Phẫu thuật nội soi bệnh lý tuyến giáp đã được thực hiện bởi Michel Gagner là phẫu thuật viên tiên phong mở đường cho một quá trình phát triển của kỹ thuật điều trị ít xâm hại Bệnh lý tuyến giáp. Bài viết trình bày đánh giá hiệu quả, an toàn của phẫu thuật nội bệnh lý tuyến giáp tại Bệnh Viện Đa khoa khu vực Tỉnh An Giang.
Trang 1BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT NỘI SOI BỆNH LÝ
TUYẾN GIÁP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
KHU VỰC TỈNH AN GIANG
Lữ Văn Trạng, Trần Phước Hồng Nguyễn Tấn Huy, Nguyễn Ngọc Thanh
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi bệnh lý tuyến giáp đã được thực hiện bởi Michel Gagner
là phẫu thuật viên tiên phong mở đường cho một quá trình phát triển của kỹ thuật điều trị ít xâm hại Bệnh lý tuyến giáp Năm 2003, Viện Nội Tiết Trung ương triển khai phẫu thuật nội soi cắt bướu giáp nhân Năm 2008, Bệnh viện Đa khoa khu vục Tỉnh An Giang đã triển khai điều trị phẫu thuật nội soi cho nhiều loại bệnh lý khác nhau, trong đó đến năm 2013 thí kỹ thuật phẫu thuật cắt tuyến giáp nội soi đã được tiến hành
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả, an toàn của phẫu thuật nội bệnh lý tuyến giáp
tại Bệnh Viện Đa khoa khu vực Tỉnh An Giang
Đối tượng nghiên cứu: 16 bệnh nhân được phẫu thuật cắt giáp nội soi tại Bệnh Viện Đa
khoa khu vực Tỉnh An Giang từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 9 năm 2016
Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả cắt ngang
Kết quả nghiên cứu:16 bệnh nhân tuổi từ 16 đến 53, Nữ 100%, kìch thước bướu từ 1,0–
4,4cm, bướu giáp đơn nhân (11 bn chiếm 68,75%), bướu giáp 2 thùy (4 bn chiếm 25%) Cắt nhân giáp (3 bn chiếm 18,75%), cắt trọn thùy tuyến giáp 11 bệnh nhân (68,75%), cắt bán phần tuyến giáp (2 bn chiếm 12,5%), thời gian mổ từ 70 đến 190 phút, trung bình 114±41phút , thời gian nằm viện 7,44 ngày, không trường hợp nào thất bại chuyển sang mổ
hở, tụ dịch sau mổ (4 bn chiếm 25%), khàn tiếng tạm thời là 1 bệnh nhân (6,25%), 15/16 bn ( 93,75%) rất hài lòng và hài lòng về kết quả phẫu thuật
Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt bướu giáp tại Bệnh Viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang
là an toàn và hiệu quả
Từ khóa: phẫu thuật nội soi cắt tuyến giáp
PRELIMINARY ASSESSMENT OF TREATMENT RESULTS OF ENDOSCOPIC THYROIDECTOMY AT REGIONAL HOSPITAL AN GIANG PROVINCE
Lu Van Trang, Tran Phuoc Hong Nguyen Tan Huy, Nguyen Ngoc Thanh Abstract
Background: Laparoscopic surgery thyroid disease was made by Michel Gagner is the
pioneering surgeon opens the way for a process of technical development of the minimally invasive treatment of thyroid disease In 2003, the Central Institute of Endocrinology laparoscopy deploy cutting human goiter In 2008, the Hospital sector in An Giang Province has implemented laparoscopic surgical treatment for different types of diseases, including
2014, the surgical technique endoscopic thyroid was conducted
