Bài viết trình bày xác định tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng và sử dụng chế độ dinh dưỡng theo bệnh lý; tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến bệnh nhân không sử dụng chế độ dinh dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Huyện Tịnh Biên năm 2016.
Trang 1KHẢO SÁT THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ NHU CẦU SỬ DỤNG CHẾ ĐỘ DINH
DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN NGƯỜI LỚN CÓ MỘT SỐ BỆNH LÝ
ĐẶC BIỆT (KHÔNG LÂY) ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN TỊNH BIÊN NĂM 2016
Phạm Thanh Hải Mai Xa Huỳn Thị Mỹ Dun , Nguyễn Thị Xuâ Quan
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Ăn uống không chỉ là đáp ứng nhu cầu cấp thiết hàng ngày, mà còn là biện pháp duy trì, nâng cao sức khỏe và tăng tuổi thọ [7] Tuy nhiên, ăn thiếu hoặc thừa các chất dinh dưỡng đều có thể gây bệnh, thậm chí làm tăng nguy cơ tử vong; nghiên cứu về thực
trạng kiến thức và nhu cầu sử dụng chế dinh dưỡng theo bệnh lý là cần thiết Mục tiêu: Xác
định tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng và sử dụng chế độ dinh dưỡng theo bệnh lý; tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến bệnh nhân không sử dụng chế độ dinh dưỡng tại Bệnh viện đa
khoa Huyện Tịnh Biên năm 2016 Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, với kỹ thuật
chọn mẫu thuận tiện ở 400 bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú sau 48 giờ, được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi về đặc điểm chung, bảng kiểm đánh giá kiến thức chung và các yếu tố liên quan đến bệnh nhân không sử dụng chế độ dinh dưỡng; nhập liệu và xử lý số liệu bằng phần
mềm SPSS 18.0 Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức chung đúng là 55,25%; tỷ lệ bệnh
nhân sử dụng chế độ dinh dưỡng theo một số bệnh lý đặc biệt không lây là 36,8%; tìm thấy
sự liên quan giữa nhóm tuổi, thói quen ăn uống tại nhà, tiếp cận sự tư vấn, hướng dẫn của Bác sĩ, Điều dưỡng và kiến thức chung với bệnh nhân không sử dụng chế độ ăn theo bệnh lý
với p<0,05 Kết luận: Tư vấn, hướng dẫn và chỉ định bệnh nhân tuân thủ thực hiện chế độ
ăn theo bệnh lý là việc làm cần được quan tâm duy trì thường xuyên
A REAL SURVEY OF KNOWLEDGE AND NEEDS OF USING NUTRITION REGIME
ADULT TO PATIENTS WHO HAVE SOME SPECIAL MEDICAL
(NOT SPREAD) TREATMENT AT HOSPITAL IN 2016 Tinh Bien district
SUMMARY
Background: Eating is not only to meet urgent needs daily, but also is measures to
maintain, improve health and increase longevity [7] However, eating with shortage or excess of nutrients can cause illness and even increase the risk of death; researches on the status of knowledge and the demand for nutrient preparations are needed pathology
Objective: Determine the percentage of patients with the right knowledge and use of
nutrition by diseases; learn a number of factors related to patients not using nutrition at
Hospital Tinh Bien District 2016 Methods: Cross-sectional descriptive study, with
