1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu áp dụng biện pháp quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tưới của hệ thống thủy lợi kẻ gỗ hà tĩnh

109 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu áp dụng biện pháp quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tưới của hệ thống thủy lợi kẻ gỗ hà tĩnh
Tác giả Đồng Thị Nga
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Phi
Trường học Trường Đại học Thủy lợi
Chuyên ngành Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC CHỮ VIẾT TẮT CTTL : Công trình thủy lợi CCTL : Chi cục thủy lợi HTXNN : Hợp tác xã nông nghiệp WB : Ngân hàng thế giới IMC : Công ty TNHH MTV quản lý khai thác công trình thủy lợi N

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trước đây Tất cả các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng 01 năm 2018

Tác giả luận văn

Đồng Thị Nga

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Quang Phi và những ý kiến về chuyên môn quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước - Trường Đại học Thủy lợi, cũng như sự giúp đỡ của Trung tâm tư vấn PIM – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, các phòng ban chuyên môn của UBND tỉnh Hà Tĩnh

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Đại học Thủy lợi đã chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và Cơ quan cung cấp số liệu trong quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn này

Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đồng Thị Nga

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC HÌNH v

DANH MỤC BẢNG vi

CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1.Tổng quan về mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng (PIM) 3

1.1.1 Khái niệm, lợi ích của sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tưới 3

1.1.2.Tổng quan về tình hình thực hiện PIM hiện nay 4

1.1.3 Các nghiên cứu về mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng PIM ở trong nước 8

1.1.4 Các nghiên cứu về mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng PIM ở nước ngoài 14

1.2.Tổng quan vùng nghiên cứu 15

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 15

1.2.2.Đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội 18

1.3 Khái quát hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ 20

Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TƯỚI CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI KẺ GỖ 26

2.1.Đánh giá thực trạng quản lý tưới của hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ 26

2.1.1.Khái quát chung về quản lý tưới của hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ 26

2.1.2 Đánh giá thực trạng quản lý tưới tại vùng đã áp dụng mô hình PIM 35

2.1.3 Đánh giá thực trạng quản lý tưới tại vùng chưa áp dụng mô hình PIM 69

2.2 Định hướng phát triển mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tưới của hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ 82

2.2.1 Đánh giá kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm 82 2.2.2 Định hướng phát triển mô hình quản lý tưới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

Trang 4

Chương 3: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH QUẢN LÝ TƯỚI

CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN

LÝ TƯỚI CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI KẺ GỖ 87

3.1 Đề xuất mở rộng các tổ chức dùng nước 87

3.1.1 Cơ sở đề xuất mở rộng các tổ chức dùng nước 87

3.1.2 Đề xuất mở rộng các tổ chức dùng nước 89

3.2 Cơ chế hoạt động của các tổ chức dùng nước phù hợp cho HTTL Kẻ Gỗ 90

3.2.1 Cơ chế, chính sách 90

3.2.2 Mô hình, biện pháp quản lý tưới phù hợp cho HTTL Kẻ Gỗ 91

3.3.Các đề xuất khác nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tưới của hệ thống 97

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 – Hồ Kẻ Gỗ 15

Hình 2.1.1 - Hồ chứa nước Kẻ Gỗ 21

Hình 2.1.2 - Lòng hồ Kẻ Gỗ 22

Hình 2.1.3 - Hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ 23

Hình 2.1.4 - Cửa tràn hồ Kẻ Gỗ 24

Hình 2.1.5 - Sơ đồ tổ chức quản lý nhà nước về thủy lợi tỉnh Hà Tĩnh 27

Hình 2.1.6 - Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Thủy nông Kẻ Gỗ 29

Hình 2.1.8 - Bản đồ khu tưới của khu tưới N3+ N5 36

Hình 2.1.9- Bản đồ của khu tưới N4+ N6 37

Hình 2.1.10: Bản đồ của khu tưới N3-3 44

Hình 2.1.11 : Cơ cấu tổ chức của Hiệp hội sử dụng nước Xuyên Hà 46

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.2.1 - Tổng hợp số lượng TCDN trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 31

Bảng 2.2.2 - Tổ chức quản lý thủy nông trong 2 khu tưới 37

Bảng 2.2.3 – Tình hình hoạt động của các Tổ chức HTDN 40

Bảng 2.2.5 - Thông tin về thực trạng quản lý tưới của các TCDN đại diện của HTTL Kẻ Gỗ - năm 2015 55

Bảng 2.2.6 - Tình hình thu phí thủy lợi nội đồng tại các TCDN năm 2015 57

Bảng 2.2.8 - Hiệu quả của mô hình Liên hiệp TCDN Xuyên Hà 59

Bảng 2.2.9 - Chi phí của Liên hiệp sử dụng nước Xuyên Hà năm 2015 61

Bảng 2.2.11 - Thông tin về thực trạng quản lý tưới của Liên hiệp TC HTDN Xuyên Hà của HTTL Kẻ Gỗ - năm 2015 64

Bảng 2.2.12 - Đặc điểm tổ chức và hoạt động của các Tổ chức TNCS trên địa bàn Hà Tĩnh 72

Bảng 2.2.13 - Thông tin về thực trạng quản lý tưới của các TCDN chưa có PIM trong HTTL Kẻ Gỗ - năm 2015 76

Trang 7

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTTL : Công trình thủy lợi

CCTL : Chi cục thủy lợi

HTXNN : Hợp tác xã nông nghiệp

WB : Ngân hàng thế giới

IMC : Công ty TNHH MTV quản lý khai thác công trình thủy lợi

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

O&M : Quản lý và vận hành

PIM : Quản lý thuỷ nông có sự tham gia của người dân

QĐ : Quyết định TCDN : Tổ chức dùng nước

UBND : Ủy ban nhân dân

WUA : Liên hiệp tổ chức dùng nước

WUO : Tổ chức dùng nước

Trang 9

MỞ ĐẦU

Tĩnh Hà Tĩnh là một trong số ít các tỉnh đi đầu trong việc triển khai thực hiện các Chính sách quản lý và khai thác công trình thủy lợi của Trung ương Tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để phục vụ công tác quản lý, khai thác CTTL trên địa bàn tỉnh và bước đầu đã thu được một số kết quả nhất định, góp phần không nhỏ trong việc quản lý và khai thác CTTL hiệu quả Tuy nhiên, trong suốt quá trình thực hiện các chính sách về quản lý, khai thác CTTL ở Hà Tĩnh cũng đã nảy sinh một số khó khăn, bất cập Vì vậy,

để công tác quản lý thủy nông ngày càng hiệu quả và bền vững, tỉnh Hà tĩnh cần phải chủ động, tăng cường nhiều hơn nữa các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực thủy nông

Ở hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ, dự án “Quản lý tưới có sự tham gia của người dân- PIM” thuộc dự án VWRAP đã chọn 2 khu mẫu là N3+N5 và N4+N6 thuộc khu tưới của 2 kênh cấp kênh cấp 1” Nhìn chung, hiệu quả của dự án “Quản lý tưới có sự tham gia của người dân- PIM” đạt được hiệu quả rất tốt về các mặt phân phối nước đều giữa các

xã đầu kênh và cuối kênh, giảm chi phí trả công cho người canh cống, phát huy vai trò của người dùng nước tham gia quản lý công trình thủy lợi, việc bảo dưỡng sửa chữa công trình cũng thường xuyên hơn Song song với những hiệu quả đạt được, công tác vận hành phân phối nước, của các Tổ chức HTDN trong 2 khu mẫu là chưa thống nhất, còn nhiều bất cập Các Tổ chức HTDN thuộc 2 khu mẫu được thành lập từ năm

2008, tuy nhiên, chỉ có 4 Tổ chức HTDN thuộc khu mẫu N3+ N5 và 2 Tổ chức HTDN

là Cẩm Xuyên và Cẩm Phúc thuộc khu mẫu N4-6 là hoạt động từ năm 2008 đến nay, còn các Tổ chức HTDN còn lại hiện nay hầu như không còn hoạt động

