1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư đầu cổ điều trị xạ trị tại Bệnh viện Quân y 103

9 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 277,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) ung thư đầu cổ điều trị xạ trị. Đối tượng và phương pháp: Theo dõi dọc, nghiên cứu tiến cứu 50 BN ung thư đầu cổ được xạ trị tại các thời điểm trước, ngay sau khi xạ trị và 1, 3 tháng sau xạ trị tại Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 6/2018 - 3/2020.

Trang 1

KH ẢO SÁT TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẦU CỔ ĐIỀU TRỊ XẠ TRỊ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

H ồ Viết Hoành 1

M ục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) ung thư

đầu cổ điều trị xạ trị Đối tượng và phương pháp: Theo dõi dọc, nghiên cứu tiến cứu 50 BN

ung th ư đầu cổ được xạ trị tại các thời điểm trước, ngay sau khi xạ trị và 1, 3 tháng sau xạ trị tại Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 6/2018 - 3/2020 K ết quả: Tình trạng

dinh d ưỡng giảm rõ ngay sau khi xạ trị (76% so với 92%) Xạ trị làm cho lượng thức ăn tiêu thụ

gi ảm (> 50% so với khẩu phần ăn), các chỉ số cân nặng, BMI, TSF, MUAC, MAMA và các chỉ số sinh hóa máu (protein, albumin) đều giảm sau xạ Ung thư khoang miệng - hầu họng; giai đoạn

b ệnh tiến triển; điều trị hóa xạ kết hợp; BN nhẹ cân, không được can thiệp dinh dưỡng kịp thời

là y ếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng (SDD) Xạ trị làm tăng độc tính tại các cơ quan như niêm

m ạc miệng, tuyến nước bọt, hầu họng và thực quản, nặng nhất ở thời điểm vừa kết thúc xạ trị

và hồi phục dần sau tia xạ K ết luận: Quá trình xạ trị ở BN ung thư đầu cổ làm tình trạng

dinh dưỡng kém đi

* T ừ khóa: Ung thư đầu cổ; Tình trạng dinh dưỡng; Xạ trị

Assessment of Nutritional Status in Head and Neck Cancer Patients

Receiving Radiotherapy at Military Hospital 103

Summary

Objectives: To evaluate nutritional status and related factors in head and neck cancer

patients receiving radiation therapy or chemoradiation therapy Subjects and methods: This

prospective observational study was conducted on 50 patients diagnosed with head and neck cancer who received radiation therapy at the time-points before radiation therapy, right after radiation therapy and 1, 3 months after radiation at the Oncology Center, Military Hospital 103, from June 2018 to March 2020 Results: Nutritional status decreased significantly immediately after radiation therapy (76% vs 92%) Radiation therapy caused a decrease in food consumption (> 50% compared to the serving), anthropometric indices (weight, BMI, TSF, MUAC, MAMA) and blood serum biochemical indicators (protein, albumin) both decreased The risk of malnutrition got worse in patients with cancer of the oral cavity - oropharynx; advanced disease stage; concomitant chemotherapy; underweight patients, without timely nutritional intervention Organ toxicity such as oral mucosa, salivary glands, pharynx and esophagus worsened during radiation therapy, worst at the end of radiation therapy and gradual recovery from radiation Radiation toxicity was related to malnutrition Conclusion: Radiation therapy in patients with

head and neck cancer worsens nutritional status

* Keywords: Head and neck cancer; Nutritional status; Radiotherapy

1

Trung tâm Ung b ướu, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y

Ng ười phản hồi: Hồ Viết Hoành (hoviethoanh@gmail.com)