convenient sampling technique in 400 patients inpatient hospital treatment after 48 hours, interviewed by a questionnaire on general characteristics, assessment checklist general knowledge and factors related to patients not using the diet; data entry and data processing
using SPSS 18.0 software Results: The proportion of patients with the right general
knowledge is 55.25%; the proportion of patients using diet according to some non-communicable diseases in particular is 36.8%; found an relation between ages, eating habits at home, accessment to the advice and guidance of Doctors, Nurses and general
knowledge with patients who did not use under medical diet with p<0,05 Conclusion:
Advice, guidance and patient compliance to perform under pathological diet that
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ăn uống và sức khỏe càng ngày càng được chú ý và có nhiều y văn cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa ăn uống và sức khỏe Ăn uống không chỉ là đáp ứng nhu cầu cấp thiết hàng ngày, mà còn là biện pháp duy trì, nâng cao sức khỏe và tăng tuổi thọ [7] Các chất dinh dưỡng được cung cấp thông qua ăn uống giúp con người tồn tại và phát triển Tuy nhiên, ăn thiếu hoặc thừa các chất dinh dưỡng và không đảm bảo vệ sinh thực phẩm đều có thể gây bệnh, thậm chì làm tăng nguy cơ tử vong Đối với người bệnh nằm viện, tình trạng dinh dưỡng kém sẽ làm tăng tỷ lệ biến chứng và tử vong, thời gian nằm viện kéo dài, chi phí điều trị tăng; tuy nhiên thừa dinh dưỡng cũng là một trong những yếu tố nguy cơ gây bệnh mạn tình như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, thừa cân, béo phì, các bệnh tim mạch…Thực hiện chỉ đạo của Bộ y tế về triển khai tiết chế dinh dưỡng cho một số bệnh
lý đặc biệt; Bệnh viện đa khoa Huyện Tịnh Biên đã thực hiện cung cấp khẩu phần ăn cho bệnh nhân tăng huyết áp, tiểu đường, suy tim, suy thận mãn và suy dinh dưỡng ở trẻ em từ
2013 cho đến nay, hàng năm số suất ăn đăng ký năm sau đều cao hơn năm trước, cụ thể năm
2013 có 308 suất, năm 2014 có 554 suất và năm 2015 là 996 suất; tỷ lệ này còn đạt rất thấp
so với tình hình thu dung các bệnh lý đặc biệt (không lây) ngày càng tăng tại các khoa điều trị Bệnh viện đa khoa Tịnh Biên; bên cạnh đó việc sử dụng chế độ ăn theo bệnh lý tại bệnh viện còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như người bệnh có được tư vấn và chỉ định chế độ ăn theo bệnh lý hay không, vấn đề kiến thức hiểu biết của người bệnh, điều kiện kinh tế gia đính, khẩu vị của chế độ ăn… Để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị cũng như để chia sẽ
những thông tin cho các nghiên cứu cùng loại sau này; chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Khảo sát thực trạng kiến thức và nhu cầu sử dụng chế độ dinh dưỡng ở bệnh nhân người lớn
có một số bệnh lý đặc biệt (không lây) điều trị tại Bệnh viện đa khoa Huyện Tịnh Biên năm
2016” Mục tiêu của đề tài: Xác định tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng và sử dụng chế độ
