Ngoài việc cần thiết bảo vệ nguồn gen và sự đa dạng của các loài sinh vật đã quy định trong " Sách đỏ Việt Nam ", để đảm bảo sử dụng lâu dài các nguồn lợi sinh vật của đất nước, [r]
Trang 1BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1 Sự suy thoái và bảo vệ tài nguyên sinh vật
1.1 Suy thoái tài nguyên sinh vật
a Suy thoái tài nguyên rừng
Trong các vấn đề về tài nguyên và môi trường hiện nay ở Việt Nam thì sự suy thoái tài nguyên rừng là
có quy mô lớn nhất và gây hậu quả nghiêm trọng nhất Hơn nửa thế kỉ nay, diện tích rừng tự nhiên của nước
ta đã giảm đáng kể Năm 1943, rừng tự nhiên của cả nước là 14 triệu ha với tỉ lệ che phủ rừng là 43,8%, thì đến năm 1995 diện tích rừng tự nhiên chỉ còn 8,2 triệu ha và hơn 1 triệu ha rừng trồng, tỉ lệ che phủ là 27,8
% diện tích đất đai, ngược lại đồi núi trọc tăng lên đến gần 10 triệu ha (chiếm 30,2% diện tích) Riêng Tây Bắc, vùng núi cao nhất của đất nước, tỉ lệ che phủ của rừng thấp nhất chỉ còn khoang 10% và có tới 70% diện tích đất trống đồi núi trọc Những năm gần đây, nhờ chính sách giao đất giao rừng cho dân và nhà nước tập trung chỉ đạo kế hoạch trồng rừng, rừng tự nhiên được phục hồi và diện tích rừng trồng tăng làm tăng tỉ
lệ che phủ của rừng Theo số liệu thống kê, năm 1999 tổng diện tích đất có rừng trên toàn quốc là hơn 10,9 triệu ha, nâng tỉ lệ che phủ rừng đạt 33,2%, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 9,4 triệu ha, còn rừng trồng là gần 1,5 triệu ha Trong những năm gần đây, diện tích có rừng tăng lên đáng kể, năm 2003 đạt gần 12,1 triệu
ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10 triệu và hơn 2 triệu ha rừng trồng, nâng tỉ lệ che phủ lên 36,1% Tuy nhiên, tài nguyên rừng vẫn bị suy thoái vì chất lượng rừng không ngừng giảm sút
Năm 1943, trong tổng số 14 triệu ha rừng có tới gần 10 triệu ha, tức là hơn 70% diện tích rừng thuộc loại rừng giàu có trữ lượng cao (trên
150m3/ha), năm 1990 loại rừng này chỉ còn 2,4 triệu ha, đến năm 1999 chỉ còn 2,1 triệu ha Như vậy, diện tích rừng có tăng, nhưng hiện tại phần lớn là rừng non mới phục hồi và rừng trồng chưa đến tuổi khai thác
b Suy giảm tính đa dạng sinh học
Giới sinh vật tự nhiên Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao thể hiện ở số lượng thành phần loài, các kiểu hệ sinh thái và nguồn gen quý hiếm Về thành phần loài, riêng trong giới thực vật tự nhiên, nước ta
có tới 14.624 loài thực vật thuộc gần 300 họ Còn về động vật thì nước ta có 11.217 loài và phân loài động vật, trong đó có trên 800 loài chim, khoảng 250 loài thú, trên 350 loài bò sát lưỡng cư, 5000 loài côn trùng, 2000 loài cá biển và 500 loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài tôm cua, nhuyễn thể và thuỷ sinh vật khác Các kiểu hệ sinh thái cũng rất đa dạng Trên bề mặt đất nổi có tới 15 kiểu hệ sinh thái rừng thay thế nhau từ rừng nhiệt đới ngập mặn ven biển đến rừng ôn đới núi cao, từ rừng nhiệt đới ẩm thường xanh tới các hệ sinh thái rừng gió mùa rụng lá với sinh quần thành phần loài