Ngày nh ận bài: 09/10/2020

Ngày bài báo được đăng: 16/12/2020

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xạ trị là phương pháp điều trị phổ

biến, mang lại hiệu quả đối với ung thư

đầu cổ, tuy nhiên cũng gây ra nhiều tác

dụng không mong muốn lên các cơ quan

Đặc điểm vị trí giải phẫu khối u tác động

lên cấu trúc đường tiêu hóa trên và ảnh

hưởng lên quá trình ăn uống của BN Tùy

thuộc vào vị trí, kích thước trường chiếu,

liều chiếu và thời gian điều trị gây ra các

biến chứng cấp hoặc mạn tính Các biến

chứng cấp như viêm niêm mạc miệng,

khô miệng, thay đổi vị giác, khó nuốt, nuốt

đau, đau miệng và cổ họng hoặc chán ăn

Các yếu tố này làm cho tình trạng dinh

dưỡng ở BN ung thư đầu cổ kém đi Việc

khảo sát tình trạng dinh dưỡng ở BN ung

thư đầu cổ điều trị xạ trị hết sức quan

trọng, giúp bác sĩ lâm sàng đưa ra các

biện pháp dự phòng, can thiệp kịp thời,

cải thiện tình trạng dinh dưỡng, kéo dài

thời gian sống và nâng cao chất lượng

sống cho BN

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN C ỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

50 BN được chẩn đoán ung thư đầu

cổ, điều trị xạ trị tại Trung tâm Ung bướu,

Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 6/2018 -

3/2020

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả BN được

chẩn đoán ung thư vùng đầu cổ có chỉ

định điều trị xạ trị, tự nguyện tham gia vào

nghiên cứu

2 Ph ương pháp nghiên cứu

nghiên cứu tiến cứu, quan sát thông qua

phỏng vấn và công cụ nghiên cứu

Khai thác tiền sử bệnh, khám lâm sàng

tỉ mỉ (đo các thông số nhân trắc học), xét nghiệm sinh hóa, công thức máu, đánh giá tổng thể tình trạng dinh dưỡng theo chủ quan (PG-SGA: Patient-Generated Subjective Global Assessment) Các thang điểm này sẽ được đánh giá vào 4 thời điểm: Trước xạ trị, ngay sau xạ trị, sau xạ trị 1 tháng và 3 tháng

- PG-SGA: Là công cụ đánh giá tình

trạng dinh dưỡng đơn giản, dễ thực hiện, bao gồm: Bệnh sử (thay đổi cân nặng,

khả năng ăn uống, triệu chứng đường tiêu hóa, khả năng sinh hoạt, mức độ chuyển hóa liên quan stress bệnh lý) và

thăm khám lâm sàng (đo độ dày lớp mỡ

dưới da, khối cơ, phù) Phân loại:

+ SGA-A: Dinh dưỡng tốt khi BN không

bị sút cân hay tăng cân nhẹ trong thời gian ngắn (không phải do tình trạng phù hay báng bụng) hoặc sút cân nhẹ sau đó

lại tăng cân bình thường, khả năng ăn uống bình thường và không có các dấu hiệu mất lớp mỡ dưới da hay teo cơ, phù chi + SGA-B: SDD vừa hay nghi ngờ SDD khi BN sút ít nhất 5% trọng lượng cơ thể

trước nhập viện nhưng không tăng cân;

ăn ít hơn trong vòng 2 tuần trước nhập viện, khám có dấu hiệu mất ít lớp mỡ

dưới da hay teo cơ nhẹ

+ SGA-C: SDD nặng khi có tình trạng sút cân > 10%, ăn kém (ăn thức ăn sệt hay lỏng) kéo dài 2 tuần, có dấu hiệu rõ mất lớp mỡ dưới da, teo cơ nặng hoặc kèm phù chi, phù cột sống thắt lưng Trong trường hợp khó phân biệt giữa SGA-A và SGA-B, nên xếp loại SGA-A hoặc nghi ngờ giữa SGA-B với SGA-C thì

xếp loại SGA-B

Trang 3

- Đo nhân trắc: Chiều cao, cân nặng,

đo chu vi vòng cánh tay (MUAC - Mid Upper

Arm Circumference, đơn vị cm) và nếp gấp

da vùng cơ tam đầu (TSF - Tricep Skin Fold,

đơn vị mm)

