(NB) Căn cứ vào chương trình dạy nghề và thực tế hoạt động nghề nghiệp, phân tích nghề, tiêu chuẩn kỹ năng nghề, nội dung môn học Tổng quan du lịch cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về ngành du lịch, từ đó người học có thể vận dụng những kiến thức này trong quá trình học các môn học tiếp theo, cũng như có được những kiến thức cơ bản khi tham gia vào lĩnh vực kinh doanh du lịch. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.
Trang 1UBND TỈNH LÂM ĐỒNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐÀ LẠT
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC: TỔNG QUAN DU LỊCH NGHỀ: NGHIỆP VỤ NHÀ HÀNG TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
(Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-CĐNĐL ngày …tháng…năm…
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Nghề Đà Lạt)
Lâm Đồng, năm 2017
Trang 2Giáo trình tham khảo những tài liệu chính sau đây:
- Giáo trình Tổng quan du lịch và khách sạn, Vũ Thị Thanh Hiền,
2013, TCDN (Nghề Quản trị nhà hàng, trình độ Trình độ Cao đẳng nghề, ban hành theo Quyết định số 120/QĐ ngày 25 tháng 02 năm 2013 của Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề)
- Giáo trình Tổng quan du lịch, Trần Thị Mai, 2006, NXB Lao động -
- Quản lý khách sạn hiện đại, Lục Bội Minh, 2000, NXB Thông tin
LỜI GIỚI THIỆU
Vài nét giới thiệu xuất xứ giáo trình :
Giáo trình này được viết theo Dự án xây dựng chương trình đào tạo, giáo trình theo Luật giáo dục Nghề nghiệp để làm tài liệu dạy nghề trình độ Trung cấp nghề Nghiệp vụ nhà hàng tại Trường Cao đẳng Nghề Đà Lạt từ năm học 2017 – 2018
Quá trình biên soạn :
Trên cơ sở tham khảo các giáo trình, tài liệu về lĩnh vực du lịch, kết hợp với yêu cầu thực tế nghề nghiệp, giáo trình này được biên soạn có sự tham gia tích cực của các giáo viên có kinh nghiệm, cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các chuyên gia về lĩnh vực du lịch
Mối quan hệ của tài liệu với chương trình môn học :
Căn cứ vào chương trình dạy nghề và thực tế hoạt động nghề nghiệp, phân tích nghề, tiêu chuẩn kỹ năng nghề, nội dung môn học Tổng quan du
Trang 3lịch cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về ngành du lịch, từ đó người học có thể vận dụng những kiến thức này trong quá trình học các môn học tiếp theo, cũng như có được những kiến thức cơ bản khi tham gia vào lĩnh vực kinh doanh du lịch
Cấu trúc chung của giáo trình Tổng quan du lịch bao gồm 3 chương : Chương 1 Khái quát về hoạt động du lịch và khách sạn
Chương 2 Mối quan hệ giữa du lịch và một số lĩnh vực khác - Điều kiện phát triển du lịch
Lâm Đồng, ngày 05 tháng 7 năm 2017
Người biên soạn
Chủ biên: CN Nguyễn Thị Thanh Thúy
CN Lê Nguyên Vũ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời giới thiệu 2
Mục lục 4
Chương 1: Khái quát về hạt động du lịch và khách sạn 1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.1 Khái niệm về du lịch 9
1.1.2 Khái niệm về khách du lịch 10
1.1.3 Khái niệm về điểm đến du lịch 15
1.14 Khái niệm khách sạn 15
1.2 Các loại hình du lịch 17
1.2.1 Căn cứ váo phạm vi lãnh thổ 17
1.2.2 Căn cứ vào mục đích chuyến đi 19
1.2.3 Căn cứ vào loại hình lưu trú 22
1.2.4 Căn cứ vào thời gian của chuyến đi 24
1.2.5 Căn cứ vào quốc tịch của du khách 24
1.2.6 Căn cứ vào việc sử dụng các phương tiện giao thông 25
1.2.7 Căn cứ vào phương thức hợp đồng 25
1.2.8 Căn cứ vào tài nguyên du lịch 25
1.2.9 Một số cách phân loại khác 26
1.3 Nhu cầu du lịch và sản phẩm du lịch 27
1.3.1 Nhu cầu du lịch 27
1.3.2 Sản phẩm du lịch 34
1.4 Thời vụ du lịch 38
1.4.1 Khái niệm và đặc điểm của thời vụ du lịch 38
1.4.2 Các nhân tố tác động đến tính thời vụ của hoạt động du lịch 41
1.4.3 Một số giải pháp khắc phục sự bất lợi của thời vụ du lịch 44
Trang 51.5 Một số loại hình cơ sở lưu trú du lịch tiêu biểu 48
1.5.1 Ho tel 48
1.5.2 Motel 48
1.5.3 Làng du lịch 50
1.5.4 Camping 51
1.5.5 Tàu du lịch 52
1.5.6 Caraval 53
1.5.7 Bungalow 54
1.5.8 Rerort 55
1.5.9 Homestay 56
Câu hỏi 58
BÀI 2: Mối quan hệ giữa du lịch và một số lĩnh vực khác - Các điều kiện để phát triển du lịch 2.1 Mối quan hệ giữa du lịch và một số lĩnh vực khác 59
2.1.1 Mối quan hệ giữa du lịch và các ngành kinh tế khác 60
2.1.2 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá - xã hội 63
2.1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và môi trường 68
2.2 Các điều kiện để phát triển du lịch 72
2.2.1 Các điều kiện chung 72
2.2.1.1 Tình hình an ninh chính trị - an toàn xã hội 72
2.2.1.2 Điều kiện kinh tế 73
2.2.1.3 Chính sách phát triển du lịch 74
2.2.1.4 Các điều kiện làm nảy sinh nhu cầu du lịch 75
2.2.2 Các điều kiện đặc trưng 77
2.2.2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên 77
2.2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn 82
2.2.2.3 Sự sẵn sàng đón tiếp khách 83
Trang 62.2.2.4 Các sự kiện đặc biệt 85
Câu hỏi 86
BÀI 3: Khách sạn 3.1.Giới thiệu chung 87
3.2 Phân loại và xếp hạng khách sạn 90
3.2.1 Phân loại 90
3.2.2 Xếp hạng 97
3.3 Cơ cấu tổ chức trong một khách sạn 100
3.3.1.Mô hình cơ cấu tổ chức tiêu biểu trong một khách sạn 100
3.3.2.Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong khách sạn 102
3.3.3 Mối quan hệ giữa các bộ phận trong khách sạn 106
3.3.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức hoạt động khách sạn 115
Câu hỏi 117
Trang 7CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TỔNG QUAN DU LỊCH Tên môn học: Tổng quan du lịch
Mã môn học: MH07
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:
- Vị trí:Tổng quan du lịch là môn học cơ sở nghề, được giảng dạy song song với Giao tiếp trong kinh doanh nhà hàng và môn học văn hóa ẩm thực
- Tính chất:Tổng quan du lịch là môn học lý thuyết cơ sở, là môn học bắt buộc thuộc các môn cơ sở nghề trong chương trình khung trình độ trung cấp nghề nghiệp vụ nhà hàng
- Ý nghĩa và vai trò của môn học: Môn học là môn học cơ sở ngành,
là môn học quan trọng đối với nhân viên nghề Nghiệp vụ nhà hàng Cung cấp cho người học những kiến thức nền tảng về chuyên ngành du lịch nói chung và nhân viên nhà hàng nói riêng
Mục tiêu của môn học/mô đun:
* Về kiến thức:
- Mô tả được những khái niệm cơ bản về hoạt động du lịch và khách sạn
- Trình bày được các loại nhu cầu du lịch và sản phẩm du lịch
- Xác định được các tác động đến tính thời vụ trong du lịch
- Phân tích được mối quan hệ giữa du lịch và một số lĩnh vực khác
- Trình bày được các điều kiện để phát triển du lịch
- Nêu được các loại khách sạn theo các tiêu chí phân loại khác nhau
- Nêu được các tiêu chí xếp hạng khách sạn
- Trình bày được ví dụ về sự khác biệt giữa các khách sạn thuộc hạng khác nhau
- Mô tả được cơ cấu tổ chức tiêu biểu của một khách sạn
- R n luyện được thái độ cởi mở, tận tình, linh hoạt và nghiêm túc của nhân viên ngành Du lịch
Trang 8*Về kỹ năng:
Vận dụng được các kiến thức đã học về tổng quan du lịch ứng dụng trong quá trình giao tiếp với khách, tổ chức công việc và quản lý lĩnh vực chuyên môn
Trang 9Nội dung của môn học:
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ KHÁCH
du lịch phải nghiên cứu các loại hình du lịch, nhu cầu của khách du lịch, các loại hình cơ sở lưu trú du lịch từ đó tạo ra các sản phẩm phù hợp thỏa mãn nhu cầu của du khách
Du lịch là hoạt động mang tính thời vụ, những đặc điểm của thời vụ trong du lịch cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến tính thời vụ du lịch gây nên những tác động bất lợi đối với hoạt động du lịch Từ đó đòi hỏi các
tổ chức kinh doanh du lịch phải có phương hướng giảm những tác động tiêu cực của thời vụ du lịch
Mục tiêu:
- Trình bày được các khái niệm về du lịch, khách du lịch, điểm đến
du lịch;
- Phân loại được các loại hình du lịch;
