1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của người chăm sóc trẻ tại bệnh viện vinmec năm 2019 và một số yếu tố liên quan

91 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG NGUYỄN THỊ NỮ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ TẠI BỆNH VIỆN VINMEC NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

NGUYỄN THỊ NỮ

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ TẠI BỆNH VIỆN VINMEC NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ NỮ

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ TẠI BỆNH VIỆN VINMEC NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số: 8720701

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

TS Nguyễn Xuân Tùng

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

- Quý Thầy cô trong Ban Giám hiệu Trường Đại học Thăng Long

- Quý Thầy cô trong Ban đào tạo sau đại học Đại học Thăng Long

- Quý Thầy cô trong Khoa Khoa học sức khỏe Trường Đại học

Thăng long

- Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Thăng Long

Về sự quan tâm và giúp đỡ tận tình cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Xuân Tùng

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi để luận văn này được hoàn thành Xin chân thành cảm ơn

- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

- Khoa Nhi 2, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

- Các đồng nghiệp trong Khoa Nhi 2

Đã chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn Tôi xin được cảm ơn tất cả các bệnh nhi cùng các bà mẹ đã đồng ý hợp tác trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi vô cùng biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và chia sẻ những khó khăn trong quá trình học tập để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn!

Hà Nội ngày 20 tháng 08 năm 2020

Nguyễn Thị Nữ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do chính bản thân tôi thực hiện, tất cả số liệu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội ngày 20 tháng 08 năm 2020 Người cam đoan

Nguyễn Thị Nữ

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tiếng Việt

(hand – foot – and mouth)

PCR Polymerase Chain Reaction Phản ứng chuỗi polymerase

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới

SD Standard deviation Độ lệch tiêu chuẩn

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Khái niệm và nguyên nhân gây bệnh 3

1.2 Đường lây truyền và cơ chế gây bệnh TCM 5

1.3 Đặc điểm dịch tễ học 6

1.4 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán và điều trị bệnh TCM 8

1.4.1 Triệu chứng lâm sàng 8

1.4.2 Triệu chứng cận lâm sàng 8

1.4.3 Chẩn đoán 9

1.4.4 Điều trị 10

1.4.5 Phòng bệnh 11

1.4.5.1 Nguyên tắc phòng bệnh: 11

1.4.5.2 Phòng bệnh tại các cơ sở y tế: 11

1.4.5.3 Phòng bệnh ở cộng đồng: 11

1.5 Những nghiên cứu về bệnh chân tay miệng 11

1.5.1 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành với bệnh tay chân miệng trên thế giới 12

1.5.1.1 Kiến thức về bệnh tay chân miệng 12

1.5.1.2 Thực hành về bệnh tay chân miệng 19

1.5.1.3 Xác định mối liên quan với bệnh tay chân miệng 21

1.5.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành với bệnh TCM tại Việt Nam 23

1.6 Tổng quan địa điểm nghiên cứu 25

1.6.1 Một số nét về bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City 25

1.6.2 Một số nét về Đơn nguyên Nhi 2- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City 26

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 27

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27

Trang 7

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 27

2.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu 28

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 30

2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 30

2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 30

2.4.3 Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu 30

2.5 Xử lý số liệu 31

2.6 Sai số và biện pháp khắc phục 31

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 31

2.8 Hạn chế của nghiên cứu 31

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 33

3.2 Kiến thức, thực hành của NCS trẻ với bệnh TCM 35

3.2.1 Kiến thức của NCS về bệnh TCM 35

3.2.2 Thực hành của NCS về bệnh TCM 38

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của NCS bệnh nhi 43

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 51

4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 51

4.2 Kiến thức và thực hành của NCS về bệnh TCM 52

4.2.1 Kiến thức của NCS về bệnh TCM 52

4.2.2 Thực hành của NCS về phòng chống bệnh TCM 58

4.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của đối tượng nghiên cứu 63

4.3.1 Mối liên quan về kiến thức bệnh TCM của đối tượng nghiên cứu 63 4.3.2 Mối liên quan đến thực hành phòng bệnh TCM của đối tượng nghiên cứu 65

KẾT LUẬN 67

Trang 8

1 Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của người chăm sóc trẻ tại Khoa Nhi 2, Bệnh viện Vinmec năm 2019 67 1.1 Kiến thức phòng chống bệnh TCM của NCS trẻ 67 1.2 Thực hành về phòng chống bệnh TCM của NCS trẻ 67

2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của đối tượng nghiên cứu 68 2.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống bệnh TCM của NCS trẻ 68 2.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống bệnh TCM của NCS trẻ 68

KHUYẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH

Danh mục bảng

Bảng 2.1 Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu 28

Bảng 3.1 Quan hệ với bệnh nhi của người chăm sóc (n= 380) 33

Bảng 3.2 Đặc điểm nhóm tuổi của người chăm sóc (n= 380) 33

Nhận xét: 33

Bảng 3.3 Đặc điểm giới của người chăm sóc (n= 380) 33

Bảng 3.4 Đặc điểm dân tộc của người chăm sóc (n= 380) 34

Nhận xét: 34

Bảng 3.5 Đặc điểm người có con dưới 5 tuổi (n= 380) 34

Nhận xét: 34

Bảng 3.6 Đặc điểm thu nhập bình quân đầu người của người chăm sóc (n= 380) 34

Bảng 3.7 Đặc điểm tiếp cận phương tiện truyền thông của người chăm sóc (n= 380) 35

Bảng 3.8 Bảng thể hiện những NCS đã từng nghe nói về bệnh TCM(n=380) 35

Bảng 3.9 Tiếp cận nguồn thông tin của những NCS về bệnh TCM 36

Bảng 3.10 Kiến thức về khả năng lây bệnh, đường lây truyền, biểu hiện bệnh và kiến thức chăm sóc trẻ khi trẻ mắc bệnh TCM của NCS (n=380) 36

Bảng 3.11 Kiến thức về phòng bệnh TCM của NCS 37

Bảng 3.12 Mức độ kiến thức về bệnh TCM của NCS( n=380) 38

Bảng 3.13 Thực hành phòng bệnh TCM của NCS (n=380) 38

Bảng 3.14 Thực hành rửa tay cho trẻ của NCS( n=380) 39

Bảng 3.15 Thực hành rửa tay của NCS( n=380) 40

Bảng 3.16 Thực hành vệ sinh đồ đạc trong nhà của NCS 40

Bảng 3.17 Cách xử trí của NCS khi có trẻ mắc TCM (n= 96) 42

Bảng 3.18 Điểm quan sát thực hành của NCS có trẻ mắc TCM(n=47) 42

Bảng 3.19 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về bệnh TCM 43

Trang 10

Bảng 3.20 Một số yếu tố liên quan đến thực hành rửa tay cho trẻ của NCS về bệnh TCM 45 Bảng 3.21 Một số yếu tố liên quan đến thực hành rửa tay của NCS 46 Bảng 3.22 Một số yếu tố liên quan đến thực hành vệ sinh môi trường của NCS 48 Bảng 3.23 Một số yếu tố liên quan đến thực hành xử trí khi trẻ mắc TCM của NCS 49

Danh mục hình ảnh

Hình 1 Một số hình ảnh về hình thể và cấu trúc của vi rút Coxsackie gây bệnh TCM 4 Hình 2 Lý do hay gặp ở trẻ vì trẻ mút tay, dùng chung đồ chơi 7

Trang 11

Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh tay chân miệng gặp ở các quốc gia khu vực Tây Thái Bình Dương như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ma Cao (Trung Quốc)

và phổ biến tại nhiều nước châu Á Đặc biệt tại Malaysia: Ngày 23/8/2018, Bộ trưởng Bộ Y tế Malaysia thông báo từ đầu năm 2018 đến ngày 14/8/2018, Malaysia đã ghi nhận 51.147 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, trong đó

có 02 trường hợp tử vong Trong số các trường hợp mắc, có 90% số mắc ở trẻ dưới 6 tuổi Đã có 701 cơ sở bao gồm trường học, trung tâm chăm sóc trẻ và trường mầm non đã bị đóng cửa do căn bệnh này và một số trường trong số đó cũng đã được mở trở lại theo từng giai đoạn Bộ Y tế Malaysia đã thực hiện các biện pháp y tế công cộng, bao gồm tăng cường giám sát, tổ chức các chiến dịch truyền thông và tăng cường các biện pháp khử trùng, đặc biệt là đồ chơi, bề mặt sàn, bàn tại các trường học… để ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh [4]

Tại Việt Nam, bệnh lưu hành và gặp tại hầu hết 63 tỉnh, thành phố, thường ghi nhận cao vào tháng 9 đến tháng 11 hàng năm, đặc biệt là mùa đầu năm học mới Theo báo cáo của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, trong 9 tháng đầu năm 2018, cả nước ghi nhận 53.529 trường hợp mắc tay chân miệng,

