Một số giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Hà tây
Trang 1Lời mở đầu
Kể từ khi có Luật hợp tác xã mới (1/1/1997), kinh tế tập thể mà nòngcốt là HTX kiểu mới phát triển dưới nhiều hình thức, trình độ khác nhau trongcác ngành các lĩnh vực, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn, đã đáp ứng mộtphần nhu cầu của những người lao động, hộ sản xuất kinh doanh, góp phầnquan trọng vào quá trình phát triển đất nước
Tuy nhiên hiện nay kinh tế HTX đặc biệt là các HTX trong nôngnghiệp còn nhiều mặt yếu kém, năng lực nội tại hạn chế, số HTX làm ăn cóhiệu quả còn ít, lợi ích đem lại cho các thành viên chưa nhiều Những hạnchế, yếu kém đó có thể do trình độ phát triển thấp của lực lượng sản xuấtnhưng quan trọng hơn là do những thiếu sót kuyết điểm của các cấp uỷ Đảng
và Chính quyền từ Trung ương đến địa phương: nhận thức về vị trí ,vai trò tấtyếu khách quan của Kinh tế tập thể mà nòng cốt là kinh tế HTX chưa thốngnhất,việc tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước, giải thích mô hìnhHTX kiểu mới chưa được quan tâm đúng mức, bộ máy quản lý của Nhà nướcđối với các HTX hầu như không còn; Nhà nước vừa lúng túng vừa buônglỏng trong tổ chức chỉ đạo, chưa làm tốt việc tổ chức thi hành luật HTX, chưaquan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và kịp thời tháo gỡ khó khăn,vướng mắc cho HTX; chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệthống chính trị để đẩy mạnh phát triển các HTX Tâm lý hoài nghi, mặc cảmvới mô hình HTX kiểu cũ trong xã hội còn phổ biến
Nghị quyết Đảng IX đã xác định “ Kinh tế tập thể phát triển với nhiềuhình thức đa dạng trong đó nòng cốt là các HTX” Kinh tế Nhà nước cùng vớikinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền Kinh tế quốcdân Các HTX nông nghiệp trước hết tập trung làm các dịch vụ đầu vào ,đầu
ra phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ thành viên, từng bước
mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh tổng hợp.Mở rộng các hình thứcliên doanh liên kết kinh tế giữa HTX với các doanh nghiệp thuộc mọi thànhphần kinh tế, nhất là doanh nghiệp Nhà nước Khi HTX phát triển đến trình
độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của HTX, các liên hiệp HTX
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề phát triển các HTX trongkinh tế nông thôn nói riêng và trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá
nói chung, em đã chọn đề tài nghiên cứu là:”Một số giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Hà tây”.
Đề tài được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình và chu đáo của CôGiáo Vũ Thị Minh Do thời gian và trình độ nghiên cứu có hạn nên đề tài của
Trang 2em còn nhiều thiếu sót và hạn chế, em rất mong nhận được sự đóng góp ýkiến của quý Thầy, Cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của kinh tế hợp tác (KTHT).
Sự hợp tác trong lao động sản xuất của con người diễn ra từ rất sớm vì sựhợp tác trong lao động sản xuất là bản tính xã hội của con người ( Các Mác)thực tiễn cho thấy trong quá trình sản xuất con người buộc phải liên kết vớinhau để thực hiện những hoạt động mà từng người tách riêng ra không thểthực hiện được hay thực hiện kém hiệu quả
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất vật chất đầu tiên mà con người tiếnhành, sản xuất nông nghiệp diễn ra trên không gian rộng và chịu ảnh hưởngrất lớn bởi các điều kiện khách quan, trong đó có nhiều tác động tự nhiên tiêucực như hạn hán, bão lụt chỉ có thể được hạn chế và khắc phục khi có sựchung sức của nhiều người sản xuất Sản xuất nông nghiệp còn mang tính thời
vụ nên trong nhiều trường hợp đòi hỏi sự tập trung sức lao động và công cụlao động để hoàn thành một số công việc trong khoảng thời gian nhất định.Mặt khác, những người sản xuất nông nghiệp lại chủ yếu là các hộ nông dânvới nguồn lực rất có hạn Do vậy khác với các ngành sản xuất khác, sản xuấtnông nghiệp luôn đòi hỏi sự liên kết, sự chung sức tự nguyện giữa nhữngngười sản xuất để hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất Tuynhiên trong nông nghiệp do điều kiện sản xuất cũng như nội dung, tính chấtcủa các hoạt động sản xuất kinh doanh rất đa dạng mà sự liên kết giữa những