+ Chu vi vòng cánh tay được đo bằng

thước dây không co giãn, đơn vị đo cm

Đo ở cánh tay không thuận, buông lỏng

Thước dây vòng qua điểm giữa của đoạn

thẳng tính từ mỏm xương vai đến cùi chỏ

cánh tay được đo, vòng thước dây nên

để vuông góc cánh tay BN

+ Nếp gấp da vùng cơ tam đầu được

đo bằng dụng cụ Caliper Đo ở cánh tay

không thuận, buông lỏng Vị trí đo điểm

giữa tại cơ tam đầu của đoạn thẳng tính

từ mỏm xương vai đến cùi chỏ cánh tay

được đo Dụng cụ Caliper khi đo ở tư thế

vuông góc với cánh tay BN Phân loại:

5 - 15th: SDD vừa, < 5th: SDD nặng + Diện tích vùng cơ giữa cánh tay (MAMA: The Mid-Arm Muscle Area) được tính bằng chênh lệch giữa chu vi vòng cánh tay với bình phương của (π x TSF) chia cho (4 x π), điểm MAMA được tính

bằng cách trừ 10 đối với nam và trừ 6,5

để loại trừ vùng xương

- Dữ liệu được phân tích bằng phần

mềm SPSS 21.0

- Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, trung vị, tỷ lệ phần trăm và so sánh giá trị trung bình của nhóm tại các thời điểm khác nhau sử dụng kiểm định Friedman (khi biến số là điểm) và kiểm định Cochran’s Q (các biến là tỷ lệ %)

K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Giới tính

Loại bệnh ung thư

Giai đoạn bệnh

Trang 4

Điều trị hiện tại

2 Thay đổi tình trạng dinh dưỡng theo thời gian

Tr ước xạ trị Kết thúc xạ 1 tháng sau x ạ 3 tháng sau x ạ

Cách cung cấp dinh dưỡng

Đường miệng

Lượng thức ăn tiêu thụ (% khẩu phần ăn)

p

Protein toàn phần

( a Ki ểm định Cochran’s Q so sánh tỷ lệ % của cùng 1 nhóm tại các thời điểm khác nhau;

b

Ki ểm định Friedman so sánh giá trị trung bình từng nhóm tại các thời điểm khác nhau)

Trang 5

Trước khi điều trị, phần lớn BN (92%)

được nuôi dưỡng tốt theo PG-SGA,

nhưng tại thời điểm kết thúc xạ trị hầu hết

BN (76%) bị SDD mức độ trung bình

(p < 0,001) Trong khi điểm trung bình

của PG-SGA là 5,2 ở thời điểm trước xạ

trị đã tăng lên 14,6 ở thời điểm sau xạ trị

(p < 0,001) Trong khi hầu hết BN (92%)

có chế độ dinh dưỡng bằng miệng trước

khi xạ trị thì tỷ lệ này giảm rõ rệt tại thời

điểm vừa hoàn thành xạ trị (32%) và phần

lớn đã trở lại ăn uống bình thường sau

1 tháng xạ trị (90%) Kết quả tương tự khi

theo dõi lượng thức ăn tiêu thụ, tại thời

điểm trước xạ trị có tới 47 BN (96,3%)

tiêu thụ > 50% so với nhu cầu và giảm

đáng kể (18 BN chiếm 36%) ở thời điểm

sau tia xạ và chỉ số này hồi phục sau xạ

trị 1 và 3 tháng (p < 0,001) Các thông số nhân trắc học được đo và đánh giá khách quan, chúng tôi nhận thấy trọng lượng cơ

thể giảm trung bình là 3,71 ± 4,2 kg,

tương đương khoảng 5% trọng lượng cơ thể và có tới 21% trong số này giảm > 10% trọng lượng cơ thể trong quá trình

xạ trị Tất cả các chỉ số (cân nặng, BMI, TSF, MUAC, MAMA) đều giảm rõ rệt sau quá trình xạ trị (tương ứng p < 0,001; 0,001; 0,001; 0,001 và 0,012) Tất cả BN được lấy máu xét nghiệm đánh giá chỉ số albumin và protein toàn phần trước, sau khi xạ trị và tại các thời điểm 1 và 3 tháng sau xạ trị Kết quả cho thấy các chỉ số

giảm rõ rệt sau xạ trị (p < 0,001; 0,001)