dinh dưỡng theo một số bệnh lý đặc biệt; tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến bệnh nhân không sử dụng chế độ dinh dưỡng theo một số bệnh lý đặc biệt (không lây) tại Bệnh viện đa khoa Huyện Tịnh Biên năm 2016
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành trên 400 bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện huyện Tịnh Biên, An Giang Áp dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện Tất cả bệnh nhân và hồ sơ bệnh án của bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên nhập viện điều trị sau 48 giờ, đã được chẩn đoán một trong các bệnh lý như Tăng huyết áp (THA), Đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2, suy tim (ST), suy thận mãn(STM) sẽ được chọn vào mẫu nghiên cứu Số liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn Nội dung nghiên cứu bao gồm đặc điểm chung; bảng kiểm đánh giá về kiến thức có 10 câu hỏi sử dụng riêng cho từng bệnh Nhập liệu, xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0; phân tích sự liên quan giữa các yếu tố sử dụng phép kiểm định χ2, tính OR, chọn khoảng tin cậy 95% với mức có ý nghĩa thống kê khi p< 0,05
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trang 3> 40 tuổi 379 94,75
Học vấn
Cán bộ hưu trí/ mất sức lao động 265 66,3
Thường xuyên sử dụng chế độ ăn tại nhà theo hướng dẫn của thầy
Bệnh nhân được tư vấn, hướng dẫn của Bác sỉ, Điều dưỡng về
Sử dụng chế độ ăn theo bệnh
lý tại Bệnh viện
Lý do bệnh nhân không sử
dụng chế độ ăn theo bệnh lý
(n=253)
Không có ai tư vấn, hướng dẫn 75 29,64 Điều kiện kinh tế gia đình khó
khăn
66 26,09
Chế độ ăn không hợp khẩu vị 91 35,97
3.2 Khảo sát kiến thức về sử dụng chế độ dinh dưỡng theo bệnh lý ở đối tượng nghiên cứu
Bảng 2 Kiến thức chung ở đối tượng nghiên cứu
(%)
Đúng (%) Chưa đúng (%) Bệnh nhân Tăng huyết áp (THA) 147(62,02) 90 (37,98) 237(100)
Bệnh nhân Đái tháo đường typ 2 (ĐTĐ) 37 (46,25) 43 (53,75) 80(100)
Bảng 3 Liên quan giữa đặc điểm chung với bệnh nhân không sử dụng chế độ ăn theo bệnh
lý tại BV
Đặc điểm
Sử dụng chế độ ăn theo bệnh lý tại BV Tần số
(%)
χ 2
, OR (KTC 95%)
p
Có (%) Không có
(%)
Trang 4Từ ≤ 40 tuổi
Từ > 40 tuổi
03(14,3) 144(38)
18(85,7) 235(62,0)
21(100) 379(100)
0,27 (0,79-0,94)
0,028
Nam
Nữ
51(36,2) 96(37,1)
90(63,8) 163(62,9)
141(100) 259(100)
0,962 (0,63-1,47)
0,86
Kinh Khmer
118(38,4) 29(31,2)
189(61,6) 64(68,8)
307(100) 93(100)
1,378 (0,84-2,26)
0,204
Không biết chữ
Cấp 1, cấp 2
Cấp 3 Trung cấp, CĐ nghề và ≥ĐH
69(39,0) 54(31,2) 24(50) 0(0)
108(61,0) 119(68,8) 24(50,0)
02 (100)
177(100) 173(100) 48(100) 02(100)
7,448
0,059
Thất nghiệp, làm mướn
Nông dân
Công nhân
Buôn bán
CB.CNVC
Cán bộ hưu trì,mất sức lao động
Khác
02(33,3) 16(27,6) 01(50,0) 09(52,9) 0(0) 108(40,8) 11(22,9)
04(66,7) 42(72,4) 01(50,0) 08(47,1) 04(100) 157(59,2) 37(77,1)
06(100) 58(100) 02(100) 17(100) 04(100) 265(100) 48(100)
12,298 0,056
Hộ nghèo
Không nghèo
14(19,7) 133(40,4)
57(80,3) 196(59,6)
71(100) 329(100)
0,362 (0,19-0,68)
0,001
Tự chế biến thức ăn tại nhà
Từ sản phẩm chế biến sẳn
126(38) 21(30,9)
206(62,0) 47(69,1)
