1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả vạt da nhánh xuyên động mạch chày sau trong che phủ khuyết hổng phần mềm cẳng chân

8 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 451,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá kết quả bước đầu sử dụng vạt da nhánh xuyên động mạch chày sau trong che phủ khuyết hổng phần mềm (KHPM) cẳng chân. Đối tượng và phương pháp: 30 bệnh nhân (BN) có tổn khuyết phần mềm kèm theo lộ xương chày được điều trị tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 01/2017 - 6/2020.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VẠT DA NHÁNH XUYÊN ĐỘNG MẠCH CHÀY SAU TRONG CHE PH Ủ KHUYẾT HỔNG PHẦN MỀM CẲNG CHÂN

Nguy ễn Thế Anh 1

, V ũ Quang Vinh 2

TÓM T ẮT

M ục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu sử dụng vạt da nhánh xuyên động mạch chày sau

trong che ph ủ khuyết hổng phần mềm (KHPM) cẳng chân Đối tượng và phương pháp:

30 b ệnh nhân (BN) có tổn khuyết phần mềm kèm theo lộ xương chày được điều trị tại Khoa

Ph ẫu thuật Tạo hình, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 01/2017 - 6/2020 Vạt

da nhánh xuyên động mạch chày sau được sử dụng trong che phủ tổn khuyết phần mềm vùng

c ẳng chân Sử dụng siêu âm Doppler xác định nhánh xuyên động mạch chày sau dựa trên

đường chuẩn đích là đường nối điểm giữa nếp gấp khoeo và mắt cá trong K ết quả: 26/30 vạt

sống hoàn toàn, 3 vạt liền kỳ hai và 1 vạt hoại tử hoàn toàn K ết luận: Vạt da nhánh xuyên

động mạch chày sau có độ tin cậy cao, có thể chọn lựa và thiết kế vạt một cách linh hoạt

K ết quả che phủ tốt, rút ngắn thời gian điều trị

* T ừ khoá: Vạt cánh quạt; Nhánh xuyên; Động mạch chày sau

Assessement of the Effectiveness of Posterior Tibial Artery Perforator Flap for Treatment of Tissue Defect in Lower Extremities

Summary

Objectives: To assess the effectiveness of posterior tibial artery perforator flap for treatment

of tissue defect in lower extremities Subjects and methods: 30 patients with tibial bone

exposed were applied posterior artery perforator propeller flap at Department of Plastic and Reconstructive Surgery of National Institute of Burn, from 01/2017 - 6/2020 Position of perforators has been determined from medial malleolus to medial knee joint Relation between number of perforators pre-operation (Determine by hand dopper) and number perforators dissected intraoperation will be discussed in our paper Results: 26 flaps survival completely; 3 flaps

secondary wound healing and 1 flap total necrosis Number of perforators determined by hand Doppler pre-operation and number of perforators dissected in-operation had no significant difference

Conclusion: The islanded propeller-design posterior tibial artery perforator flap provides reliable

coverage of lower limb defects, particularly of the lower third

* Keywords: Propeller flap; Perforator; Posterior tibial

1

B ộ môn - Trung tâm Ngoại Dã chiến, Bệnh viện Quân y 103, H ọc viện Quân y

2

B ộ môn - Trung tâm Phẫu thuật Tạo hình và Thẩm mỹ, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác

Ng ười phản hồi: Nguyễn Thế Anh (theanhbsnthvqy11@gmail.com)

Ngày nh ận bài: 01/10/2020

Ngày bài báo được đăng: 25/12/2020

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khuyết hổng phần mềm để lộ gân,

lộ xương ở vùng cẳng chân, cổ chân, bàn

chân là tổn thương thường gặp do các

nguyên nhân như tai nạn giao thông, tai nạn

lao động, loét trên nền sẹo cũ, loét sau

xạ trị… [1, 2]

Do đặc điểm phân bố phần mềm cẳng

chân không đều nhau nên việc cấp máu

nuôi dưỡng không giống nhau dẫn đến

quá trình liền vết thương không thuận lợi

Điều trị KHPM được các phẫu thuật viên

coi là khó khăn, phức tạp, thời gian kéo

dài, thường để lại di chứng, ảnh hưởng

xấu đến chức năng và thẩm mỹ của chi

thể cũng như khả năng sinh hoạt, lao động

của người bệnh Các phương pháp kinh

điển trong điều trị tổn khuyết lộ xương

vùng cẳng chân vẫn còn nhiều nhược

điểm chưa khắc phục được như phải hy

sinh cơ như vạt cơ dép hay các mạch

chính nuôi dưỡng cẳng chân như vạt

chày trước, vạt chày sau…

Cuối những năm 1980, vạt da nhánh

xuyên cuống liền mạch ra đời và được

Koshima và Soeda [4], Kroll và Rosenfield

[5] ứng dụng rất thành công sau đó với

một dạng vạt mới trong tạo hình là vạt

nhánh xuyên cơ da, vạt xuyên vách da

[3] Vạt này dựa trên sự cấp máu của

nhánh xuyên cơ da, xuyên vách da và

được nâng lên như một vạt da-cân hoặc

da-mỡ mà không phải hy sinh khối cơ

dưới cũng như bó mạch chính của chi

thể Đến nay vạt được ứng dụng rộng rãi

trên thế giới

Ở nước ta, chưa có công trình nào

nghiên cứu chi tiết về giải phẫu và ứng

dụng của vạt da nhánh xuyên động mạch

chày sau che phủ tổn thương lộ gân

xương vùng cẳng chân

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm:

Đánh giá kết quả bước đầu sử dụng vạt

che phủ KHPM vùng cẳng chân

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

30 BN không phân biệt tuổi, giới, được chẩn đoán KHPM vùng cẳng chân có lộ

xương hoặc lộ gân, được điều trị phẫu thuật che phủ bằng vạt da nhánh xuyên động mạch chày sau tại Bộ môn - Trung tâm Phẫu thuật Tạo hình và Thẩm mỹ, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ tháng 01/2017 - 6/2020

2 Ph ương pháp nghiên cứu

- Siêu âm Doppler 8 Mhz cầm tay để

thăm dò cuống mạch nuôi vạt

- Dụng cụ phẫu thuật

- Thước dây đo kích thước vạt

- Máy ảnh để thu thập hình ảnh quá trình phẫu thuật

- Dao Lagrot

- Kính lúp có độ phóng đại 3,5 lần sử

dụng trong quá trình bóc vạt

- Cắt lọc hoại tử và làm sạch tổn khuyết

- Đo KHPM

- Dùng siêu âm Doppler 8 Mhz cầm tay

để dò và đánh dấu xác định vị trí điểm ra

của mạch xuyên chày sau dọc theo đường chuẩn đích của động mạch chày sau từ điểm nối mắt cá trong và điểm giữa nếp

gấp khoeo

Trang 3

- Thiết kế vạt: Vạt được thiết kế chứa

nhánh xuyên vừa dò tìm được ở trên

Tuỳ theo tổn khuyết và vùng da lành còn

lại, thiết kế vạt da có cuống mạch trung

tâm hoặc không trung tâm Vạt da có cuống

mạch trung tâm với dạng 2 cánh cân

xứng hay không cân xứng Trong nghiên

cứu chủ yếu sử dụng dạng 2 cánh không

cân xứng

- Hình thức sử dụng vạt: Vạt được sử

dụng là dạng đảo quay quanh trục nhánh

xuyên theo kiểu vạt cánh quạt Vạt quay

theo chiều kim đồng hồ hay ngược chiều

kim đồng hồ đều được Nếu góc quay

> 180º, có thể quay theo chiều ngược lại

để góc quay < 180º

- Bóc vạt (nâng vạt): Rạch da theo

hình vẽ đã thiết kế, qua lớp cân cơ, khâu

lớp cân cơ này vào da vạt, bóc vạt ngay

dưới lớp cân này, từ ngoại vi (bờ vạt) vào

trung tâm (cuống vạt)

- Xác định và lựa chọn nhánh xuyên

phù hợp để nuôi vạt

- Cuống vạt có thể được bóc trần hay

để lại một ít mô cân mỡ che cuống mạch

để tránh tổn thương cuống mạch

- Xoay đặt vạt vào đúng vị trí che phủ

KHPM và lật một bên mép vạt lên để

kiểm tra cuống mạch:

+ Nếu cuống mạch căng và có nguy

cơ xẹp mạch hay siêu âm Doppler 8 Mhz

có âm thổi nhỏ, cần tiến hành bóc tách

làm cuống vạt dài thêm

+ Nếu cuống mạch không căng và siêu

âm Doppler 8 Mhz kiểm tra cuống mạch

có âm thổi to rõ, chứng tỏ mạch máu

thông suốt khi ở vị trí che phủ KHPM

- Đặt dẫn lưu dưới vạt: Phải đảm bảo

hiệu quả đồng thời ống dẫn lưu không

chạy qua hay nằm sát cuống vạt nuôi vạt

để tránh gây chấn thương hoặc kích thích gây co thắt động mạch xuyên Chúng tôi

thường dùng lam hay ống dẫn lưu silicon kín áp lực âm

- Khâu đóng vết mổ: Khâu 2 lớp nhưng

lớp dưới da rất thưa, tránh hiện tượng thiểu dưỡng vạt

- Kiểm tra tuần hoàn vạt da

- Vùng cho vạt được bóc tách rộng 2 mép vết thương rồi khâu đóng trực tiếp

bằng các mối chỉ rời, nếu căng quá không khâu kín được, cần khép bớt 2 mép vết

thương, phần khuyết hổng còn lại được ghép da tự thân

- Băng nhẹ vết thương

* Đánh giá kết quả điều trị:

Tiến hành đánh giá kết quả gần tại thời điểm sau mổ trước 3 tháng và kết quả xa sau 3 tháng theo 3 mức độ: tốt, trung bình, xấu [4]

- Tiêu chuẩn đánh giá kết quả:

+ Tình trạng sống của vạt

+ Tình trạng liền vết thương

+ Biến chứng như tụ máu, nhiễm khuẩn

vết mổ

- Kết quả gần (đánh giá trong vòng

3 tháng sau phẫu thuật):

+ Tốt: Vạt sống hoàn toàn, vết mổ liền sẹo tốt, không can thiệp phẫu thuật khác,

chức năng vận động của khớp trở lại bình thường hoặc gần bình thường

+ Trung bình: Vạt có tình trạng thiểu

dưỡng nhẹ hoặc hoại tử một phần ở đầu mút hoặc mép vạt, có hoặc không cần

ghép da, tụ máu hoặc nhiễm khuẩn vết mổ, chức năng vận động của khớp cải thiện đáng kể

Trang 4

+ Xấu: Vạt da hoại tử trên 1/3 diện tích

hoặc toàn bộ, phải cắt lọc và ghép da hỗ

trợ hoặc thay thế bằng phương pháp khác

- Kết quả xa sau 3 tháng (đánh giá ở

thời điểm trên 3 tháng sau phẫu thuật):

+ Tốt: Vạt mềm mại, màu sắc hòa

đồng với da lành, sẹo tốt, chức năng vận

động của khớp đạt yêu cầu

+ Trung bình: Vạt kém mềm mại, sẹo quanh vạt còn xơ, chức năng vận động đạt mức trung bình

+ Xấu: Vạt da xơ cứng, di động kém, màu sắc không hòa đồng với da xung quanh, sẹo quanh vạt lồi hay phì đại Đánh giá kết quả đạt được theo vùng tổn thương, theo mức độ co kéo

K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nguyên nhân do tai nạn giao thông chiếm đa số (63,33%)

Trong số 30 BN KHPM cẳng chân, có đến 26 BN có kích thước KHPM rộng với đường kính > 20 cm2 kèm lộ xương cẳng chân

100% BN đều có ít nhất 1 nhánh xuyên của động mạch chày sau [3] Tuy nhiên, trong phẫu thuật chúng tôi chỉ sử dụng nhánh xuyên có đường kính lớn nhất, gần tổn

thương nhất Các nhánh còn lại được thắt buộc, tạo điều kiện để xoay vạt dễ dàng

Trang 5

* Chi ều dài cuống mạch:

Vạt da nhánh xuyên động mạch chày sau có độ dài cuống mạch trong khoảng từ 1,5 - 3 cm, nhiều nhất là các nhánh xuyên có độ dài từ 1,5 - 2 cm (21 BN = 70%), nhánh xuyên có độ dài từ 2,1 - 3 cm gặp 9 BN (36,84%)

Diện tích (cm 2

Vạt da nhánh xuyên động mạch chày sau có chiều dài lớn nhất đạt 17 cm, chiều

rộng 9 cm, diện tích 153 cm²

Bảng 5: Tình trạng vạt

26/30 vạt da nhánh xuyên chày sau (86,67%) được sử dụng, sống hoàn toàn Ở các BN,

hầu hết vết mổ liền kỳ đầu sau 15 - 25 ngày

BÀN LU ẬN

Tái tạo tổn khuyết phần mềm có lộ xương

vùng cẳng chân vẫn luôn là thách thức

của các phẫu thuật viên chấn thương và

tạo hình Các vạt da cân và vạt tại chỗ

cuống ngẫu nhiên được áp dụng trong

một thời gian dài, tuy nhiên vẫn chưa

khắc phục được một số nhược điểm như

các vạt tại chỗ chỉ phù hợp cho những

tổn khuyết nhỏ và phải tuân thủ nghiêm

mật theo tỷ lệ 1/2 giữa chiều rộng và

chiều dài của vạt [2] Các vạt cơ như vạt

cơ sinh đôi, vạt cơ dép thường phải hy

sinh các khối cơ này dẫn đến mất hoặc

giảm chức năng vận động của cẳng chân [6] Ngoài ra, vạt có kích thước quá dày, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thẩm

mỹ sau phẫu thuật của BN Các vạt da chéo chân làm cho BN bất động 21 ngày, dẫn đến các biến chứng như cứng khớp, đòi hỏi nhiều thời gian chăm sóc vết thương

và cần phẫu thuật hai thì Đối với vạt da cân chày trước hoặc chày sau, phải hy sinh một trong hai động mạch chính này,

dẫn đến thiếu hụt nguồn cấp máu cho

cẳng chân [7] Nhiều tác giả trong nước

và trên thế giới đã áp dụng các vạt tự do trong điều trị tổn khuyết phần mềm vùng

Trang 6

cẳng chân Tuy nhiên, đây là kỹ thuật khó

đòi hỏi phẫu thuật viên vi phẫu có kinh

nghiệm và trang thiết bị hiện đại Để khắc

phục nhược điểm của vạt da-cân tại chỗ

cuống ngẫu nhiên và tìm một chất liệu tạo

hình mới đạt yêu cầu về chức năng, đồng

thời giảm tối đa di chứng của vùng cho

vạt da-cơ, vạt nhánh xuyên ra đời với sự

tìm tòi của các nhà nghiên cứu Tiên phong

trong nghiên cứu này là Koshima (1989),

Shoeda, Kroll và Rossenfield [4, 5]

Nghiên cứu trên giải phẫu cho thấy sự

cấp máu của nhánh xuyên cơ đến da là

đáng tin cậy, cùng với ứng dụng trên lâm

sàng đã khẳng định hiệu quả của vạt da

nhánh xuyên Đến năm 2008, Schaverien M,

Saint-Cyr, M [8] và Whetzel và CS mô tả

nhánh xuyên của động mạch chày trước,

từ đó làm cơ sở trong ứng dụng vạt da

nhánh xuyên động mạch chày trước

Các nhánh xuyên có nguyên uỷ từ động

mạch chày sau, sau khi đi xuyên qua

vách gian cơ rồi đi thẳng lên da Do đó,

chúng nằm dọc theo 2 bên đường chuẩn

đích của động mạch chày sau Siêu âm

Doppler được sử dụng trước mổ nhằm

xác định nhánh xuyên theo đường chuẩn

đích của động mạch chày sau Tuy nhiên,

để tránh nhầm lẫn giữa âm của nhánh

xuyên và âm của động mạch chày sau,

chúng tôi thường kiểm tra bằng cách

dùng siêu âm dò ngang vuông góc sang

2 bên từ 0,5 - 1 cm so với đường chuẩn

đích Theo kinh nghiệm lâm sàng dò tìm

nhánh xuyên chày sau, nếu còn âm thổi,

đó là nhánh xuyên, vì chỉ có nhánh xuyên

lên vách ra da mới cho âm thổi này Kết quả

bảng 3 cho thấy các vạt đều có ít nhất

1 nhánh xuyên, chỉ có 2 vạt chúng tôi tìm

thấy 3 nhánh xuyên nằm lân cận nhau

Để đảm bảo cho vạt da sống tốt, việc

chọn lựa và phẫu tích nhánh xuyên là vấn

đề quan trọng nhất bảo đảm thành công

của phẫu thuật Trong nghiên cứu, hầu

hết các trường hợp có sự tương xứng về

vị trí và số lượng nhánh xuyên Tuy nhiên, để sử dụng các nhánh xuyên này cung cấp máu cho vạt đòi hỏi độ tập trung của mạch xuyên Đa số các nhánh xuyên

nằm phân tán, do đó phải lựa chọn một nhánh xuyên phù hợp nhất để cấp máu cho vạt Kinh nghiệm trong phẫu thuật cho thấy, nếu các nhánh xuyên ở gần nhau, khoảng cách giữa chúng ≤ 0,5 cm thì lấy tất cả các nhánh xuyên trong đường tròn đường kính ≤ 0,5 cm này Với cuống vạt đường kính trên mức độ xoắn

vặn của cuống mạch, khi quay vạt sẽ không ảnh hưởng đến việc lưu thông máu qua cuống mạch Nếu các nhánh xuyên ở cách xa nhau > 0,5 cm phải cân

nhắc lựa chọn một nhánh xuyên phù hợp nhất có đường kính lớn nhất để cấp máu cho vạt Cắt bỏ các nhánh xuyên còn lại,

nếu để xoắn vặn quá mức sẽ ảnh hưởng đến việc lưu thông máu qua cuống mạch

và gây hoại tử vạt Chiều dài của nhánh xuyên động mạch chày sau theo các nghiên cứu khác là độ dài được tính từ nơi nhánh xuyên động mạch chày sau được tách ra tại mạch gốc đến khi chui vào trong da Kết quả nghiên cứu của Teo, Ariel cho thấy chiều dài các nhánh xuyên chày sau là 1,7 - 4,0 cm, Whetzel

và CS [10] ghi nhận kết quả là 1,1 - 4,7 cm Chiều dài cuống mạch được đề cập trong nghiên cứu của chúng tôi chính là đoạn

mạch nhánh xuyên được bóc tách đến điểm chạy vào trong da để cấp máu cho vạt da dài 1,5 - 3,0 cm Vì đây là vạt có cuống mạch liền nên việc phẫu tích nhánh xuyên không cần thiết phải sâu

xuống tận mạch gốc Khi chiều dài nhánh

Trang 7

xuyên đạt từ 1 - 1,5 cm, quá trình phẫu

tích có thể dừng lại vì đủ độ dài để xoay

vạt cũng như hạn chế sự xoắn vặn cuống

mạch có thể xảy ra Điều này phù hợp

báo cáo của Teo [9], Ariel [3]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, dạng

vạt cánh quạt được sử dụng nhiều nhất

(18/19 trường hợp) do cung xoay rộng có

thể vươn tới mắt cá chân và gót chân

Duy nhất 1 trường hợp sử dụng dưới dạng

vạt V-Y do kích thước tổn khuyết hẹp

Kết quả cũng cho thấy độ tin cậy khi

ứng dụng vạt, với 26/30 trường hợp vạt

sống tốt Kích thước tối đa có thể lấy

được với chiều dài lên tới 17 cm và chiều

rộng 9 cm, tương đương với nghiên cứu

của Ariel và CS [3]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 1

trường hợp có vạt bị hoại tử do đây là BN

KHPM vùng 1/3 dưới cẳng chân, kích

thước tổn thương 4 × 5 cm Quá trình bóc

vạt thuận lợi, chảy máu ít, cầm máu tốt

Vùng cuống vạt được phẫu tích dài 1,5 cm,

trong cuống vạt có mạch nhánh xuyên da

phù hợp với nhánh xuyên được xác định bằng Doppler trước phẫu thuật Ngày đầu sau mổ: Vạt nề nhẹ, ấm, màu sắc hồng hào, tuần hoàn tại vạt tốt Ngày thứ 2 sau

mổ: Vạt nề nhiều hơn, đầu xa của vạt hơi thâm, tuần hoàn vạt chậm BN có thay đổi

tư thế, vô tình chạm vạt vào thành giường, khi phát hiện vạt có màu thâm tím rộng toàn bộ diện tích, tuần hoàn tại vạt kém, ngày tiếp theo vạt càng thẫm hơn Vạt dần hoại tử khô đen cứng, chúng tôi cắt bỏ toàn bộ phần hoại tử và thay thế bằng vạt da-cân hiển ngoài cuống ngoại vi BN ra

viện sau 39 ngày

K ẾT LUẬN

Vạt da nhánh xuyên động mạch chày sau là vạt có độ tin cậy cao, có thể chọn

lựa và thiết kế vạt một cách linh hoạt dựa trên các nhánh xuyên dọc theo đường đi

của động mạch chày sau, vạt được sử dụng mà không phải hy sinh động mạch chính Kết quả che phủ tốt, rút ngắn thời gian điều trị

B ệnh nhân minh hoạ:

1 Bệnh nhân nam 57 tuổi, loét cẳng chân phải sau tai nạn giao thông, sử dụng vạt nhánh xuyên động mạch chày sau dạng đảo, góc xoay 180o

Hình ảnh trước mổ, thiết

kế vạt và sau mổ 1 tháng:

Trang 8

2 Bệnh nhân nam 37 tuổi, vết thương phần mềm lộ phương tiện kết xương 1/3 dưới

cẳng chân phải do tai nạn giao thông Sử dụng vạt nhánh xuyên động mạch chày sau, dạng đảo, góc xoay 170o Hình ảnh trước mổ, sau mổ 1 ngày và 1 tháng:

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

1 Nguy ễn Tiến Bình Nghiên cứu giải phẫu

v ạt da cân trên mắt cá ngoài, vạt bắp chân

cu ống ngoại vi và ứng dụng điều trị khuyết

h ổng phần mềm đoạn 2/3 dưới cẳng chân,

c ổ chân Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Y Dược

Hà N ội 1997:6

2 V ũ Nhất Định Nghiên cứu giải phẫu và

ứng dụng lâm sàng vạt da cân hiển ngoài

hình đảo cuống ngoại vi điều trị khuyết hổng

ph ần mềm vùng 1/3 dưới cẳng chân, cổ chân,

m ắt cá chân và củ gót Luận án Tiến sĩ Y học

Hà N ội 2004:132

3 Ariel N Rad, Michael R Christy, et al

The anterior tibialis artery perforator (ATAP)

flap for traumatic knee and patella defects

Ann Plast Surg 2010; 64:210-216

4 Koshima I, Moriguchi T, Ohta S,

Hamanaka T, Inoue T, Ikeda A The

vasculature and clinical application of the

pos-terior tibial perforator-based flap Plast

Reconstr Surg 1992; 90:643-649

5 Kroll SS, Rosenfield L Perforator-based flap for low posterior midline defects Plast Reconstr Surg 1988; 81:561-566

6 McCraw JB, Fishman JH, Sharzer LA The versatile gastrocnemius myocu-taneous flap Plast Reconstr Surg 1978; 62:15-23

7 Small J, Mollan R Management of the soft tissues in open tibial fractures Br J Plast Surg 1992; 45:571-577

8 Schaverien M, Saint-Cyr M Perforators

of the lower leg: Analysis of perforator locations and clinical application for pedicled perforator flaps Plast Reconstr Surg 2008; 122:161-170

9 Teo TC Perforator local flaps in lower limb reconstruction Cirugia Plastica Ibero - Latinoamericana 2008; 32(4):15-18

10 Whetzel TP, Barnard MA, Stokes RB Arterial fasciocutaneous vascular territories

of the lower leg Plast Reconstr Surg 1997; 100:1172

Ngày đăng: 25/04/2021, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w