3 Các y ếu tố liên quan với tình trạng dinh dưỡng

Phương pháp điều trị

Trang 6

Liều xạ

( a Ki ểm định khi bình phương so sánh tỷ lệ % của 2 nhóm độc lập; b

Ki ểm định Fisher exact;

c

Ki ểm định Mann Whitney so sánh giá trị trung bình của 2 nhóm độc lập)

Tình trạng dinh dưỡng lúc BN vừa kết

thúc xạ trị được xem là nặng nhất làm

tham chiếu, chúng tôi nhận thấy BN ung

thư khoang miệng, ung thư hầu họng và

tuyến nước bọt mang tai (p = 0,021) và

giai đoạn bệnh tiến triển bị SDD (p = 0,016)

Nhóm BN được điều trị hóa xạ kết hợp có

khả năng bị SDD hơn so với nhóm BN được

điều trị bằng xạ trị đơn thuần (p = 0,047)

Liều xạ, tiền sử phẫu thuật (bao gồm cả

phẫu thuật mở khí quản), chỉ số sinh hóa

máu không liên quan với tình trạng dinh

dưỡng Chúng tôi nhận thấy đối với những

BN nhẹ cân (p = 0,043), sút cân (p = 0,023), nếu nuôi dưỡng kém sẽ có nguy cơ bị SDD Các yếu tố khác như nếp gấp da vùng cơ tam đầu (TSF), chu vi cánh tay,

dịch tích vùng giữa cánh tay, chỉ số khối chưa thấy liên quan với tình trạng dinh

dưỡng Những BN không được bổ sung dinh dưỡng đầy đủ (lượng thức ăn tiêu thụ

< 50% so với khẩu phần ăn) hay không được can thiệp dinh dưỡng kịp thời (đường miệng hoặc sonde nuôi dưỡng)

có nguy cơ bị SDD

Trang 7

4 Ảnh hưởng độc tính xạ trị đối với

tình tr ạng dinh dưỡng

xạ trị (Kiểm định Friedman so sánh điểm

độc tính trung bình tại các thời điểm khác

nhau trong và sau xạ trị)

Độc tính được đánh giá tại các cơ quan

như niêm mạc miệng, tuyến nước bọt,

hầu họng và thực quản, kết quả cho thấy

độc tính bắt đầu xấu đi trong quá trình

điều trị xạ và nặng nhất ở thời điểm vừa

kết thúc xạ trị và hồi phục dần sau tia xạ

dinh dưỡng với điểm độc tính do xạ trị

(Kiểm định Mann-Whitney so sánh điểm

độc tính trung bình giữa 2 nhóm)

Đánh giá độc tính xạ trị ở nhóm BN

SDD với nhóm không SDD chúng tôi

nhận thấy tình trạng dinh dưỡng kém liên

quan đến độc tính, độc tính xạ trị càng

nặng thì tình trạng SDD tăng (p < 0,001;

p < 0,002; p < 0,003)

BÀN LU ẬN

Những BN ung thư đầu cổ trong và sau khi xạ trị có nguy cơ SDD, 1 trong 6

dấu hiệu quan trọng nhận biết là giảm cân Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ

lệ SDD là 76% tại thời điểm vừa kết thúc

xạ trị Kết quả này tương đương với kết

quả của Unsal và CS với tỷ lệ SDD là 88,2% Theo dõi các thông số liên quan đến dinh dưỡng trong quá trình xạ trị cho thấy mô hình SDD tiến triển cùng với xạ trị Trong khi hầu hết BN (92%) được nuôi