332(100) 68(100)
1,369 (0,78 - 2,4)
0,271
Ăn theo hướng dẫn thầy thuốc
Khác
106 (95,5) 41(14,19)
5 (4,5) 248(85,81)
111(100) 289(100)
131,44 (50,5- 342)
<0,001
Có tư vấn, hướng dẫn
Không có tư vấn, hướng dẫn 146(50,2)
01(0,9)
145(49,8) 108(99,1)
291(100) 109(100)
108,75 (15 - 789,5)
<0,001
Kiến thức chung đúng
Kiến thức chung chưa đúng 136(61,8)
11(6,1)
84(38,2) 169(93,9)
220(100) 180(100)
24,874 (12,8-48,5)
<0,001
4 BÀN LUẬN
4.1 Về khảo sát đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:
Nhín chung các đối tượng tham gia nghiên cứu có nhóm tuổi từ 40 trở lên rất cao (94,8%), phù hợp đặc điểm dịch tể của các bệnh lý về THA, ĐTĐ, ST và STM [6], [7]; bệnh nhân nữ nhiều hơn nam, đa số là dân tộc kinh, trính độ cấp 1, 2 và không biết chữ nhiều, nghề nghiệp chủ yếu là cán bộ hưu trì và mất sức lao động; bệnh nhân không thuộc hộ nghèo đều chiếm đa số, điều này có thể cho thấy bệnh nhân là hộ nghèo thì tần suất nhập viện ít
Trang 5hơn, bởi vì họ phải lo toan đến mưu sinh cuộc sống hằng ngày nhiều hơn là quan tâm đến sức khỏe, bệnh tật của chính bản thân họ
Trong nghiên cứu của chúng tôi đã ghi nhận đã có 83% bệnh nhân tự chế biến thức ăn tại gia đính, số thường xuyên có sử dụng chế độ ăn bệnh lý tại nhà theo hướng dẫn của thầy thuốc là 27,75%; ghi nhận tại bệnh viện có 72,75% số bệnh nhân được Bác sĩ, Điều dưỡng
tư vấn, hướng dẫn về chế độ ăn theo bệnh lý, vẫn còn 27,25% bệnh nhân không được tư vấn, hướng dẫn có thể đây cũng yếu tố có ảnh hưởng đến kiến thức hiểu biết của người bệnh cũng như tỷ lệ người bệnh sử dụng chế độ ăn theo bệnh lý tại bệnh viện
4.2 Khảo sát kiến thức đúng và tình hình sử dụng chế độ ăn theo một số bệnh lý đặc biệt ( không lây):
4.2.1 Kiến thức chung đúng về sử dụng chế độ ăn theo một số bệnh lý đặc biệt ( không lây) ở đối tượng nghiên cứu là 55,25% Trong đó kiến thức đúng của bệnh nhân trong từng
nhóm bệnh thí THA đạt 62,02%; bệnh nhân ĐTĐ đạt 46,25%; bệnh nhân Suy tim đạt 43,84%; bệnh nhân Suy thận mạn đạt 40% ; kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân THA có
tỷ lệ kiến thức đúng chiếm cao nhất có thể đây là một bệnh lý phổ biến nhất hiện nay, vì vậy việc phổ cập kiến thức về sử dụng chế độ ăn để phòng tránh bệnh lý này được cộng đồng quan tâm, điều này cũng phù hợp với mẫu nghiên cứu cho thấy bệnh nhân THA chiếm 59,25%
4.2.2 Khảo sát tình hình sử dụng chế độ ăn theo một số bệnh lý đặc biệt ( không lây)
Kết quả nghiên cứu: cho thấy bệnh nhân có sử dụng chế độ ăn theo bệnh lý tại bệnh viện là 36,75%; số bệnh nhân không ăn theo chế độ ăn bệnh lý tại bệnh viện còn chiếm tỷ lệ khá cao
là 63,25%, nguyên nhân không sử dụng chế độ ăn theo bệnh lý tại bệnh viện chủ yếu là do chế độ ăn không hợp khẩu vị là 35,97%, bệnh nhân không đươc tư vấn, hướng dẫn là 29,64%; điều kiện kinh tế khó khăn là 26,09% và vấn đề khác là 8,3% Điều quan tâm trong nghiên cứu này cho thấy vẫn còn 29,64% bệnh nhân khi nhân nhập viện không được tư vấn, hướng dẫn về sử dụng chế độ ăn theo bệnh lý tại bệnh viện; vì vậy đòi hỏi bác sĩ, điều dưỡng tại các khoa điều trị cần quan tâm hơn vấn đề tư vấn dinh dưỡng, chỉ định chế độ ăn theo bệnh lý và giám sát việc tuân thủ của bệnh nhân để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị; bên cạnh đó vấn đề khẩu vị của chế độ ăn cũng cần chú ý quan tâm hơn, mặc dù đây là công việc