Research Objectives: To assess the effectiveness and safety of surgery in thyroid
pathology local general hospital area of An Giang Province
Subjects: 16 patients received endoscopic thyroid surgery at Regional General Hospital
in An Giang Province from January 2016 to September 2016
Trang 2Results: 16 patients aged 16 to 53, Female 100%, from 1,0-4,4cm size tumor, goiter
mononuclear (11 patients accounted for 68.75%), two-lobed thyroid disease (4 25% of patients) Cut nodule (3 patients accounted for 18.75%), thyroid lobe full cut 11 patients (68.75%), thyroid partial cutting (2 bn or 12.5%), the operating time from 70 to 190 minutes, averaging 114 ± 41phut, length of hospital stay 7.44 days, no cases of failure to switch to open surgery, postoperative seroma (4 patients accounted for 25%), temporary hoarseness is 1 patient (6 , 25%), 15/16 patients (93.75%) are very satisfied and happy with the results of surgery
Conclusion: Laparoscopic surgery cut goiter at regional general Hospital in An Giang
province is safe and effective
Keywords: Endoscopic thyroidectomy,
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bướu giáp nhân là một tổn thương riêng biệt nằm trong tuyến giáp Ở Hoa Kỳ, những tổn thương trong tuyến giáp được phát hiện qua khám lâm sàng chiếm tỉ lệ 4% đến 7% Tuy nhiên, những tổn thương được phát hiện qua siêu âm hoặc nghiên cứu trên tử thi chiếm tỉ lệ tới 19% đến 67% Mỗi năm tỉ lệ mắc mới khoảng 0,1% và khoảng 300.000 ca bướu giáp mới được phát hiện Tỉ lệ mắc ở nữ gấp 4 lần nam giới, tăng lên theo tuổi, ảnh hưởng bởi sự phơi nhiễm bức xạ và chế độ ăn uống thiếu iodine Ở những vùng thiếu iodine, bệnh bướu giáp được báo cáo với tần suất khoảng 15% [8]
Tại Việt Nam, tình hình bệnh tùy thuộc vào từng địa phương, theo tác giả Đặng Trần Duệ
tỉ lệ bệnh nhân có bướu giáp ở Hà Nội là 3 -7%, còn theo Trần Minh Hậu ở Thái Bình là 7,51% Đa số bệnh nhân đến bệnh viện khám và điều trị là vì lí do phát hiện bướu ở cổ, một phần trong số này có chỉ định điều trị ngoại khoa [2]
Trong phẫu thuật bướu giáp, sẹo mổ ở cổ luôn là nổi ám ảnh của bệnh nhân, đặc biệt đối với những bệnh nhân nữ trẻ Phẫu thuật nội soi tuyến giáp được Gagner thực hiện lần đầu tiên vào năm 1996 Bên cạnh những ưu điểm chung của phẫu thuật nội soi như là xâm lấn ít, tính thẩm mỹ cao còn đạt được hiệu quả điều trị tương đương với mổ hở [9]
Từ khi được giới thiệu vào năm 1996, phẫu thuật nội soi bướu giáp đã trở thành một phương pháp chuẩn Phương pháp này vẫn luôn tồn tại những đòi hỏi khắc khe và thách thức
về mặt kỹ thuật, chình điều này đã làm chậm lại quá trình lan rộng của nó Trong suốt thời gian dài, các phẫu thuật viên đã lưỡng lự áp dụng phương pháp mới này bởi sự cân nhấc về những lợi ìch đạt được và giá thành của nó [6]
Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tỉnh An Giang, hàng năm chúng tôi phẫu thuật hơn 100
