1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá kết quả nội soi tán sỏi qua đường hầm Kehr bằng điện thủy lực điều trị sót sỏi sau phẫu thuật nội soi sỏi đường mật mổ lại

8 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 668,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả tổn thương đường mật và đánh giá kết quả điều trị nội soi tán qua đường hầm Kehr bằng điện thủy lực điều trị sót sỏi sau phẫu thuật nội soi sỏi đường mật mổ lại. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả theo dõi dọc không đối chứng trên 72 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị sỏi đường mật mổ lại.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NỘI SOI TÁN SỎI QUA ĐƯỜNG HẦM KEHR

Nguy ễn Quang Nam 1

, Bùi Tu ấn Anh 1

, Lê Trung H ải 1

TÓM T ẮT

M ục tiêu: Mô tả tổn thương đường mật và đánh giá kết quả điều trị nội soi tán qua đường

h ầm Kehr bằng điện thủy lực điều trị sót sỏi sau phẫu thuật nội soi sỏi đường mật mổ lại

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả theo dõi dọc không đối chứng trên

72 bệnh nhân (BN) được phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị sỏi đường mật mổ lại K ết quả:

Sau m ổ, có 40 BN quay lại tán sỏi qua đường hầm Kehr điều trị sót sỏi; viêm chít hẹp đường

m ật chiếm 57,5%; chít hẹp ở đường mật trong gan 60,87%; tỷ lệ sạch sỏi đạt 97,50%; số lần tán s ỏi trung bình là 1,58 ± 0,87 lần; thời gian tán sỏi trung bình trong một lần: 56,42 ± 21,16 phút Không có tử vong và biến chứng nặng trong nhóm nghiên cứu K ết luận: Số lần tán sỏi cũng

nh ư thời gian tán sỏi giảm đáng kể trong nội soi tán sỏi qua đường hầm Kehr bằng điện thủy

l ực sau phẫu thuật nội soi điều trị sỏi đường mật mổ lại

* T ừ khóa: Nội soi tán sỏi qua đường hầm Kehr; Điện thủy lực

Results of Endoscopy Through Tunnel Tube T by Electrohydraulic Lithotripsy in the Treatment of Remnant Stones after Laparoscopic

of Biliary Stones with Previous Surgery

Summary

Objectives: To assess results of endoscopy through tunnel of T tube by electrohydraulic

lithotripsy after laparoscopic in the treatment of billary stones with previous surgery Subjects and methods: Prospective study on 72 patients having laparoscopic bile duct stones remove

stones with previous surgery Results: 40 patients returned to endoscopy through tunnel T tube

lithotripsy; biliary stenosis accounts for 57.5%; stenosis intrahepatic bile ducts 60.87%; The rate of gravel clean is 97.50%; Averaged times of percutaneous transhepatic lithotripsy: 1.58 ± 0.87; The average time of percutaneous transhepatic lithotripsy: 56.42 ± 21.16 minutes There were no deaths and serious complications in the study group Conclusion: Laparoscopy

in the treatment of billary stones with previous surgery has significantly reduced the number of times lithotripsy as well as time in endoscopy through tunnel T tube by electrohydraulic lithotripsy

* Keywords: Endoscopy through tunnel tube T lithotripsy; Electrohydraulic

1

B ệnh viện Quân y 103, H ọc viện Quân y

Ng ười phản hồi: Nguyễn Quang Nam (nguyenquangnam80@gmail.com)

Ngày nh ận bài: 14/10/2020

Ngày bài báo được đăng: 08/12/2020

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sỏi đường mật là một bệnh lý hay gặp

ở nước ta Hiện nay, nhiều phương pháp

chẩn đoán và điều trị hiện đại được áp

dụng để góp phần cải thiện đáng kể kết quả

điều trị sỏi đường mật Tuy nhiên, tỷ lệ

sót sỏi sau mổ và sỏi tái phát vẫn còn khá

cao, đặc biệt là đối với những trường hợp

sỏi trong gan gây nên những biến chứng

như tổn thương đường mật, viêm chít hẹp

đường mật, tạo nên bệnh cảnh lâm sàng

đa dạng và khó khăn trong điều trị

Những năm gần đây, sỏi sót được giải

quyết phần lớn nhờ nội soi đường mật và

các kỹ thuật tán sỏi mật Kỹ thuật điều trị

sót sỏi sau mổ bằng phương pháp tán sỏi

qua đường hầm Kehr được áp dụng ngày

càng phổ biến và mang lại hiệu quả cao,

đây là phương pháp can thiệp ít xâm hại

mang lại nhiều kết quả tốt Đó là lý do

chúng tôi thực hiện đề tài nhằm: Mô tả

và kết quả nội soi tán qua đường hầm

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN C ỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

40 BN sót sỏi sau PTNS sỏi đường

mật mổ lại được nội soi tán sỏi bằng điện

thủy lực qua đường hầm Kehr tại Trung

tâm Phẫu thuật Tiêu hóa, Bệnh viện

Quân y 103 từ tháng 6/2013 - 4/2016

2 Ph ương pháp nghiên cứu

* Các máy móc và trang thiết bị phục

vụ nghiên cứu:

- Máy siêu âm Aloka SSD 2000

(Nhật Bản), đầu dò hình quạt 3,5 Mhz

- Ống soi mềm đường mật CHF - P20 (hãng Olympus)

- Máy nội soi đường mật và nguồn tán sỏi điện thủy lực EL27 - Compact

- Bộ dụng cụ nong chít hẹp đường mật

và dụng cụ lấy sỏi khác

đường hầm Kehr:

- Sau mổ đặt Kehr ống mật chủ 3 - 5 tuần, khi đường hầm Kehr đã tạo lập chắc chắn, tiến hành nội soi theo đường hầm này vào ống mật và tán sỏi bằng điện thủy lực

- Các kỹ thuật phối hợp: bơm rửa đường mật, nong chít hẹp đường mật

- Thống kê các chỉ số: khả năng tiếp cận sỏi của ống soi, thời gian và số lần tán sỏi

- Tỷ lệ chít hẹp đường mật; vị trí chít

hẹp theo đường dẫn mật; phân bố vị trí chít hẹp; mức độ chít hẹp đường mật

* Đánh giá kết quả điều trị:

- Tỷ lệ hết sỏi: Dựa trên X-quang đường mật, siêu âm và nội soi đường mật trong quá trình tán sỏi

- Tỷ lệ sót sỏi

- Nguyên nhân còn sỏi

* Chúng tôi xin áp dụng theo khái niệm

- Hẹp đường mật là sự thu giảm khẩu kính tại một vị trí ống mật so với phần ống

mật kế cận phía trên và phía dưới, nhỏ hơn đường kính 4,9 mm của máy soi

- Hẹp nhẹ là đường kính chỗ hẹp gần bằng đường kính ống soi, đưa được ống soi qua nhưng khó khăn

Trang 3

- Hẹp nặng là đường kính chỗ hẹp nhỏ

hơn nhiều so với ống soi, không thể đưa

được ống soi qua

- Hẹp đường mật vùng Oddi là khi đã

dùng thuốc chống co thắt, vẫn không đưa

được ống soi qua

K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LU ẬN

1 Đặc điểm lâm sàng

40 BN được PTNS điều trị sỏi đường

mật mổ lại, sau mổ BN sót sỏi chủ động

và được hẹn quay lại tán sỏi qua đường

hầm Kehr bằng điện thủy lực

2 Các đặc điểm tổn thương đường

m ật thường gặp

Trong 40 BN tán sỏi qua đường hầm

Kehr, tỷ lệ hẹp đường mật là 23/40 BN

(57,50%)

Theo Đặng Tâm thông báo tỷ lệ chít

hẹp nặng là 44,03% [1]; Trần Đình Thơ

gặp 42,1% [3]; Võ Văn Hùng và CS (2014):

tỷ lệ hẹp đường mật là 31,4% [2]

* Vị trí chít hẹp theo đường dẫn mật:

dẫn mật

Trong 23 BN có chít hẹp đường mật,

chủ yếu gặp chít hẹp ở đường mật trong gan (60,87%), hẹp đường mật ngoài gan

chỉ có 26,09% Trong nhóm nghiên cứu,

3 trường hợp hẹp đường mật phối hợp ở

2 vị trí trong và ngoài gan chiếm 13,04% Theo Trần Đình Thơ [3], tỷ lệ gặp chít

hẹp trong gan chiếm ưu thế tới 95,65%; Đặng Tâm gặp chít hẹp trong gan là 91,74% [2]; Đỗ Trọng Hải (2005): Hẹp đường mật trong gan là 21,3% [4]

Hẹp đường mật có thể là hậu quả của quá trình viêm nhiễm xơ hóa kéo dài do sỏi mật gây nên và là nguyên nhân gây ứ đọng mật và tái phát sỏi Tình trạng hẹp còn làm ứ mật kéo dài, gây ra hậu quả xơ gan mật thứ phát

Trong số 23 trường hợp chít hẹp đường mật có 16 trường hợp (69,57%)

có 1 vị trí chít hẹp; 4 trường hợp (17,39%)

có 2 vị trí chít hẹp; 2 trường hợp (8,69%)

có 3 vị trí chít hẹp và 1 trường hợp hẹp

> 3 vị trí Tóm lại, chít hẹp đường mật là

một trong những biến chứng của sỏi mật

và là nguyên nhân gây khó khăn trong điều trị sỏi mật như sót sỏi hay sỏi tái phát (đặc biệt là sỏi trong gan)

Như vậy, chít hẹp ống mật là một tổn

thương rất thường gặp trong sỏi đường

mật Nó vừa là hậu quả của sỏi, của viêm

Trang 4

đường dẫn mật tái diễn, kéo dài, lại vừa

là nguyên nhân tạo sỏi do gây tắc nghẽn và

ứ đọng Hẹp đường mật còn gây khó khăn

lớn cho lấy sỏi, là nguyên nhân chủ yếu

của sót sỏi Tỷ lệ tái phát sỏi luôn rất cao

ở các BN có hẹp đường dẫn mật

1- Hẹp nhẹ, 2- Hẹp nặng

(Nguồn: Theo Bùi Tuấn Anh) [9]

Chen CH và CS (2005): Tỷ lệ hẹp đường mật là 37/74 trường hợp [11]

Bảng 4: Mức độ chít hẹp đường mật

Trong 23 BN có hẹp đường mật, mức

độ chít hẹp nhẹ và vừa là chủ yếu chiếm

86,96%, còn 13,04% là chít hẹp mức độ

nặng Chít hẹp nặng là những trường hợp

rất khó khăn trong việc lấy sỏi

Hẹp đường mật có thể là hậu quả của

quá trình viêm nhiễm xơ hóa kéo dài do

sỏi mật gây nên và là nguyên nhân gây ứ

đọng mật và tái phát sỏi Tình trạng hẹp

còn làm ứ mật kéo dài sẽ gây ra hậu quả

xơ gan mật thứ phát

Hẹp đường mật chủ yếu gặp ở đường

mật trong gan Những trường hợp hẹp đường mật nhưng khẩu kính lớn hơn

khẩu kính của ống soi, ống soi vẫn qua được thì chúng tôi vẫn tiến hành tán sỏi bằng điện thủy lực và bơm rửa đẩy sỏi qua

lỗ hẹp tống xuống tá tràng Những trường

hợp khẩu kính đường mật nhỏ hơn khẩu kính của ống soi thì nhìn qua lỗ hẹp chúng tôi vẫn có thể tán sỏi bằng điện thủy lực, tuy nhiên tỷ lệ sót sỏi sẽ cao

Trang 5

Đây cũng chính là những trường hợp làm

tăng khả năng sót sỏi trong đường mật

3 K ết quả nội soi tán sỏi qua đường

h ầm Kehr bằng điện thủy lực sau phẫu

thu ật nội soi điều trị sỏi đường mật

m ổ lại

Bảng 5: Tỷ lệ hết sỏi sau tán sỏi qua Kehr

Ở nhóm nghiên cứu được tiến hành

nội soi tán sỏi qua đường hầm Kehr cho

thấy, tỷ lệ hết sỏi đạt 97,50%, 1 trường

hợp không lấy hết sỏi (do gập góc đường

mật, ống soi không đưa vào tán được)

Một số tác giả cho rằng, yếu tố gây

khó khăn cho kỹ thuật nội soi sẽ làm hạn

chế kết quả điều trị lấy sỏi bằng nội soi

tán sỏi qua đường hầm Kehr Trong đó, 2

yếu tố đáng kể là: Sỏi nằm trong một ống

mật quá gấp góc và tổn thương chít hẹp đường mật

Đặng Tâm (2003): Tỷ lệ không giải quyết được sỏi là 8,9%, nguyên nhân do không tiếp cận được sỏi: Do hẹp đường mật và gập góc [1]

Hoàng Trọng Nhật Phương và CS (2008) tán sỏi qua đường hầm Kehr và qua quai ruột dưới da là 82,35% Tác giả

kết luận: Hạn chế chính của phương pháp tán sỏi điện thủy lực là viêm hẹp,

gập góc đường mật, đường mật quá nhỏ nên không tiếp cận được với sỏi [5]

Lê Quan Anh Tuấn (2009): Tỷ lệ hết

sỏi 85,5%, nguyên nhân không lấy hết sỏi

do đường mật nhỏ, gập góc hay hẹp đường mật Tỷ lệ hẹp đường mật là 28% [6]

Nguyễn Cao Cương (2014): Tỷ lệ sạch sỏi qua đường hầm Kehr 87,5%; 15%

trường hợp còn sỏi là do ống soi không

thể tiếp cận được do hẹp đường mật hay

do sỏi nhỏ ở ngoại biên Tác giả cũng nhận định hẹp đường mật là yếu tố làm khó lấy hết sỏi (sỏi sót) và gây sỏi tái phát [7]

(BN: Lê Mạnh H; SBA: 1442)

Trang 6

* Đánh giá số lần nội soi tán sỏi cho một BN:

Một hạn chế chủ yếu của phương pháp nội soi tán sỏi là BN thường phải trải qua nhiều lần lấy sỏi, làm cho thời gian điều trị kéo dài Các yếu tố làm tăng số lần thủ thuật là: Số lượng sỏi nhiều, sỏi trong gan hai bên, hẹp đường mật

Đa số BN (60,0%) được tán sỏi 1 lần, 27,5% BN tán sỏi 2 lần Số lần tán sỏi ít nhất là

1 lần, nhiều nhất là 5 lần

Bảng 7: Số lần nội soi tán sỏi trung bình

Số lần tán sỏi trung bình là 1,58 ± 0,87 lần

* Thời gian trong một lần nội soi tán sỏi qua đường hầm Kehr:

Thời gian tán sỏi trung bình: 56,42 ± 21,16 phút Thời gian một lần nội soi tán sỏi

ngắn nhất: 10 phút, dài nhất: 150 phút

Trang 7

So sánh với kết quả nghiên cứu của

các tác giả khác, thời gian tán sỏi trong

nghiên cứu của chúng tôi thấp, thời gian

tán sỏi trung bình cũng ít hơn là do lượng

sỏi sót chủ động đã được lấy một cách tối

đa ở lần phẫu thuật trước Việc áp dụng

PTNS đã thám sát được đường mật trong

gan mức ống phân thùy, sót sỏi thụ động

chủ yếu nằm trong ống hạ phân thùy Do

đó giảm số lần tán sỏi cũng như thời gian

tán sỏi qua đường hầm Kehr

trình bơm rửa đường mật trong nội soi tán

- Lượng dịch sử dụng để bơm rửa

đường mật vào ruột BN trong một lần nội

soi tán sỏi qua đường hầm Kehr: 2,41 ±

0,41 lít

- Lượng dịch sử dụng để bơm rửa

đường mật vào ruột BN trong một lần nội

soi tán sỏi ít nhất là 0,5 lít, nhiều nhất là

8 lít

- Nguyên nhân chính của hạn chế này

là BN phải chịu một lượng lớn dịch rửa

xuống ruột trong quá trình nội soi, làm

“no nước”, hạ thân nhiệt dẫn tới xuất hiện

các cơn rét run Do đó, thời gian của mỗi

lần lấy sỏi thường không thể kéo dài quá

60 phút

- Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp

dụng kỹ thuật của tác giả Bùi Tuấn Anh

[8] đã hạn chế được lượng dịch vào trong

ổ bụng bằng cách đặt sonde dạ dày,

như vậy trong quá trình bơm rửa khi dịch

rửa xuống tá tràng, một lượng dịch sẽ

qua sonde dạ dày Do đó, thời gian phẫu

thuật có thể kéo dài hơn và khả năng lấy

sỏi tối đa trong một lần tán cũng tăng

K ẾT LUẬN

- Tỷ lệ gặp hẹp đường mật là 57,50%,

hẹp đường mật trong gan là 60,87% (nguyên nhân gây sỏi tái phát)

- Hẹp đường mật mức độ nhẹ là 86,96%,

mức độ nặng là 13,04%

- Tỷ lệ hết sỏi sau tán sỏi qua đường

hầm Kehr là 97,50%

- Số lần tán sỏi trung bình là 1,58 ± 0,87 lần

- Thời gian tán sỏi trung bình là 56,42 ± 21,16 phút

- Lượng dịch trung bình bơm rửa đường

mật vào ruột BN trong một lần tán sỏi là: 2,411 ± 0,41 lít

- Phẫu thuật nội soi điều trị sỏi đường mật mổ lại làm giảm tối đa việc sót sỏi

chủ động nhờ thám sát được ống gan mức phân thùy Do vậy, quá trình nội soi tán sỏi qua đường hầm Kehr sẽ làm giảm

số lần tán sỏi cũng như thời gian tán sỏi

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

1 Đặng Tâm Nội soi đường mật qua da trong ch ẩn đoán và điều trị bệnh lý đường

m ật Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh 2003; 7(3):176-183

2 Võ V ăn Hùng, Nguyễn Cao Cương, Bùi M ạnh Côn và CS 25 so sánh hiệu quả

k ỹ thuật nội soi qua đường hầm Kehr và qua ngõ vào đường mật bằng túi mật trong điều trị sỏi sót đường mật Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh 2014; 18(1):127-134

3 Tr ần Đình Thơ Nghiên cứu ứng dụng siêu âm k ết hợp với nội soi đường mật trong

m ổ để điều trị sỏi đường mật trong gan

Lu ận án Tiến sĩ Y học Trường Đại học Y

Hà N ội 2006

Trang 8

4 Đỗ Trọng Hải Kết quả điều trị sỏi trong

gan v ới phẫu thuật nội soi so sánh với mổ mở

có k ết hợp kỹ thuật tán sỏi điện thủy lực Tạp chí

Y h ọc TP Hồ Chí Minh 2005; 9(1):62-66

5 Hoàng Tr ọng Nhật Phương, Phan Đình

Tu ấn Dũng, Đặng Ngọc Hùng và CS Hiệu quả

c ủa tán sỏi điện thủy lực trong điều trị sỏi

đường mật Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh

2008; 12(4):114-118

6 Lê Quan Anh Tu ấn Lấy sỏi qua đường

h ầm ống Kehr bằng ống soi mềm Tạp chí Y học

Th ực hành 2009; 670(8):68-72

7 Nguy ễn Cao Cương Điều trị sót sỏi

trong gan b ằng nội soi qua đường hầm Kehr

và túi m ật - ống mật chủ - da Tạp chí Y học

TP H ồ Chí Minh 2014; 18(5):150-155

8 Bùi Tu ấn Anh Nghiên cứu kỹ thuật dẫn

l ưu mật xuyên gan qua da trong điều trị sỏi đường mật Luận án Tiến sĩ Y học Học viện Quân y, Hà N ội 2008

9 Tr ần Hoàng Ân, Tạ Văn Trầm, Phạm Hữu Thi ện Chí Tỷ lệ sạch sỏi của phương pháp điều trị sỏi sót đường mật trong gan qua đường

h ầm ống Kehr Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh 2013; 17(4):59-65

10 Võ Đại Dũng, Lê Nguyên Khôi, Đoàn

V ăn Trân và CS Phẫu thuật nội soi trong điều

tr ị sỏi đường mật trong gan Tạp chí Y học

TP H ồ Chí Minh 2015; 19(5):91-100

11 Chen CH, Huang MH, Yang JC et al Reappraisal of percutaneous transhepatic cholangioscopic lithotomy for primary hepatolithiasis Surg Endosc 2005; 19:505-509.

Ngày đăng: 25/04/2021, 09:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w