vô cùng khó khăn, bởi vì mọi người đều có một thói quen truyền thống về ăn uống theo cách riêng của mình, vì vậy trong chế biến thức ăn cần thường xuyên cải biến, cố gắng làm sao
giảm thiểu về khoảng cách khẩu vị, để từ đó mọi người bệnh có thể tạm chấp nhận được
4.3 Một số yếu tố liên quan với BN không sử dụng chế độ dinh dưỡng theo một số bệnh lý đặc biệt
Khảo sát sự liên quan cho thấy bệnh nhân nhóm dưới 40 tuổi không sử dụng chế độ ăn theo bệnh lý tại bệnh viện cao hơn 0,27 lần so với nhóm trên 40 tuổi (p<0,05); tương tự nhóm bệnh nhân hộ nghèo không ăn theo chế độ bệnh lý tại bệnh viện cao hơn 0,36 lần so với nhóm bệnh nhân không nghèo (p<0,001), điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu
đã có 26,09% bệnh nhân không ăn theo chế độ bệnh lý tại bệnh viện là do điều kiện kinh tế gia đính gặp khó khăn; đặc biệt nhóm bệnh nhân không ăn theo chế độ bệnh lý tại nhà cũng như không tiếp cận được sự tư vấn, hướng dẫn của bác sĩ, điều dưỡng tại bệnh viện thì tỷ lệ không ăn theo chế độ bệnh lý tại bệnh viện đều cao hơn với OR >100 và p<0,001; bệnh nhân
có kiến thức chung chưa đúng thí tỷ lệ không sử chế độ ăn theo bệnh lý tại bệnh viện cao
Trang 6Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố giới tính, dân tộc, học vấn, nghề nghiệp, bệnh nhân có thói quen tự chế biến thức ăn tại nhà không thấy có sự khác biệt với bệnh nhân không sử
dụng chế độ ăn theo bệnh lý tại bệnh viện với p>0,05
KẾT LUẬN:
Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức chung đúng về sử dụng chế độ ăn theo một số bệnh lý đặc biệt là 55,25%; tỷ lệ bệnh nhân có sử dụng chế độ ăn theo bệnh lý tại bệnh viện là 36,75% Tìm thấy sự liên quan giữa các yếu tố về nhóm tuổi (p<0,05); hoàn cảnh kinh tế gia đính; thói quen ăn uống tại nhà; sự tư vấn, hướng dẫn của BS, ĐD và kiến thức chung đúng với bệnh nhân không sử dụng chế độ ăn theo bệnh bệnh lý tại bệnh viện với p<0,001
KIẾN NGHỊ:
Các khoa điều trị của Bệnh viện quan tâm đẩy mạnh tư vấn, hướng dẫn bệnh nhân tuân
thủ thực hiện chế độ ăn theo bệnh lý là việc làm hết sức cần thiết
Tài liệu tham khảo
1 Bệnh viện đa khoa Huyện Tịnh Biên (2015), “ Tài liệu tư vấn dinh dưỡng”
2 Bộ Y tế (2006), “Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam”, NXB Y học, Hà
Nội
3 Bộ Y tế (2008), “Dinh dưỡng cộng đồng và an toàn vệ sinh thực phẩm”, NXB Giáo dục,
Hà Nội
4 Trường đại học Cần Thơ (2005), “ Giáo trình dinh dưỡng người”
5 Trường đại học Đông á (2012), “Giáo trình dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm”,
Đà Nẳng
6 Trường đại học Y Hà Nội (2006), “ Bài giảng bệnh học nội tập 1, 2” , NXB Y học, Hà
Nội
7 Viện thông tin thư viện Trung ương (2001), “ Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm”