tránh xa nhà tắm để ngừa sự cố, đặt cố địnhnhiệt độ máy nước nóng không quá 120° F,…
Cần thiết áp dụng các bài tập kết hợpđể có thể đem lại ích lợi cho nhiều bệnhnhân sa sút trí tuệ Thực sự thì tập thể dục luôn có ích cho mọi đối tượng, kể cảngười bệnh lẫn người bình thường, giúp tăng cường sự khỏe mạnh, sức chịu đựng,
có lợi cho hệ tim mạch, cải thiện giấc ngủ và giúp tinh thần sảng khoái Thể dụcgiúp bệnh nhân sa sút trí tuệ duy trì khả năng vận động, duy trì sức khỏe, tính dẻodai và sự thăng bằng - giảm nguy cơ chấn thương nặng do té ngã
Trang 24Cần chia sẻ, cảm thông với người bệnh: Chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ làmột công việc rất khó khăn và đòi hỏi sự kiên nhẫn cao Do sa sút trí tuệ là căn bệnhhầu như không thể chữa khỏi, nên họ phải chịu đựng những chấn thương về thể chất
và tinh thần Người bệnh trở nên nghi ngờ, cáu gắt, bướng bỉnh, khó chịu Vì vậyngười nhà nên chăm sóc nhẹ nhàng, vỗ về với lời nói ngắn gọn, chậm rãi, rõ ràng.Thường xuyên cho con cháu tới thăm hỏi, nhất là trẻ thơ vì chúng là nguồn độngviên tinh thần rất lớn cho người bệnh
Điểm cuối cùng cần lưu ý đó là chế độ ăn uống cho người bệnh: Dầu mỡ, chấtbéo dưới 30% nhu cầu hàng ngày; Rau quả sậm màu: có tác dụng bảo vệ não chốnglại sự lão hóa; Đậu nành: chứa thành phần giống estrogen, rất tốt cho phụ nữ mãnkinh.Xây dựng một khẩu phần ăn đầy đủ, cân bằng, hợp lý Bổ sung đầy đủ cácvitamin B12, B6, omega3, folat… trong các bữa ăn, hạn chế chất béo, muối vàđường Bỏ thuốc lá, hạn chế uống rượu bia… sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ bệnh timmạch, nhũn não, đột quỵ và tai biến mạch máu não Cho người bệnh ăn nhiều bữanhỏ trong ngày, nhắc nhở bệnh nhân ăn uống đúng giờ và uống thuốc đầy đủ
…[72]
1.6 Cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh sa sút trí tuệ
Cải thiện chức năng sinh hoạt hàng ngày và chất lượng cuộc sống có thểlàm chậm mức độ tàn tật và nhu cầu nhập viện của bệnh nhân Những bệnh nhân cóbiểu hiện trầm cảm nặng cần được điều trị Điều trị trầm cảm sẽ cải thiện sự chú ý,
độ tập trung và mức năng lượng, đôi khi giảm tàn tật ở bệnh nhân sa sút trí tuệ Cácbiện pháp tạo môi trường thích hợp, an toàn và hỗ trợ, trong đó bệnh nhân
có thể hoạt động chức năng tối ưu Bệnh nhân sa sút trí tuệ mức độ nhẹ và trungbình hoạt động tốt nhất trong môi trường quen thuộc Đánh giá mức độ an toàn tạinhà và thay đổi một cách thích hợp sẽ giúp bệnh nhân hoạt động chức năngtốt hơn Điều dưỡng viên đến thăm tại nhà có thể theo dõi việc dùng thuốc Cầncung cấp bữa ăn được chuẩn bị sẵn cho bệnh nhân và theo dõi để đảm bảo bệnhnhân được ăn Cần lên kế hoạch sắp xếp các phương tiện đi lại thay thế Duy
Trang 25Điều đầu tiên cần thiết là phải bố trí người nhà luôn ở bên cạnh để chăm sóc
và giám sát bệnh nhân Cần kiên trì hướng dẫn bệnh nhân sử dụng các vật dụngthường dùng và các công việc tự chăm sóc hàng ngày như cách mặc quần áo, ăncơm, đi vệ sinh… Đôi khi cần kích thích cảm giác của người bệnh bằng cách dùng
cà phê, chè, nước hoa cho họ ngửi mùi, giúp họ gọi tên và nhớ lại cách sử dụnghoàn cảnh sử dụng các chất đó
Áp dụng các biện pháp giúp hồi phục trí nhớ bằng cách gợi lại các chuyện cũ,các công việc mà người bệnh đã quen, khuyến khích người bệnh nhớ lại và liên
hệ các hoàn cảnh hay gặp Cần áp dụng biện pháp giúp hồi phục khả năng giao tiếp:Khuyến khích người bệnh nói chuyện, trình bày các suy nghĩ của mình, không ngắtlời họ khi giao tiếp Hướng dẫn họ làm việc bằng các câu đơn giản, Khuyến khích
họ tham gia các hoạt động chung với người khác, tham gia sinh hoạt đội nhóm,tham gia các hoạt động thể lực nhẹ nhàng như đi bộ, thể dục dưỡng sinh…
Cần linh hoạt xử trí khi người bệnh kích thích, có hành vi không phù hợp,phải tìm hiểu yếu tố thúc đẩy xuất hiện các hành vi đó để loại bỏ yếu tố thúc đẩy,kiên nhẫn và đánh lạc hướng họ sang một việc khác [71]
1.7 Mô hình học thuyết áp dụng vào nghiên cứu
Trang 261.1 Mô hình lý thuyết ứng dụng mô hình về sự thích nghi của Roy [43]
Mô hình học thuyết của Roy cho thấy cá nhân con người như một tập hợp các
hệ thống liên quan (sinh học, tâm lý và xã hội) Cá nhân cố gắng duy trì sự cân bằnggiữa các hệ thống này và thế giới bên ngoài, nhưng không có mức độ cân bằng tuyệtđối Các cá nhân cố gắng sống trong một giới hạn mà họ có thể thích nghi
Áp dụng mô hình học thuyết về sự thích nghi của Roy nhằm xác định các yếu
tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc hội chứng sa sút trítuệ, nhận định sự thích nghi của người bệnh với những yếu tố liên quan đó và giúpngười bệnh thích nghi Mô hình sự thích nghi này được dựa vào những cách thíchnghi của người bệnh về tâm sinh lý, xã hội, và sự độc lập hay phụ thuộc
Điều dưỡng để có thể chăm sóc toàn diện cho người bệnh cần nhận định đượcnhững yếu tố gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để có hướngcan thiệp kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả chăm sóc đồng thời cải thiện được chấtlượng cuộc sống của người bệnh
Môi trường kích thích
• Nhân khẩu
học: Tuổi,giới tính,dân tộc,nghềnghiệp,trình độhọc vấn,bệnh mạntính, mức
độ đau,nguy cơ téngã
Đáp ứng tâm - sinh lý
• Các triệu chứng:
hay quên, hoangtưởng, ảo giác, mấtphương hướng,MMSE, kích động,rối loạn hành vi lặplại, hành vi banđêm, rối loạn hành
vi ăn uống
Mức độ thích ứng
• Điểm sốchất lượngcuộc sống
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Dân số mục tiêu: người cao tuổi mắc hội chứng sa sút trí tuệ và người chămsóc chính
- Dân số chọn mẫu: người cao tuổi mắc hội chứng sa sút trí tuệ đến khám vàđiều trị tại Khoa Lão_Chăm sóc giảm nhẹ bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM,thời gian từ tháng 3/2019 đến tháng 6/2019 và người chăm sóc chính chăm sóc họ
- Dân số nghiên cứu: Bệnh nhân người cao tuổi đến điều trị tại KhoaLão_Chăm sóc giảm nhẹ bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM và người chăm sócchính trực tiếp chăm sóc người cao tuổi thỏa tiêu chí chọn vào và không thuộc tiêuchí không chọn vào để đưa vào nghiên cứu
2.1.1 Người cao tuổi mắc hội chứng sa sút trí tuệ
Tiêu chí chọn vào
− Người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên đang điều trị nội trú tại khoa lão bệnh việnĐại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh mắc hội chứng sa sút trí tuệ (MMSE