Trang 12

2 trong đó có 25.845 trường hợp nhập viện và đã có 06 trường hợp tử vong tại 5 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam So với cùng kỳ năm 2017, số mắc cả nước giảm 25,3%, số trường hợp nhập viện giảm 20,1%, tuy nhiên một số tỉnh, thành phố ghi nhận số mắc tích lũy cao và gia tăng nhanh như TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Đồng Tháp, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Hà Nội Số mắc tay chân miệng chủ yếu ghi nhận ở khu vực miền Nam 41.218 trường hợp (chiếm 77%), miền Bắc 5.984 trường hợp (chiếm 11,2%), miền Trung 5.392 trường hợp (chiếm 10,1%) và Tây Nguyên 935 trường hợp (chiếm 1,7%) Số mắc tay chân miệng chủ yếu gặp ở trẻ dưới 10 tuổi (chiếm 99,5%), trong đó hay gặp ở nhóm từ 1-5 tuổi, tuổi trẻ đi nhà trẻ và mẫu giáo (chiếm 79%) và dưới 1 tuổi (chiếm 17%) Dự báo dịch bệnh tay chân miệng có nguy cơ gia tăng trong thời gian tới đây do tính chất lây truyền, đặc biệt trong mùa tựu trường, trẻ tập trung vào năm học mới, điều kiện thời tiết thuận lợi, điều kiện vệ sinh chưa đảm bảo là yếu tố thuận lợi cho sự lây lan và phát triển của dịch bệnh [4]

Tạị bệnh viện Vinmec 6 tháng cuối năm 2018 ghi nhận 449 trường hợp khám và nhập viện vì tay chân miệng Cho đến nay vẫn chưa có bất cứ một nghiên cứu nào về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh của những người

chăm sóc trẻ được triển khai tại đây Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của người chăm sóc trẻ tại Bệnh viện Vinmec năm 2019 và một số yếu tố liên quan” với những mục tiêu

Trang 13

3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm và nguyên nhân gây bệnh

Bệnh được mô tả lần đầu tại Toronto-Canada năm 1957 Đến năm 1959, trong vụ dịch tại Birmingham (Anh) bệnh đã được đặt tên là “hand – foot – and mouth disease” ( HFMD) - Bệnh tay chân miệng TCM với tổn thương đặc hiệu

ở tay, chân và miệng, bệnh thường gặp ở trẻ em [23]

Bệnh tay chân miệng do một nhóm virus thuộc nhóm Enterovirus gây nên Enterovirusbao gồm 4 nhóm: poliovirus, Coxsackie A virus (CA),

Coxsackie B virus (CB) và Echovirus Các serotyp thuộc loài A gồm: EV68, EV71, EV76, EV89, EV90, EV91 và EV92 Trong khi các serotyp EV khác thì

thuộc dưới loài Enterovirus B hoặc C Týp EV71 là một trong những tác nhân

gây nên bệnh TCM và đôi khi chúng còn có khả năng gây nên bệnh ở hệ thần kinh trung ương Khả năng gây bệnh của týp EV71 đã được minh chứng là lần đầu tiên (1969) phân lập được chúng ở tổ chức thần kinh trung ương của một

số trường hợp tại California (Mỹ) [9]

Loài Coxsackievirus thuộc họ Picornaviridae gồm 29 typ Chúng khác biệt với các Enterovirus khác ở khả năng gây bệnh ở chuột ổ, các enterovirus khác thì hiếm hoặc không Chúng chia thành 2 nhóm: nhóm A

và nhóm B có khả năng gây bệnh ở chuột khác nhau Chúng gây nhiều chứng

bệnh khác nhau: Coxsackie A gây viêm họng, phát ban ngòai da, bệnh tay chân miệng, gây viêm kết mạc chảy máu, viêm màng não vô khuẩn ,Coxsackie B

gây viêm cơ tim ở trẻ sơ sinh, viêm đường hô hấp trên, viêm màng ngoài tim, viêm màng trong tim [9]

Người ta cũng đã cho biết rằng týp virus EV 71 đã xuất hiện ở Đài Loan vào năm 1968 cũng như đã từng xuất hiện ở các nước Đông Nam Á như: Philipines, Indonesia, Singapore Tuy rằng đây không phải là một týp enterovirus mới nhưng đặc tính của týp virus này có độc tính rất mạnh và có

Trang 14

4 khả năng làm tổn thương tổ chức thần kinh trung ương gây ra những bệnh cảnh lâm sàng nặng và hậu quả để lại xấu, hơn nữa nước ta lại nằm trong khu vực này cho nên cần cảnh giác và thận trọng khi có bệnh TCM xuất hiện [9]

EV71 có 4 nhóm gen là nhóm A, B, C và D Nhóm A và D bao gồm một thành viên Thành viên duy nhất của nhóm A là chủng RrCr Nhóm B được chia làm 6 dưới nhóm (subgenotipe): B1-5 và BO Nhóm C cũng được chia thành 5 dưới nhóm (subgenotype): C1-5 Coxsackie virus được chia thành 2 nhóm A và B Nhóm A có 24 dưới nhóm có thể gây bệnh lý ở người trong đó CA16 là một trong những căn nguyên quan trọng gây bệnh TCM Ngoài ra một

số dưới nhóm khác như A5, A6, A7, A9, A10 cũng gây bệnh này Coxsackie nhóm B có 6 dưới nhóm trong đó B1, B2, B3,B5 cũng là nguyên nhân gây bệnh TCM [15]

Hình 1 Một số hình ảnh về hình thể và cấu trúc của vi rút Coxsackie gây

bệnh TCM

Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài: EV bị đào thải ra ngoại cảnh từ phân, dịch hắt hơi, sổ mũi và dịch trong nốt phỏng EV bị bất hoạt bởi nhiệt độ 56oC trong vòng 30 phút và tia cực tím hoặc tia gama EV chịu được

pH với phổ rộng từ 3-9 EV Bị bất hoạt bởi 2% Sodium hyproclorite (Nước Javen), Chlorine tự do Không hoặc ít bị bất hoạt bởi các chất hòa tan lipid như: Cồn, Chloroform, phenol, Ether Ở nhiệt độ lạnh -40oC, EV sống được 2-3 tuần [15]

Trang 15

5

1.2 Đường lây truyền và cơ chế gây bệnh TCM

Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường là trẻ em và người là nguồn lây bệnh duy nhất Bệnh lây truyền chủ yếu theo đường tiêu hóa phân – miệng, dịch tiết nơi tổn thương – miệng và có thể lây do tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết

từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng của người bệnh hoặc tiếp xúc gián tiếp với các chất tiết của người bệnh trên đồ chơi, bàn ghế, dụng

cụ sinh hoạt, nền nhà…Bệnh TCM xảy ra rải rác quanh năm nhưng thường mắc cao hơn vào mùa hè và mùa thu Bệnh xuất hiện nhiều ở các nước có điều kiện

vệ sinh kém

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, các enterovirus nhân lên trong các mô bạch huyết của khoang hầu họng (amidan) và ruột non (mãng Peyer), sau đó đến các hạch bạch huyết khu vực (hạch mạc treo ruột), gây tình trạng virus máu nhẹ

Đa phần nhiễm virus được giới hạn ở đây và không gây ra triệu chứng gì Với EV71, tình trạng nhiễm trùng lan rộng khi virus lan ra hệ võng nội mô (gan, lách, tủy xương, và các hạch bạch huyết), lan đến tim, phổi, tuyến tụy, da, niêm mạc, thần kinh trung ương và trùng hợp thời kỳ khởi phát lâm sàng [34] Trong giai đoạn này, có thể phát hiện được tác nhân gây bệnh ở phân, chất dịch ngoáy họng, dịch mụn nước của bệnh nhân Theo một nghiên cứu, tỷ lệ phân lập được enterovirus ở bệnh phẩm là dịch ngoáy họng là 49% (288/592); ở dịch mụn nước là 48% (169/333); ở bệnh nhân không có biểu hiện bóng nước, bệnh phẩm ngoáy họng và phân cho kết quả dương tính với enterovirus là 53% (138/259) [30] Như vậy, thời kỳ lây truyền bệnh TCM bắt đầu một vài ngày trước khi phát bệnh, mạnh nhất trong tuần đầu của bệnh Virus có thể tiếp tục được bài tiết từ dịch hầu họng hoặc phân đến sau 2 tuần, cá biệt có thể tới 11 tuần kể từ khi khởi bệnh [25]

Trang 16

6

1.3 Đặc điểm dịch tễ học

Các vụ bùng phát dịch bệnh tay chân miệng (TCM) cứ vài năm lại xảy

ra một lần ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới, và trong thập niên vừa qua

đã có báo cáo về nhiều vụ bùng phát dịch TCM ở các quốc gia trong khu vực Tây Thái Bình Dương Những nước châu Á ghi nhận có số ca mắc TCM tăng nhanh trong thời gian gần đây gồm Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Đài Loan (Trung Quốc) và Việt Nam [19]

Nhiều vụ dịch lớn và nhỏ liên quan đến nhiễm EV71 đã được báo cáo trên toàn thế giới kể từ đầu những năm 1970 [34], [32] Trẻ em đã bị ảnh hưởng phổ biến nhất trong những đợt bùng phát này, và biểu hiện lâm sàng của các trường hợp chủ yếu là điển hình của bệnh TCM, với sốt, mụn nước ở da tay, chân và mụn nước ở miệng Tuy nhiên, các trường hợp liên quan đến biến chứng hệ thống thần kinh trung ương (CNS) và / hoặc phù phổi cũng đã được quan sát [29] Một ví dụ, trong năm 2009, vụ dịch ở Trung Quốc đại lục liên quan đến 1.155.525 trường hợp mắc TCM, trong đó 13.810 trường hợp nghiêm trọng và 353 trường hợp tử vong