dưỡng tốt trước khi bắt đầu xạ trị nhưng

tỷ lệ này giảm đáng kể tại thời điểm kết thúc xạ trị (24%) Tương tự lượng thức

ăn tiêu thụ so với nhu cầu (> 50%) giảm

từ 94% xuống còn 36% tại thời điểm kết thúc xạ trị Khi xem xét việc giảm lượng thức ăn tiêu thụ, các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng không chỉ xảy ra ở BN ung thư mà còn ở tất cả BN nhập viện, đặc biệt ở BN ung thư vùng đầu cổ do vị trí khối u liên quan tới khu vực ăn uống Trong nghiên cứu, tỷ lệ BN được bổ sung dinh dưỡng bằng đường miệng

hoặc qua sonde tăng từ 8 - 44% và tỷ lệ này giảm sau xạ trị 1 và 3 tháng, sở dĩ trong và sau khi xạ trị tổn thương viêm niêm mạc miệng cấp tính do tia xạ làm cho miệng BN đau nên rất khó ăn uống, đồng thời xạ trị tổn thương tuyến nước

bọt làm mất cảm giác ngon miệng ở BN Larsson và CS cũng cho thấy xu hướng tương tự trong nghiên cứu của họ Can thiệp dinh dưỡng trong quá trình xạ trị

trước đây được chứng minh ảnh hưởng tích cực đến tình trạng dinh dưỡng Các tác giả cũng cho rằng rất khó để đưa ra

kết luận về hiệu quả của một can thiệp cụ

Trang 8

thể vì các nghiên cứu không đồng nhất

[10] và đồng thuận đưa ra một chế độ ăn

riêng cho mỗi đối tượng Sự giảm trọng

lượng cơ thể trung bình của mẫu nghiên

cứu là 3,71 ± 4,2 kg, tương đương 5%

trọng lượng cơ thể Trong đó, 21% BN

giảm tới 10% trọng lượng trong quá trình

xạ trị Các thông số đo nhân trắc học

khác (BMI, TSF, MUAC và MAMA) và các

xét nghiệm (protein, albumin) cũng giảm

đáng kể khi kết thúc quá trình xạ trị

Pistóia và CS cũng báo cáo suy giảm

đáng kể MUAC, MAMA ở BN ung thư đầu

cổ Hopanci và CS báo cáo chỉ số BMI,

trọng lượng cơ thể, tỷ lệ % chất béo, khối

lượng mỡ, khối lượng mỡ tự do và khối

cơ giảm đáng kể khi kết thúc xạ trị nếu

BN không được bổ sung dinh dưỡng đầy

đủ Nghiên cứu của chúng tôi đã chứng

minh mối liên quan giữa tình trạng dinh

dưỡng với các yếu tố liên quan tới bệnh

tật BN ung thư khoang miệng, ung thư

hầu họng và ở giai đoạn tiến triển có

nguy cơ SDD cao nếu không được nuôi

dưỡng tốt Giai đoạn bệnh tiến triển là một

trong những yếu tố nguy cơ gây SDD

Về phương pháp điều trị: Những BN

được điều trị kết hợp cả xạ trị và hóa chất

có liên quan đến tình trạng SDD Các độc

tính của bức xạ lên niêm mạc miệng,

tuyến nước bọt, hầu họng, thực quản góp

phần làm nghiêm trọng hơn tình trạng SDD

Độc tính của xạ trị là một trong những

yếu tố nguy cơ gây giảm cân và giảm chỉ

số MUAC trong quá trình xạ trị Các yếu

tố khác liên quan đến tình trạng SDD như

nhân trắc học, giá trị xét nghiệm protein,

albumin Những BN nhẹ cân, gày sút cân,

MUAC thấp hơn và điểm diện tích vùng

cơ giữa cánh tay MAMA thấp có nguy cơ

SDD cao hơn Điểm MAMA liên quan đến

sự suy giảm cơ bắp, đây là dấu hiệu của thiểu cơ, suy giảm khối cơ và cơ xương Ngoài ra, những BN được cung cấp dinh

dưỡng thông thường có nguy cơ SDD cao hơn so với BN được bổ sung dinh

dưỡng bằng đường miệng hoặc ống sonde nuôi dưỡng Cochrane và CS chỉ ra dinh dưỡng bằng đường miệng thông thường