ca bướu giáp bằng phương pháp hở kinh điển, hầu hết các bệnh nhân đều để lại sẹo mổ rõ ràng ngay trên cổ gây mất thẩm mỹ Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chúng tôi đã bước đầu thực hiện phương pháp phẫu thuật nội soi cắt tuyến giáp từ năm 2013 Ví thế chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá tình khả thi và an toàn của phẫu thuật nội soi điều trị bướu tuyến giáp
Xác định các tai biến trong mổ
Xác định các biến chứng sau mổ
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 3Tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật nội soi cắt bướu tuyến giáp tại Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang năm tháng 1năm 2016 – tháng 9 năm 2016 theo tiêu chuẩn chọn bệnh
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân :
Những bệnh nhân thỏa các điều kiện của phương pháp PTNS điều trị bướu tuyến giáp như:
- Bướu giáp có kìch thước nhỏ hơn 5cm qua siêu âm
- Bệnh nhân có thể trạng đủ điều kiện thực hiện phẫu thuật nội soi, gia đính và bệnh nhân đồng ý thực hiện cắt bướu giáp qua phẫu thuật nội soi
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Có bệnh nội khoa chống chỉ định PTNS
- Có tiền sử phẫu thuật vùng cổ
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện ĐKKV tỉnh An Giang
- Thời gian nghiên cứu: từ 1/2016 đến 9/2016
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Loại hình nghiên cứu: Đề tài được tiến hành theo phương pháp tiến cứu, mô tả
cắt ngang không có nhóm đối chứng
2.3.2 Nội dung nghiên cứu:
1 Đặc điểm chung
- Tuổi trung bình, theo nhóm - Giới tính: nam, nữ; nghề nghiệp
2 Lâm sàng
- Dấu hiệu chèn ép: Khó nuốt, nuốt vướng, khó thở, nói khàn…
- Qua thăm khám sờ được nhân tuyến giáp vùng trước cổ
- Vị trí-Kìch thước
3 Cận lâm sàng
- Siêu âm tuyến giáp: Vị trì, kìch thước, số lượng, tính chất của nhân
- Xét nghiệm sinh hóa: Định lượng FT3, FT4, TSH cho tất cả bệnh nhân
4 Phẫu thuật
- Phương pháp phẫu thuâ ̣t: cắt nhân, cắt bán phần thùy, cắt trọn thùy
- Thời gian phẫu thuật- Chuyển mổ mở
- Thời gian nằm viện sau mổ
- Sự hài lòng của bệnh nhân
5 Tai biến và biến chứng
- Ghi nhận: qua theo dõi bê ̣nh nhân trong và sau mổ
- Tai biến và biến chứng sớm: chảy máu, suy hô hấp, tổn thương dây thần kinh quặt ngược, tetani tạm thời, ứ dịch vết mổ, tràn khì dưới da, nhiễm trùng vết mổ
6 Đánh giá kết quả sau mổ:
Tốt: Không có tai biến, biến chứng
Khá: Có tai biến, biến chứng nhẹ: chảy máu, khàn tiếng, đau tê vùng mổ
Trung bình: Có tai biến, biến chứng nhẹ + Nhiễm trùng vết mổ kéo dài hoặc
chuyển mổ mở
Kém: Có tai biến, biến chứng nặng: Tổn thương thần kinh, cận giáp, khí quản, bó
Trang 42.3.3 Thu thập số liệu:
Số liệu được thu thập theo một mẫu bệnh án thống nhất định sẳn
2.3.4 Phương pháp tiến hành nghiên cứu:
Tư thế bệnh nhân
Bệnh nhân nằm ngữa, cổ hơi xoay sang bên đối diện với tổn thương, 2 tay dạng, với cánh tay cùng bên phẫu thuật dạng cao hơn để mở rộng vùng ngực nách Dùng một gối nhỏ
để độn dưới vai-cổ của bệnh nhân
Màn hính phìa trên đầu bệnh nhân, đối diện bên phẫu thuật
Phẫu thuật viên đứng cùng bên tổn thương Phụ mổ 1 đứng cùng bên với phẫu thuật viên Phụ mổ 2 đứng bên đối diện