Tại Việt Nam bệnh TCM xảy ra rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương nhưng phần lớn tại các tỉnh phía Nam Một vụ dịch lớn đã xảy ra vào năm 2011 với 113.121 trường hợp mắc và 170 ca tử vong Bệnh có quanh năm, tăng mạnh ở 2 thời điểm, từ tháng 3-5 và tháng 9-12 trong năm [15]

Bệnh gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi, nhiều hơn ở trẻ dưới 5 tuổi, tập trung ở dưới 3 tuổi, đỉnh cao là 1-2 tuổi [15]

Nguồn lây bệnh là người bệnh và người lành mang vi rút Tác nhân gây bệnh có trong các dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc phân của người bệnh [15]

Thời gian ủ bệnh từ 3-7 ngày Thời kỳ lây lan là vài ngày trước khi phát bệnh, mạnh nhất trong đầu tuần của bệnh và có thể kéo dài vài tuần sau đó,

Trang 17

7 thậm chí sau khi người bệnh hết triệu chứng Vi rút có khả năng đào thải qua phân trong vòng 2 đến 4 tuần, cá biệt có thể tới 12 tuần sau [15]

Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa phân miệng, thức ăn, nước uống, bàn tay của trẻ hoặc của người chăm sóc trẻ, các đồ dùng Nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của người bệnh, trên dụng

cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà Đặc biệt khi người bệnh mắc bệnh đường hô hấp tiếp xúc trực tiếp từ người – người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt, việc hắt hơi, ho, nói chuyện sẽ tạo điều kiện cho vi rút lây lan trực tiếp từ người sang người một số yếu tố có thể làm gia tang sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật độ dân số cao, sống chật chội, điều kiện

vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh, thiếu hoặc không có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hang ngày [15]

Bệnh TCM có tính cảm thụ cao, mọi người đều có tính cảm nhiễm với

vi rút gây bệnh TCM, không phải tất cả mọi người nhiễm vi rút đều có biểu hiện bệnh mà phần lớn bệnh ở hình thái thể ẩn, không biểu hiện các triệu chứng, đây là nguồn lây nhiễm nguy hiểm, bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn [15]

Hình 2 Lý do hay gặp ở trẻ vì trẻ mút tay, dùng chung đồ chơi

Trang 18

- Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt

- Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm

- Sốt nhẹ

- Nôn

Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng:

- Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh

- Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không

- Protein C phản ứng (CRP) trong giới hạn bình thường (< 10 mg/L)

- Đường huyết, điện giải đồ, X quang phổi có thay đối trong các trường hợp có biến chứng

Trang 19

9

- Khi có biến chứng, thay đổi các chỉ số trong khí máu, siêu âm tim, dịch não tủy

- Xét nghiệm phát hiện vi rút: Lấy bệnh phẩm hầu họng, phỏng nước, trực

tràng, dịch não tuỷ để thực hiện xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập vi rút chẩn đoán xác định nguyên nhân

- Chụp cộng hưởng từ não: Chỉ thực hiện khi có điều kiện và khi cần chẩn đoán

phân biệt với các bệnh lý ngoại thần kinh

1.4.3 Chẩn đoán

- Chẩn đoán ca lâm sàng dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học: Yếu tố

dịch tễ như tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian Lâm sàng gồm phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông, kèm sốt hoặc không

- Chẩn đoán xác định: Xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh

- Chẩn đoán phân biệt với các bệnh có biểu hiện loét miệng, ban trên da khác

- Biến chứng: bệnh TCM hay có biến chứng ở thần kinh và tim mạch

- Biến chứng thần kinh là viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng

não với các biểu hiện: Rung giật cơ; ngủ gà, bứt rứt, chới với, đi loạng choạng, run chi, mắt nhìn ngược; Rung giật nhãn cầu; Yếu, liệt chi (liệt mềm cấp); Liệt dây thần kinh sọ não; Co giật, hôn mê là dấu hiệu nặng, thường đi kèm với suy

hô hấp, tuần hoàn; Tăng trương lực cơ (biểu hiện duỗi cứng mất não, gồng cứng mất vỏ)

- Biến chứng tim mạch, hô hấp thể hiện: Viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết

áp, suy tim, trụy mạch

Phân độ lâm sàng, gồm các mức độ:

- Độ 1: Chỉ loét miệng và/hoặc tổn thương da

- Độ 2:

❖ Độ 2a: Bệnh sử có giật mình dưới 2 lần/30 phút và không ghi nhận lúc khám,

sốt trên 2 ngày, hay sốt trên 39oC, nôn, lừ đừ, khó ngủ, quấy khóc vô cớ

Trang 20

10

❖ Độ 2b: Có dấu hiệu thuộc nhóm 1 hoặc nhóm 2:

Nhóm 1: Có một trong các biểu hiện sau:

Nhóm 2: Có một trong các biểu hiện sau:

✓ Thất điều: run chi, run người, ngồi không vững, đi loạng choạng;

✓ Rung giật nhãn cầu, lác mắt;

✓ Yếu chi hoặc liệt chi;

✓ Liệt thần kinh sọ: nuốt sặc, thay đổi giọng nói

- Độ 3: Mạch nhanh > 170 lần/phút (khi trẻ nằm yên, không sốt);

❖ Một số trường hợp có thể mạch chậm (dấu hiệu rất nặng);

❖ Vã mồ hôi, lạnh toàn thân hoặc khu trú;

Nguyên tắc điều trị: Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều

trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm) Theo dõi sát, phát

Trang 21

11 hiện sớm và điều trị biến chứng Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng

1.4.5 Phòng bệnh

1.4.5.1 Nguyên tắc phòng bệnh:

- Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu

- Áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa đối với bệnh lây qua đường tiêu hoá, đặc biệt chú ý tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây

1.4.5.2 Phòng bệnh tại các cơ sở y tế:

- Cách ly theo nhóm bệnh

- Nhân viên y tế: Mang khẩu trang, rửa, sát khuẩn tay trước và sau khi chăm sóc

- Khử khuẩn bề mặt, giường bệnh, buồng bệnh bằng Cloramin B 2% Lưu ý khử khuẩn các ghế ngồi của bệnh nhân và thân nhân tại khu khám bệnh

- Xử lý chất thải, quần áo, khăn trải giường của bệnh nhân và dụng cụ chăm sóc

sử dụng lại theo quy trình phòng bệnh lây qua đường tiêu hoá

1.5 Những nghiên cứu về bệnh chân tay miệng

Các chương trình phòng chống bệnh TCM tại cộng đồng đã được triển khai tại nhiều quốc gia Các chương trình này có nhiều điểm tương đồng, bao gồm những nội dung chính: Giáo dục vệ sinh tốt và vệ sinh cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông sâu rộng; xây dựng và củng cố hệ thống giám sát dịch;

hỗ trợ cho trường học và các cơ sở chăm sóc trẻ; phổ biến những yếu tố nguy

Trang 22

12

cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp thực hành phòng bệnh Các nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận và nhiều biện pháp khác nhau để phòng bệnh TCM, triển khai các chương trình phòng bệnh TCM tại cộng đồng ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Singapore , nội dung chính gồm: Giáo dục vệ sinh tốt và

vệ sinh cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông sâu, rộng; Xây dựng và củng

cố hệ thống giám sát dịch; hỗ trợ cho trường học và các cơ sở chăm sóc ban ngày; Phổ biến những yếu tố nguy cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp thực hành phòng bệnh, các nghiên cứu đều đạt kết quả tốt trong quá trình thực hiện Một số can thiệp YTCC hiệu quả đã được áp dụng phòng chống bệnh TCM tại Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông và được WHO khuyến cáo như: thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo dịch sớm, thường xuyên; triển khai các chiến dịch truyền thông; triển khai các chiến dịch vệsinh, rửa tay bằng xà phòng, chủ động xây dựng kế hoạch, chính sách phòng bệnh TCM Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 581/QĐ-BYT ngày 24/2/2012 hướng dẫn “Giám sát và phòng bệnh TCM” nhằm tuyên truyền cho người dân các nội dung: Nguy cơ mắc bệnh; đường lây truyền; các triệu chứng của bệnh và những dấu hiệu bệnh chuyển nặng để người dân chủ động phòng bệnh, có thể phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh và đưa đến cơ sở y tế kịp thời; không để bệnh lây lan ra cộng đồng; Thực hiện 3 sạch: Ăn sạch, ở sạch, bàn tay và chơi

đồ chơi sạch Do vậy, cần có những nghiên cứu can thiệp tiếp theo, xây dựng mạng lưới truyền thông, huy động sự tham gia của cộng đồng để phòng chống

dịch bệnh được tốt hơn

1.5.1 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành với bệnh tay chân miệng trên thế giới

1.5.1.1 Kiến thức về bệnh tay chân miệng

Một nghiên cứu của Ruttiya Charoenchokpanit và cộng sự tại Bang Kok, Thái Lan năm 2013 từ 456 người chăm sóc trẻ tại nhà cho thấy có 5,5% người trả lời phải đối mặt với dịch TCM trong cộng đồng trước đây và 12,1% trẻ em

Trang 23

13 của họ đã bị nhiễm TCM trước đó Gần như tất cả (94,0%) số người được hỏi,

có con bị nhiễm bệnh tìm cách điều trị tại bệnh viện Tất cả những người được hỏi đã từng được biết thông tin về bệnh TCM trước đây và nguồn phương tiện chính cung cấp thông tin là truyền hình (97,6%) Tuy nhiên, điểm kiến thức hiểu biết của họ về bệnh của họ trung bình chỉ là 13 điểm so với số điểm đầy

đủ là 22 điểm Trong đó, một nửa trong số họ (50,4%) có mức điểm hiểu biết thấp và chỉ 3,7 % có kiến thức tổng thể cao Có tới 31,8% trong số họ có thể không xác định bất kỳ triệu chứng nào của bệnh TCM Ngoài ra, họ có thể nhầm lẫn giữa bệnh TCM với các bệnh về chân và miệng khác Chỉ 39% trong

số họ biết rằng bệnh TCM không phải là bệnh tương tự như bệnh về chân và miệng, và 47,1% nghĩ rằng cừu, gia súc và lợn có thể lây truyền bệnh TCM sang người [24]

Nghiên cứu của Nursyuhadah Othman và cộng sự năm 2012 tại Malaysia

được thực hiện với tổng số 32 người được phỏng vấn, có 72% (n = 23) số người được hỏi nằm trong khoảng từ 21-40 tuổi Gần 69% (n = 22) trong số những người được hỏi đã kết hôn, 31% (n = 9) chưa kết hôn Cuộc khảo sát có sự tham gia của 87% (n = 27) người trả lời là nữ và 13% (n = 5) người trả lời là nam Gần 50% (n = 16) số người được hỏi đã tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học trong khi 37,5% (n = 12) học trung học, 6,3% (n = 2) học tiểu học và có tới 6,3% (n

= 2) người không bao giờ tham dự bất kỳ một trường giáo dục chính thức nào, 84,4% (n = 27) người được hỏi đang làm việc và 15,6% (n = 5) người được hỏi đang thất nghiệp Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ trên những người được hỏi kiến thức về bệnh TCM và kinh nghiệm có con / trẻ bị nhiễm TCM Thấy rằng,

có 59,4% (n = 19) có kiến thức cơ bản về TCM mặc dù con cái họ chưa bao giờ

bị nhiễm TCM, 9,4% (n = 3) người được biết TCM từ kinh nghiệm trước đây của họ khi con / trẻ bị nhiễm bệnh tật Tám người được hỏi (25%) không có con bị nhiễm bệnh, được thông báo rằng họ không chắc chắn và không quen thuộc với TCM Đáng ngạc nhiên, 3,1% (n = 1) người được hỏi đã có một kinh

Trang 24

14 nghiệm đối phó với bệnh TCM Trong số 22 người được hỏi biết về TCM, có 40,1% (n = 9) lấy thông tin từ báo, 22,7% (n = 5) lấy thông tin từ truyền hình, 18,2% (n = 4), 13,6% (n = 3) số người được hỏi tiếp xúc với TCM từ chuyến thăm bệnh viện của họ và một người được hỏi (4,5%) biết từ việc nghe nói từ những người trong khu vực sinh sống của họ Mười bảy người được hỏi (53,1%) thông báo rằng họ biết về các triệu chứng của bệnh TCM Trẻ bị nhiễm TCM

có thể bị một số triệu chứng sau đây như sốt, loét họng, miệng và lưỡi, phát ban với mụn nước ở tay, chân, đế và ở vùng tã lót sau đó là nôn mửa và tiêu chảy Tám người được hỏi (25%) cho biết họ không chắc chắn về các triệu chứng và 21,9% còn lại (n = 7) không biết gì về các triệu chứng Dựa trên cuộc phỏng vấn với những người được hỏi, một số người trong số họ nhầm lẫn với sốt nói chung, bao gồm các triệu chứng giống như sốt như tiêu chảy và nôn mửa Có 56,3% (n = 18) số người được hỏi đồng ý rằng TCM có thể gây tử vong Chín người được hỏi (28,1%) không chắc chắn về điều đó và năm người được hỏi (15,6%) không tin rằng TCM có thể gây bệnh Có 40,6% (n = 13) người được hỏi tin rằng TCM lây lan qua tiếp xúc với người hoặc chạm từ người bị nhiễm bệnh Chín người được hỏi (28,1%) quyết định rằng họ không chắc chắn về đường lây truyền Sáu người được hỏi (18,8%) cho rằng TCM là bệnh truyền qua đường nước và bốn người được hỏi (n = 12,5%) cho rằng TCM lây lan qua không khí [31]

Nghiên cứu khác tại Malaysia của tác giả Qudsiah Suliman và cộng sự năm 2017 phỏng vấn tổng số 353 bà mẹ trong độ tuổi từ 22 đến 56, thấy tỷ lệ trả lời là 80,2% Hầu hết những người được hỏi đã kết hôn (96,3%), nội trợ (44,2%) và có trình độ học vấn cho đến trung học cơ sở (64,8%) Hơn nữa, hầu hết những người được hỏi nói rằng họ chưa bao giờ thuê bất kỳ người giúp việc nào cho đến nay (96,9%) [35]

Xác nhận kiến thức về bệnh TCM, tổng điểm trung bình là 13,61 (SD = 4,04) Hơn nữa, năm câu hỏi hàng đầu mà những người được hỏi trả lời sai là

Trang 25

15

về loét miệng và họng đảm bảo nhập viện (97,7%), phát ban, ngứa gây ra bởi triệu chứng của bệnh TCM (94,9%) Bệnh TCM còn được gọi là bệnh lở mồm long móng (81,3%) Tiêu chảy là triệu chứng của bệnh TCM (80,2%) và cừu

có thể truyền bệnh TCM sang người (70,2%) Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh TCM sẽ hồi phục trong vòng 1 tuần (52,1%), bệnh TCM có thể được liên kết với viêm màng não (52,1%), người bị nhiễm bệnh có thể bài tiết mầm bệnh TCM trong phân có thể truyền sang người khác (49,4%) và tác nhân gây bệnh TCM xâm nhập vào cơ thể người qua đường tiêu hóa (40,2%) [35]

Nghiên cứu của Q Liao tại Hồng Kông năm 2014 khi khảo sát quan điểm của phụ huynh về bệnh TCM ở trẻ em, kết quả thu được như sau: Khoảng 19%

số người được hỏi nói rằng con của họ trước đó đã bị nhiễm bệnh TCM và tỷ

lệ nhiễm được báo cáo là cao hơn ở những gia đình có nhiều hơn một đứa trẻ

trong độ tuổi mục tiêu so với những gia đình chỉ có một đứa con (26% so với 15%, P = 0,001) Chỉ có 24% số người được hỏi cho biết họ lo lắng về việc

con họ bị nhiễm bệnh TCM và chỉ 5% nhận thấy khả năng cao là con của họ sẽ

bị nhiễm bệnh TCM Tuy nhiên, bệnh TCM được coi là phổ biến vừa phải ở Hồng Kông Cảm nhận tác động của việc trẻ em nhiễm bệnh TCM đối với việc

ở trường học cao hơn so với các hoạt động hàng ngày của phụ huynh và gánh nặng tài chính gia đình Cha mẹ đi làm nhận thấy ít ảnh hưởng của bệnh TCM của trẻ với gánh nặng tài chính của gia và công việc ở trường của con Khoảng hai phần ba số người được hỏi nhận thấy rằng con của họ ít nhất có khả năng phải nhập viện và hơn 60% dự đoán ít nhất một số điều hối tiếc nếu con họ bị nhiễm bệnh TCM [28] Trong số những người được phỏng vấn, 61% tin rằng, nếu có sẵn, tiêm chủng sẽ có hiệu quả hoặc hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa bệnh TCM Hầu hết, những người được hỏi chỉ ra rằng họ ít nhất có phần tự tin trong việc bảo vệ con mình chống lại bệnh TCM Ảnh hưởng của nhận thức về phòng bệnh là trung bình đến cao trong số những người được hỏi So với những người được hỏi chưa từng bị nhiễm TCM, những người có con bị nhiễm trước

Trang 26

sẽ không cho con đi học nếu bị nhiễm TCM Trong số 374 người được hỏi có con đang theo học tại một trung tâm chăm sóc trẻ em, mẫu giáo hoặc trường học, 16% (60/374) cho biết họ sẽ giữ không cho con đi học nếu một trường hợp mắc bệnh TCM được báo cáo ở trường, tăng lên 40% (151 / 374) nếu một trường hợp tử vong được báo cáo do nhiễm trùng Trong số những người trả lời hoàn thành khảo sát tiếp theo, 53% (238/52) chỉ ra rằng họ sẽ chấp nhận tiêm vắc-xin TCM cho con của họ Điều này bao gồm 29% (132/452), 9% (40/452)

và 15% (66/452) nói rằng họ sẽ 'có khả năng', 'rất có thể' và 'chắc chắn', đưa con họ đi tiêm phòng Chấp nhận cho đi học và tiêm chủng không liên quan đến lịch sử trẻ em mắc bệnh TCM [28]

Nghiên cứu của Ha Thi Kim Phung tại bệnh viện Mỹ Phước cho thấy: trong phần phân tích, dữ liệu được trích xuất từ 52 người chăm sóc trẻ em dưới

5 tuổi trước và sau một buổi giáo dục sức khỏe Kết quả cho thấy các biện pháp can thiệp đã cải thiện kiến thức về bệnh TCM ở những người tham gia sau can thiệp Ở mức đẹp nhất, 34,6% người chăm sóc có mức độ hiểu biết kém và rất kém, 38,5% có mức độ trung bình và 26,9% có mức độ hiểu biết tốt và rất tốt Kết quả này so với 86,5% người chăm sóc đạt mức kiến thức rất tốt sau can thiệp [42]

Trang 27

17 Nghiên cứu của Trần Triệu Ngọc Huyền tại một số xã cho kết quả: nhóm được khảo sát tại các trung tâm chăm sóc trẻ em ban ngày không chính thức có kiến thức về bệnh tốt hơn so với nhóm ở hộ gia đình Đa số những người chăm sóc trẻ em được khảo sát nghĩ rằng bệnh TCM có thể xảy ra với những đứa trẻ

mà họ đang chăm sóc Những người cung cấp thông tin tại các trung tâm giữ trẻ thể hiện thái độ tích cực hơn trong việc tìm hiểu về căn bệnh này so với những người ở hộ gia đình và họ cũng bày tỏ sự quan tâm hơn nếu có trường hợp mắc bệnh TCM xảy ra trong cộng đồng của họ Họ quan tâm vì họ nghĩ bệnh TCM là nguy hiểm đến tính mạng của trẻ và có thể truyền từ người này sang người khác Nhóm được khảo sát tại các trung tâm giữ trẻ thực hành rửa tay thường xuyên hơn nhóm tại các hộ gia đình Nhóm này cũng sử dụng xà phòng, chất lỏng chống vi khuẩn để rửa tay của họ hoặc trẻ em thường xuyên hơn Việc thực hành rửa tay cho trẻ tại các nhà trẻ tốt hơn nhiều so với tại các

hộ gia đình Nhóm hộ không chú ý đến các bước làm sạch ngón tay, kẽ ngón tay, móng tay và rửa sạch xà phòng dưới vòi nước đang chảy Tại các trung tâm giữ trẻ, trẻ em 3 tuổi có thể tự rửa tay với sự giám sát của người giữ trẻ Nhóm khảo sát tại nhà trẻ sử dụng xà phòng, chất sát khuẩn khi vệ sinh đồ chơi của trẻ với tỷ lệ cao hơn so với cùng nhóm hộ gia đình Không có sự khác biệt thống

kê về tần suất sử dụng xà phòng, chất sát trùng để lau sàn giữa hai nhóm khảo sát Hầu hết những người được khảo sát cho biết họ biết về bệnh TCM chủ yếu qua các phương tiện thông tin đại chúng Thông tin về căn bệnh này trên các phương tiện thông tin đại chúng đã bão hòa và các nhóm đối tượng cần được thông tin sâu hơn và tập trung hơn vào mức độ thay đổi hành vi [43]

Một cuộc khảo sát KAP về người giám hộ của những bệnh nhân mắc bệnh TCM dưới 5 tuổi ở Trùng Khánh năm 2015 của tác giả ZHANG Shi-yong

và cộng sự cho thấy: Tỷ lệ nhận thức và điểm trung bình của người giám hộ là

cha mẹ (46 9%, 6 9 ± 2 1) cao hơn người giám hộ khác (29 7%, 4 7 ± 1 6); tỷ lệ nhận thức và điểm trung bình của người giám hộ nữ (43 3%, 6 7 ± 1

Trang 28

18 9) cao hơn người giám hộ nam (33 2%, 5 0 ± 2 0); tỷ lệ nhận thức và điểm trung bình của người giám hộ từ thành phố (54 9%, 7 2 ± 2 4) cao hơn so với người giám hộ là người nhập cư (30 8%, 4 7 ± 1 6) [22]

Nghiên cứu của tác giả Vorapoj Promasatayaprot nhằm điều tra kiến thức, thái độ và hành vi về phòng chống bệnh tay chân miệng của những người chăm sóc trẻ em tại các trung tâm phát triển trẻ em, tỉnh Ubon Ratchathani Kết quả cho thấy đa số là nữ (96,3%), trung bình 41 tuổi (68,3%), tình trạng hôn nhân là vợ chồng (85,7%) và đang học đại học (75,2%) với thời gian làm giáo viên tại các trung tâm phát triển trẻ em từ 10 đến 14 tuổi là 58,7% và 71,8% trong số họ đã được nhân viên y tế tập huấn về kiểm soát bệnh TCM Kiến thức phòng bệnh tay chân miệng cho người chăm sóc trẻ ở mức cao Điểm trung bình là 2,76 (SD = 0,114) Thái độ của người chăm sóc trẻ ở mức vừa phải Điểm trung bình của nó là 2,28 (SD = 0,247) Mặt khác, mức độ quản lý môi trường để ngăn ngừa bệnh TCM còn thấp Điểm trung bình là 1,34 (SD = 0,215) Các yếu tố về đặc điểm cá nhân như giới tính, tuổi, trình độ học vấn, thời gian làm việc, kiến thức và thái độ phòng ngừa bệnh TCM có liên quan đến Phòng ngừa hành vi ở mức có ý nghĩa thống kê (p <0,05) [41]

Abu Zarin bin Zahari và cộng sự tại Malaysia nghiên cứu kiến thức, thái

độ và thực hành về bệnh TCM của cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em từ 10 tuổi trở xuống tại Chương trình tái định cư Nanga Sekuau từ ngày 26 tháng 3 đến ngày 10 tháng 6 năm 2012. Kết quả cho thấy 61,1% người được hỏi có kiến thức tốt, 52,2% có thái độ tốt trong khi 55,8% có thực hành phòng ngừa tốt đối với bệnh TCM Phân tích cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa giữa tổng điểm kiến thức và trình độ học vấn (p <0,05) Mối liên hệ có ý nghĩa tương tự cũng được tìm thấy giữa tổng điểm thái độ và trình độ học vấn (p <0,05) và tình trạng hôn nhân (p <0,05) Tuy nhiên, không có mối liên hệ đáng kể nào được tìm thấy giữa tổng điểm thực hành và các đặc điểm nhân khẩu học xã hội Mối tương quan thuận được tìm thấy giữa kiến thức và thái độ (p <0,01) cũng như

Trang 29

19 thái độ và thực hành (p <0,001) Nghiên cứu sau can thiệp cho thấy sự cải thiện đáng kể về kiến thức về phương thức lây lan của TCM (p <005), nhưng không

có sự gia tăng đáng kể về mức độ kiến thức, thái độ và thực hành (p> 0,05) [39]

1.5.1.2 Thực hành về bệnh tay chân miệng

Nghiên cứu của Haliza Abdul Rahman trên 102 cô giáo mầm non, trong

đó có 83 người trả lời từ trường công lập trong khi 26 người trả lời từ các khu dân cư ở Thung lũng Klang Kết quả cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa kiến thức, thái độ và thực hành giữa hai nhóm (Z = -0,321, p> 0,005; Z = -1,196, p> 0,005; Z = -1,155, p> 0,005) Hơn nữa, không có mối liên hệ giữa kiến thức với thực hành (p = 0,581, p> 0,005) và thái độ với thực hành (p = 0,298, p> 0,005) Do đó, các cô giáo mầm non trong nghiên cứu này nhận thức được mức độ kiến thức và thái độ vừa phải Tuy nhiên, trên thực tế, các trường học công lập cho thấy việc áp dụng thực hành tốt hơn nếu so với các khu dân

cư [40]

Một nghiên cứu của Jakrapong Aiewtrakun tại thành phố Khon Kaen, Thái Lan cho kết quả tỷ lệ phản hồi chung là 88,1% (342/388) Tỷ lệ người chăm sóc trẻ có đủ kiến thức về tầm soát, kiến thức phòng chống bệnh TCM lần lượt là 95% (KTC 95%: 91,9,96,9) và 39,8 (KTC 95%: 34,5,45,2) Chỉ có 3,5% trong số họ biết rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh,

và 6,1% biết chính xác việc khám sàng lọc trước khi vào cổng CSKH Việc khám sàng lọc trước cổng trước sự chứng kiến của phụ huynh đã được những người chăm sóc có kinh nghiệm chấp nhận như một biện pháp hiệu quả nhất để kiểm soát bệnh TCM Trong thời gian bùng phát, một số người chăm sóc trẻ (23,7%) không giảm bớt các hoạt động tiếp xúc gần gũi giữa trẻ với trẻ, và 19,1% không báo cáo với cơ quan y tế công cộng Kết luận: Hầu hết những người chăm sóc người bệnh trong CSKH đều có đủ kiến thức về sàng lọc bệnh

Trang 30

20 TCM nhưng kiến thức về phòng ngừa của họ vẫn chưa đủ Kiểm tra ở cổng trường có thể là biện pháp hiệu quả nhất để kiểm soát bệnh TCM [38]

Nghiên cứu của Ruttiya Charoenchokpanit cho thấy phần lớn số người được hỏi (60,3%) có mức độ thực hành phòng ngừa bệnh TCM tốt Tuy nhiên,

có một số phát hiện đáng lo ngại, 41,2% người trả lời hiếm khi hoặc chưa bao giờ xoa tay trong ít nhất 20 giây mỗi lần rửa tay, 25% họ chưa bao giờ tránh việc đưa con đến những nơi công cộng khi con mắc bệnh TCM và 43,6% trả lời rằng họ hiếm khi hoặc chưa bao giờ làm sạch đồ chơi sau khi con họ sử dụng chúng [24]

Nghiên cứu của Nursyuhadah Othman cho thấy về hành động của người chăm sóc trẻ khi con của họ bị nhiễm TCM như sau: Đa số những người được hỏi (93,8%) (n = 30) đồng ý tìm cách điều trị ngay lập tức từ bác sĩ trong khi nhận thấy các triệu chứng của TCM Một người được hỏi (3,1%) chọn dùng thuốc không kê đơn Một người trả lời khác đã quyết định chờ đợi để theo dõi thêm trong trường hợp các triệu chứng có thể tái phát, nếu các triệu chứng không thuyên giảm hoặc trở nên tồi tệ hơn sau vài ngày họ sẽ tìm kiếm sự tư vấn của bác sĩ Nghiên cứu cho thấy, có 65,6% số người được hỏi (n = 21) đồng

ý thực hành vệ sinh đầy đủ để ngăn ngừa bệnh lây lan và 6,3% (n = 2) người trả lời quyết định không cho con đi học mẫu giáo hoặc trường học trong thời gian dịch TCM Chín người được hỏi (n= 28,1%) đã quyết định thực hành cả hai phương pháp để ngăn ngừa TCM [31]

Trong nghiên cứu của Qudsiah Suliman và cộng sự tại Malaysia có liên quan đến các biện pháp phòng bệnh với bệnh TCM, tổng điểm trung bình cao,

là 56,29 (SD = 5.10) Ba biện pháp phòng ngừa ít được thực hành nhất là làm sạch đồ chơi trẻ em với chất khử trùng có điểm trung bình là 3,00, luôn luôn xoa ít nhất 20 giây mỗi khi rửa tay đạt được điểm trung bình là 4,00 và thường xuyên lau bàn, ghế và mặt sàn có điểm trung bình là 4,00 [35]

Trang 31

21

1.5.1.3 Xác định mối liên quan với bệnh tay chân miệng

Trong nghiên cứu của Ruttiya Charoenchokpanit có nhiều biến số nhân khẩu học xã hội có liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi của người chăm sóc tại nhà Họ tìm thấy liên quan giữa bệnh TCM và người chăm sóc trẻ với tuổi (p = 0,024), trình độ học vẫn (p = 0,012), nghề nghiệp (p = 0,001), thu nhập gia đình (p <0,001), mối quan hệ với trẻ em (p = 0,006) và tiền sử mắc bệnh TCM (p = 0,004) Thái độ được tìm thấy gắn liền với trình độ học vấn (p

<0,001), thu nhập gia đình (p = 0,001) Hành vi phòng bệnh TCM có liên quan đến giới tính (p = 0,007), giáo dục (p = 0,034), thu nhập gia đình (p <0,001) Những người được hỏi có trình độ học vấn hoặc thu nhập cao hơn thường có kiến thức cao, thái độ tốt hơn và thực hành tốt hơn so với những người có trình

độ học vấn thấp hơn và thu nhập gia đình thấp hơn [24]

Nghiên cứu của Benjawan Chaiwut tạichín bệnh viện ở tỉnh Chiang Rai

đã được chọn cho nghiên cứu Các trường hợp là trẻ em được chẩn đoán mắc bệnh TCM được đưa vào một trong các bệnh viện nghiên cứu Đối chứng là trẻ

em không được chẩn đoán mắc bệnh TCM nhưng được nhập viện cùng bệnh viện với các trường hợp mắc bệnh TCM Nghiên cứu đã sử dụng bảng câu hỏi

đã được xác thực để thu thập dữ liệu từ các đối tượng và cha mẹ của họ Tổng

số 58 trường hợp và 232 đối chứng được đưa vào nghiên cứu Nam giới chiếm 63,8% tổng số đối tượng; 66,2% từ 1-2 tuổi; 13,1% là sinh non; và 6,5% có tiền

sử bệnh tiềm ẩn Sáu mươi chín phần trăm người chăm sóc là cha mẹ; 79,3% người chăm sóc là nữ; và 43,1% người chăm sóc ở độ tuổi từ 30 đến 45 tuổi Phân tích đa biến cho kết quả: 1) đối tượng <1 tuổi gấp 5,45 lần [Khoảng tin cậy 95% (CI): 1,07-27,67] có nguy cơ mắc bệnh TCM cao hơn đối tượng ≥ 1 tuổi; 2) đối tượng có cân nặng lúc sinh <2.500 gam có nguy cơ mắc bệnh TCM cao hơn 3,58 lần (KTC 95%: 1,32-9,74) so với đối tượng có cân nặng lúc sinh

≥ 2.500 gam; 3) những đối tượng có thể tích trung bình hồng cầu thấp (MCV) gấp 5,52 lần (KTC 95%: 1,25-24,48) có nhiều khả năng mắc bệnh TCM hơn

Trang 32

22 những người có mức MCV bình thường; 4) những đối tượng có đường cong tăng trưởng CI: 1,95-11,34) có nguy cơ mắc bệnh TCM hơn những người có đường cong tăng trưởng bình thường Bệnh TCM ở trẻ em ở tỉnh Chiang Rai, Thái Lan có liên quan đến nhẹ cân, thấp hơn bình thường và các đường cong tăng trưởng của trẻ cao hơn bình thường, có mức MCV thấp và tuổi <1 tuổi Nghiên cứu đã rút ra được kết luận đó là các can thiệp phòng ngừa và kiểm soát TCM hiệu quả ở miền Bắc Thái Lan cần tập trung vào các yếu tố trên [37]

Nghiên cứu của Q Liao thấy: không có biến nhân khẩu học nào được liên kết đáng kể với 'Vệ sinh' hoặc 'Khoảng cách' Do đó, mối liên hệ của hai kết quả này với các biến về nhận thức không được điều chỉnh với bất kỳ biến nhân khẩu học nào Về vệ sinh, những người được hỏi dự đoán rằng họ sẽ vô cùng hối hận nếu con của họ bị nhiễm bệnh, họ lo lắng hơn về việc con của họ

bị nhiễm bệnh và nhận thấy sự tự tin trong việc bảo vệ con của họ khi được rửa tay thường xuyên hơn Họ cũng nhận thấy khả năng cao là con của họ phải nhập viện một khi đã bị nhiễm bệnh và nhận thấy tác động cao hơn của nhiễm trùng của bệnh TCM với trẻ em ở trường học, đa số họ có ý định giữ cho con họ nghỉ học khi được thông báo về các trường hợp mắc TCM trong trường học Tuổi của trẻ có liên quan đáng kể đến việc chấp nhận tiêm chủng, với những người được hỏi có con từ 5 tuổi trở lên ít có khả năng chấp nhận tiêm vắc-xin TCM Mô hình hồi quy logistic cho của nghiên cứu cho thấy sau khi điều chỉnh theo độ tuổi của trẻ, cha mẹ có con đã được tiêm phòng cúm theo mùa vào mùa đông 2013, năm 2014 sẽ có nhiều khả năng đưa con đi tiêm vắc-xin phòng bệnh TCM [28]

Nghiên cứu của Chadaporn Inta và cộng sự tại tỉnh Chiang Rai,

Thái Lan trên 380 đối tượng cho thấy mối liên quan với bệnh TCM như sau:

Mô hình hồi quy logistic đơn giản tiết lộ rằng ba yếu tố có liên quan đến TCM: trẻ em có cha mẹ theo đạo Phật có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn (3,34 lần) so với những người có cha mẹ theo đạo Kitô (90% CI: 1,58-7,03); những đứa trẻ

Trang 33

sử bú sữa mẹ <6 tháng có cơ hội lớn hơn (2,12 lần) để phát triển TCM so với những trẻ có tiền sử bú sữa mẹ 6 tháng (90% CI = 1,31-3,33) Sau khi phân tích

mô hồi quy logistic đa biến, loại bỏ tất cả các yếu tố gây nhiễn, mô hình cho thấy hai yếu tố có liên quan đến mắc bệnh TCM ở trẻ em: trẻ em dưới 2 tuổi có

cơ hội mắc lớn hơn (6,35 lần) (95% CI = 1,37-29,38) so với những người ở độ tuổi> 5 tuổi; và những trẻ có tiền sử bú mẹ dưới 6 tháng có cơ hội lớn hơn (1,97 lần) để phát triển bệnh TCM so với những trẻ được bú sữa mẹ ≥ 6 tháng [26]