<24 điểm)
− Tự nguyện tham gia và hợp tác nghiên cứu
− Có trình độ học vấn từ biết đọc - biết viết trở lên, có khả năng giao tiếp
Tiêu chí không chọn vào:
− Người bị khiếm thính, khiếm thị
2.1.2 Người chăm sóc chính
Người chăm sóc chính là người trực tiếp chăm sóc người cao tuổi mắc sa sút trí tuệ
đã được lựa chọn vào nhiên cứu
Tiêu chí chọn vào:
− Người chăm sóc chính của bệnh nhân phải là người trực tiếp chăm sóc bệnhnhân
− Có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên
− Có trình độ học vấn từ biết đọc, biết viết, có khả năng giao tiếp
Trang 28− Đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Tiêu chí không chọn vào: Người bị khiếm thính, khiếm thị
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ ChíMinh
Tháng 3/2012, đơn vị Lão khoa bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ ChíMinh được thành lập với mục tiêu xây dựng và phát triển chuyên sâu về chẩn đoán,tăng cường chăm sóc và điều trị toàn diện cho bệnh nhân cao tuổi
Lão khoa - bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh là một trong số
ít đơn vị trong cả nước nói chung và thành phố nói riêng hoạt động chuyên sâu vềLão khoa và chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân cao tuổi
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05 năm 2018 đến tháng 7 năm 2019.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.4.4 Quy trình nghiên cứu và công cụ thu thập thông tin
2.4.4.1 Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Xác định người cao tuổi và người chăm sóc chính thỏa tiêu chuẩnchọn vào và không thuộc tiêu chí không chọn vào để mời tham gia vào nghiên cứu
Trang 29Bước 2: Tiến hành phỏng vấn người cao tuổi và người chăm sóc chính tạiphòng riêng (phòng trực của điều dưỡng) về các nội dung sau:
Người cao tuổi:
- Các biến số thuộc về nhân khẩu học: tuổi, giới tính, trình độ học vấn,nghề nghiệp trước khi nghỉ hưu, tình trạng hôn nhân, bệnh đi kèm, thời gian bịbệnh
- Đánh giá tình trạng sa sút trí tuệ của người cao tuổi bằng bộ công cụ MMSE(Mini Mental State Exam/ MMSE)
- Chất lượng cuộc sống bằng bộ câu hỏi QOL - AD
+ Các triệu chứng loạn thần: Hoang tưởng, Ảo giác
+ Các triệu chứng rối loạn cảm xúc: Trầm cảm hoặc loạn khí sắc, lo âu,hưng phấn, vô cảm hoặc bàng quan
+ Các triệu chứng rối loạn hành vi: Kích động hoặc hung hãn,Mất ức chế, Cáu kỉnh hoặc cảm xúc không ổn định, Rối loạn vậnđộng, Hành vi của bệnh nhân ban đêm, Hành vi ăn uống
- Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi bằng bộ câu hỏi QOL-AD do người
chăm sóc chính đánh giá
Bước 3: Kiểm tra tính đầy đủ, mã hóa các câu trả lời
Bước 4: Nhập liệu, tiến hành phân tích số liệu và kết luận
2.4.4.2 Công cụ thu thập số liệu
- Phiếu thu thập thông tin của người bệnh và của người chăm sóc chính
- Bộ câu hỏi chất lượng cuộc sống trong bệnh Alzheimer phiên bản dànhcho bệnh nhân sa sút trí tuệ (Quality Of Life in Alzheimer's Disease QOL-AD)gồm 13 câu hỏi Tổng điểm từ 13 đến 52, điểm số cao hơn tương ứng với chất
Trang 30lượng cuộc sống tốt hơn (1 bản dành cho người bệnh tự đánh giá, 1 bản dành chongười chăm sóc chính đánh giá).
- Bộ công cụ đánh giá tình trạng tâm trí thu gọn MMSE (Mini Mental StateExam/ MMSE)
- Bộ câu hỏiđánh giá trạng thái tâm thần kinh của người cao tuổi (NPI)
- Mức độ đau (theo thang điểm 10), hồ sơ bệnh án
- Nguy cơ té ngã (bộ công cụ John Hopkin), hồ sơ bệnh án
2.4.5 Biến số
Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu STT Biến độc lập Định nghĩa và giá trị của biến số Phân loại
1
liên hợp quốc (UNFPA) Tuổiđược tính dựa trên năm sinh theodương lịch của bệnh nhân chiathành 5 giá trị:
Trang 31nhân 1 Đang có vợ/chồng: đối tượng đã
kết hôn, hiện tại đang sống vớivợ/chồng trong gia đình
2 Độc thân: đối tượng chưa từngkết hôn
3 Góa: đối tượng từng kết hôn,hiện tại vợ/chồng của đối tượng đãmất
4 Ly hôn: đối tượng đã chấm dứtquan hệ hôn nhân do Tòa án quyếtđịnh theo yêu cầu của vợ/ chồnghoặc cả hai
5 Ly thân: đối tượng và vợ/chồngkhông còn muốn sống chung vớinhau Trên pháp lý họ vẫn là vợchồng
+ Tiểu học: là những đối tượnghoàn thành bậc học tiểu học hay đãhọc hết lớp 5
+ Trung học cơ sở: là những đốitượng hoàn thành bậc học trunghọc cơ sở hay đã tốt nghiệp lớp 9
Biến danh định,cấp bậc
Trang 322 Trung học phổ thông: bao gồmcác đối tượng đã hoàn thành bậchọc trung học phổ thông hay đã tốtnghiệp lớp 12 mà không đi họctrung cấp hoặc các bậc từ đại họctrở lên.
3 Trung cấp/cao đẳng: là nhữngđối tượng đã hoàn thành khóa họctrung cấp/cao đẳng
4 Đại học/sau đại học: là nhữngđối tượng đã hoàn thành khóa họcđại học, sau đại học
6
làm từng được đối tượng dùngnhiều thời gian để làm nhất vàđược chia thành 4 nhóm:
1 Nông dân, công nhân :bao gồmnhững đối tượng sau:
+ Công nhân: làm việc tại các khucông nghiệp/nhà máy
+ Nông dân: bao gồm làm ruộng
và làm vườn
2 Nội trợ: bao gồm những đốitượng làm việc nhà, không thamgia hoạt động kiếm tiền cho giađình
3 Kinh doanh, thương nhân: baogồm những đối tượng có hoạt động
Biến danh định
Trang 33thương nghiệp
4 Cán bộ viên chức: là nhữngngười làm việc cho Nhà nước vànhận lương từ Nhà nước hoặc làmviệc cho các công ty tư nhân
5 Nghề tự do: bao gồm những đốitượng làm thuê mướn, bán vé số
và thợ hồ…
7
dựa trên sổ nghèo và cận nghèocủa đối tượng và chia thành 3nhóm:
+ Nghèo: là những đối tượng có
sổ nghèo
+ Cận nghèo: là những đối tượng
có sổ cận nghèo
+ Nhóm khác: là những đối tượngkhông có sổ nghèo hoặc cậnnghèo
2.Bệnh về hệ hô hấp: Bao gồm các
Biến danh định
Trang 34bệnh:bệnh viêm họng, viêm phếquản mạn tính, giãn phế quản, tâmphế mạn tính, hen phế quản, bệnhphổi tắc nghẽn mạn tính
3 Bệnh về đường tiêu hóa: baogồm các bệnh viêm loét miệng, ănkhông tiêu, đầy hơi, chướng bụng,táo bón hoặc đi lỏng, viêm loét dạdày, hành tá tràng, trào ngược thựcquản hoặc viêm đại tràng mạntính
4 Bệnh về hệ tiết niệu, sinh dục:
bao gồm các bệnh về hệ tiết niệu,sinh dục, u xơ tiền liệt tuyến, ungthư tiền liệt tuyến
5 Bệnh về hệ xương khớp: baogồm các bệnh: đau xương, khớp,thoái hóa khớp hoặc bệnh gút,loãng xương
6 Bệnh về hệ thần kinh trungương: bệnh Parkinson, bệnh độtquỵ…
7 Bệnh rối loạn chuyển hóa: đáitháo đường, gout, tăng cholesterol,triglyceride máu; rối loạn về chứcnăng gan: SGOT, SGPT tăng…
8 Tổng hợp nhiều nhóm bệnh
Trang 35bệnh thường quên những sự việcvừa mới xảy ra và không nhớ lạiđược, cũng có thể quên ngaynhững điều vừa mới nghe hoặcnhững điều vừa mới dự định làm.