Lỗ trocar
Chúng tôi tạo khoang PT theo đường ngực nách cùng bên với tổn thương với 3 lỗ trocar
Trocar 10mm: ở đường nách trước ngay bờ trên của mô tuyến vú
Trocar 5mm: trocar hoạt động, được đặt ở ngay trên nếp gấp ngực nách
Trocar 5mm: trocar hoạt động, được đặt ở vị trí 2 giờ đối với quầng vú phải và 11 giờ đối với quầng vú trái ngay bờ của quầng vú
Tạo khoang
Sử dụng móc đốt monopolar bóc tách tạo khoang Ranh giới bóc tách tạo khoang là ngay mặt trên cơ ngực lớn (mạc ngực) ở vùng ngực và ngay trên mạc cổ nông ở vùng cổ Các mốc giải phẫu mà chúng tôi xác định để tạo khoang:
- Dưới: thấy hõm ức
- Ngoài: thấy được bờ ngoài cơ ức đòn chũm cùng bên (tránh làm tổn thương bó mạch ngang cổ và đám rối thần kinh cổ nông)
- Trong: thấy được bờ trong cơ ức đòn chũm đối diện
- Trên: bờ dưới sụn nhẫn
Hình vị trí các lỗ trocar
Tiếp cận tuyến giáp
Mở dọc bờ trong cơ ức đòn chũm cùng bên, thấy rõ bờ dưới cơ vai móng, cơ ức giáp,
cơ ức móng
Trang 5Mở dọc giữa bó cơ ức móng và ức giáp vào mô tuyến giáp và bọc lộ dọc theo tuyến giáp để thấy cực trên và dưới của tuyến giáp
Cắt tổn thương
Dùng dao cắt đốt siêu âm Harmonic Scaple
Tìm dây thần kinh quặc ngược thanh quản
Cắt bỏ tổn thương của TG (bán phần hoặc trọn thùy), chú ý tránh tổn thương tuyến cận giáp
Kết thúc
Bơm rửa và kiểm tra chảy máu
Cho mẫu mô vào túi nylon và lấy ra ngoài qua lỗ trocar 10mm
Ép đuổi khí trong khoang phẫu thuật
Đặt dẫn lưu nếu cần
Khâu kín lỗ trocar
2.4 Phương pháp xử lý số liệu:
- Dữ liệu thu thập được lưu trữ trên máy vi tính, xử lý theo các thuật toán thống kê với chương trính SPSS 16.0
- Các dữ liệu được so sánh và đánh giá bằng các phép kiểm thống kê thông dụng như chi bính phương với độ tin cậy 95%
- Tỉ lệ được tính cho các biến số định tính
- Trung bính và độ lệch chuẩn được tính cho các biến số định lượng
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian 9 tháng (tháng 1 năm 2016 đến tháng 9 năm 2016) chúng tôi thu thập được 16 bệnh nhân thỏa điều kiện được đưa vào nghiên cứu
3.1 Tuổi: tuổi nhỏ nhất 16, lớn nhất 53, trung bình 29,43 tuổi, nữ (100%)
3.2 Nghề nghiệp: nội trợ 14 bệnh nhân (87,5%), làm ruộng 2 bệnh nhân (12,5%)
3.4 Kích thước của bướu: Nhỏ nhất 10mm, lớn nhất 44mm, trung bình 29,5±9,6mm 3.5 Phân loại bệnh phẫu thuật: bướu giáp đơn nhân 1 thùy: 12 bệnh nhân (62,5%),
bướu giáp đa nhân một thùy: 2 bệnh nhân (12,5%), bướu giáp đơn nhân 2 thùy 1 bệnh nhân (6,2%), bướu giáp đa nhân 2 thùy: 3 bệnh nhân (18,8%)
3.6 Phương pháp phẫu thuật
Bảng 1: phương pháp phẫu thuật
Nhận xét:
Phương pháp được chọn phẫu thuật phần lớn là cắt trọn thùy (11/16bn) chiếm 68,8%, còn
lại 2 phương pháp cắt nhân giáp và cắt bán phần thùy ìt được áp dụng
3.7 Thời gian phẫu thuật: Ngắn nhất 70 phút, dài nhất: 190 phút, trung bình 113 phút 3.8 Thời gian nằm viện
Ngắn nhất 5 ngày, dài nhất 10 ngày, trung bình 7,44 ngày
3.9 Biến chứng sau mổ
Trang 6Bảng 2: Biến chứng sau mổ
Tổn thương dây thần kinh quặt
ngược (khàng giọng)