động thực vật rất khác nhau Đặc biệt, rừng nhiệt đới ẩm ở Việt Nam thuộc hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao của thế giới Tuy nhiên, song song với hoạt động phá rừng làm mất nơi cư trú và nguồn thức ăn của giới động vật, việc săn bắt quá mức các loài chim thú đã làm suy giảm đáng kể số lượng các loài động vật hoang dã và nguồn gen thực, động vật quý hiếm Bước đầu đã xác định được ở nước ta có gần 500 loài thực vật, 85 loài thú, 63 loài chim, 40 loài bò sát, lưỡng cư đang bị mất dần, trong đó số loài thực, động vật quý hiếm đang có nguy cơ
bị tiêu diệt lên tới 100 loài thực vật, 54 loài thú và 60 loài chim
Không chỉ trên đất liền mà nguồn tài nguyên sinh vật dưới nước, đặc biệt nguồn hải sản của nước ta cũng bị giảm sút rõ rệt Nguồn lợi cá nổi (cá trích, cá nục, cá lầm ) ở ven vịnh Bắc Bộ có chiều hướng giảm dần Nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng như cá mòi, cá cháy , nhiều loài đang giảm mức độ tập trung như
cá chim, cá gúng, cá hồng Đó là hậu quả của sự khai thác đánh bắt quá mức và tình trạng ô nhiễm môi trường nước, nhất là vùng cửa sông, ven biển
Trang 21.2 Biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng và đa dạng sinh học
a Bảo vệ tài nguyên rừng
Việc bảo vệ tài nguyên rừng không chỉ là bảo vệ nguồn lợi kinh tế lớn mà còn có ý nghĩa bảo vệ môi trường Trong điều kiện thiên nhiên Việt Nam, việc phá rừng kéo theo hàng loạt hậu quả xấu đối với môi trường Trước hết là làm tăng cường quá trình xói mòn đất Lớp đất mầu đồi núi ở nơi không có rừng hàng năm bị bóc đi từ 1 - 2cm/năm, lượng đất mất khoảng 130 T/ha/năm Mất rừng, sự không điều hòa vốn có của dòng chảy sông ngòi ở Việt Nam càng trở nên khắc nghiệt, nguy cơ khô hạn lũ lụt càng ác liệt hơn Hằng năm, trong mùa mưa, lũ lụt đã tác hại thường xuyên 300 - 350 nghìn ha đất nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ và khoảng 1 triệu ha ở Nam Bộ
Như vậy, rừng giữ vai trò cân bằng hệ sinh thái môi trường Để đảm bảo vai trò của rừng đối với việc bảo vệ môi trường, theo quy hoạch thì chúng ta phải nâng độ che phủ của cả nước hiện tại từ trên 30% lên đến 45 - 50 %, vùng núi dốc phải đạt độ che phủ khoảng 70 - 80%
Dựa trên Luật bảo vệ và phát triển vốn rừng đã được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 19 - 8 - 1991, ngày 22 - 12 - 2003, Chính phủ công bố Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) Nội dung luật quy định các điều luật về quản lí, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, chức năng và nhiệm vụ của kiểm lâm, giải quyết tranh chấp và vi phạm về rừng
Sự quản lí của nhà nước về quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được thể hiện qua những quy định về nguyên tắc quản lí, phát triển, sử dụng đối với ba loại rừng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất
- Đối với rừng phòng hộ: Có kế hoạch, biện pháp bảo vệ nuôi dưỡng rừng hiện có, gây trồng rừng trên
đất trống, đồi núi trọc