Theo tiến trình của bệnh, sa sút trítuệ ngày càng nặng hơn và bệnhnhân quên cả các sự kiện xảy rangày hôm trước, tuần trước, thángtrước… quên tên người quen cũ,đồng nghiệp, quên các kiến thức
đã học… rồi quên cả các sự kiệnquan trong liên quan đến cuộcsống cá nhân của mình Biến hayquên có 2 giá trị:
1 Có
2 Không
10
Thay đổi tính cách Người mắc hội chứng sa sút trí tuệ
thường thay đổi tính cách khác vớitrước khi mắc bệnh: như âu lo,buồn phiền, giận dữ, dễ kích động,nghi ngờ hoặc sợ sệt và mất tựchủ Có 2 giá trị:
1 Có
2 Không
Biến định tính, nhịgiá
bị ảnh hưởng nghiêm trọng Người
Biến định tính, nhịgiá
Trang 36bệnh thường lạc đường, không nhớđược cách họ đi đến một nơi chốn
cụ thể và quên cách để trở về nhà,dần dần mất hoàn toàn khả năngđịnh hướng không gian và thờigian Có 2 giá trị:
1 Có
2 Không
12
khi ngủ nhiều hơn 8,5 giờ hoặcngủ ít hơn 3,5 giờ / đêm.Bốn triệuchứng chính đặc trưng nhất củacác rối loạn giấc ngủ là: chứngmất ngủ, ngủ nhiều, các rối loạnliên quan đến giấc ngủ và rối loạnnhịp thức ngủ … Những triệuchứng này thường gối lên nhau
Có 2 giá trị:
1 Có
2 Không
Biến định tính, nhịgiá
13
không chịu ăn uống Người bệnhquên ăn hoặc nghĩ là mình đã ănrồi Đồng thời mất đi những khảnăng vận động phản xạ như nuốt(nên dễ bị rối loạn dinh dưỡng vàsặc thức ăn vào phổi gây tắc nghẽnđường thở hoặc gây viêm phổi
Biến định tính, nhịgiá
Trang 37và vài tình trạng khác cũng có thểlàm giảm sự hứng thú trước thức
1 Có
2 Không
Biến định tính, nhịgiá
Trang 382 Sa sút trí tuệ giai đoạn trunggian (10-19 điểm MMSE)
3 Sa sút trí tuệ giai đoạn nặng(dưới 10 điểm MMSE)
18
cơ té ngã John Hopkin Có các giátrị:
1 Nguy cơ té ngã cao (JohnHopkin ≥ 14 điểm)
2 Nguy cơ té ngã thấp (JohnHopkin < 14 điểm)
Biến thứ tự
Trạng thái tâm thần kinh (NeuroPsychiatric Inventory, viết tắt là NPI)
19.1
của hoang tưởng hiện diện trongtháng qua:
Trang 394.Nặng (rất khó chịu, rất khó đốiphó)
5 Cực kỳ nghiêm trọng ( khôngthể đối phó)
20.1
của ảo giác hiện diện trong thángqua:
của triệu chứng ảo
giác lên người
5 Cực kỳ nghiêm trọng ( khôngthể đối phó)
1 Có
2 Không
Biến nhị giá
Trang 405 Cực kỳ nghiêm trọng ( khôngthể đối phó)