Theo kết quả đánh giá của Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam vào đầu năm 2016 thì hiện tại ở Tiểu dự án Kẻ gỗ đang có 6/9 Tổ chức HTDN hoạt động ổn định, chủ yếu thuộc khu mẫu N3-5, còn lại 3 Tổ chức hoạt động còn khó khăn, do chính quyền địa phương một số nơi chưa tuyệt đối tin tưởng trao quyền và hỗ trợ người dân trong quản

lý thủy nông 9 Tổ chức HTDN ở 2 khu mẫu của tiểu dự án Kẻ Gỗ đều được thành lập

có quy mô toàn xã, nên chưa có sự phối hợp hoạt động phân phối nước và duy tu bảo dưỡng CTTL giữa các tổ chức ở đầu kênh và cuối kênh liên xã Các địa phương ở cuối

Trang 10

kênh thường xuyên khó khăn về nước, trong khi chi phí cho vận hành, bảo dưỡng cao hơn các địa phương ở đầu kênh

Xuất phát từ tình hình nêu trên cho thấy rằng việc “Nghiên cứu áp dụng biện pháp quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tưới của

hệ thống thủy nông Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh” là rất cần thiết

Mục đích của đề tài:

Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác vận hành và quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng tại các khu mẫu (các khu đã xây dựng mô hình có sự tham gia của cộng đồng) tại HTTN Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh để xây dựng mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng cho các khu còn lại trong hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tưới của toàn hệ thống

Nội dung nghiên cứu:

- Tổng quan về mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng (PIM) và tổng quan vùng nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng quản lý tưới của hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ

- Nghiên cứu đề xuất phát triển mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tưới của hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ

Trang 11

Chương 1:T ỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng (PIM)

Trong công tác quản lý tưới, từ huy động sự tham gia của nông dân ở những năm 1970 dần dần được phát triển lên cấp độ cao hơn, toàn diện và có tổ chức hơn là quản lý nước có sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là những người hưởng lợi Với hoạt động trọng tâm là chuyển giao toàn bộ hoặc một phần hệ thống thủy lợi cho người dân quản

lý nhằm chia sẻ trách nhiệm một cách toàn diện giữa nhà nước và nhân dân trong công tác quản lý tưới

1.1.1 Khái niệm, lợi ích của sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tưới

1.1.1.1 Khái niệm sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tưới

Quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng là tiền đề của hình thức hợp tác công – tư trong xây dựng và quản lý khai thác công trình thủy lợi nhằm thu được những hiệu quả tốt hơn trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên nước

1.1.1.2 Lợi ích của sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tưới

Sự tham gia linh hoạt của người nông dân trong công tác quản lý tưới đã thể hiện ở những lợi ích mang lại như sau:

- Chủ động trong việc cung cấp nước;

- Thiết kế và xây dựng công trình phù hợp hơn;

- Giảm xung đột tranh chấp về nước;

- Cải thiện việc duy tu bảo dưỡng hệ thống, nâng cao mức độ bền vững của công trình;

- Nâng cao sự rõ dàng minh bạch trong quản lý tài chính;

- Nâng cao năng lực vận hành và bảo dưỡng;

Trang 12

1.1.2 Tổng quan về tình hình thực hiện PIM hiện nay

Trong thực tế, sự tham gia hợp tác của các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thủy lợi ở nước ta không phải là vấn đề mới Bản chất sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý tưới PIM không khác nhiều với việc người dân tham gia cùng nhà nước trung ương và địa phương trong xây dựng, quản lý khai thác các hệ thống thủy lợi diễn ra từ xa xưa với nhiều hình thức, tính chất và mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng vùng địa lý, điều kiện kinh tế, yếu tố xã hội, tập quán và nhận thức của người dân

PIM - Participatory Irrigation Management: là một thuật ngữ đó là trong cơ cấu của tổ chức quản lý các đại diện người dùng nước và các đại diện cơ quan nhà nước cùng tham gia và cùng giữ vai trò quan trọng ở mọi khía cạnh và mọi cấp độ trong công tác quản lý tưới

Hiện nay đã có rất nhiều tỉnh triển khai chính sách về quản lý và khai thác Công trình thủy lợi (CTTL) của Trung ương, có nhiều dự án như dự án VWRAP đã nghiên cứu, triển khai về thực hiện mô hình tưới có sự tham gia của cộng đồng bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định Mô hình PIM hiện là xu hướng phát triển tất yếu trên thế giới, bởi vì theo nhận định chung thì không một chính phủ nào có thể kham nổi toàn bộ việc đầu tư cho hệ thống hạ tầng nhưng cũng không một nhà đầu tư tư nhân nào có thể làm được việc này do đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và có nhiều rủi ro vì vậy cần phải thực hiện PIM Trên thực tế, hiện nay có rất nhiều quốc gia áp dụng phương thức hợp tác này có hiệu quả, với các loại dự án điển hình là nhượng quyền thu phí; thiết kế, xây dựng, cấp vốn và vận hành; nhượng quyền kinh doanh và

tư nhân hóa

1.1.2.1 Thuận lợi của việc phát triển PIM hiện nay

Các thể chế đã có: kinh nghiệm từ nhiều Tổ chức dùng nước đã được thiết lập, hợp đồng dịch vụ quy trách nhiệm và quyền lợi của các bên, huy động được nguồn lực địa phương

- Các chính sách: Chính phủ đã lồng ghép PIM như là một thành phần thiết yếu để cải thiện hoạt động của các hệ thống tưới

Trang 13

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành nhiều văn bản về PIM tạo ra một hành lang pháp lý và các cơ hội cho PIM phát Triển

Các văn bản pháp quy quan trọng bao gồm:

+ Văn bản số 2466/BNN-TCTL ngày 29 tháng 8 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp & PTNT đề nghị UBND tỉnh Hà Tĩnh thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và thí điểm thành lập mô hình Liên hiệp hội dùng nước quản lý kênh cấp II liên xã tại khu mẫu của dự án VWRAP;

+ Quyết định số 48/2005/QĐ-UBND ngày 8/6/2005 của UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành quy chế hoạt động của Hội sử dụng nước thuộc các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh;

+ Quyết định số 15/2011/QĐ-UBND ngày 28/6/2011 của UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành quy định phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh;

+ Văn bản số 3672/SNN-TL ngày 4/11/2011 của Sở Nông nghiệp -PTNT tỉnh Hà Tĩnh hướng dẫn thực hiện phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh;

+ Văn bản số 450/CTTL ngày 20/9/2012 của Công ty TNHH MTV thủy lợi Kẻ Gỗ đồng ý chuyển giao kênh N3-3 cho Hiệp hội sử dụng nước quản lý;

+ Biên bản thỏa thuận giữa Công ty TNHH MTV thủy lợi Kẻ Gỗ và Nhóm sáng lập Hiệp hội sử dụng nước ngày 17/9/2012 về tỷ lệ chia sẻ tài chính cho Hiệp hội sử dụng nước quản lý kênh N3-3;

+ Văn bản số 808/UBND-NN ngày 17/9/2012 của UBND huyện Cẩm Xuyên đồng ý với phương án thành lập Hiệp hội sử dụng nước để quản lý tuyến kênh N3-3 thuộc hệ thống Kẻ Gỗ;

+ Luật tài nguyên nước (2012);

+ Thông tư 65/2009/TT-BNNPTNT về hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản

Trang 14

+ Nghị định 11/2009-BTC hướng dẫn đặt hàng, giao kế hoạch quản lý thủy nông + Nghị định 115/2008/ND-CP về miễn giảm thủy lợi phí

+ Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi (2001);

+ Thông tư hướng dẫn việc thành lập các tổ hợp tác dùng nước (2004)

+ Chính quyền một số địa phương đã ban hành các quy định, hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện và phát triển PIM như Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Tĩnh

+ Tuyên Quang đã ban hành một số hệ thống chính sách về nông dân tham gia quản lý thủy nông và chuyển giao công trình cho người dân quản lý

+ Lào Cai ban hành quy định về hoạt động của các tổ chức quản lý khai thác CTTL + Hà Tĩnh ban hành quy chế hoạt động của Hội sử dụng nước

+ Hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ

Nhiều tổ chức quốc tế, NGOs coi PIM là hợp phần quan trọng trong kế hoạch hỗ trợ

và xây dựng các hệ thống tưới

+ Có rất nhiều bài học từ kinh nghiệm thực tế thực hiện PIM từ các dự án thí điểm Những mô hình PIM khác nhau, những thành công cũng như thất bại của những mô hình này là những bài học bổ ích cho việc phát triển PIM

Trang 15

1.1.2.2 Khó khăn trở ngại hiện tại của việc phát triển PIM

- Cơ chế chính sách:

Một số chính sách đã có nhưng chưa được đồng bộ, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn hoặc khó thực thi

Chưa có những qui định cụ thể về chuyển giao công trình cho các TCDN

Chưa có những qui định cụ thể về chính sách tài chính cho các mô hình PIM

Khung chiến lược chung cho phát triển PIM đã được ban hành, nhưng các quy định cụ thể chưa được ban hành ở cấp tỉnh

Nhận thức về PIM của Cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, nông dân

+ Nông dân: Chưa nhận thức đầy đủ về PIM, chưa có sự hiểu biết đầy đủ về cơ chế chính sách phát triển của PIM và họ chưa qua đào tạo tập huấn

+ Cán bộ lãnh đạo:

Chưa kiểm tra, giám sát và đôn đốc các TCDN và thực hiện qui chế dân chủ

Chưa quan tâm chỉ đạo nên xây dựng mô hình PIM

Chưa nhận thức đầy đủ về PIM

Lo ngại về sự giảm các lợi ích và quyền lực khi có các TCDN

Can thiệp trực tiếp vào vấn đề tài chính của các TCDN

Có thái độ “ chờ và xem”

Các cán bộ không hiểu thâu đáo về PIM thì họ không thể thuyết phục nông dân

+ Cán bộ quản lý:

Lo ngại chính phủ cắt giảm các nguồn lực giành cho thủy lợi

Các cơ quan quản lý chưa tích cực tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các chính sách

Trang 16

Các Công ty Khai thác công trình thủy lợi chưa tích cực hỗ trợ kỹ thuật cho các Tổ chức dùng nước

+ Công trình xuống cấp:

Đầu tư cho nhiều công trình thủy lợi còn thiếu đồng bộ

Nhiều cơ sở hạ tầng đang trong tình trạng yếu kém

Kinh phí cho O&M và nâng cấp ngày càng khan hiếm

Quan điểm kiên cố hóa kênh mương “ phần cứng”, ít chú ý đến “ phần mềm”

Kết luận:

Chính phủ đã có nhiều chủ trương chính sách thúc đẩy PIM phát triển

Tuy nhiên, trong suốt quá trình thực hiện các chính sách về quản lý, khai thác CTTL không tránh khỏi một số khó khăn, bất cập Vì vậy, để công tác quản lý thủy nông ngày càng hiệu quả và bền vững cần phải chủ động, tăng cường nhiều hơn nữa các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực thủy nông

Phát triển PIM có nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng cũng còn nhiều thách thức cần vượt qua Tuy nhiên những khó khăn này có thể khắc phục được thông qua việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về PIM

Điều kiện cho thấy, hiện nay đang là thời điểm tốt để phát triển PIM

1.1.3 Các nghiên cứu về mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng PIM ở trong nước

1.1.3.1 Chuyển giao quản lý tưới thành công ở Tuyên Quang

Tuyên Quang đã thành công từ việc xây dựng hệ thống cơ chế chính sách – khung pháp lý để chuyển giao công việc rất chi tiết:

UBND tỉnh ra quyết định số 142/QĐ-UB ngày 19/1/1996 quy định về chế độ quản lý

và sử dụng các công trình thuỷ lợi nhà nước bàn giao cho các HTXNLN Các HTXNLN chỉ được nhận bàn giao khi đã củng cố đổi mới, thực hiện các khâu dịch vụ

Trang 17

trong đó có dịch vụ tưới Các HTXNLN chưa củng cố đổi mới thì công trình được giao cho UBND xã, chờ thực hiện xong củng cố đổi mới HTXNLN mới chuyển giao

Sở tài chính vật giá và Sở NN&PTNT có hướng dẫn liên ngành về chế độ quản lý và

sử dụng các công trình thuỷ lợi bàn giao cho các HTXNLN

Trước khi thực hiện chuyển giao tỉnh đã có quyết địng 911/QĐ-UB ngày 12/12/1995

về củng cố đổi mới HTXNLN Đây chính là bước đi ban đầu chuẩn bị cơ sở (người chủ thực sự) để bàn giao công trình Sau đó tiến hành tổ chức các bước bàn giao công việc

Việc giải quyết chế độ cho đội ngũ cán bộ thủy nông sau khi tiến hành bàn giao sau cũng được quan tâm nhiều như nghỉ hưu, điều chuyển cán bộ…

Việc ra quyết định thành lập các Ban quản lý công trình do các UBND các cấp quyết định đã tạo ra tư cách pháp nhân cho các Ban quản lý công trình

Thuỷ lợi phí được thực hiện theo Quyết định 299/QĐ-UB của UBND tỉnh ở mức thu

799 kg/ha/năm (đến nay Tuyên Quang chưa sửa đổi theo Nghị định 143 của Chính phủ Thuỷ lợi phí được sử dụng vào đúng mục đích là bảo dưỡng, sửa chữa và chi phí quản lý

Đối với những công trình thuộc Ban quản lý HTXNLN quản lý: 80% thuỷ lợi phí được

sử dụng vào nâng cấp tu bô công trình, xây dựng kênh mương, chỉ có 20% thuỷ lợi phí dùng vào chi phí quản lý

Đối với công trình do Ban quản lý CTTL liên xã, liên huyện quản lý: 50% thuỷ lợi phí cho các Ban quản lý HTXNLN và 50% cho các Ban quản lý CTTL liên xã, liên huyện Trong đó, 20% dùng cho chi phí và 80% cho duy tu bảo dưỡng công trình

Họ đã nắm bắt được ưu điểm và khó khăn, bám sát điều kiện thực tế của tỉnh để tiến hành đưa ra những cơ chế chính sách phù hợp Và thực tế chứng minh Tuyên Quang

đã thực hiện chuyển giao quản lý tưới thành công theo mô hình quản lý tưới có sự tham gia của nông dân để quản lý các công trình thủy lợi liên xã

Trang 18

1.1.3.2 Mô hình chuyển giao quản lý tưới ở Đắc Lắc

Tháng 9/1999 UBND tỉnh Đắc Lắc đã tổ chức Hội nghị phân giao, phân cấp và khuyến khích PIM Sở NN&PTNT đã xây dựng chương trình thực hiện PIM quy mô toàn tỉnh Đến tháng 4/2000 UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo chương trình PIM từ cấp tỉnh đến cấp huyện, trong đó văn phòng thường trực PIM do Sở NN&PTNT đảm nhiệm

Theo báo cao kết quả 1 năm thực hiện Khung chiến lược Phát triển PIM của Công ty KTCTTL thì Công ty không tổ chức thực hiện xây dựng một mô hình TCDN nào Nhưng Công ty đã tiến hành bàn giao 5 trạm KTCTL, 37 lao động và 59 công trình thuỷ lợi nhỏ cho các huyện Đây cũng là gỉai pháp tinh thế nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách bù lỗ cho Công ty KTCTTL chứ thực sự hoạt động của các trạm này sau khi chuyển giao cũng chưa có gì thay đổi mới, vẫn mang nặng về hành chính sự nghiệp, chưa có sự tham gia của người hưởng lợi, nên ít hiệu quả

Đến nay tỉnh Đắc Lắc có 4 loại hình tổ chức quản lý KTCTTL như sau:

– Công ty KTCTTL (Doanh nghiệp công ích)

– Các đơn vị kinh tế: Công ty cà phê, nông.lâm trường, trạm, trại

– Các đơn vị hành chính (cấp huyện, xã, thôn, buôn)

– Các TCDN (các mô hình PIM)

Trong các loại hình tổ chức quản lý trên thì số công trình thuỷ lợi do các cấp chính quyền (huyện, xã) quản lý chiếm tỷ trọng khá cao là 280 công trình, bằng 52% số công trình toàn tỉnh Những công trình được quản lý theo loại hình này thựuc chất là chưa

có chủ, cần được đổi mới mô hình quản lý

Báo cáo của Công ty KTCTTL cho biết tổ chức DANIDA đã hỗ trợ thành lập 5 Hội dùng nước thuộc các huyện Cu Mgar và Buôn Đôn và 3 HTXDN thuộc các huyện Krông ân, Dalmil và TP Buôn Mê Thuột Các TCDN này được thành lập rất bài bản thay thế cho các HTXNN tan rã Tuy nhiên, trong số 8 TCDN này, thì chỉ còn 2 TCDN hoạt động tạm ổn định, còn 6 TCDN khác cơ bản đã ngừng hoạt động

Trang 19

Công ty KTCTTL đưa ra các nguyên nhân sau:

Các tổ chức này nằm trong tình trạng “hữu danh vô thực” được pháp luật công nhận, nhưng hoàn toàn không có giá trị thực tế khi giao dịhc tài chính với bất cứ cơ quan nào, ngoài Công ty KTCTTL Do vậy các giao dịch với ngân hang đều không chấp nhận vì không có tài sản thế chấp Không có quyền hạn gì để áp đặt chế tài các hội viên khi không thực hiện các thoả thuận ban đầu

Nghị định 143 coi đây là một TCDN có quyền lợi như một đơn vị hoạt động công ích, nhưng thực tế các TCDN này chưa được các cơ quan tài chính công nhận để hỗ trợ theo quy định

Sự ủng hộ của chính quyền địa phương: Vai trò của chính quyền là rất quan trọng, vì vậy ngay từ đầu chính quyền các cấp phải có sự “cam kết” sẽ có sự chỉ đạo thống nhất chỉ đạo thực hiện chương trình PIM thong suốt từ tỉnh đến huyện, xã

Vai trò của các ngành tham mưu như Nông nghiệp PTNT, các tổ chức xã hội (Hội nông dân, phụ nữ, thanh niên…) phải nhận thức đầy đủ về PIM để tham mưu, dề xuất các giải pháp, kế hoạch giúp chính quyền nhận thức rõ được yêu cầu, lợi ích thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với xây dựng mô hình PIM

Thành lập “Nhóm công tác”: Nhóm công tác với các thành viên là các cán bộ chuyên ngành, cán bộ tư vấn của dự án để xây dựng mô hình PIM theo yêu cầu của dự án, thiếu vai trò trách nhiệm của địa phương Để các mô hình PIM hoạt động hiệu quả, bền vững, đáp ứng được yêu cầu của người dân thì sự tham đầu tiên của người dân là chọn người đại diện cho mình vào “Nhóm công tác” Tổ chức của Nhóm công tác có đại diện của chính quyền tham gia (thành viên của nhóm) để hoạt động thuận lợi hơn, nhất là khi giải quyết các vấn đề vướng mắc liên quan đến quy chế, chính sách

Nhóm công tác có nhiệm vụ nghiên cứư, để xuất các phương án xây dựng TCDN, soạn thảo quy chế, quyết định, quy định về tổ chức, tài chính, nhưng quyết định cuối cùng thuộc quyền của người dân thông qua Đại hội đại biểu xã viên Nhóm công tác hoạt động không chuyên trách, có sự trrợ giúp kỹ thuật của tư vấn, nhưng tư vấn không làm thay như trước đây

Trang 20

1.1.3.3 Mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cũng đã triển khai nhiều Dự án ODA phát triển hạ tầng thủy lợi gắn với thúc đẩy quản lý tưới có sự tham gia (PIM) Đối với ĐBSCL, một số Dự án ODA và chương trình phát triển bơm điện đã đạt được kết quả bước đầu thúc đẩy quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng

Dự án Thủy Lợi Bắc Vàm Nao

Dự án được Chính phủ Úc tài trợ, kết hợp với nguồn vốn của Chính phủ Việt nam, có nhiệm vụ kiểm soát lũ cho 31.000 ha và phục vụ tưới cho hơn 24.000ha đất nông nghiệp Để quản lý khai thác hệ thống, Dự án đã tổ chức thí điểm mô hình PIM Mô hình quản lý hệ thống bao gồm:

BQL Hệ thống Bắc Vàm Nao: Là tổ chức trực thuộc UBND tỉnh, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quản lý, khai thác hệ thống công trình, có 18 thành viên, trong đó kiêm nhiệm 16 người và chuyên trách 02 người BQL trực tiếp quản lý, khai thác và duy tu bảo dưỡng các công trình đê vành đai, các cống dưới đê vành đai và các kênh ranh tiểu vùng BQL ký hợp đồng đặt hàng với Công Ty TNHH 01 TV KTTL An Giang để thực hiện nhiệm vụ và kiểm tra, giám sát các hoạt động của công ty đối với vùng kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao; Hàng năm lập kế hoạch nạo vét kênh tạo nguồn, duy

tu bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống cống.Công ty có chức năng là quản lý, vận hành hệ thống công trình kênh, cống ngoài tiểu vùng điều tiết, tạo nguồn nước đảm bảo các trạm bơm lấy nước tưới, tiêu nước và chống lũ cho tiểu vùng Hàng năm công ty có trách nhiệm thực hiện nạo vét kênh tạo nguồn, duy tu bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống cống

Đây là một dạng của mô hình PIM, có vai trò như đầu mối để tập hợp hộ dùng nước và nhà cung cấp dịch vụ để cùng nhau giải quyết việc quản lý khai thác.Nhưng BQL tiểu vùng chưa gắn bó chặt chẽ với hộ dùng nước

Dự án Thủy lợi Phước Hòa:

Trang 21

Năm 2002 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt dự án Thủy lợi Phước Hòa, với mục tiêu lấy nước từ Sông Bé cấp tại chỗ cho các tỉnh Bình Dương, Bình Phước và chuyển về hồ Dầu Tiếng để cấp bổ sung cho các tỉnh Tây Ninh, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh Đến nay các hạng mục xây dựng của Dự án đã cơ bản hoàn thành, dự kiến đầu năm 2015 sẽ đi vào vận hành, khai thác phục vụ sản xuất nông nghiệp dân sinh Để hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, Dự án đã triển khai một Chương trình hỗ trợ xã hội và nội đồng cho khu tưới Đức Hòa (dự án OSDP) Trung tâm tư vấn PIM thuộc Viện khoa học thủy lợi Việt Nam là đơn vị tư vấn thực hiện Chương trình này Về mặt thể chế, tỉnh Long An đã ban hành Quy chế phối hợp trong hoạt động quản lý khai thác Công trình thủy lợi của tỉnh, xây dựng lộ trình phát triển PIM cho khu tưới Đức Hòa và đang chuẩn bị thành lập đơn vị tiếp nhận, quản lý khu tưới Đức Hòa

Mô hình hợp tác công tư trong đầu tư, quản lý trạm bơm điện tại ĐBSCL

Hình thức Hợp tác công tư trong đầu tư xây dựng và quản lý trạm bơm điện tại Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đang phát triển mạnh và đạt nhiều kết quả khả quan, giải quyết nhu cầu tưới tiêu nước cho hàng trăm nghìn ha đất canh tác, điển hình như tỉnh An Giang Hiện ĐBSCL có 3 mô hình đầu tư và quản lý trạm bơm điện theo hình thức này, đó là: (i) Mô hình HTX/THT, (ii) Mô hình Doanh nghiệp tư nhân và (iii) Mô hình Cá nhân/Cá thể

Các mô hình có đặc điểm chung là phí dịch vụ thủy lợi nội đồng (dịch vụ bơm nước) xác định thông qua “Hiệp thương” với nông dân; thời gian thu hồi vốn từ 3-5 năm hoặc lâu hơn, nhưng thường không quá 10 năm

1.1.3.4 Dự án CDPIMS – JICA tại xã Hợp Tiến – Nam Sách

Mô hình khu thí điểm Hợp Tiến – Nam sách – Hải Dương do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam thực hiện Mô hình tại khu thí điểm Hợp Tiến là mô hình quản lý hợp tác xã với sự tham gia của nông dân bị hạn chế từ quá trình phân phối nước, duy

tu bảo dưỡng và quản lý tài chính, thủy lợi phí Người dân chỉ tham gia đóng góp ý kiến và thống nhất những vấn đề chính thông qua đại hội xã viên và các cuộc họp

Trang 22

thôn/đội Nếu có tranh chấp xảy ra UBND, HTX, thôn, đội và người dân tự giải quyết tranh chấp; chủ yếu thông qua hoà giải Đây cũng là một dạng của mô hình PIM

1.1.4 Các nghiên cứu về mô hình quản lý tưới có sự tham gia của cộng đồng PIM ở nước ngoài

PIM ở Nhật bản được thể hiện qua các Hội Cải thiện đất (LID), đây là hình thức quản

lý tưới tiêu và các hoạt động khác của một cộng đồng nông dân thông qua một tổ chức

cụ thể do họ lập nên dưới sự cho phép của chính phủ Người dân được thực sự tham gia vào tất cả các hoạt động của một dự án tưới tiêu, cải tạo đất, cải tạo môi trường Hội cải thiện đất (LID) được xây dựng với mục đích hoạt động của hội là nhằm hoàn thiện và phát triển cơ sở cho sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất sản xuất nông nghiệp, tăng sản lượng nông nghiệp, mở rộng có chọn lựa sản xuất nông nghiệp và cải tiến cơ cấu nông nghiệp

LID được thành lập cho một hệ thống tưới, theo ranh giới thuỷ lực của khu tưới, không

theo ranh giới hành chính Các LID tại Nhật bản ra đời theo “Luật cải thiện đất” số

195 năm 1949 và nằm trong hiệp hội cải thiện đất quốc gia (National Federation Land

Improvement Associaions)

Ở Nhật bản có tổng số: 6103 LID (2004), tổng diện tích: 2870.103 ha, tổng số thành viên: 4080.103 hộ Tổ chức của LID được hình thành thông qua đại hội của các đại

diện của nông dân trong vùng hưởng lợi Các đại biểu được bầu từ nông dân các thôn/

tổ chức dùng nước ở thôn Như vậy về căn bản LID được hình thành dựa trên sự đề

xuất của người nông dân sau đó được nhà nước hỗ trợ về cơ sở pháp lý Toàn bộ thành viên của LID đều là nông dân, điều hành và quản lý LID sao cho mang lại lợi ích nhiều nhất cho người dân Ví dụ cụ thể nhất về cơ cấu tổ chức của LID ở Nhật Bản là

ở Hokkaido và Inbanuma

Hiệu quả hoạt động của LID được thể hiện qua việc Nông dân luôn hài lòng với dịch

vụ thủy lợi mà LID đang đảm nhận Góp phần cải tọa đươc bộ mặt nông thôn Nhật

Bản ngày càng tốt đẹp Đời sống của nông dân ngày cang được nâng cao, sự cách biệt

giữa nông thông và thành thị ngày càng được thu hẹp Qua báo cáo về tài chính của

Trang 23

LID cho thấy, họ đã hoạt động, vận hành và quản lý tốt các cơ sở vật chất được giao

Với nguồn kinh phí chủ yếu từ tiền thu của các hội viên

1.2 Tổng quan vùng nghiên cứu

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Hệ thống hồ Kẻ Gỗ được nằm trên địa bàn xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh

Hà Tĩnh, cách thành phố Vinh 70 km về phía Nam

Vị trí của hệ thống công trình nằm trong khoảng: 18 0

00' đến 18 020' độ vĩ bắc và 105

055’ đến 106 010' độ kinh đông

Hồ Kẻ Gỗ tọa lạc ở địa phận của 3 huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và Hương Khê Nhiệm

vụ của hồ là tưới cho 21.136 ha đất canh tác của huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà

và TP Hà Tĩnh, chống lũ quét, chống xói mòn cho vùng hạ du; cung cấp nước tưới phục vụ công nghiệp và sinh hoạt trong vùng với lưu lượng 1,6m3/s; phát điện công suất lắp máy 2,3MW

Hình 1 – Hồ Kẻ Gỗ

Trang 24

Công tác thuỷ lợi ở Hà Tĩnh luôn luôn được các thế hệ lãnh đão của tỉnh đặc biệt quan tâm Mục tiêu xây dựng thủy lợi trước đây chủ yếu là phòng, chống lũ lụt và cấp nước

cho sản xuất nông nghiệp để giải quyết lương thực là chính (chủ yếu tưới cho cây lúa nước); ngay từ thời kỳ Pháp thuộc đã xây dựng được một số công trình như: Đập

Nhâm Xá (ở TX Hồng Lĩnh), đập Hoà Dục (ở Cẩm Lĩnh – Cẩm Xuyên), đê La Giang

(ở Đức Thọ); định hình được Hồ chứa nước Kẽ Gỗ (ở Cẩm xuyên), Cẩm Trang (ở Vũ Quang ), Trại Cày (ở Kỳ Anh).v.v

1.2.1.2 Đặc điểm địa hình

Lãnh thổ Hà Tĩnh chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa hình hẹp và dốc nghiêng từ Tây sang Đông (độ dốc trung bình 1,2%, có nơi 1,8%) và bị chia cắt mạnh bởi các sông suối nhỏ của dãy Trường Sơn, có nhiều dạng địa hình chuyển tiếp, xen kẽ lẫn nhau Phía Tây là sườn Đông của dãy trường Sơn có độ cao trung bình 1500m, kế tiếp là đồi bát úp và một dãy đồng bằng hẹp, có độ cao trung bình 5m, thường bị núi cắt ngang và sau cùng là dãy cát ven biển bị nhiều cửa lạch chia cắt Về tổng thể, Hà Tĩnh

có 4 dạng địa hình cơ bản như sau:

- Vùng núi cao: Địa hình vùng núi cao thuộc phía Đông của dãy Trường Sơn bao gồm các xã phía Tây của huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh Địa hình dốc bị chia cắt mạnh, hình thành các thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo các triền sông lớn của hệ thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ

- Vùng trung du và bán sơn địa: Đây là vùng chuyển từ vùng núi cao xuống vùng đồng bằng Vùng này chạy dọc phía Tây Nam đường Hồ Chí Minh bao gồm các xã vùng thấp của huyện Hương Sơn, các xã thượng Đức Thọ, thượng Can Lộc, ven Trà Sơn của các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Địa hình có dạng xen lẫn giữa các đồi trung bình và thấp với đất ruộng, đất đai không bằng phẳng

- Vùng đồng bằng: là vùng chạy dọc hai bên Quốc lộ 1A theo chân núi Trà Sơn và dải

ven biển, bao gồm các xã vùng giữa của huyện Đức Thọ, Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh, Thạch Hà, thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh Địa hình vùng này tương đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các sông, phù sa biển trên các vỏ phong hoá Feralit hay trầm tích biển

Trang 25

- Vùng ven biển: nằm ở phía Đông đường Quốc lộ 1A chạy dọc theo bờ biển gồm các

xã của huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Địa hình được tạo bởi những đụn cát, các vùng trũng được lấp đầy trầm tích hay đầm phá hay phù sa được hình thành do các dãy đụn cát chạy dài ngăn cách bãi biển Ngoài ra vùng này còn xuất hiện các dãy đồi núi sót chạy dọc ven biển do kiến tạo của dãy Trường Sơn Bắc Do nhiều cửa sông, lạch tạo nên nhiều bãi ngập mặn

Địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, phân hoá phức tạp và bị chia cắt mạnh, hình thành các vùng sinh thái khác nhau Trong mỗi vùng có liên hệ bền chặt về kinh

tế - xã hội và môi trường sinh thái từ thượng nguồn tới ven biển Địa hình đó đã tạo cho Hà Tĩnh những cảnh quan có giá trị đối với du lịch như: Rừng nguyên sinh Vũ Quang, Thác Vũ Môn, Bãi tắm Xuân Thành, Thạch Hải, Thiên Cầm, Đèo Con…

Kẻ Gỗ xưa nằm dọc theo hai bờ sông Rào Cái (còn gọi là sông Ngàn Mọ) Công trình đầu mối hồ chứa, đập chính đặt ở vùng đầu nguồn, thuộc xã Cẩm Mỹ huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh, thuộc địa hình vùng núi thấp đến cao trung bình, vùng xây dựng đầu mối tuyến đập là một vùng đồi núi dạng bát úp kéo dài Vị trí này đảm bảo tối ưu trong quá trình xây dựng và đưa vào khai thác mấy chục năm nay

1.2.1.3 Đặc điểm khí tượng thủy văn

Hà Tĩnh có nguồn nước phong phú nhờ hệ thống sông suối hồ đập khá dày đặc Hà Tĩnh nằm trong lưu vực sông Ngàn Sâu, thuộc loại nhiều nước nhất trong hệ thống sông Cả Tổng lượng nước nhiều năm tính tới cửa sông là 6,15 km3, ứng với lưu lượng trung bình năm là 195m3/s Mạng lưới sông ngòi ở Hà Tĩnh tuy nhiều nhưng ngắn, dài nhất là sông Ngàn Sâu 131km, ngắn nhất là sông Cày 9km Toàn tỉnh có 357

hồ chứa với tổng dung tích trữ trên 767 triệu m3, 282 trạm bơm có tổng lưu lượng

338.000 m3/s, 48 đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9 m3/s Với trữ lượng này hiện tại

Hà Tĩnh đã phục vụ tưới được 47.737 ha/vụ Tuy lượng nước sông khá lớn nhưng việc

sử dụng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt còn bị hạn chế do bị khô cạn vùng thượng và nhiễm mặn ở hạ lưu vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa

Kẻ Gỗ xưa nằm dọc theo hai bờ sông Rào Cái (còn gọi là sông Ngàn Mọ) Rào Cái là dòng sông hội tụ của hàng trăm khe suối từ dãy Trường Sơn đổ về Mùa nắng thì Rào

Trang 26

Cái khô hạn, mùa mưa thì chảy quá nhanh, quá mạnh, trở thành tai ương cho cả vùng phía Nam Hà Tĩnh Hồ dài 29 km với dung tích tối đa là 425 triệu m3 và có nhiệm vụ tích nước tưới cho 21.136 ha đất canh tác của hai huyện Thạch Hà và Cẩm Xuyên Lưu vực hồ chứa nước Kẻ Gỗ thuộc địa phận tỉnh Hà Tĩnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Với đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên và nhân tố ảnh hưởng đã tạo nên vùng khí hậu có đặc điểm của chế độ khí hậu miền Bắc, lại vừa có đặc điểm của khí hậu Đông Trường Sơn, trong năm khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt

Mùa mưa lũ từ tháng IX đến tháng XI là các tháng hội tụ của các hình thế thời tiết gây mưa như áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới kết hợp với bão đã tạo nên những trận mưa lớn, lượng dòng chảy các tháng mùa lũ hàng năm chiếm từ 60-65% lượng dòng chảy năm Tháng có lượng dòng chảy lớn nhất là tháng IX, X chiếm tới 50% lượng dòng chảy năm

Mùa cạn từ tháng XII đến tháng VIII

Năm sau chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh mang gió mùa đông bắc, lượng mưa giảm đi rõ rệt, lượng mưa tháng XI còn khoảng 9-11% so với lượng mưa cả năm, đến tháng II, tháng III, và tháng IV lượng mưa chỉ còn 1-2% lượng mưa cả năm

Vào đầu mùa hạ tháng V đến VI khi áp thấp nhiệt đới Ấn – Miên phát triển sang phía Đông đến địa phận nước Lào và Thái Lan thì vừa hút gió Đông Nam từ biển Đông thổi vào lại vừa hút gió từ vịnh Ben Gan Thái Lan tới tạo nên dải hội tụ theo đường kinh tuyến và mưa tiểu mãn gây ra lũ tiểu mãn trên lưu vực

1.2.2 Đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội

Hồ Kẻ Gỗ được xây dựng trong thời gian 1976-1988 Trải qua hơn 30 năm làm việc,

hồ đã phát huy tốt tác dụng của mình, biến một vùng đất khô cằn của hai huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà thành vùng đồng bằng màu mỡ, ruộng vườn tươi tốt quanh năm Hệ thực vật chủ yếu là cây lùm bụi, cây công nghiệp, rừng trồng và thảm cỏ Đây là vùng dân cư đông đúc, sản xuất nông nghiệp chính là cây lúa nước, cây màu, cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi gia súc, trồng cây lâm nghiệp Vùng này bước đầu

đã có sự đầu tư trong các loại cây như lạc, đậu, đỗ, khoai lang, chè, cây ăn quả Các

Trang 27

sản phẩm chăn nuôi như trâu, bò, lợn, dê, hươu Đây là vùng có tiềm năng đất đai cho phép sản xuất nhiều sản phẩm nông sản hàng hoá tập trung, có thể đầu tư xây dựng các trang trại thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh

Theo số liệu thống kê năm 2005, có 1.289.058 người, tăng 6.729 người so với năm

2003, so với năm 2004 tăng 2.403 người Trong đó tỷ lệ nam chiếm 49,40%, nữ chiếm 50,60% Dân số sống ở nông thôn là 1.146.571 người, chiếm 88,95% tổng dân số cả tỉnh; dân số sống ở thành thị 142.487 người chiếm 11,05%

Tỷ lệ tăng tự nhiên bình quân 7,78% Trong đó: Thành thị tăng 9,6%, nông thôn tăng

7,57%

Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh 214 người/ km2, mật độ dân số cao nhất là ở thị xã

Hà Tĩnh 1.381 người/km2, mật độ dân số thấp nhất ở huyện Vũ Quang 52 người/ km2 Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là: 630.022 người, chiếm 48,9% dân

số toàn tỉnh Trong đó số người lao động địa phương quản lý: 623.270 người, chiếm 98,9% số người lao động; lao động nông nghiệp: 493.713 người, chiếm 78,36%; lao động công nghiệp khai thác mỏ là: 8.712 người, chiếm 1,38%; lao động công nghiệp chế biến là: 17.731 người, chiếm 2,8%; lao động xây dựng 10.522 người, chiếm 1,67%; còn lại 99.344 người là lao động các ngành khác

Cơ cấu GDP trên địa bàn tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực GDP lĩnh vực Nông - Lâm - Thuỷ sản giảm dần từ 51,31% năm 2000, xuống 43,13% năm 2005; GDP lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 13,45% lên 22,45% năm 2005; các ngành dịch vụ khác từ 35,24%, xuống 34,42% năm 2005

Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực giai đoạn 2000 - 2005 đạt bình quân 8,64% Trong đó cả ba lĩnh vực kinh tế đều có tốc độ tăng khá:

- Nông - Lâm - Thuỷ sản tăng bình quân 1,85%

- Công Nghiệp - Xây dựng tăng bình quân 20,94%

- Thương mại - Dịch vụ tăng bình quân 16,27%

Trang 28

GDP bình quân đầu người tăng từ 3.156.300 đồng năm 2002 lên 4.647.570 đồng năm

2005 Tốc độ tăng bình quân đạt 8,9%/năm Tuy có tốc độ tăng cao, nhưng GDP bình

quân đầu người của khu vực cũng chỉ bằng bình quân chung cả Tỉnh (chỉ bằng 47% so với bình quân chung cả nước)

Hà Tĩnh là tỉnh đang còn nghèo, điều kiện vật chất và cơ sở hạ tầng đang ở mức trung bình thấp Thạch Hà và Cẩm Xuyên là hai huyện thuộc trung tâm của tỉnh, nhân dân trong vùng chủ yếu là dân tộc kinh có trình độ văn hóa - xã hội tương đối cao và đồng đều; còn điều kiện kinh tế thì không đồng đều trong các vùng, ở tại trung tâm thị xã, thị trấn hầu hết là cán bộ công nhân viên và những người buôn bán nên có thu nhập cao hơn, đời sống kinh tế tương đối ổn định; ở tại các xã ngoài đô thị đa số là nông dân

có nghề nghiệp chính là làm ruộng Từ khi có công trình thủy lợi Hồ chứa nước Kẻ Gỗ đến nay việc sản xuất nông nghiệp thuận lợi hơn rất nhiều nên đời sống của họ ổn định

và phát triển lên rất nhiều, nhưng nhìn chung mức thu nhập đang còn ở mức thấp, vẫn còn một số gia đình thuộc hộ người nghèo

Ngoài ra, Hồ Kẻ Gỗ còn giúp một phần quan trọng cải tạo môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên của cả một vùng rộng lớn, đó trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên

có giá trị

1.3 Khái quát hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ

Kẻ Gỗ là hồ chứa nhân tạo lớn nhất miền Trung, thuộc xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh Ngày 26/3/1976, khi đất nước đó thống nhất, công trình mới được các nhà thủy lợi Việt Nam tự thiết kế, thi công và có tên là hồ Kẻ Gỗ Ngày 03/02/1988, công trình được bắt đầu đưa vào sử dụng Công trình đầu mối hồ chứa, đập chính đặt ở vùng đầu nguồn, thuộc xã Cẩm Mỹ huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh, thuộc địa hình vùng núi thấp đến cao trung bình, vùng xây dựng đầu mối tuyến đập là một vùng đồi núi dạng bát úp kéo dài Vị trí này đảm bảo tối ưu trong quá trình xây dựng và đưa vào khai thác mấy chục năm nay