- Đối với rừng đặc dụng: Bảo vệ cảnh quan, đa dạng sinh học của các Vườn Quốc gia, khu dự trữ thiên
nhiên về rừng và khu bảo tồn các loài
- Đối với rừng sản xuất: Đảm bảo duy trì phát triển diện tích và chất lượng rừng, duy trì và phát triển
hoàn cảnh rừng, độ phì và chất lượng đất rừng
Nhiệm vụ trước mắt là quy hoạch và thực hiện chiến lược trồng 5 triệu ha rừng đến năm 2010
a Bảo vệ tính đa dạng sinh học
Việt Nam được xếp vị trí thứ 10 trên thế giới về đa dạng sinh học với khoảng 10% tổng số loài được miêu tả trên thế giới, nhưng Việt Nam lại nằm trong tình trạng báo động cao nhất về mất nơi cư trú của động vật hoang dã tới 80% Việc thiết lập các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên là biện pháp hàng đầu nhằm bảo vệ tính đa dạng về các hệ sinh thái, thành phần loài và nguồn gen Hệ thống Vườn Quốc gia
và Khu bảo tồn ở nước ta ngày càng được mở rộng Theo Quyết định được phê duyệt năm 1986 là 87 khu với 7 Vườn Quốc gia, QĐ 12/1998, tổng số khu là 94, có 12 Vườn Quốc gia, 64 Khu bảo tồn thiên nhiên, 18 Khu bảo vệ môi trường - văn hoá- lịch sử Đến nay, một số khu bảo tồn được nâng cấp, hiện có 27 Vườn Quốc gia đã được thành lập Tổng diện tích hệ thống khu bảo vệ chiếm hơn 2,4 triệu ha, diện tích đất còn rừng là gần 1,5 triệu ha, chiếm gần 15% diện tích rừng tự nhiên
Trong "Sách đỏ Việt Nam" đã thống kê, phân loại 360 loài thực vật và 350 loài động vật thuộc loài quý
hiếm theo mức độ nguy cấp cần được bảo vệ khỏi nguy cơ tuyệt chủng Nhiều loài cây gỗ quý đang có nguy
cơ cạn kiệt như đinh, lim, sến, táu, hoàng đàn, dáng hương, cẩm lai, trắc, mun, gụ Nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng đã gây được sự chú ý của các tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới Liên hiệp quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã đưa vào danh sách các loài cần được bảo vệ ở Việt Nam gồm các loài voi, voọc ngũ sắc, vượn đen, hổ, nai cà tong, bò xám, bò tót, trâu rừng và xếp loài bò xám (Bos sauveli) là loài thứ 2 trong danh sách 12 loài động, thực vật trên thế giới cần được bảo vệ Nước ta
có 4 loài trong số 8 loài trâu bò hoang dã của vùng Đông Nam Á là bò xám, bò rừng Ban teng, bò tót và trâu
Trang 3rừng Các loài chim trĩ, sếu cổ trụi, trĩ sao, gà lam mào trắng, gà lam mào đen, gà lam đuôi trắng đã được Tổ chức bảo vệ chim trĩ quốc tế và Hiệp hội bảo vệ chim quốc tế nhận hỗ trợ từng bước trong chương trình bảo
vệ các loài này Vườn Quốc gia Cát Bà và khu bảo tồn thiên nhiên Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới
Trong "Sách đỏ Việt Nam" cũng đã quy định danh sách 38 loài cá nước ngọt và 37 loài cá biển, 59 loài
động vật không xương sống trong đó có 13 loài ở nước ngọt và 46 loài ở biển cần được bảo vệ
Ngoài việc cần thiết bảo vệ nguồn gen và sự đa dạng của các loài sinh vật đã quy định trong "Sách đỏ
Việt Nam", để đảm bảo sử dụng lâu dài các nguồn lợi sinh vật của đất nước, cần thực hiện nghiêm ngặt các
quy định trong khai thác như cấm khai thác gỗ quý; cấm khai thác gỗ trong rừng cấm, rừng non; cấm gây cháy rừng; cấm săn bắn động vật trái phép; cấm dùng chất nổ đánh bắt cá và các dụng cụ đánh bắt các con,
cá bột; cấm gây độc hại cho môi trường nước
2 Sự suy thoái và bảo vệ tài nguyên đất
2.1 Suy thoái tài nguyên đất
Trong điều kiện địa hình dốc, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhất là khi mất lớp phủ thực vật, đất ở nước
ta rất dễ bị suy thoái Đồng thời với diện tích rừng bị thu hẹp, tình trạng suy thoái đất đã trở nên nghiêm trọng Năm 1943, diện tích đất trống đồi trọc cả nước chỉ khoảng 2 -3 triệu ha, đã lên tới 10 triệu ha vào năm 1990, trong đó có 500 ngàn ha đất xói mòn trơ sỏi đá Những năm qua, các mô hình canh tác phủ xanh đất trống được thực hiện, diện tích đất hoang đồi trọc giảm mạnh, theo thống kê năm 2003, cả nước còn hơn 6,8 triệu ha Tuy nhiên, diện tích đất bị suy thoái vẫn rất lớn, chiếm 9,34 triệu ha Hiện tại, trong tổng số vốn đất tự nhiên của cả nước hơn 33 triệu ha, thì đất tốt chiếm chừng 20% (gồm gần 3 triệu ha đất phát triển trên
đá badơ và 3,4 triệu ha đất phù sa) Ngoài nửa triệu ha đất xói mòn trơ sỏi đá, các loại đất khác phải cải tạo chiếm tới gần 6 triệu ha, bao gồm 1,85 triệu ha đất phèn, 1,5 triệu ha đất mặn và cát biển, 1,8 triệu ha đất xám bạc màu, gần 0,5 triệu ha đất glây, than bùn, các loại loại đất chiếm diện tích ít hơn như đất nâu vàng vùng bán khô hạn, đất xám có tầng loang lổ, đất xám glây Ngay trong số 3,4 triệu ha đất phù sa có tới gần nửa diện tích là loại đất phù sa chua (gần1,7 triệu ha) cần có biện pháp nâng cao độ phì cho đất Diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng thu hẹp, độ phì cũng tiếp tục giảm, các quá trình mặn hoá, phèn hoá đất đai vùng ven biển, úng ngập, ô nhiễm vùng đồng bằng châu thổ, bạc màu thoái hoá vùng đồng bằng cao là những vấn đề cần quan tâm trong việc quản lí sử dụng đất đai nông nghiệp
2.2 Bảo vệ tài nguyên đất
a Tình trạng sử dụng tài nguyên đất
Trước thực trạng vốn đất theo đầu người ngày càng giảm, đến nay còn chưa được 0,5 ha/người, diện tích đất đai bị suy thoái tăng lên, vấn đề bảo vệ tài nguyên đất là vấn đề quan trọng thứ hai gắn với bảo vệ rừng Hiện tại, chúng ta mới có khoảng 12,1 triệu ha đất có rừng, 8,4 triệu ha đất sử dụng trong nông nghiệp, trong đó đất lúa chiếm 4,3 triệu ha Như vậy, diện tích đất nông nghiệp được sử dụng hiện nay chiếm trên 25% tổng diện tích đất tự nhiên, trung bình trên đầu người hơn 0,1 ha Hiện còn 9,28 triệu ha đất chưa sử dụng, trong đó có gần 100 nghìn ha có thể trồng lúa
Diện tích đất cần cải tạo để sử dụng cho sản xuất nông lâm nghiệp là khoảng 6,8 triệu ha đất trống đồi trọc và gần 6 triệu ha đất xấu chua, phèn, mặn, bạc màu
b Các biện pháp bảo vệ tài nguyên đất
Đối với vùng đồi núi, để chống xói mòn trên đất dốc phải áp dụng tổng thể các biện pháp thuỷ lợi, canh tác nông - lâm như làm ruộng bậc thang, đào hố vẩy cá, trồng cây theo băng Cải tạo đất hoang đồi trọc bằng
Trang 4các biện pháp nông lâm kết hợp Bảo vệ rừng và đất rừng, ngăn chặn nạn du canh du cư.
Đất nông nghiệp vốn đã ít, nên chúng ta cần có biện pháp quản lí chặt chẽ, nâng cao năng suất cây trồng Tăng vụ là một hướng quan trọng sử dụng đất đai ở nước ta Để bảo vệ đất còn cần có biện pháp chống ô nhiễm làm thoái hoá đất do chất độc hóa học, thuốc trừ sâu, nước thải công nghiệp chứa chất độc hại, chất bẩn chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh
3 Thiếu hụt tài nguyên nước và ô nhiễm môi trường nước
3.1 Tình trạng thiếu hụt tài nguyên nước
Tài nguyên nước của nước ta rất phong phú, tuy nhiên sự phân phối nước không đều trong năm và giữa các vùng khiến cho nhiều vùng luôn thiếu nước, đặc biệt trong mùa khô Riêng đồng bằng sông Cửu Long tập trung tới 61% nguồn tài nguyên nước của cả nước, nhưng chỉ chiếm 22% dân số toàn quốc Lượng nước bình quân theo đầu người của các vùng còn lại, ngay từ năm 1990 đã thấp hơn lượng nước bình quân chung của toàn cầu, theo ước tính trong thập kỉ tới sẽ ở vào tình trạng thiếu nước (với mức dưới 4000m3/ người) Vùng Bình Thuận luôn trong tình trạng khan hiếm nước, nhu cầu nước vượt quá khả năng cung cấp 1,5 lần Tình trạng thiếu hụt nước trong mùa nước kiệt chiếm diện rộng hơn và nghiêm trọng hơn, như ở Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên và ở đồng bằng sông Cửu long
Trong tình trạng chung của các nước đang phát triển, lượng nước dùng cho nông nghiệp ở nước ta chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nhu cầu nước sử dụng Nhu cầu nước cho công nghiệp, cho sinh hoạt và dịch vụ chưa nhiều, so với mức bình quân toàn cầu còn thấp hơn nhiều Tuy thế, tỉ lệ các gia đình có nước sạch theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới ở Việt Nam rất thấp, chỉ đạt 20 - 40% tuỳ vùng
3.2 Ô nhiễm môi trường nước
Nguy cơ ô nhiễm môi trường nước đáng lo ngại Hầu hết nước thải công nghiệp và đô thị đổ thẳng ra sông chưa qua xử lí Hằng năm, hoạt động công nghiệp thải trên 300 ngàn tấn các chất độc hại vào môi trường Khu công nghiệp Biên Hoà - TP Hồ Chí Minh có lượng nước thải hằng ngày là 500 ngàn m3 Tại
Hà Nội, hằng ngày có khoảng 300 000m3 nước thải đổ vào sông, hồ Trong hoạt động nông nghiệp, lượng thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ và hoá học dư thừa cũng là nguồn gây ô nhiễm nhiều vùng chứa nước ở nông thôn
4 Bảo vệ các tài nguyên khác và môi trường
Còn nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên khác đã bị suy giảm mà chúng ta chưa định lượng hết được như
sự tổn thất tài nguyên khoáng sản, sự nghèo đi của các hệ sinh thái nhất là các hệ sinh thái dưới nước, sự suy thoái các cảnh quan thiên nhiên và chất lượng môi trường sống
Do vậy, trong việc bảo vệ tài nguyên và môi trường Việt Nam, còn hàng loạt vấn đề khác, mà nay đã trở nên cấp thiết, như cần quản lí chặt chẽ viêc khai thác, sử dụng tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, sử dụng hợp
lí các vùng cửa sông ven biển để tránh làm nghèo các hệ sinh thái và làm hỏng vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên có ý nghĩa du lịch tại các vùng này Ngoài ra, vấn đề ô nhiễm môi trường cũng đã trở thành vấn đề nghiêm trọng ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, các khu đông dân và một số vùng cửa sông, ven biển
Bảo vệ tài nguyên và môi trường bao gồm việc sử dụng tài nguyên hợp lí, lâu dài và đảm bảo chất lượng môi trường sống cho con người