- Trình bày được nhu cầu, sản phẩm du lịch;
- Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến tính thời vụ trong du lịch;
- Nhận biết, phân biệt được các loại hình cơ sở lưu trú;
- Chủ động trong học tập, tác phong học tập nghiêm túc
Trang 10Vào năm 1941, ông W.Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đưa ra định nghĩa: Du lịch là tổng hợp những và các hiện tượng, các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người tại nơi không phải là nơi
cư trú thường xuyên của họ, hơn nữa họ không ở lại đó vĩnh viễn và không
có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến
Theo nhà kinh tế Kalfiotis, du lịch là sự di chuyển của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức,
do đó tạo nên hoạt động kinh tế
Theo quan điểm của Robert W.Mc.Intosh, Charles R.Goeldner, J.R Brent Ritcie, du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch
Với cách tiếp cận tổng hợp ấy, các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch bao gồm:
(1) Khách du lịch:
(2) Các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách du lịch; (3) Chính quyền sở tại;
(4) Cộng đồng dân cư địa phương
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới:
Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thuờng xuyên của họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ
Luật du lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7,
khoá XI năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau:
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 11- Không theo đuổi mục đích kinh tế;
- Đi khỏi nơi cư trú từ 24 giờ trở lên;
- Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến tuỳ quan niệm của từng nước
Tại các nước đều có các định nghĩa riêng về khách du lịch Tuy nhiên, điểm chung nhất đối với các nước trong cách hiểu khái niệm về khách du lịch là:
Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng lịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm
Khách du lịch là những người tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với các mục đích như nghỉ ngơi, kinh doanh, hội nghị hoặc thăm gia đình
Theo Luật Du lịch Việt Nam:
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
Khách du lịch được phân chia thành hai nhóm cơ bản: Khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa
1.1.2.1 Khách du lịch quốc tế (International tourist)
Năm 1937, Uỷ ban thống kê của Hội Quốc liên (tiền thân của Liên Hợp Quốc ngày nay) đã đưa ra khái niệm về Khách du lịch quốc tế như sau:
Khách du lịch quốc tế là những người thăm viếng một quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất là 24 giờ
Theo khái niệm nêu trên, xét về mặt thời gian, khách du lịch quốc tế
là những người có thời gian viếng thăm (lưu lại) ở quốc gia khác ít nhất là
24 giờ Trên thực tế, những người đến một quốc gia khác có lưu trú qua đêm mặc dù chưa đủ thời gian 24 giờ vẫn được thống kê là khách du lịch quốc tế
Bên cạnh khách đi du lịch có lưu trú qua đêm, có nhóm khách chỉ đi
du lịch trong ngày Đối tượng này được gọi là khách tham quan
Khách tham quan (Excursionist, Day-visitor): Những người rời khỏi
Trang 12nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến không quá 24 giờ, không sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm
Để thống nhất hai khái niệm “khách du lịch” và “khách tham quan”, năm 1963 tại hội nghị của Liên Hợp Quốc về Du lịch được tổ chức ở Roma (Ý), Uỷ ban thống kê của Liên Hợp Quốc đưa ra một khái niệm về Khách du lịch quốc tế như sau:
Khách du lịch quốc tế là người thăm viếng một số nước khác ngoài nước cư trú của mình với bất kỳ lý do nào ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập từ nước được viếng thăm
Những khái niệm trên khá rõ ràng và chi tiết nhưng vẫn chưa xác định giới hạn về thời gian lưu lại của khách du lịch tại các điểm đến Năm 1989, tại Hội nghị liên minh Quốc hội về du lịch được tổ chức ở Lahaye (Hà Lan) đã ra
“Tuyên bố Lahaye về du lịch”, trong đó đưa ra khái niệm về khách du lịch như sau:
Luật du lịch Việt Nam đã khái niệm khách du lịch quốc tế như sau:
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
Như vậy, nhóm khách du lịch quốc tế được phân thành 2 loại:
Trang 13Khách du lịch quốc tế đi vào (Inbound tourist): là người nước ngoài
và người của một quốc gia nào đó định cư ở nước khác vào quốc gia đó đi
du lịch
Ví dụ: Người Mỹ và Việt kiều Mỹ vào Việt Nam du lịch
Khách du lịch quốc tế đi ra (Outbound tourist): Là công dân của một quốc gia và người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước ngoài
du lịch
Ví dụ: Người Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi
du lịch đến một nước khác (Trung Quốc, Thái Lan…)
Những đối tượng sau đây không được công nhận là Khách du lịch quốc tế:
- Những người đến một nước để thừa hành một nhiệm vụ nào đó (các nhân viên thương vụ, ngoại giao ở các sứ quán, cảnh sát quốc tế làm nhiệm
vụ ở nước ngoài…);
- Những người đi sang nước khác để hành nghề (dù có hay không có hợp đồng), hoặc tham gia các hoạt động kinh doanh ở nơi đến
- Những người nhập cư vào nước đến;
- Học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh sống tạm trú tại nước ngoài;
- Những người thường xuyên qua lại biên giới (nhân viên hải quan tại các cửa khẩu, người buôn bán ở các chợ biên giới…);
- Những hành khách đi xuyên qua một quốc gia (khách transit) và không dừng lại cho dù cuộc hành trình đó kéo dài trên 24 giờ
1.1.2.2 Khách du lịch nội địa (Internal tourist)
Khách du lịch nội địa được phân biệt với khách du lịch quốc tế ở chỗ nơi đến của họ cũng chính là nước mà họ cư trú thường xuyên Họ cũng được phân biệt với những người lữ hành trong nước ở mục đích chuyến đi, khoảng cách chuyến đi và thời gian lưu trú (tuỳ theo chuẩn mực của từng quốc gia)
Khái niệm khách du lịch nội địa được xác định không giống nhau ở các nước khác nhau :
Theo quy định của Mỹ: Khách du lịch nội địa là những người đi đến
Trang 14một nơi ở thường xuyên của họ ít nhất là 50 dặm, tức khoảng 80km (tính trên một chiều) với những mục đích khác nhau ngoài việc đi làm hàng ngày
Theo quy định của Pháp: Khách du lịch nội địa là những người rời khỏi nơi cư trú của mình tối thiểu là 24 giờ và nhiều nhất là 4 tháng với một hoặc một số mục đích: giải trí, sức kho , công tác và hội họp dưới mọi hình thức
Theo quy định của Canada: Khách du lịch nội địa là những người đi đến một nơi xa 25 dặm, tức là khoảng 40 km và có nghỉ lại đêm, hoặc rời khỏi thành phố và có nghỉ lại đêm tại nơi đến
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005):
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam
Trong công tác thống kê người ta thường phân biệt khách du lịch với các đối tượng khách khác và các đối tượng không phải là khách du lịch (xem sơ đồ 1.1)
Sơ đồ 1.1: Phân loại khách du lịch trong thống kê
(Nguồn: Tổ chức du lịch thế giới WTO)
Người du hành (Traveller)
Được thống kê là khách du
lịch (visitor)
Không tính vào thống kê du lịch
Du khách
(Tourist)
Khách tham quan (Excursionist-Day visitor)
đi du lịch dưới
24 giờ
Khách quá cảnh
- Những người làm việc để nhận thù lao
- Những người làm việc ở vùng biên giới
- Nhân viên đại sứ quán, lãnh
Trang 151.1.3 Khái niệm về điểm đến du lịch
Điểm đến du lịch là nơi tập trung nhiều điểm du lịch và hệ thống lưu
trú, vận chuyển và các dịch vụ du lịch khác; là nơi có xảy ra các hoạt động kinh tế- xã hội do du lịch gây ra
Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX sự phát triển của khách sạn thay đổi cả về số lượng và chất lượng Tại thủ đô của các nước cũng như các thành phố lớn ở châu Âu những khách sạn sang trọng (Palas) được xây dựng chủ yếu là để phục vụ tầng lớp thượng lưu Song song với các khách sạn lớn thì một hệ thống các khách sạn nhỏ được trang bị rất khiêm tốn cũng hình thành Do vậy có sự khác nhau trong phong cách phục vụ và cấp độ cung cấp dịch vụ trong các khách sạn Sự khác nhau còn tùy thuộc vào mức
độ phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn ở mỗi quốc gia Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều khái niệm khác nhau về khách sạn Chẳng hạn, khi đưa ra các khái niệm về khách sạn, một số nước đã đưa
ra những điều kiện rất riêng về số lượng buồng và các yêu cầu về các trang thiết bị tiện nghi trong đó:
Ví dụ ở Vương quốc Bỉ định nghĩa: khách sạn phải có ít nhất từ 10
đến 15 buồng ngủ với tiện nghi tối thiểu như phòng vệ sinh, máy điện thoại
Hay ở Nam Tư cũ đã định nghĩa: khách sạn là một tòa nhà độc lập có
ít nhất 15 buồng ngủ để cho thuê
Còn ở Cộng hòa Pháp lại định nghĩa : khách sạn là một cơ sở lưu trú
được xếp hạng, có các buồng và căn hộ với các trang thiết bị tiện nghi nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi của khách trong một khoảng thời gian dài (có thể là hàng tuần hoặc hàng tháng nhưng không lấy đó làm nơi cư trú thường xuyên), có thể có nhà hàng Khách sạn có thể hoạt động quanh năm hoặc theo mùa
Trang 16Thực tế trong thời kỳ này, các quốc gia khi đưa ra qui định về khái niệm khách sạn dựa trên điều kiện và mức độ phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn ở nước mình
Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động du lịch từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai càng tạo ra sự khác biệt trong nội dung của khái niệm khách sạn Nhà nghiên cứu về du lịch và khách sạn Morcel Gotie đã định nghĩa:
“Khách sạn là nơi lưu trú tạm thời của du khách Cùng với các buồng ngủ còn có các nhà hàng với nhiều chủng loại khác nhau”
Sự nghiên cứu sơ lược về lịch sử phát triển của khách sạn và khái niệm về khách sạn đã cho thấy rằng các định nghĩa về khách sạn đều mang tính kế thừa Điều này phản ánh sự phát triển của hoạt động kinh doanh khách sạn ngày càng được mở rộng Vì vậy việc nghiên cứu về khái niệm khách sạn cũng mang tính hệ thống và phải phù hợp với mức độ phát triển của hoạt động khách sạn ở từng vùng, từng quốc gia
Trong thống kê số 01/2002/TT - TCDL ngày 27/4/2001 của Tổng cục
Du lịch về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ-CP của Chính phủ về cơ sở lưu trú du lịch đã ghi rõ:
“Khách sạn (Hotel) là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sỏ vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch”
Cùng với sự phát triển kinh tế và đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì hoạt động du lịch và trong đó có hoạt động kinh doanh khách sạn cũng không ngừng phát triển về chiều rộng và chiều sâu Các khái niệm về khách sạn cũng ngày càng được hoàn thiện và phản ánh trình
độ và mức độ phát triển của nó
Khoa du lịch trường Đại học Kinh tế Quốc dân, trong cuốn sách “Giải thích thuật ngữ du lịch và khách sạn ” đã bổ sung một định nghĩa có tầm khái quát cao và có thể sử dụng trong học thuật và nhận biết về khách sạn ở Việt Nam:
“Khách sạn là cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi ), dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu trú qua đêm và thường được xây dựng tại các điểm du lịch”
Theo nhóm tác giả nghiên cứu của Mỹ trong cuốn sách “Welcome to
Trang 17Hospitality” xuất bản năm 1995 thì:
“Khách sạn là nơi mà bất kỳ ai cũng có thể trả tiền để thuê buồng ngủ qua đêm ở đó Mỗi buồng ngủ cho thuê bên trong phải có ít nhất hai phòng nhỏ (phòng ngủ và phòng tắm) Mỗi buồng khách đều phải có giường, điện thoại và vô tuyến Ngoài dịch vụ buồng ngủ có thể có thêm các dịch vụ khác như: dịch vụ vận chuyển hành lý, trung tâm thương mại (với thiết bị photocopy), nhà hàng, quầy bar và một số dịch vụ giải trí Khách sạn có thể được xây dựng ở gần hoặc bên trong các khu thương mại, khu du lịch nghỉ dưỡng hoặc các sân bay”
Khái niệm trên về khách sạn đã giúp phân biệt khá cụ thể khách sạn với các cơ sở lưu trú khác trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn Nó cũng phù hợp với xu hướng phát triển của các khách sạn trong giai đoạn hiện nay
* Một số khái niệm khác
- Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích
lịch sử, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Dịch vụ du lịch
Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển,
lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
1.2 Các loại hình du lịch
1.2.1 Phân loại theophạm vi lãnh thổ:
Trong cuốn «Những triết lý, nguyên tắc và thực tiễn của du lịch» các
học giả người Mỹ Mc Intosh, Goeldner và Richie đã sử dụng tiêu chí này để chia thành các loại hình du lịch khá chi tiết
Trang 18Dưới con mắt các nhà cung ứng dịch vụ, du lịch quốc tế được phân
thành du lịch đón khách quốc tế và du lịch gửi khách ra nước ngoài
Đặc trưng về mặt kinh tế của du lịch quốc tế là có sự thanh toán và sử dụng ngoại tệ Điều này có nghĩa là du lịch quốc tế làm biến đổi cán cân thu chi của quốc gia có tham gia hoạt động du lịch quốc tế Thông thường những nước đang phát triển tập trung phát triển chủ yếu loại hình du lịch quốc tế đón khách trong khi đó ở các nước phát triển nhu cầu đi du lịch nước ngoài ngày một phát triển
Dựa theo cách chia này có thể sắp xếp lại cho phù hợp với điều kiện Việt Nam như sau:
Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà trong quá trình thực hiện nó có
sự giao tiếp với người nước ngoài, một trong hai phía (du khách hay nhà cung ứng du lịch) phải sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp, về mặt không gian địa lý: du khách đi ra ngoài đất nước của họ, về mặt kinh tế: có sự giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ Như vậy du lịch quốc tế cần chia thành hai loại nhỏ:
Du lịch đón khách là loại hình du lịch quốc tế phục vụ, đón tiếp
khách nước ngoài đi du lịch, nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch trong đất nước của cơ quan cung ứng du lịch
Du lịch gửi khách là loại hình quốc tế phục vụ và tổ chức đưa khách
từ trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch ở nước ngoài
1.2.1.2 Du lịch nội địa
Du lịch nội địa được hiểu là các hoạt động tổ chức, phục vụ người trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi và tham quan các đối tượng du lịch trong lãnh thổ quốc gia, về cơ bản không có sự giao dịch thanh toán bằng ngoại
tệ Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, du lịch nội địa thường được dịch hoặc là Domestic tourism nhưng nếu hiểu theo Mc Intosh thì có thể dịch là internal tourism
1.2.1.3 Du lịch quốc gia
Theo cách hiểu hiện nay du lịch quốc tế bao gồm toàn bộ hoạt động
du lịch của một quốc gia từ việc gửi khách ra nước ngoài đến việc phục vụ khách trong và ngoài nước tham quan, du lịch trong phạm vi nước mình Thu nhập từ du lịch quốc gia (thường gọi tắt là thu nhập từ du lịch) bao gồm
Trang 19thu nhập từ hoạt động du lịch nội địa và từ du lịch quốc tế, kể cả đón và gửi khách
1.2.2 Phân loại theomục đích chuyến đi
Mục đích chuyến đi của du khách có thể chỉ thuần tuý du lịch, tức là chỉ nhằm nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh Ngoài những chuyến đi như vậy, có nhiều cuộc hành trình vì các lý
do khác như học tập, công tác, hội nghị, tôn giáo Trong các chuyến đi này, một số người đã sử dụng các dịch vụ ăn uống, lưu trú tại các nhà hàng khách sạn hay một số người thì tận dụng thời gian rảnh rỗi trong chuyến đi
để tham quan, nghỉ ngơi, tìm hiểu thiên nhiên, đời sống văn hoá của cộng đồng nơi đến Những người thực hiện chuyến đi với mục đích kinh doanh, thể thao, học tập, nghiên cứu chỉ được coi là du khách khi họ tham gia các hoạt động nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, tham quan… Trên cơ sở như vậy có thể chia du khách thành hai loại: Loại thứ nhất là những người thực hiện chuyến đi với mục đích thuần tuý du lịch, loại thứ hai là những người đi vì một mục đích khác song họ có kết hợp tham gia hoạt động du lịch vào những khoảng thời gian rỗi có được trong chuyến đi
1.2.2.1 Du lịch tham quan
Tham quan là hoạt động quan trọng của con người để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh Đối tượng tham quan có thể là tài nguyên du lịch tự nhiên như một phong cảnh kỳ thú, một bãi biển đẹp, cũng có thể là tài nguyên du lịch nhân văn như một di tích, một công trình đương đại hay một cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất
Như vậy, mục đích của nhóm này là nâng cao hiểu biết về văn hoá, lịch sử, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, đời sống xã hội,…
1.2.2.2 Du lịch giải trí
Những người đi du lịch theo loại hình này nhằm mục đích tách khỏi
sự căng thẳng, đơn điệu của công việc hàng ngày, tìm kiếm sự thư giãn thoải mái thông qua các hoạt động giải trí ở điểm đến du lịch Có thể có nhu cầu tham quan hoặc các nhu cầu khác, song mục tiêu đó không phải là cơ bản Khách du lịch thường chọn một nơi yên bình, không đi lại nhiều
1.2.2.3 Du lịch nghỉ dƣỡng
Một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch là phục hồi sức kho cộng đồng Một số học giả trên thế giới cho rằng, nếu có chế độ du
Trang 20lịch hợp lý, cộng đồng có thể giảm 30% số ngày điều trị bệnh trong năm Địa chỉ cho các chuyến nghỉ dưỡng thường là những nơi có không khí trong lành, khí hậu dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục như các bãi biển, hồ, sông, suối, suối nước nóng, vùng núi, vùng nông thôn… Ngày nay, nhu cầu đi nghỉ càng tăng do sự căng thẳng của công việc, môi trường ô nhiễm, các quan hệ xã hội phức tạp Số người đi nghỉ nhiều lần trong năm tăng lên rõ rệt Số người đi nghỉ cuối tuần ở các nước công nghiệp chiếm 1/3 dân số
1.2.2.4 Du lịch khám phá
Mục đích của chuyến đi nhằm nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh Các chuyến đi có mục đích khám phá được coi là thuần tuý du lịch Tuỳ theo mức độ, tính chất chuyến đi mà có thể chia thành du lịch tìm hiểu
và du lịch mạo hiểm Tìm hiểu thiên nhiên, môi trường, tìm hiểu phong tục tập quán, lịch sử… là những mục đích chính của các chuyến đi Du lịch mạo hiểm dựa trên nhu cầu tự thể hiện mình, tự r n luyện mình và tự khám phá bản thân con người, đặc biệt là giới tr Những con suối chảy xiết, những ngọn núi cao chót vót, những vùng núi lửa nóng bỏng, những khu rừng rậm rạp âm u, những hang động bí hiểm… là địa chỉ lý thú cho những người ưa mạo hiểm Để kinh doanh loại hình này cần có các trang thiết bị hỗ trợ cần thiết và đặc biệt cần có chương trình và đội ngũ ứng cứu hết sức cơ động Nước ta 3/4 diện tích là đồi núi, có nhiều núi cao, vực sâu, lại nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa nên có nhiều điều kiện tạo ra các vùng phù hợp cho du lịch khám phá Tuy nhiên muốn khai thác loại hình này cần một nguồn vốn không ít để đầu tư, đào tạo nhân viên, nên so với các loại hình khác, trong thời gian trước mắt, du lịch mạo hiểm có ít cơ hội thuận lợi hơn
1.2.2.5 Du lịch thể thao
Hoạt động thể thao không chuyên nhằm nâng cao thể chất, phục hồi sức kho , thể hiện mình… được coi là một trong các mục đích của du lịch Loại hình này phù hợp với những du khách ham mê hoạt động thể thao Trong những dịp có thời gian rỗi, nhiều người thay vì một chuyến đi nghỉ thụ động lại tìm đến những nơi có điều kiện để tự mình được chơi một môn thể thao nào đó nhưng không phải là tham gia thi đấu chính thức mà chỉ đơn giản là để giải trí Các hoạt động thể thao như săn bắn, câu cá, chơi golf, bơi thuyền, lướt ván, bơi lặn, trượt tuyết… là những thể loại ưa thích và thịnh hành nhất hiện nay Để kinh doanh loại hình này yêu cầu có các điều kiện tự nhiên thích hợp và có cơ sở trang thiết bị phù hợp cho từng loại hình cụ thể
Trang 21Mặt khác nhân viên cũng cần được huấn luyện để có thể được hướng dẫn và giúp đỡ cho du khách chơi đúng quy cách
Có thể chia ra thành du lịch thể thao chủ động và du lịch thể thao thụ động Du lịch thể thao chủ động là loại hình du lịch mà du khách tham gia trực tiếp vào hoạt động thể thao nhằm mục đích tự thể hiện mình, r n luyện sức kho như leo núi, lướt ván, săn bắn, câu cá, trượt tuyết…
Du lịch thể thao thụ động là các chuyến đi để xem thi đấu, cổ động cho các cuộc thi đấu thể thao mà du khách ưa thích Trong trường hợp này các cổ động viên được coi là du khách
Nhìn chung, để đáp ứng nhu cầu du lịch thể thao, cơ quan cung ững
du lịch phải có cơ sở vật chất lỹ thuật tốt, đội ngũ nhân viên phục vụ có hiểu biết về loại hình du lịch cung ứng Điểm du lịch phải có điều kiện thuận lợi
và phù hợp
1.2.2.6 Du lịch lễ hội
Ngày nay, lễ hội là yếu tố rất hấp dẫn khách du lịch Việc khôi phục các lễ hội truyền thống, tổ chức các lễ hội mới không chỉ là mối quan tâm của các cơ quan, đoàn thể quần chúng, xã hội mà còn là hướng đi đúng của ngành du lịch Tham gia vào lễ hội, du khách muốn hoà mình vào không khí tưng bừng của cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tình đoàn kết cộng đồng Du khách tìm thấy ở lễ hội bản thân mình, quên đi những khó chịu của cuộc sống hàng ngày Có lẽ vì thế nên du khách đi vì mục đích này ít quan tâm đến sự thiếu thốn, thiếu hụt trong dịch vụ hơn những du khách đi
vì mục đích khác
1.2.2.7 Du lịch nghiên cứu, học tập
Do yêu cầu trong công tác đào tạo hiện nay, việc kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, học đi đôi với hành nên đã xuất hiện những chuyến đi thực tiễn, những khoá học thực tế Để đáp ứng nhu cầu này, một số nhà cung ứng du lịch đã xây dựng các chương trình du lịch, các phòng học ngoài trời phù hợp với nội dung môn học Thông thường hướng dẫn viên là các giáo viên phụ trách chuyên môn hay các chuyên gia có kiến thức về nội dung môn học hay đề tài cần tìm hiểu
1.2.2.8 Du lịch chữa bệnh
Du khách là những bệnh nhân mắc các chứng bệnh ngoài da, khớp, đường tiêu hoá Điểm đến là các khu an dưỡng, khu chữa bệnh như nhà
Trang 22nghỉ, trạm điều dưỡng, điểm nước khoáng, bùn khoáng, nơi có không khí trong lành
Mục đích chính của các chyến đi này nhằm điều trị hoặc phòng ngừa một số căn bệnh tiềm tàng nào đó dựa vào nguồn tài nguyên cụ thể và hoạt động du lịch phù hợp
1.2.2.9 Du lịch thăm thân
Mục đích của các chuyến đi này nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp, thăm hỏi của những người thân giữa các miền, các nước Loại hình du lịch này phổ biển ở các nước có nhiều ngoại kiều
1.2.2.10 Du lịch kinh doanh
Trong các chuyến đi của mình, các thương gia có mục đích chính là tìm cơ hội đầu tư, tìm đối tác kinh doanh, đồng thời họ sử dụng các dịch vụ lưu trú, ăn uống trong những chuyến đi này
Đối với ngành du lịch Việt Nam, trong thời gian qua, đặc biệt từ 1990 trở lại đây, du khách thương gia chiếm tỷ trọng khá lớn về số lượng ( khoảng 20% ) và họ luôn là đối tượng có mức chi tiêu cao nhất
1.2.3 Phân loại theoloại hình lưu trú
Lưu trú là một trong những nhu cầu chính đáng của du khách trong chuyến đi du lịch Trong giai đoạn hiện nay, chi phí lưu trú, ăn uống, vận chuyển chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành của các sản phẩm du lịch Việt Nam Mặt khác, tuỳ theo khả năng chi trả, sở thích của du khách, hiện trạng và khả năng cung ứng của đối tác mà trong từng chuyến đi cụ thể với
họ, du khách có thể được bố trí nghỉ lại tại cơ sở lưu trú phù hợp
1.2.3.1 Khách sạn
Khách sạn là sơ sở lưu trú có đầy đủ tiện nghi phục vụ nghỉ qua đêm
và các nhu cầu khác của du khách như ăn, nghỉ, vui chơi giải trí Tuỳ theo mức độ sang trọng của cơ sở vật chất, trang thiết bị và chế độ phục vụ… mà các khách sạn được phân hạng khác nhau Ở Việt Nam, theo quyết định số
107 TCDL ngày 22/6/1994 của Tổng cục du lịch, khách sạn được xếp hạng
từ 1 đến 5 sao Khách sạn là loại hình cơ sở lưu trú phổ biến nhất với đối tượng phục vụ đa dạng, phong phú từ khách có khả năng chi trả trung bình đến du khách là thương gia
1.2.3.2 Motel
Trang 23Motel là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch, thường được xây dựng ven đường quốc lộ, những đầu mối giao thông quan trọng, ngoại ô thành phố, hoặc ở những khu du lịch với kiến trúc đơn giản, thấp tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật được trang bị chủ yếu để đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách đi bằng xe cơ giới, chủng loại dịch vụ ít và thường có các dịch vụ liên quan đến xe cơ giới, ngoài ra khách phải tự phục vụ lấy một số nhu cầu của mình
Sự khác biệt giữa làng du lịch với tập hợp bungalow bởi sự có mặt của các công trình sinh hoạt công cộng nằm trong phạm vi không gian du lịch Loại hình này khá phát triển ở Pháp, Tây Ban Nha
1.2.3.6 Tàu du lịch
Tàu du lịch (Tourist cruise/ Floating hotel) là một loại hình cơ sở trú
du lịch di động, đó là những chiếc tàu thuỷ khá lớn có các dịch vụ lưu trú,
ăn uống, vui chơi giải trí đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
1.2.3.7 Resort
Resort là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch, đó là những cơ sở nghỉ dưỡng tổng hợp thường được xây dựng trên diện tích tương đối rộng gắn liền với các tài nguyên du lịch tự nhiên, bao gồm một quần thể các khu
Trang 24riêng biệt: Khu vực lễ tân, khu vực lưu trú của khách, các nhà hàng ăn uống, khu thể thao, vui chơi giải trí, khu thương mại, hội thảo, hội nghị, bãi đậu xe đảm bảo cung cấp một cách đồng bộ các dịch vụ trọn gói hoặc các dịch
vụ đơn l cho khách du lịch
1.2.3.8 Homestay
Homestay là một loại hình cơ sở lưu trú du lịch, ở đây khách tận dụng
cơ sở vật chất (ngôi nhà và các trang thiết bị hiện đại) sẵn có của gia đình chủ và lưu trú, sinh hoạt cùng gia chủ để thoả mãn nhu cầu lưu trú và các nhu cầu tinh thần, giao lưu … của mình trong chuyến du lịch
1.2.4 Phân loại theo thời gian của chuyến đi :
Du lịch ngắn ngày là các chuyến du lịch có độ dài dưới một tuần lễ Các chuyến du lịch dài ngày có thể kéo dài đến gần một năm Du lịch dài ngày thường là các chuyến đi thám hiểm của các nhà nghiên cứu, các chuyến đi nghỉ dưỡng, chữa bệnh tại các khu điều dưỡng, các chuyến du lịch bằng thuyền, tàu du lịch vượt đại đương
1.2.5 Phân loại theolứa tuổi của du khách:
Theo độ tuổi của du khách, có thể chia thành: Du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch trung niên, du lịch người cao tuổi
1.2.6 Phân loại theoviệc sử dụng các phương tiện giao thông:
1.2.6.1 Du lịch bằng máy bay
Với sự ra đời của máy bay vào năm 1903, sự đi lại, vận chuyển hàng hoá của con người đã bước sang kỷ nguyên mới Đặc biệt, năm 1958 chiếc Boing 707 ra đời cùng với việc giảm giá vé, nhiều du khách đã chọn máy bay là phương tiện đi lại trong hành trình của mình, đặc biệt với những chuyến đi vượt đại dương, xuyên châu lục Hiện nay, máy bay là một trong những phương tiện ưa dùng nhất trong du lịch vì nó cho phép du khách đi đến nhiều vùng xa xôi trong thời gian ngắn nhất
1.2.6.2 Du lịch bằng tàu thuỷ
Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học công nghệ, nhiều tàu du lịch đã
ra đời với đầy đủ các tiện nghi như phòng ăn, phòng ngủ, bar, phòng hoà nhạc, khiêu vũ, sân thể thao, bể bơi…
Loại hình du lịch này đang trở thành mốt thời thượng của những du khách giàu có Họ có thể sống thoải mái trên tàu dài ngày và được phục vụ
Trang 25chu đáo, được hưởng bầu không khí trong lành, tham quan nhiều nơi trong hành trình
1.2.6.5 Du lịch xe đạp
Đây là loại hình rất được ưa chuộng ở châu Âu, đặc biệt ở các nước
có địa hình bằng phẳng như Hà Lan, Đan Mạch Tính tiện ích của du lịch xe đạp là ở chỗ du khách có thể thâm nhập dễ dàng với đời sống dân bản xứ Bằng phương tiện này họ có thể đi đến những khu vực đường sá chưa phát triển Đây cũng là một hình thức kết hợp du lịch với thể thao
1.2.7 Phân loại theo phương thức hợp đồng:
Chương trình du lịch trọn gói: Là chương trình được doanh nghiệp
kết hợp các dịch vụ được liên quan trong quá trình thực hiện chuyến đi du lịch thành một sản phẩm dịch vụ tổng hợp chào bán theo một mức giá - giá trọn gói
Chương trình du lịch từng phần: Là chương trình có mức giá chào
bán tuỳ theo số lượng các dịch vụ thành phần cơ bản
1.2.8 Phân loại theotài nguyên du lịch:
Du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt Tuỳ vào môi trường tài nguyên mà hoạt động du lịch được chia thành hai nhóm: Du lịch văn hoá
và du lịch tự nhiên
Du lịch văn hoá chủ yếu diễn ra trong môi trường nhân văn hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn
Trang 26Du lịch tự nhiên đáp ứng nhu cầu của du khách muốn về với thiên nhiên, về với môi trường trong lành, cảnh quan hấp dẫn… Loại hình du lịch này được các nhà nghiên cứu địa lý, kinh tế du lịch gọi là du lịch sinh thái,
Ở miền Bắc Việt Nam, vào mùa h thường có mưa và bão lũ gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động du lịch biển Hơn nữa, điều kiện chất lượng nước biển, bãi biển và độ dốc thềm không phải nơi nào cũng phù hợp cho loại hình du lịch tắm biển
- Du lịch núi
Nước ta có diện tích lãnh thổ thuộc vùng đồi núi tương đối lớn (chiếm 2/3) Theo các nhà khí hậu học, cứ cao hơn 100m thì nhiệt độ giảm xuống 0,6oC Do đó, vùng đồi có nhiệt độ thấp hơn vùng đồng bằng và các khu đô thị lớn Ở Việt Nam, các khu du lịch nghỉ dưỡng núi đã xuất hiện khá lâu và rất phù hợp với người cao tuổi muốn có không khí trong lành, khí hậu ôn hoà Đồng thời vùng đồi núi có tính độc đáo và tương phản cao nên thích hợp với việc xây dựng và phát triển loại hình du lịch tham quan, cắm trại, mạo hiểm của thanh thiếu niên muốn tự thể hiện mình, tự hoàn thiện mình
- Du lịch đô thị
Các đô thị lớn là các trung tâm kinh tế chính trị xã hội với những công trình kiến trúc có tầm cỡ quốc gia, quốc tế Du lịch đô thị đem đến cơ hội chiêm ngưỡng các công trình đồ sộ đương đại, hoà mình vào cuộc sống sôi động náo nhiệt tại các thành phố lớn cho người nông thôn và cả những người từ những thành phố khác
- Du lịch thôn quê
Ngày nay, du lịch thôn quê càng phổ biến và được ưa chuộng hơn, đặc biệt đối với nguồn du khách từ thành thị Họ muốn được hưởng cảm
Trang 27giác yên bình, không khí trong lành và thưởng thức các sản phẩm nông nghiệp tươi r tại các vùng quê và sống trong tình cảm chân thành mến khách của người nông thôn
Căn cứ vào thứ bậc của nhu cầu con người, theo lý thuyết của tiến sĩ Maslow đã khái quát các nhu cầu của con người xếp theo thứ bậc như sau:
- Nhu cầu sinh lý (Physiological needs): Nhu cầu về thức ăn, nước uống, ngủ, nghỉ ngơi (food, water, shelter, rest);
- Nhu cầu về an toàn, an ninh cho tính mạng (Safety, security, freedom from fear and anxiety);
- Nhu cầu về hoà nhập và tình yêu (Belonging and love-affection, giving and receiving love);
- Nhu cầu tự tôn trọng và được tôn trọng (Self-esteem and esteem from others);
- Nhu cầu tự hoàn thiện (Self-actualization - personal growth, fulfillment)
Trang 28self-Mô hình 1.1: Các bậc thang nhu cầu theo lý thuyết nhu cầu con người
của A Maslow năm 1943
Sau đó, do sự phát triển không ngừng của xã hội nhu cầu của con người ngày càng trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn và thang cấp bậc của nhu cầu con người cũng được bổ sung thêm 2 bậc cho phù hợp
Hai bậc thang đó là:
- Nhu cầu về thẩm mỹ, cảm nhận cái đẹp (Aesthetics, appreciation
of beauty)
- Nhu cầu hiểu biết (Knowledge and understanding)
Nhu cầu về sinh lý: thức ăn, nước uống, nghỉ ngơi, ngủ
- Physiological needs
Nhu cầu về an toàn và an ninh cho tính mạng
- Safety, sercurity
Nhu cầu về hoà nhập và tình yêu -
Belonging and love
Nhu cầu tự tôn trọng và được tôn trọng - Esteem
Nhu cầu
tự hoàn thiện - Self- actualization
Trang 29Mô hình 1.2: Các bậc thang nhu cầu theo lý thuyết nhu cầu con người
của A Maslow (Có bổ sung)
Con người ta luôn có xu hướng muốn thoả mãn những nhu cầu ở thứ bậc cao hơn khi đã thoả mãn được những nhu cầu ở những thứ bậc thấp hơn Điều đó có nghĩa là, càng những nhu cầu ở thứ bậc cao hơn, ngày càng có tầm quan trọng hơn đối với đời sống của mỗi con người Song, điều đó không có nghĩa những nhu cầu bậc thấp không quan trọng
1.3.1.2 Sự phát triển của nhu cầu du lịch:
Vì nhu cầu du lịch là một nhu cầu bậc cao, nên nó chỉ có thể phát triển được khi cá nhân đã thoả mãn được các nhu cầu bậc thấp của mình, nói rộng ra nhu cầu du lịch của xã hội chỉ có thể phát triển khi điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá của xã hội được nâng cao
Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu đại chúng Sở dĩ như vậy
là do những nguyên nhân cơ bản sau:
- Đi du lịch đã trở thành phố biến với mọi người
- Xu hướng dân số theo kế hoạch hoá gia đình, do vậy tạo điều kiện
Nhu cầu về sinh lý - Physiological needs
Nhu cầu
tự hoàn thiện - Self- actualization Nhu cầu hiểu biết - Knowledge&Understanding Nhu cầu thẩm mỹ,cảm nhận cái đẹp - Aesthetics Nhu cầu tự tôn trọng và được tôn trọng - Esteem Nhu cầu về hoà nhập và tình yêu -
Belonging and love Nhu cầu về an toàn - Safety
Trang 30cho người ta có thể đi du lịch dễ dàng hơn
- Cơ cấu về độ tuổi thay đổi (Tỷ trọng dân ở độ tuổi thứ ba - người
về hưu ngày càng gia tăng tại các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới - họ chính là những người có nhiều thời gian rỗi và khả năng tài chính dành cho các chuyến hành trình du lịch)
- Khả năng thanh toán của người dân trên thế giới ngày càng được nâng cao
- Phí tổn du lịch giảm dần (nhất là chi phí dành cho đi lại)
- Mức độ giáo dục cao hơn, trình độ hiểu biết về mọi mặt của người dân được nâng cao, vì vậy càng muốn đi du lịch để mở mang hiểu biết của mình
- Cơ cấu nghề nghiệp đa dạng
- Đô thị hoá ngày càng cao dẫn đến ô nhiễm môi trường, hội chứng nhà kính, căng thẳng thần kinh Do vậy, con người cần phải đi du lịch để tiếp cận với thiên nhiên, muốn giải toả căng thẳng
- Các chương trình bảo hiểm, phúc lợi lao động do Chính phủ tài trợ; phát triển thể loại du lịch trả góp
- Thời gian nhàn rỗi nhiều (tăng thời gian nghỉ phép năm, nghỉ cuối tuần)
- Đi du lịch vì mục đích tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh
- Du lịch là tiêu chuẩn của cuộc sống…
1.3.1.3 Các loại nhu cầu du lịch:
Nhu cầu du lịch rất đa dạng phong phú Thoả mãn nhu cầu du lịch là đồng thời thoả mãn tất cả các nhu cầu khác trong hoạt động du lịch Căn cứ theo cơ cấu chi tiêu cũng như căn cứ vào các dịch vụ du lịch phục vụ khách (lữ hành, khách sạn, tham quan giải trí…) ta chia nhu cầu du lịch của khách thành bốn loại cơ bản là: Nhu cầu vận chuyển, nhu cầu lưu trú và ăn uống, nhu cầu tham quan giải trí, các loại nhu cầu khác
* Nhu cầu vận chuyển
Nhu cầu vận chuyển là những đòi hỏi tất yếu về các phương tiện, dịch
vụ vận chuyển mà khách cần được thoả mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình
Trang 31Do đặc điểm sản phẩm du lịch mang tính cố định, vì vậy nó không thể đến với người tiêu dùng như những hàng hoá thông thường khác Muốn tiêu dùng theo đúng nghĩa của nó tất yếu đòi hỏi khách du lịch phải di chuyển từ nơi ở thường xuyên của họ đến điểm du lịch, điều này đòi hỏi phải có những phương tiện dịch vụ vận chuyển đáp ứng Mặt khác trong hoạt động du lịch, khi khách đã di chuyển từ nơi ở thường xuyên đến điểm
du lịch, thường phải lưu trú tại một cơ sở nào đó, đi u này đòi hỏi đến sự vận chuyển từ nơi lưu trú tạm thời đến những điểm tham quan, giải trí ở điểm du lịch
Đối tượng thoả mãn nhu cầu này chính là các phương tiện, dịch vụ vận chuyển như: máy bay, tàu thuỷ, tàu hoả, ô tô, xe máy, xích lô, xe đạp…
Do chất lượng về cơ sở hạ tầng cũng như về phương tiện và dịch vụ vận chuyển ở nước ta còn có những hạn chế nhất định, vì vậy khi tổ chức vận chuyển cho khách du lịch cần chú ý đến điều kiện tự nhiên, địa hình, chất lượng, mức độ an toàn của phương tiện, tính chính xác và chuẩn mực trong phục vụ của lái xe và hướng dẫn viên du lịch
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này là:
- Khoảng cách
- Điều kiện tự nhiên, môi trường, địa hình, đường xá, khí hậu…
- Mục đích chuyến đi
- Khả năng thanh toán
- Chất lượng, giá cả, mức độ an toàn của phương tiện
- Các đặc điểm tâm sinh lý cá nhân của khách (như độ tuổi, giới tính, sức kho , thói quen tiêu dùng )
* Nhu cầu lưu trú ăn uống
Nhu cầu lưu trú ăn uống là những đòi hỏi về các sản phẩm dịch vụ lưu trú ăn uống mà khách cần thoả mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình Đây là nhu cầu thiết yếu của du khách, tuy nhiên cần phân biệt nhu cầu này có những đặc điểm khác so với nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của khách Cũng là lưu trú và ăn uống nhưng nếu là đòi hỏi thường nhật nó mang tính nền nếp, khuôn mẫu trong những điều kiện và môi trường quen thuộc, còn lưu trú ăn uống tại nơi du lịch, nó không chỉ đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt mà còn đòi hỏi thoả mãn những yếu tố tâm lí, tinh thần khác
Trang 32Đối tượng thoả mãn nhu cầu này chính là các cơ sở lưu trú, các nhà hàng, các sản phẩm ăn uống Thông thường trong quá trình kinh doanh lưu trú ăn uống cần chú ý đến nhiều vấn đề, trong đó nhất thiết phải lưu ý đến: Giá cả, chất lượng, vệ sinh, an toàn, phong cách - quy trình phục vụ, cơ cấu, chủng loại sản phẩm Tâm lí nói chung của du khách biểu hiện rất rõ ở tính hiếu kỳ và hưởng thụ, họ thường mong muốn có những sự thoải mái vui v khi đi du lịch Ngoài việc thoả mãn mục đích chính cần thoả mãn trong chuyến đi mà thường biểu hiện trong nhu cầu tham quan giải trí, họ còn mong đợi được chiêm ngưỡng hưởng thụ những điều mới lạ, được nghỉ ngơi trong những căn phòng sạch sẽ, tiện nghi Được thưởng thức những món ăn ngon, độc đáo, được phục vụ chu đáo, chính xác, tận tình Cần tuyệt đối tránh việc mang lại cho khách những sự phiền toái, đơn điệu, khó chịu vì khi những mong đợi của mình không thể trở thành hiện thực, nó sẽ nhanh chóng chuyển sang một thái cực khác, đó là sự thất vọng, khó chịu, tiếc công, tiếc của và đây chính là nguyên nhân dẫn đến thất bại của cơ sở phục vụ
Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu lưu trú và ăn uống:
- Khả năng thanh toán của khách
- Hình thức tổ chức chuyến đi, thời gian hành trình và lưu trú
- Mục đích chính cần thoả mãn trong chuyến đi
- Giá cả, chất lượng, chủng loại, vệ sinh, thái độ phục vụ của cơ sở lưu trú và ăn uống
- Các đặc điểm tâm sinh lý cá nhân của khách (đặc biệt phải lưu ý đến tập quán, khẩu vị ăn uống, thói quan tiêu dùng )
* Nhu cầu tham quan giải trí
Nhu cầu tham quan giải trí là sự đòi hỏi về các đối tượng tham quan, giải trí mà khách cần thoả mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình
Nhu cầu tham quan giải trí chính là nhu cầu đặc trưng của khách du lịch, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến các nhu cầu khác Về bản chất đây chính
là nhu cầu tinh thần và thẩm mỹ của con người
Các đối tượng thoả mãn nhu cầu này bao gồm:
- Các điểm du lịch, với điều kiện tự nhiên, danh lam thắng cảnh, các tài nguyên du lịch, điều kiện văn hoá - xã hội và những nét độc đáo của nó
Trang 33- Các vườn quốc gia, công viên, rừng, núi, biển
- Các công trình kiến trúc mang tính văn hoá lịch sử, tôn giáo - tín ngưỡng
- Những tài nguyên du lịch nhân văn, như: phong tục tập quán, truyền thống, các lễ hội, các trò chơi dân gian
- Các khu vui chơi - giải trí, nhà hàng, quán bar, sàn nhảy, các khu phố, viện bảo tàng, hội chơ - triển lãm
Một trong những tính độc đáo của sản phẩm du lịch chính do các đối tượng này tạo nên Sự hấp dẫn, quyến rũ của các sản phẩm phụ thuộc vào tính hấp dẫn của các đối tượng này Việc tạo ra các sản phẩm mới là một đòi hỏi tất yếu, ngoài yếu tố tạo nên tính độc đáo, dị biệt, mới lạ trong sản phẩm
du lịch còn nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng, phong phú của khách
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham quan, giải trí:
- Khả năng thanh toán của khách
- Mục đích chính cần thoả mãn trong chuyến đi
- Mức độ hấp dẫn, độc đáo của các tài nguyên du lịch, của các đối tượng thoả mãn nhu cầu này
- Các đặc điểm tâm sinh lý cá nhân của khách (đặc biệt phải lưu ý đến thị hiếu, thẩm mỹ, đến trình độ học vấn, văn hoá, nghề nghiệp, giai cấp, dân tộc )
* Nhu cầu bổ sung
Nhu cầu bổ sung là những đòi hỏi của khách du lịch về các đối tượng khác nhau ngoài những nhu cầu nói trên
Nhu cầu này phát sinh do tính phong phú, đa dạng trong hoạt động du lịch
Đối tượng thoả mãn nhu cầu này chính là các dịch vụ bổ sung Dựa trên việc đặt khách du lịch là đối tượng trung gian của hoạt động du lịch chúng ta có thể coi bất kể những nhu cầu nào khác của khách trong hoạt động du lịch đều là các nhu cầu bổ sung Tuy nhiên, việc đáp ứng các nhu cầu bổ sung còn phụ thuộc vào khả năng phục vụ của từng doanh nghiệp du lịch, lữ hành, từng điểm du lịch Thông thường hạng của khách sạn tuỳ thuộc vào số lượng dịch vụ bổ sung của khách sạn, hạng của khách sạn càng cao thì số lượng dịch vụ bổ sung càng nhiều Ngoài ra dịch vụ bổ sung còn
Trang 34do các mạng lưới kinh doanh khác cùng tham gia vào quá trình phục vụ khách du lịch Các dịch vụ bổ sung tiêu biểu:
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu này:
- Khả năng thanh toán của khách
- Mục đích chính cần thoả mãn trong chuyến đi
- Các đặc điểm tâm sinh lý cá nhân của khách (đặc biệt phải lưu ý đến thị hiếu, thẩm mỹ, trình độ học vấn, văn hoá, nghề nghiệp, giai cấp, dân tộc )
1.3.2 Sản phẩm du lịch
1.3.2.1 Khái niệm
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch
Sản phẩm du lịch bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có 5 yếu tố chính:
- Điểm thu hút khách ( các di sản văn hóa, vườn quốc gia, bãi biển, công trình kiến trúc, lễ hội, phong tục tập quán…)
- Khả năng tiếp cận của điểm đến ( cơ sở hạ tầng, các loại phương tiện vận chuyển, lịch trình hoạt động của các loại phương tiện đó,…)
- Các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến ( các cơ sở lưu trú, nhà hàng, các cửa hàng bán l , các khu vui chơi giải trí, khu thể thao,…)
- Hình ảnh của điểm đến
- Giá cả hàng hóa, dịch vụ điểm đến
Các dịch vụ thuộc sản phẩm du lịch rất đa dạng ( lưu trú, ăn uống, vận chuyển, tham quan, phục vụ Hội nghị, vui chơi giải trí,…)
Thông thường, mỗi đơn vị cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch chỉ cung cấp một số sản phẩm du lịch đơn l nào đó, chẳng hạn dịch vụ ăn,
Trang 35uống, lưu trú, vận chuyển, tham quan Trong khi đó nhu cầu của khách du lịch đòi hỏi một sản phẩm hoàn chỉnh bao gồm nhiều sản phẩm đơn l được liên kết với nhau một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng khách du lịch Vì vậy khái niệm sản phẩm du lịch phải được hiểu theo nghĩa sản phẩm hoàn chỉnh chứ không phải sản phẩm riêng l
Việc nhận thức đúng về sản phẩm du lịch là cần thiết để nâng cao tính hợp tác của các đơn vị, cá nhân tham gia cung cấp sản phẩm du lịch nhằm đem lại sự hài lòng nhất cho khách du lịch
Hơn nữa, sản phẩm du lịch gồm nhiều yếu tố không thể tách rời Có nhiều đơn vị tham gia cung ứng sản phẩm du lịch, thậm chí đối với một sản phẩm riêng l cũng có nhiều bộ phận tham gia phục vụ Đặc điểm này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận tham gia phục vụ khách
để tạo ra một sản phẩm du lịch có chất lượng tốt, đem lại sự hài lòng cho khách hàng
Do tính tổng hợp của sản phẩm du lịch, việc quy hoạch phát triển du lịch và phát triển sản phẩm du lịch có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành liên quan là cần thiết nhằm đạt được chất lượng sản phẩm du lịch tốt
- Sản phẩm du lịch chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình
Ngoại trừ một số dịch vụ riêng l có tính hữu hình như: các hàng hoá bán l , các đồ uống, hầu hết các dịch vụ du lịch như: dịch vụ lưu trú, ăn uống, tham quan, đều tồn tại ở dạng vô hình, khách du lịch chỉ cảm nhận được chúng chứ không nhìn thấy việc chúng mang lại cảm giác phấn chấn,
dễ chịu hay khó chịu, không cầm nắm được các dịch đó như các hàng hoá khác, không mang được chúng về nhà sau khi mua Do tính chất không cụ thể nên khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gặp khó khăn trong việc lựa chọn sản phẩm Vì vậy, vấn đề quảng cáo trong
Trang 36du lịch là rất quan trọng
Ngoài ra, nhà cung ứng không dễ dàng đánh giá chát lượng sản phẩm trước khi bán chúng Thông thường, chất lượng sản phẩm du lịch được đánh giá theo cảm nhận của khách hàng Với tính chất đó, việc nghiên cứu nhu cầu của khách hàng lựa chọn loại sản phẩm phù hợp để cung ứng là rất quan trọng
- Phần lớn sản phẩm du lịch tự tiêu hao, không thể để tồn kho
Hầu hết các sản phẩm du lịch không bán được hôm nay không thể để bán được vào dịp khác trong tương lai (Ví dụ: phòng ngủ khách sạn, chỗ ngồi nhà hàng, chỗ ngồi trên các phương tiện vận chuyển )
Một chuyến máy bay có 150 chỗ ngồi, nếu ngày hôm nay chỉ bán được 100 chỗ tức còn 50 chỗ trống Tổng chi phí cho chuyến bay này cũng xấp xỉ chi phí cho chuyến bay đầy khách Ngày mai, máy bay đó chỉ có thể chở tối đa 150 khách, 50 chỗ hôm nay đã không thể để lại bán vào ngày mai Dịch vụ cho thuê phòng ngủ, phòng Hội nghị, cũng tương tự như vậy
Đặc điểm này của sản phẩm du lịch đòi hỏi các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ du lịch phải có chính sách giá cả, cách thức quảng bá, kỹ thuật bán hàng phù hợp mới có thể đạt công suất sử dụng cao, giảm tổn thất, nâng cao hiệu quả kinh doanh
Vì vậy, việc cân đối trong quan hệ cung - cầu các dịch vụ du lịch vào thời điểm khác nhau trong ngày, trong tuần, trong tháng hoặc trong năm, là hết sức quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp du lịch
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra đồng thời
Khác với các sản phẩm thông thường khác, việc sản xuất hầu hết các dịch vụ du lịch chỉ được thực hiện khi khách du lịch có mặt tại nơi cung cấp dịch vụ; việc tiếp nhận và tiêu dùng sản phẩm du lịch của khách du lịch cũng được thực hiện đồng thời với quá trình sản xuất
Tính đồng thời của việc sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch là điểm rất đáng lưu ý vì các đơn vị cung ứng các sản phẩm du lịch không thể kiểm tra được chất lượng sản phẩm trước khi cung cấp cho khách du lịch,
do vậy các đơn vị cung ứng phải xây dựng được các chuẩn mực và quản lý tốt việc thực hiện các chuẩn mực sản xuất sản phẩm nhằm đạt được chất
Trang 37lượng sản phẩm tốt nhất
- Sản phẩm du lịch có tính không thể chuyển dịch
Việc đi du lịch có thể xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau, nhưng gần như không thể thiếu hoạt động tham quan, du ngoạn tại điểm đến Chính vì vậy, khách du lịch chỉ có thể tiến hành tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ
du lịch tại nơi sản xuất chứ không phải như những sản phẩm vật chất khác
là có thể chuyển từ nơi sản xuất đến nơi khác để tiêu thụ Tính không thể chuyển dịch sản phẩm du lịch còn thể hiện ở chỗ không có quyền sở hữu sản phẩm giữa người bán và người mua Khách du lịch chỉ có quyền sử dụng tạm thời đối với sản phẩm du lịch trong một thời gian, địa điểm nhất định chứ không có quyền sở hữu sản phẩm Với đặc điểm này, khách du lịch không được nhìn thấy sản phẩm du lịch trước khi mua nó Khách du lịch chỉ biết về sản phẩm thông qua các kênh quảng cáo, qua Internet, qua tranh ảnh, sách báo, giới thiệu của người khác Chất lượng thông tin có tác động rất lớn đến quyết định chọn điểm đến của khách du lịch
- Sản phẩm du lịch có tính không đồng nhất
Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hoá được Các nhân viên cung cấp sản phẩm du lịch không thể tạo ra được các sản phẩm như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau Hơn nữa, khách du lịch là người quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ Trong những thời gian, bối cảnh khác nhau, sự cảm nhận của họ cũng khác nhau; những khách du lịch khác nhau cũng có những cảm nhận khác nhau về cùng một sản phẩm
Một người có thể đánh giá chất lượng chương trình du lịch đó là tuyệt vời, còn người kia có thể đánh giá là không đặc sắc
Một dịch vụ sẽ có giá trị cao khi thoả mãn nhu cầu riêng biệt của khách du lịch Sự thoả mãn của khách du lịch phụ thuộc rất lớn vào tâm lí của họ Những người cung cấp dịch vụ cần biết cách phán đoán tâm lí của khách du lịch để cung cấp dịch vụ phù hợp với sự mong đợi của khách Đây
là kỹ năng có tính chất quyết định trong việc cung ứng sự tuyệt vời của dịch
vụ
- Quá trình tạo ra sản phẩm du lịch có sự tham gia của khách hàng
Thái độ, hành vi chung của khách hàng là một trong những yếu tố Một nhà hàng có một nhóm khách nào đó gây ồn ào có thể gây tác động xấu đến cảm nhận của một nhóm khách hàng khác về nhà hàng đó
Trang 381.4 Thời vụ du lịch
Mục tiêu:
- Trình bày được khái niệm thời vụ du lịch
- Xác định được các đặc điểm của thời vụ du lịch, các nhân tố tác động đến thời vụ du lịch Từ đó xây dựng được các biện pháp hạn chế những tác động bất lợi của Thời vụ du lịch
1.4.1 Khái niệm và đặc điểm của thời vụ du lịch:
1.4.1.1 Khái niệm:
Thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi lặp lại hàng năm của "cung"
và "cầu" trong du lịch, dưới tác động của một số nhân tố xác định Trong thực tế thời vụ du lịch của một trung tâm, một đất nước nào đó, là tập hợp hàng loạt các biến động theo mùa của cung và cầu, cũng như sự tác động tương hỗ giữa chúng trong tiêu dùng du lịch
Sự phát triển của thời vụ du lịch vào 2 thế kỷ gần đây đã chứng tỏ rằng: Thời vụ du lịch có sự thay đổi đáng kể, chứ không phải là một đặc tính có tính bất biến Ban đầu tầng lớp quý tộc châu Âu cho rằng mùa đông kéo dài là để giải trí, mùa hè ngắn để chữa bệnh Sau đó nhiều người tham gia du lịch, các trung tâm nghỉ núi mùa hè phát triển mạnh và thời gian chính của hoạt động du lịch chuyển sang mùa h Đầu thế kỷ 20 mùa hè ở Địa Trung Hải đã thu hút nhiều khách ở Bắc trung Âu xuống nghỉ biển, đã trở thành du lịch nghỉ biển mùa h Sau đó mùa đông lại được phục hồi thành mùa du lịch ở tại các điểm vùng núi
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, do sự phát triển của du lịch đã làm tăng thêm cường độ của thời vụ Nhiều loại hình du lịch mới được hình thành như du lịch hội nghị, du lịch tìm hiểu theo tuyến chủ yếu hoạt động vào mùa xuân và mùa thu, nhưng số người tham gia các loại hình du lịch đó lại rất ít so với số người thích nghỉ biển Do vậy tính thời vụ của hoạt động
du lịch không thay đổi được nhiều
Tóm lại, thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không phải luôn cố định mà chúng biến đổi dưới tác động của nhiều yếu tố
Một điểm du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch tuỳ thuộc vào khả năng đa dạng hoá các loại hình du lịch ở đó
Các mùa du lịch: Do nhu cầu du lịch không giống nhau giữa các
Trang 39tháng trong năm tạo ra các thời kỳ có lượng cầu khác nhau, đó là các thời vụ (hay mùa trong du lịch)
- Mùa du lịch chính: Là khoảng thời gian có cường độ tiếp nhận khách du lịch lớn nhất
- Trước mùa du lịch chính: Là khoảng thời gian có cường độ thấp hơn mùa chính, xảy ra trước mùa du lịch chính
- Sau mùa du lịch: Là khoảng thời gian có cường độ thấp hơn mùa chính, xảy ra sau mùa du lịch chính
- Trái mùa du lịch (Mùa chết): là khoảng thời gian có cường độ thu hút khách du lịch thấp nhất
Thời kỳ đầu mùa số lượng khách du lịch thường tăng dần, còn trong thời kỳ cuối vụ thì hiện tượng ngược lại, thời gian còn lại trong năm được gọi là ngoài mùa, ở một số nước người ta gọi là mùa chết
Ở các nước du lịch phát triển, thông thường thời vụ du lịch kéo dài hơn Cường độ du lịch giữa mùa chính so với thời kỳ trước và sau vụ thể hiện yếu hơn Với các nước hoặc vùng du lịch mới phát triển, mùa du lịch thường ngắn và cường độ du lịch giữa mùa chính so với thời kỳ trước và sau
vụ thể hiện rõ nét hơn
1.4.1.2 Đặc điểm của thời vụ du lịch
* Thời vụ du lịch mang tính phổ biến ở tất cả các nước và các vùng có hoạt động du lịch
Về mặt lý thuyết, nếu một vùng du lịch kinh doanh nhiều loại hình du lịch và đảm bảo được cường độ hoạt động đều đặn trong các tháng của năm ( luôn giữ được lượng khách và doanh thu nhất định) thì tại vùng đó tính thời vụ là không tồn tại Tuy nhiên, khả năng đó rất khó thực hiện vì có rất nhiều yếu tố tác động lên hoạt động kinh doanh du lịch, làm cho hoạt động
đó khó có thể đảm bảo được cường độ hoạt động đều đặn trong năm và vì vậy tồn tại tính thời vụ trong du lịch
* Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch, tùy thuộc vào các loại hình du lịch phát triển tại đó
Một nước hoặc một vùng chỉ phát triển một loại hình du lịch là chủ yếu như nghỉ biển hay nghỉ núi thì ở đó chỉ có một mùa du lịch là mùa hè hay mùa đông
Trang 40Chẳng hạn như các vùng biển Đồ Sơn, Sầm Sơn, Vũng Tàu của Việt Nam chỉ kinh doanh ( và phát triển) loại hình du lịch nghỉ biển là chủ yếu thì mùa du lịch sẽ là mùa hè
Nhưng nếu tại một khu nghỉ mát biển lại có nhiều nguồn nước khoáng có giá trị, ở đó phát triển mạnh hai loại hình du lịch: du lịch nghỉ biển vào mùa hè và du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh vào mùa đông, dẫn đến ở
đó có hai mùa du lịch
Tại một số vùng núi ở Châu Âu ( tại Áo và Pháp) phát triển mạnh hai mùa du lịch chính là mùa đông trượt tuyết, mùa hè leo núi, nghỉ dưỡng và chữa bệnh
* Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau đối với mỗi loại hình du lịch khác nhau
Du lịch chữa bệnh thường có mùa dài hơn và cường độ vào mùa chính yếu hơn Du lịch nghỉ biển ( vào mùa hè), nghỉ núi, trượt tuyết (vào mùa đông) có mùa ngắn hơn và cường độ mạnh hơn ( do phụ thuộc vào yếu
tố thiên nhiên nhiều hơn)
* Cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau theo thời gian của chu
kỳ kinh doanh
Thời gian mà ở đó cường độ lớn nhất được quy định là thời vụ chính (mùa chính), còn thời kỳ có cường độ nhỏ hơn ngay trước mùa chính gọi là thời vụ trước mùa, ngay sau mùa chính gọi là thời vụ sau mùa Thời gian còn lại trong năm gọi là ngoài mùa Ở một số nước chỉ kinh doanh du lịch nghỉ biển là chủ yếu, thời gian ngoài mùa được gọi là “mùa chết”
Ví dụ: Tại bãi biển Sầm Sơn vào tháng 6, 7, 8 là thời gian tắm biển đẹp nhất, nhiều người đi tắm nhất ( vào cũng là vào kỳ nghỉ hè) Vào thời gian
đó số khách đông nhất, cường độ thời vụ là lớn nhất hoặc gọi là mùa chính
Vào tháng 4, 5, 9, 10 nước biển cũng tương đối ấm, vẫn có thể tắm biển được nên khách vẫn tắm biển và nghỉ ngơi
Còn lại tháng 11, 12, 1, 2, 3 là những tháng ngoài mùa, không có khách (mùa chết)
* Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch phụ thuộc vào mức độ phát triển và kinh nghiệm kinh doanh du lịch của các quốc gia du lịch, điểm du lịch và các nhà kinh doanh du lịch