Quy mô công trình hồ chứa nước:

- Diện tích lưu vực : 223 km2

Trang 29

- Mực nước dâng bình thường : 32.50 m ; Wbt = 345.106 m3

và TP Hà Tĩnh

Trang 32

- Tràn 2 cửa mỗi cửa có b=3m

- Lưu lượng xả qua tràn lớn nhất : Qmax = 296 m3/s

Tràn sự cố xây dựng xong tháng 8 năm 2001:

- Bề rộng đường tràn B=65 m ; cao trình ngưỡng tràn 31.50 m

- Lưu lượng xả qua tràn lớn nhất : Qmax = 699 m3/s

- Trên đỉnh tràn sự cố đắp đập đất đến cao trình 35.0 m, khi cần xả thì phá đập đất

3 Cống lấy nước

- Cống vuông 3m x 3m

Trang 33

Cho đến nay kênh chính đã được kiên cố hoàn toàn, kênh cấp 1 kiên cố được 92.877 km/101.197 km đạt 91,77%; Kênh cấp 2 kiên có được 19.326 km/44.636 km đạt 44%; Kênh cấp 3 kiên cố được trên 40%

- Kênh chính: Có chiều dài 17.000 m

- Hệ thống kênh cấp I: Có tổng chiều dài 104.958m

- Kênh N1 : dài 28.900 m - Kênh N2 : dài 12.854 m

- Kênh N3 : dài 6.585 m - Kênh N4 : dài 9.717 m

- Kênh N5 : dài 4.120 m - Kênh N6 : dài 9.350 m

- Kênh N7 : dài 9.174 m - Kênh N8 : dài 8.628 m

Trang 34

Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TƯỚI CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI KẺ GỖ

2.1 Đánh giá thực trạng quản lý tưới của hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ

2.1.1 Khái quát chung v ề quản lý tưới của hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ

Tổ chức quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta hay như hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ bao gồm hai loại hình chính là tổ chức của nhà nước (Doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi, Trung tâm, Ban quản lý thủy nông) và các tổ chức dùng nước Các tổ chức của nhà nước (chủ yếu là loại hình công ty khai thác công trình thủy lợi) quản lý, khai thác các công trình đầu mối, kênh chính của hệ thống thủy lợi có quy mô vừa và lớn, vận hành phức tạp Các công trình còn lại do các

tổ chức thủy nông cơ sở hay còn gọi là các tổ chức dùng nước quản lý bao gồm các hệ thống công trình có quy mô nhỏ hoặc hệ thống thủy lợi nội đồng thuộc các hệ thống lớn do các công ty khai thác công trình thủy lợi quản lý Thực tế cho thấy, việc quản lý khai thác công trình thủy lợi của các tổ chức thủy nông cơ sở góp phần quan trọng để duy trì và phát huy hiệu quả của công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác

2.1 1.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của hệ thống thủy lợi Kẻ Gỗ

Tổ chức quản lý nhà nước về thủy lợi

Các Tổ chức quản lý nhà nước về thủy lợi ở Hà Tĩnh bao gồm Sở NN&PTNT, Chi Cục Thủy lợi Hà Tĩnh, và Phòng Nông nghiệp thuộc UBND huyện và UBND xã

S ở NN&PTNT tỉnh Hà Tĩnh

Sở NN&PTNT là cơ quan chuyên môn giúp UBND Tỉnh chỉ đạo UBND huyện, thành phố, thị xã các TCDN quản lý và khai thác công trình thủy lợi quán triệt chủ trương của UBND tỉnh Sở NN&PTNT xây dựng kế hoạch hàng năm kiểm tra công tác quản

lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh và báo cáo UBND tỉnh

Chi C ục Thủy Lợi tỉnh Hà Tĩnh

Là cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giúp Sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chuyên ngành thuỷ lợi (trừ lĩnh vực đê điều) trên

Trang 35

địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Chi cục Thuỷ lợi chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục Thuỷ lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Phòng Nông nghi ệp và PTNT huyện

Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công trình thủy lợi trên địa bàn theo quy định pháp luật: tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thuỷ lợi; thuỷ sản; phát triển nông thôn; phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế hợp tác xã nông, lâm, ngư, diêm nghiệp gắn với ngành nghề, làng nghề nông thôn trên địa bàn xã

- UBND xã: UBND xã có chức năng quản lý nhà nước về CTTL trên địa bàn

Hình 2.1.5 - Sơ đồ tổ chức quản lý nhà nước về thủy lợi tỉnh Hà Tĩnh

Tổ chức quản lý khai thác công trình Thủy lợi

Tương tự như hệ thống tổ chức quản lý thủy lợi phổ biến ở nước ta, hệ thống tổ chức

Trang 36

lý công trình đầu mối, hệ thống kênh chính và kênh cấp 2, trong khi đó hệ thống kênh cấp 3 do các tổ chức thuỷ nông cơ sở quản lý Với sự tham gia của các tổ chức thuỷ nông cơ sở có thể nói rằng thể chế cho cộng đồng tham gia vào quản lý tưới đã được thiết lập ở các hệ thống thủy lợi này

Hệ thống quản lý khai thác CTTL trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gồm 2 Công ty TNHH MTV quản lý khai thác CTTL là Nam Hà Tĩnh và Bắc Hà Tĩnh (IMC) Đây là hai IMC được hợp nhất từ 7 IMC trên dia bản tỉnh vào cuối năm 2013, đó là các IMC Linh Cảm, Can Lộc, Hồng Lam, Hương Sơn hợp nhất thành IMC Bắc Hà Tĩnh và các IMC

Kẻ Gỗ, Sông Rác, Hương Khê hợp nhất thành IMC Nam Hà Tĩnh

Đối với vùng dự án- hệ thống thủy nông Kẻ Gỗ - Sông Rác hiện nay đang thuộc phạm

vi quản lý và khai thác của IMC Nam Hà Tĩnh

IMC Nam Hà Tĩnh là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước hoạt động công ích Ngành nghề kinh doanh chủ yếu là quản lý khai thác và bảo vệ các hệ thống CTTL, cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh vùng hưởng lợi

Mô hình tổ chức của IMC là mô hình Hội đồng thành viên Cơ cấu quản lý bao gồm: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc Công ty; Hội đồng thành viên; Kiểm soát viên và bộ máy giúp việc gồm 4 Phòng: Tổ chức- Hành chính, Quản lý khai thác,

Kế hoạch- Kỹ Thuật, Tài Vụ; 16 cụm, trạm thủy nông; 01 đội Tư vấn đầu tư xây dựng

và 01 Ban quản lý dự án

IMC Nam Hà Tĩnh có nhiệm vụ quản lý, vận hành, khai thác và bảo vệ 30 hồ chứa và

04 đập dâng, 478 km kênh mương phục vụ tưới trên 42.800 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản thuộc địa bàn 4 huyện và 1 Thành phố Trong đó có các hệ thống công trình đầu mối lớn như hồ chứa nước Kẻ Gỗ, hồ chứa nước Thượng Tuy ở huyện Cẩm Xuyên, hồ chứa nước Sông Rác, hồ chứa nước Thượng Sông Trí, hồ chứa nước Kim Sơn ở huyện Kỳ Anh; Đập dâng Sông Tiêm, Đá Hàn ở huyện Hương Khê; Ngoài ra công ty có nhiệm vụ cải tạo môi trường sinh thái, chống ngập lụt và xói mòn cho các vùng hạ du đập Công ty TNHH MTV KTCTTL Kẻ Gỗ với mô hình hội đồng thành viên chủ sở hữu bổ nhiệm chủ tịch HĐTV, giám đốc, kế toán, chủ tịch HĐTV công ty là đại diện cho chủ sở hữu

Trang 37

Theo quyết định số 15/2011/QD-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2011, các Công ty Khai thác công trình thủy lợi có nhiệm vụ trực tiếp quản lý khai thác các công trình thủy lợi đầu mối, các trục kênh chính và các công trình điều tiết nước có quy mô vừa va lớn thuộc hệ thống công trình thủy lợi liên huyện, liên xã (gồm các hồ chứa, đập, trạm bơm và công trình chính, cấp I)