sẽ không cung cấp đủ dinh dưỡng trong quá trình xạ trị cho BN ung thư đầu cổ Những BN ăn < 50% khẩu phần ăn thông

thường có nguy cơ SDD cao hơn so với

BN ăn > 50% Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, có tới 44,4% số BN bị SDD mặc

dù ăn > 50% khẩu phần ăn thông thường Tuy nhiên, trong số liệu của chúng tôi có tới 40% số BN đã được bổ sung dinh

dưỡng SDD, cho thấy thời điểm bổ sung

có thể BN đã SDD và do chỉ định lâm sàng bắt buộc bổ sung trong quá trình xạ

trị chứ không phải bổ sung ngay từ đầu Trong thực hành điều trị ung thư, việc bổ sung dinh dưỡng và thời điểm bổ sung rất quan trọng để duy trì khối cơ bắp Các báo cáo cho thấy bổ sung sau khi đã SDD không ngăn được sự suy giảm cơ bắp Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh sự khác biệt đáng kể giữa nhóm nuôi dưỡng

tốt với đối chứng về tình trạng SDD đối

với chất lượng sống của BN

K ẾT LUẬN

Nghiên cứu chứng minh liệu pháp xạ

trị ở BN ung thư đầu cổ làm cho tình

trạng dinh dưỡng kém đi và nặng nhất ở thời điểm kết thúc xạ Các yếu tố ảnh

hưởng nhiều nhất đến tình trạng dinh dưỡng của BN là lượng thức ăn tiêu thụ

bằng đường miệng, các chỉ số nhân trắc học

và nồng độ protein, albumin huyết thanh

Trang 9

Tình trạng dinh dưỡng xấu đi ở ung thư

khoang miệng - hầu họng và ở BN giai

đoạn bệnh tiến triển Kết quả cho thấy

cần hỗ trợ cho BN ung thư đầu cổ trong

quá trình xạ trị Về tình trạng dinh dưỡng

trong quá trình điều trị và can thiệp, thay

đổi chế độ dinh dưỡng kịp thời là yếu tố

quan trọng và cần thiết trong việc chăm

sóc BN ung thư đầu cổ

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

1 Larsson M, Hedelin B, Johansson I,

Athlin E Eating problems and weight loss for

patients with head and neck cancer: A chart

review from diagnosis until one year after

treatment Cancer Nurs 2005; 28(6):425-435

2 Munshi A, Pandey MB, DurgaT,

PandeyCK, Bahadar S, Mohanti BK Weight

loss during radiotherapy for head and neck

malignancies: What factors impact it? Nutr

Cancer 2003; 47(2):136-140

3 Unsal D, Mentes B, Akmansu M, Uner A,

Oguz M, Pak Y Evaluation of nutritional status

in cancer patients receiving radiotherapy:

A prospective study Am J Clin Oncol 2006;

29(2):183-188

4 Ehrsson YT, Langius-EklöfA, Laurell G Nutritional surveillance and weight loss in head and neck cancer patients Support Care Cancer 2012; 20(4):757-765

5 Van Bokhorst - de van der Schuer, van Leeuwen PA, Kuik DJ, Klop WM, Sauerwein HP, Snow GB, Quak JJ The impact of nutritional status on the prognoses of patients with advanced head and neck cancer Cancer 1999; 86(3):519-527

6 Bauer J, Capra S, Ferguson M Use of the scored Patient-Generated Subjective Global Assessment (PG-SGA) as a nutrition assessment tool in patients with cancer Eur J Clin Nutr 2002; 56(8):779-785

7 National Health and Nutrition Examination Survey (NHANES) Anthropometry procedure manual 2011

8 Radiation Therapy Oncology Group Acute radiation morbidity scoring criteria http://www.rtog.org/Research Associates/Adverse Event Reporting/Acute Radiation Morbidity Scoring Criteria aspx Accessed: 22.03.2014

9 Leung JS, Seto A, Li GK Association between preoperative nutritional status and postoperative outcome in head and neck cancer patients Nutr Cancer 2017; 69(3):464-469

Ngày đăng: 25/04/2021, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w