1.5.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành với bệnh TCM tại Việt Nam

Có sự khác nhau về đặc điểm bệnh TCM giữa hai miền Nam và Bắc, trong đó phần lớn bệnh xảy ra ở miền Nam, do đó các nghiên cứu về bệnh cũng chủ yếu tập trung ở khu vực này

Nghiên cứu của Vũ Thị Huyền và cộng sự trên 200 hộ gia đình được thực hiện tại xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn của tỉnh Yên Bái năm 2013 cho thấy kiến thức chung về bệnh TCM đạt 11%, không đạt 89% Người dân có khiến thức khá tốt về đối tượng dễ mắc bệnh TCM nhưng lại chưa có kiến thức đầy

đủ về đường lây truyền, triệu chứng bệnh và các biện pháp phòng chống bệnh TCM Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp và kiến thức về bệnh TCM của đối tượng nghiên cứu Người làm ruộng có kiến thức về bệnh TCM đạt thấp hơn các đối tượng khác 21.2% [1]

Trang 34

24 Theo nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng và cộng sự tại Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ từ tháng 12/2012 đến tháng 3/2013 có 93 bệnh nhi có triệu chứng lần đầu tiên khởi bệnh là sốt chiếm 77,5% và đây cũng là lý do chủ yếu khiến bệnh nhi nhập viện 77,5% bệnh nhi nhập viện vào ngày thứ 2 và ngày thứ 3 của bệnh Các triệu chứng khi bệnh nhi mới nhập viện thường gặp nhất là sốt 43,3% và sang thương ở miệng 33,3% Các dấu hiệu biểu hiện biến chứng thường gặp nhất là giật mình 70% và bứt rứt 7,5% Cận lâm sàng 54,2% bệnh nhi có số lượng bạch cầu tăng còn tiểu cầu đa số nằm trong giới hạn bình thường (87,5%) 75% bệnh nhi có kết quả xét nghiệm đường huyết bình thường

và 37/85 cho kết quả dương tính với EV71 Kiến thức chung về bệnh TCM 99,2% bà mẹ trước đây đã từng nghe nói về bệnh, nguồn thông tin chủ yếu là

ti vi, loa phát thanh chiếm tỷ lệ tương ứng là 71,7% và 31,7%, có 85% bà mẹ biết TCM là bệnh gì, 38,3% biết thời điểm xảy ra bệnh và 93,3% biết nhóm tuổi dễ mắc bệnh [8]

Một nghiên cứu can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An Lão, Bình Lục, Hà Nam năm 2018 cho thấy: tỷ lệ các bà mẹ có con dưới 5 tuổi biết bệnh TCM là bệnh lây, bệnh TCM có thể phòng ngừa được và trẻ em là đối tượng dễ mắc bệnh khá cao, chiếm từ 81,9% - 89,5% Về đường lây truyền của bệnh, tỷ lệ bà

mẹ có con dưới 5 tuổi biết các đường lây truyền của bệnh đều thấp, đường lây truyền do tiếp xúc trực tiếp với biểu hiện rõ nhất của bệnh TCM là dịch của mụn, bọng nước là cao nhất, cũng chỉ xấp xỉ 50% Về biểu hiện của bệnh, tỷ lệ

bà mẹ có con dưới 5 tuổi biết biểu hiện của bệnh như mụn nước trong miệng, bàn tay/bàn chân/mông là 71,4% Nhưng tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi biết các biểu hiện khác là rất thấp, biểu hiện trẻ mệt mỏi (3,8%), biểu hiện trẻ sốt (32,4%) Tỷ lệ bà mẹ không biết một biểu hiện nào của bệnh là trên 15% Rửa tay với xà phòng là biện pháp được nhiều người biết nhất cũng chỉ đạt 38,1% Các biện pháp khác đều dưới 30,0% số người biết, thấp nhất là tỷ lệ các bà mẹ

Trang 35

25 biết thu gom chất thải của trẻ đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh để phòng bệnh TCM chỉ chiếm 1,9% Tỷ lệ thực hành phòng bệnh TCM của các bà mẹ có con dưới

5 tuổi cao nhất là vệ sinh nhà cửa sạch sẽ và rửa tay bằng xà phòng (33,3 % và 32,4%), thấp nhất là tỷ lệ không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay và vật dụng ăn uống Trong nghiên cứu này, có mối tương quan đồng biến giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi (p<0,001, r = 0,594) Khi điểm kiến thức phòng bệnh TCM của đối tượng nghiên cứu tăng thêm 1 điểm thì điểm thực hành phòng bệnh TCM cũng tăng thêm 0,343 điểm Tuy nhiên, chỉ có 35,2% sự biến thiên của điểm thực hành phòng bệnh TCM được lý giải bởi sự biến thiên của điểm kiến thức phòng TCM

ở bà mẹ có con dưới 5 tuổi [16]

Nhìn chung các nghiên cứu về TCM ở Việt Nam còn lẻ tẻ, số liệu tập trung tại một số bệnh viện lớn ở hai miền Nam và Bắc, do đó chưa đại diện cho

cả nước Nghiên cứu về kiến thức, thực hành của bà mẹ có con mắc TCM còn hạn chế

1.6 Tổng quan địa điểm nghiên cứu

1.6.1 Một số nét về bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City là Bệnh viện đầu tiên trong chuỗi hệ thống Y tế Vinmec được đưa vào vận hành Bệnh viện nằm trong khu

Đô thị Times City có diện tích 24.670m2, bao gồm 2 tầng hầm và 7 tầng nổi Vinmec Times City là bệnh viện đa khoa đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng chỉ JCI - chứng chỉ uy tín hàng đầu thế giới về thẩm định chất lượng dịch vụ y

tế, được công nhận trên 90 quốc gia, “tiêu chuẩn vàng” tại các bệnh viện danh tiếng toàn cầu

Bệnh viện cũng quy tụ đội ngũ bác sĩ và chuyên gia y tế đầu ngành của Việt Nam và quốc tế, có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm, hướng đến mục tiêu trở thành bệnh viện hàng đầu Việt Nam cả về chuyên môn và công

Trang 36

26 nghệ, đồng thời đạt tiêu chuẩn quốc tế cao nhất về quản lý chất lượng và an toàn cho bệnh nhân

1.6.2 Một số nét về Đơn nguyên Nhi 2- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

Với sự đầu tư bài bản và chuyên nghiệp, Trung tâm Nhi bệnh viện Vinmec Times City có đầy đủ các chuyên ngành gồm Nội trú Nhi và Ngoại trú Nhi

Hệ thống khoa Nội trú Nhi nằm ở tầng 5 và tầng 6 gồm 80 giường bệnh, đặt tại 3 đơn nguyên:

Đơn nguyên Nhi 1: 28 giường bệnh

Đơn nguyên Nhi 2: 28 giường bệnh

Đơn nguyên Nhi 3: 24 giường bệnh

Đơn nguyên Nhi 2 nằm tại tầng 5, điều trị các bệnh nhi khoa thông thường và 1 số bệnh chuyên khoa (bệnh về tiêu hóa, hô hấp, lây nhiễm) Đơn nguyên điều trị các bệnh truyền nhiễm: Bệnh sởi, cúm, sốt xuất huyết, tay chân miệng, quai bị, thủy đậu… Các bệnh về tiêu hóa: tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài, tiêu chảy nhiễm khuẩn, viêm dạ dày…

Trang 37

27

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là người nhà chăm sóc trẻ nằm viện điều trị nội trú tại Đơn nguyên Nhi 2 của Bệnh viện Vinmec Times City

- Tiêu chuẩn chọn đối tượng: Gồm tất cả những người đang trực tiếp chăm sóc trẻ và đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ: người chăm sóc trẻ không đồng ý và không hợp tác nghiên cứu

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Đơn nguyên Nhi 2- Bệnh viện Vinmec Times City, Hà Nội

2.1.3 Thời gian nghiên cứu:

từ tháng 4/2019 đến 08/2019

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính theo công thức ước tính cho một tỷ lệ để xác định số bệnh nhi mắc TCM và đó cũng là cỡ mẫu người chăm sóc của bệnh nhi:

p x (1-p)

n = Z²(1 – α/2)

d² Trong đó:

n là số lượng NCS cần nghiên cứu

Trang 38

28

p là tỷ lệ ước tính NCS trẻ có kiến thức và thực hành đúng

về chăm sóc bệnh TCM, lấy theo nghiên cứu của tác giả Trần Thị Anh Đào là 44% [18]

d là khoảng sai lệch mong muốn, lấy d=0,05

Z1-α/2: độ tin cậy 95%, khi α=0,05 thì Z1-α/2=1,96

Cỡ mẫu tính được n tối thiểu = 380 người chăm sóc các bệnh nhi

Phương pháp chọn mẫu: chọn toàn bộ đối tượng đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn

2.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu

Bảng 2.1 Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu

Biến số Loại biến Chỉ số/tiêu chí đánh giá

Phương pháp thu thập THÔNG TIN DÂN SỐ HỌC CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

rời rạc

Tỷ lệ phần trăm các nhóm tuổi

Tỷ lệ phần trăm các nhóm tình trạng hôn nhân

Tự điền

danh mục

Tỷ lệ phần trăm các nhóm tôn giáo

Tự điền

danh mục

Tỷ lệ phần trăm các nhóm dân tộc

Tự điền

A6 Số con dưới 5

tuổi

Định lượng, liên tục

Tỷ lệ phần trăm các nhóm

có con dưới 5 tuổi

Tự điền

Trang 39

29

Biến số Loại biến Chỉ số/tiêu chí đánh giá

Phương pháp thu thập A7 Thu nhập trung

bình/đầu

người/hộ gia

đình

Địn lượng, rời rạc

Trung bình thu nhập đầu người /gia đình của đối tượng

Đánh giá dựa trên tổng điểm câu hỏi tương ứng từ B1 – B9 trong phụ lục

Phân loại thành 2 mức

đúng, chưa đúng (Kiến thức đúng khi đạt ≥75%

câu trả lời đúng của các câu hỏi từ B1-B9 (10/13 câu, bắt buộc đúng câu 3,5,6)

Đánh giá dựa trên tổng điểm từ câu C1 – C13 trong phụ lục Phân loại thành 2 mức đúng, chưa đúng

Đánh giá dựa trên tổng điểm từ câu D1 – D8, thực hành đúng khi đạt 75% số điểm của tình huống thực hiện đúng

Quan sát trực tiếp

Trang 40

30

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1 Công cụ thu thập thông tin

- Sử dụng bảng câu hỏi tự điền và bảng kiểm thực hành

2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin

- Số liệu được điều tra viên thu thập bằng cách phát phiếu phỏng vấn, quan sát đối tượng nghiên cứu

2.4.3 Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu

- Thông tin được thu thập trong vòng 4 tháng từ thời điểm tháng 4 - 8 năm 2019

- Sau khi điều tra viên phát phiếu phỏng vấn, đối tượng nghiên cứu sẽ tự điền các thông tin trả lời vào phiếu, điều tra viên sẽ thu lại phiếu từ đối tượng nghiên cứu Những đối tượng nghiên cứu hiện đang có trẻ mắc TCM điều trị tại Đơn nguyên 2, khoa Nhi bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec sẽ được điều tra viên tiếp tục quan sát thực hành chăm sóc trẻ bệnh

- Sơ đồ nghiên cứu:

Ngày đăng: 25/04/2021, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Aida S., Mahadzar S., và Abdul Rahman H. (2019). Knowledge, Attitude and Practice towards Hand, Foot and Mouth Disease (HFMD) Among Nursery Governesses in Klang Valley, Selangor. Malaysian Journal of Medicine and Health Sciences, 15, 40–47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Malaysian Journal of Medicine and Health Sciences
Tác giả: Aida S., Mahadzar S., và Abdul Rahman H
Năm: 2019
26. Chaiwut B., Anuwatnonthakate A., và Apidechkul T. (2019). FACTORS ASSOCIATED WITH HAND, FOOT AND MOUTH DISEASE AMONG CHILDREN IN CHIANG RAI PROVINCE, NORTHERN THAILAND: A HOSPITAL-BASED STUDY. Southeast Asian J Trop Med Public Health, 50(2), 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Southeast Asian J Trop Med Public Health
Tác giả: Chaiwut B., Anuwatnonthakate A., và Apidechkul T
Năm: 2019
28. Charoenchokpanit R. và Pumpaibool T. (2013). Knowledge Attitude and Preventive Behaviors towards Hand Foot and Mouth Disease among Caregivers of Children Under Five Years Old in Bangkok, Thailand.Journal of Health Research, 27(5), 281–286 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Health Research
Tác giả: Charoenchokpanit R. và Pumpaibool T
Năm: 2013
29. Chung, P. W., Huang, Y. C., Chang, L. Y., &amp; et al. (2001), “Duration of enterovirus shedding in stool”, J Microbiol Immunol Infect, 34(3), pp. 167- 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duration of enterovirus shedding in stool
Tác giả: Chung, P. W., Huang, Y. C., Chang, L. Y., &amp; et al
Năm: 2001
30. Inta C., Apidechkul T., Sittisarn S. và cộng sự. (2017). Factors associated with hand foot mouth disease among children in day care center, Chiang Rai, Thailand. Asian Pacific Journal of Tropical Disease, 7, 391–395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asian Pacific Journal of Tropical Disease
Tác giả: Inta C., Apidechkul T., Sittisarn S. và cộng sự
Năm: 2017
32. Liao Q., Lam W.W.T., Cowling B.J. và cộng sự. (2018). Parental perspectives on hand, foot, and mouth disease among children in Hong Kong: a longitudinal study. Epidemiology &amp; Infection, 146(3), 324–332 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology & Infection
Tác giả: Liao Q., Lam W.W.T., Cowling B.J. và cộng sự
Năm: 2018
35. Ooi, M. H., Solomon, T., Podin, Y., &amp; et al. (2007), “Evaluation of different clinical sample types in diagnosis of human enterovirus 71- associated hand-foot-and-mouth disease”, J Clin Microbiol, 45(6), pp. 1858-1866 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of different clinical sample types in diagnosis of human enterovirus 71- associated hand-foot-and-mouth disease
Tác giả: Ooi, M. H., Solomon, T., Podin, Y., &amp; et al
Năm: 2007
41. Solomon, T., Lewthwaite, P., Perera, D., &amp; et al. (2010), “Virology, epidemiology, pathogenesis, and control of enterovirus 71”, Lancet Infect Dis, 10(11), pp. 778-790 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Virology, epidemiology, pathogenesis, and control of enterovirus 71
Tác giả: Solomon, T., Lewthwaite, P., Perera, D., &amp; et al
Năm: 2010
1. Admin (2019). Kiến thức về bệnh tay chân miệng của người dân tại xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái năm 2013. Luận Văn Y Học,&lt;https://luanvanyhoc.com/kien-thuc-ve-benh-tay-chan-mieng-cua-nguoi-dan-tai-xa-son-thinh-huyen-van-chan-tinh-yen-bai-nam-2013/&gt;, accessed:16/09/2019 Khác
3. Cao Thị Thuý Ngân (2012), Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt quân Đống Đa Hà Nội. Luận văn Thạc sỹ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Khác
4. Chủ động phòng bệnh tay chân miệng - Các văn bản liên quan - Bo Y Te. &lt;https://www.moh.gov.vn/web/dich-benh/cac-van-ban-lien-quan/-/asset_publisher/zDIqD44ouwbX/content/chu-ong-phong-benh-tay-chan-mieng&gt;, accessed: 13/09/2019 Khác
5. Đặng Quang Ánh (2013), Kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn quận Thanh Khê, Đà Nẵng. Luận văn Thạc sỹ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Khác
7. Hướng dẫn chẩn đoán bệnh tay chân miệng – Bệnh Viện Nhi Trung Ương. &lt;http://benhviennhitrunguong.org.vn/huong-dan-chan-doan-benh-tay-chan-mieng.html&gt;, accessed: 13/09/2019 Khác
8. Khảo sát về kiến thức chăm sóc bệnh Nhi Tay chân miệng của các bà mẹ tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ - Tạp Chí Y học Thực Hành - Bộ Y Tế.&lt;http://www.yhth.vn/khao-sat-ve-kien-thuc-cham-soc-benh-nhi-tay-chan- Khác
9. Khoa học công nghệ. &lt;https://huemed-univ.edu.vn/coxsackievirus-va-benh-tay-chan-mieng-sckhcn-c71&gt;, accessed: 13/09/2019 Khác
10. Khuyến cáo phòng bệnh tay chân miệng - Các văn bản liên quan - Bo Y Te. &lt;https://www.moh.gov.vn/web/dich-benh/cac-van-ban-lien-quan/-/asset_publisher/zDIqD44ouwbX/content/khuyen-cao-phong-benh-tay-chan-mieng&gt;, accessed: 13/09/2019 Khác
11. Nam H.Y. học dự phòng V. Kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh tay chân miệng của người chăm sóc trẻ chính trong gia đình có trẻ dưới 5 tuổi tại xã Liên Hồng – Đan Phượng – Hà Nội, năm 2016.&lt;http://www.tapchiyhocduphong.vn/tap-chi-y-hoc-du-phong/2019/01/kien-thuc-va-thuc-hanh-ve-phong-chong-benh-tay-chan-mieng-cua-nguoi-cham-soc-tre-o81E207C7.html&gt;, accessed: 27/08/2020 Khác
12. Nam H.Y. học dự phòng V. Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Ba Cụm Bắc, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, năm 2018.&lt;http://www.tapchiyhocduphong.vn/tap-chi-y-hoc-du-phong/2018/04/kien-thuc-thuc-hanh-va-mot-so-yeu-to-lien-quan-den-phong-benh-tay-chan-mieng-cua-o81E20729.html&gt;, accessed: 27/08/2020 Khác
13. Nguyễn Thanh Liêm (2015), Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh Tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 3 xã, huyện Mỹ Tú, Tỉnh Sóc Trăng. Luận văn Thạc sỹ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Tế Công cộng Khác
14. Nguyễn Thị Hồng Lụa (2015), Thực trạng bệnh TCM và kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của người dân tại hai xã của huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Luận văn Thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w