Nhận xét:
Trong nghiên cứu chỉ có biến chứng tụ dịch vùng mổ 4 bn chiếm tỉ lệ 25%, khàng giọng 1 bn chiếm 6,25%, các biến chứng khác chưa ghi nhận được
3.10 So sánh biến chứng tụ dịch sau mổ giữa nhóm bướu giáp 1 thùy và bướu giáp 2 thùy
Bảng 3: So sánh biến chứng tụ dịch vùng mổ giữa bướu giáp 1 thùy và bướu 2 thùy
Bướu giáp 1 thùy 2(16,66%) 10( 83,34%) 0,182
Bướu giáp 2 thùy 2(50%) 2 (50%)
Nhận xét:
Bướu giáp 2 thùy có khả năng tụ dịch vùng mổ nhiều hơn so với nhóm bướu giáp 1 thùy, ( 50% so với 16,6%) tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê với p=0,182
3.11 Sự hài lòng sau mổ
Rất hài lòng: 12 bn (75%), hài lòng 3 bn (18,8%), chưa hài lòng 1bn (6,2%)
IV BÀN LUẬN
4.1 Một số đặc điểm chung
Trong nhóm nghiên cứu, độ tuổi trung bính là 29,43 Đây là độ tuổi trẻ, giới nữ chiếm 100% Tác giả Phạm Công Khánh [3] phẫu thuật cho 20 trường hợp với nam (10%), nữ (90%), tuổi trung bình là 36,8 Tác giả Hồ Nam [4] phẫu thuật nội soi cho 76 bệnh nhân, với nam (8 bệnh nhân), nữ (68 bệnh nhân), tuổi trung bình là 32 Tác giả Tô Minh Khá 2015 phẫu thuật cho 37 bệnh nhân, nam chỉ 2,7%, tuổi trung bình 36,41, thấp nhất 19, cao nhất 63 tuổi
4.2 Kích thước bướu và vấn đề chỉ định phẫu thuật
Trịnh Minh Tranh [5] chỉ định phẫu thuật cho bướu giáp nhân lành tính có kích thước
≤ 4cm Chúng tôi chỉ định cho kìch thước của bướu ≤ 5 cm, bướu giáp đa nhân một thùy và bướu giáp đa nhân hai thùy nhưng kìch thước toàn bộ tuyến giáp ≤ 5cm Trong tương lai chúng tôi sẽ nâng chỉ định cho những bướu có kìch thước lớn hơn
Trang 7Chỉ định cắt thùy, cắt toàn bộ tuyến giáp hoặc cắt một phần tuyến giáp kèm bướu tùy thuộc vào thương tổn cụ thể thám sát được trong mổ của tuyến giáp
4.3 Biến chứng sau mổ
04 trường hợp tụ dịch sau mổ được xử lý rút dịch và băng ép nhiều nhất 3 lần các bệnh nhân đều ổn định,1 trường hợp khàn tiếng tạm thời sau mổ cắt toàn bộ tuyến giáp cải thiện sau một tháng Về sau này chúng tôi áp dụng phẫu tích bộc lộ dây thần kinh quặt ngược rồi mới cắt tuyến giáp đã giảm hẳn tỷ lệ tổn thương dây thần kinh quặt ngược của bệnh nhân Trịnh Minh Tranh [5] ghi nhận tụ dịch vùng mổ xảy ra nhiều nhất trong các biến chứng, một trường hợp khàn tiếng sau mổ (127 bệnh nhân) Hồ Nam [3] ghi nhận có hai trường hợp chuyển mổ hở cầm máu, 2 trường hợp tê tay thoáng qua (40 bệnh nhân)
4.4 Thời gian phẫu thuật và thời gian nằm viện
Thời gian mổ ngắn nhất trong nghiên cứu là 70 phút, kéo dài nhất 190 phút Thời gian nằm viện sau mổ trong nghiên cứu của chúng tôi là trung bình 7,44 ngày (5-10 ngày).Trịnh Minh Tranh [5] phẫu thuật từ 45 đến 260 phút Theo Tô Minh Khá thời gian phẫu thuật trung bình 105 phút (90-180 phút), thời gian nằm viện chỉ 3,88 ngày Nhìn chung thời gian
mổ trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi trong gian đoạn đầu thực hiện tương đồng với nhiều tác giả trong nước, tuy nhiên thời gian nằm viện có kéo dài hơn nhiều so với các tác giả trên, có lẽ do giai đoạn đầu triển khai chúng tôi muốn theo dõi và xác định rõ các biến chứng sau mổ tại bệnh viện để xử lý kịp thời nhằm đem lại lòng tin cho bệnh nhân chọn kỹ thuật mổ này tại bệnh viện