Các hoạt động chủ yếu của các công ty là hoạt động công ích về quản lý khai thác và bảo vệ hệ thống công ty thủy lợi, cấp nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp (kể

cả tạo nguồn) và các ngành kinh tế khác trên địa bàn như nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản…

Ngoài ra các công ty cũng có các ngành kinh doanh khác như khảo sát, thiết kế, tư vấn lập dự án, tư vấn giám sát và thi công các công trình thủy lợi, đường giao thông, công trình dân dụng, kinh doanh mặt nước hồ đập kết hợp nuôi trồng thủy sản và dịch vụ

du lịch

Chú thích: Quản lý chỉ đạo/ kiểm tra

Quan hệ chỉ đạo và kiểm tra

Trang 38

Tổ chức quản lý tưới hệ thống kênh cấp 3 trong hệ thống Kẻ Gỗ

Các tổ chức thủy nông cơ sở tồn tại theo nhiều loại hình, thể hiện tính đa dạng, linh hoạt thích ứng với điều kiện kinh tế, xã hội, đặc thù và quy mô công trình thủy lợi của từng vùng, miền trong cả nước

Loại hình tổ chức thủy nông cơ sở của Kẻ Gỗ có quản lý hệ thống kênh nội đồng là mô hình do thôn quản lý, mô hình xã quản lý, mô hình Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTXNN) quản lý và mô hình Hội nông dân xã quản lý Trong đó mô hình HTXNN được thành lập theo các qui mô hành chính khác nhau là HTXNN quy mô liên thôn, liên thôn hoặc toàn xã Ở các mô hình HTXNN quản lý, dịch vụ cung cấp nước tưới

cho nông dân là do các tổ thủy nông thực hiện Cộng đồng thôn, xóm và trưởng thôn,

ấp đóng vai trò quan trọng trong tất cả các hoạt động quản lý hệ thống thuỷ nông nội đồng, đặc biệt là trong việc huy động nguồn lực để thực hiện duy tu, bảo dưỡng hệ thống kênh nội đồng

Loại hình tổ chức dùng nước trong hệ thống Thủy lợi Kẻ gỗ là HTXNN, HTXDN, HDN, với quy mô toàn xã, hoạt động với tư cách pháp lý có tài khoản và con dấu riêng Cơ cấu tổ chức gồm Ban quản lý và các tổ thủy nông

Các mô hình PIM là các Tổ chức hợp tác dùng nước được thành lập trong thời gian gần đây Các mô hình PIM này được thành lập một cách bài bản, có quy chế hoạt động

do nguời dân tham gia soạn thảo một cách dân chủ nên hoạt động rất hiệu quả Cách thức tổ chức hoạt động và hiệu quả của các mô hình này là cơ sở thực tế quan trọng cho các địa phương tham khảo áp dụng

Theo thống kế số liệu của Sở NN&PTNT tỉnh Hà Tĩnh đến tháng 8/2016 và kết quả điều tra bổ sung của tư vấn tại các huyện trong vùng dự án, toàn tỉnh hiện có 216 TCDN được thành lập đúng quy định tại 170 xã/262 xã phường, thị trấn trên toàn tỉnh

Hà Tĩnh, với nhiều tên gọi khác nhau nhưng đều tổ chức và hoạt động theo luật Hợp tác xã Các TCDN này có nhiều tên gọi khác nhau, bao gồm: Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) và Hợp tác xã môi trường (HTXMT) có dịch vụ thủy lợi; hội sử dụng nước,

tổ thủy nông xã Các địa phương còn lại trên địa bàn tỉnh lại thành lập các Tổ hợp tác, ban quản lý thủy nông xã, tổ/đội thủy nông để thực hiện nhiệm vụ tưới tiêu

Trang 39

Kết quả điều tra đánh giá hoạt động của các TCDN do Trung tâm tư vấn PIM – Viện khoa học Thủy lợi Việt Nam cho thấy hiện nay có 72 TCDN đã được thành lập, kiện toàn tại 72 xã trong vùng dự án, bao gồm 35 HTXNN, 22 Tổ hợp tác và 15 Ban nông nghiệp xã Mô hình HTXNN và tổ hợp tác hiện có tại cả 4 huyện, thành phố trong vùng dự án Mô hình HTXNN phổ biến ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên và mô hình Tổ hợp tác phổ biến ở huyện Kỳ Anh Mô hình Ban nông nghiệp xã kiêm nhiệm thực hiện dịch vụ thủy lợi phổ biến ở thành phố Hà Tĩnh và hiện nay không còn tồn tại ở huyện

Số xã trong huyện

Số xã chưa thành lập TCDN theo quy định

Tổng cộng

HTX NN

có dịch

vụ TL

Hội sử dụng nước

Tổ đội thủy nông

HTX Môi trường kiêm TL

Trang 40

TT Huyện

Số lượng TC HTDN đã thành lập

Số xã

có TCDN

Số xã trong huyện

Số xã chưa thành lập TCDN theo quy định

Tổng cộng

HTX NN

có dịch

vụ TL

Hội sử dụng nước

Tổ đội thủy nông

HTX Môi trường kiêm TL

- Mô hình Ban nông n ghiệp xã

Mô hình Ban nông nghiệp xã có nhiều tên gọi khác nhau (Ban nông nghiệp xã, ban kinh tế xã, ban quản lý thủy nông, ban quản lý khai thác CTTT ) Đây là một tổ chức trực thuộc UBND xã, được UBND xã thành lập để quản lý về nông-lâm nghiệp-giao thông-thủy lợi toàn xã Ban mượn con dấu, trụ sở, tài khoản của UBND xã để hoạt động Các thành viên của Ban đều là các lãnh đạo, cán bộ của UBND xã và các trưởng thôn làm nhiệm vụ kiêm nhiệm Mô hình ban vẫn chưa tách biệt được chức năng quản

lý nhà nước và quản lý khai thác CTTL

- Mô hình Tổ hợp tác:

Ngày đăng: 24/04/2021, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[7]. Báo cáo hi ệ n tr ạ ng và công tác phân c ấ p qu ả n lý công trình th ủ y l ợi trên đị a bàn t ỉnh Hà Tĩnh (Báo cáo làm vi ệ c v ới đoàn công tác Trung tâm tư vấn PIM) tháng 1 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Báo
[1]. Báo cáo điề u tra th ự c tr ạ ng phân c ấ p qu ả n lý t ại Hà Tĩnh năm 2012 Khác
[2]. Tài li ệ u t ậ p hu ấ n PIM – Trung tâm tư vấ n PIM vi ệ n Khoa h ọ c Th ủ y l ợ i Vi ệ t Nam [3]. Báo cáo đánh giá chi tiế t tình hình t ổ ch ứ c ho ạt độ ng c ủ a m ộ t s ố T ổ ch ứ c h ợ p tác dùng nước trên đị a bàn t ỉnh Hà Tĩnh củ a UBND t ỉnh Hà Tĩnh Khác
[4]. Báo cáo s ố 4710/BC- SNN đánh giá tình hình, kế t qu ả th ự c hi ện Thông tư số 75/2004/TT-BNN ngày 20/12/2004 c ủ a B ộ Nông nghi ệ p và Phát tri ể n nông thôn c ủ a UBND t ỉnh Hà Tĩnh ngày 17/11/2014 Khác
[8]. Báo cáo h ộ i th ả o PIM qu ố c gia l ầ n 2 trong khuôn kh ổ d ự án VWRAP c ủ a Ban qu ả n lý ti ể u d ự án K ẻ G ỗ ngày 05 tháng 12 năm 200 9 Khác
[9]. S ổ tay xây d ự ng t ổ ch ứ c h ợp tác dùng nước và đị nh m ứ c th ự c hi ệ n – Trung tâm tư v ấ n PIM – Vi ệ n Khoa h ọ c Th ủ y L ợ i Vi ệ t Nam Khác
[10]. S ở Nông nghi ệp &PTNT Hà Tĩnh (2016), Kế t qu ả điều tra, rà soát, đánh giá công tác phân c ấ p qu ả n lý, khai thác Khác
[11]. Ủ y ban nhân dân t ỉnh Hà Tĩnh (2016), Quyết đị nh phê duy ệ t quy ế t toán kinh phí c ấ p bù mi ễ n th ủ y l ợi phí năm 2015.[12]. Các tài li ệ u khác Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w