4.5 Kết quả thẩm mỹ, sự hài lòng của người bệnh
16 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có 15/16 bệnh nhân hài lòng với kết quả phẫu thuật chiếm 93,8% Một bệnh nhân chưa hài lòng do tụ dịch vùng mổ phải vào bệnh viện để chọc hút dịch làm bệnh nhân lo lắng mặc dù sau 3 tháng bệnh nhân vẫn phục hồi tốt Trong các nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng đinh tình thẩm mỹ, an toàn của bệnh nhân sau mổ bướu giáp qua nội soi [1], [2], [6], [7]
V KẾT LUẬN
Qua bước đầu thực hiện 16 trường hợp phẫu thuật nội soi bệnh lý tuyến giáp tại Bệnh Viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang, chúng tôi có một số kết luận sau:
- Phẫu thuật nội soi một số bệnh lý tuyến giáp đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ, bệnh nhân sau mổ hài lòng với kết quả điều trị
- Phẫu thuật nội soi tuyến giáp tại bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang là an toàn, hiệu quả
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Phi Hùng, Trần Quốc Tuấn, Châu Phú Vĩnh (2013), “ Kết quả bước đầu
phẫu thuật bướu giáp lành tính bằng nội soi tại bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long”, Hội nghị khoa học phẫu thuật nội soi – nội soi lần thứ IV và hội nghị ngoại khoa toàn quốc 2013
2 Tô Minh Khá, Huỳnh Văn Tụi, Hồ Trung Nghĩa (2015), “Đánh giá kết quả điều trị
bướu giáp thể đơn nhân bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Quân Y 121, Kỷ yếu Hội nghị khoa học Bệnh viện quân y 121 năm 2015
3 Phạm Công Khánh, Nguyễn Hữu Thịnh (2012), “ Phẫu thuật nội soi cắt tuyến giáp
điều trị bướu giáp nhân lành tình: 20 trường hợp đầu tiên”, Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16
* Phụ bản của Số 1, 47-52
Trang 84 Hồ Nam, Nguyễn Bá Minh Nhật, Hồ Khánh Đức, Nguyễn Văn Việt Thành (2009),
“Phẫu thuật nội soi điều trị bướu giáp tại bệnh viện Bính Dân” Báo ngoại khoa Việt Nam tập
60, Số đặc biệt “Đại hội phẫu thuật nội soi Châu Á Thái Bính Dương (ELSA) lần thứ X” Hà
Nội, ngày 25-27/11/2010, tr.374-379
5 Trịnh Minh Tranh, Vũ Quang Việt (2013), “ Nghiên cứu chỉ định điều trị bướu giáp
đơn nhân bằng phẫu thuật nội soi”, Y Học TP Hồ Chí Minh, Số 6 (17), 144-149
6 Luca Ansaloni, Carlo Bellotti (2015), “Minimally invasive video-assisted
thyroidectomy: Ascending the learning curve”, Journal of Minimal Access Surgery, 11(2),119-122
7 Martin Chovanec (2014), “Minimally Invasive Video-Assisted versus Minimally
Invasive
Nonendoscopic Thyroidectomy”, BioMed Research International, 1-7
8 Gouda M El-Labban (2009), “Minimally invasive video-assisted thyroidectomy
versus conventional thyroidectomy: A single-blinded, randomized controlled clinical trial”, Journal of Minimal Access Surgery, 5(4), 97-102
9 Eugene N Myers (2008), “Section 6: Thyroid and parathyroid”, Operative
Otolaryngology Head and Neck Surgery, Volume 2, 541-555