Trang 3người sản xuất cũng đa dạng và được thực hiện với những hình thức, quy mô
và nội dung khác nhau
Trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau, do các hoạt động kinh tế có nhữngđặc điểm riêng mà kinh tế hợp tác có đặc điểm khác Trong công nghiệp hợptác giữa những người lao động sản xuất có thể thực hiện trong mọi khâu củaquá trình sản xuất, từ đảm bảo các yếu tố đầu vào đến khâu trực tiếp sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm Ngược lại trong nông nghiệp, đối tượng của sản xuấtnông nghiệp là những cơ thể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên vàrất mẫn cảm với các tác động của tự nhiên và của con người, chúng luôn đòihỏi sự chăm sóc tỉ mỉ và thường xuyên của những người chủ thực sự và trựctiếp của đồng ruộng và chuồng trại Vì vậy trong nông nghiệp hợp tác giữanhững người lao động sản xuất thường là hợp tác trong các khâu cung ứngcác yếu tố đầu vào cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, còn khâu sảnxuất trực tiếp thì do các hộ nông dân đảm nhiệm
Traianôp cho rằng: Hợp tác xã nông nghiệp là bổ sung cho các hộ nôngdân xã viên, phục vụ nó và nếu không có nó thì kinh tế hợp tác không có ýnghĩa Nhà lý luận người Mỹ Êmiliannôp quan niệm rằng: Hợp tác xã khôngphải là một xí nghiệp tập thể mà là tập hợp xí nghiệp các hộ thành viên vẫngiữ được tính độc lập của mình, khác với các bộ phận của một xí nghiệp phụthuộc hoàn toàn vào xí nghiệp
Lênin cho rằng “Nếu chúng ta tổ chức được toàn thể nông dân vào hợp tác xãthì chúng ta đã đứng được hai chân trên miếng đất xã hội chủ nghĩa”
1.2 Những nguyên tắc cơ bản của kinh tế hợp tác.
Có thể nêu ra nhiều nguyên tắc cơ bản của kinh tế hợp tác, dưới đây chỉxin nêu ra một số nguyên tắc cơ bản nhất:
- Nguyên tắc tự nguyện: Người nông dân trên cơ sở lợi ích của mình màhoàn toàn tự nguyện, tự quyết định việc gia nhập và ra khỏi các tổ chức kinh
tế hợp tác nguyên tắc tự nguyện có vị trí hết sức quan trọng đối với kinh tếhợp tác vì chỉ có dựa trên sự tự nguyện của những người tham gia thì sự liênkết giữa những người tham gia với nhau mới là thực chất và do đó kinh tế hợptác mới có cơ sở vững chắc để hình thành và tồn tại Lênin luôn nhấn mạnh
Trang 4nguyên tắc tự nguyện và ngưòi coi tự nguyện là nguyên tắc tiên quyết củakinh tế hợp tác
- Nguyên tắc cùng có lợi: Theo nguyên tắc này lợi ích của các thành viêntham gia kinh tế hợp tác đều được đảm bảo Lợi ích kinh tế thiết thân là độnglực, là căn cứ thúc đẩy các hộ nông dân tham gia các tổ chức kinh tế hợp tác.Đây là nguyên tắc cơ bản nhất có ý nghĩa quyết định nhất đối với kinh tế hợptác
- Nguyên tắc quản lý dân chủ: Theo nguyên tắc này tổ chức và hoạt độngcủa các đơn vị kinh tế hợp tác phải thực sự dân chủ Tập thể thành viên củacác tổ chức hợp tác phải là người quyết định mọi vấn đề về tổ chức và hoạtđộng của đơn vị hợp tác mà họ tham gia
- Nguyên tắc giúp đỡ của Nhà nước: Để hình thành và phát triển kinh tếhợp tác thì không thể thiếu sự giúp đỡ của Nhà nước về tài chính, kỹ thuật…Tuy vậy do bản chất của kinh tế hợp tác mà sự giúp đỡ của Nhà nước phải tôntrọng các nguyên tắc trên thì sự giúp đỡ của Nhà nước mới phát huy hết tácdụng
1.3 Các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp rất đa dạng nên nhu cầu hợp tác trong sản xuất kinh doanh cũng đa dạng, từ đó dẫn tới tính đa dạng của các hình thức hợp
tác trong nông nghiệp Các hình thức hợp tác này phân biệt với nhau bởi tínhchất, nội dung hoạt động, quy mô hoạt động, quy mô và trình độ tổ chức Cóthể nêu ra một số hình thức chủ yếu của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp
- Tổ hợp tác: Tổ hợp tác thường có quy mô nhỏ, có nội dung hoạt động hẹp,đơn mục tiêu, hình thành và hoạt động trên cơ sở hợp tác giản đơn, chưa có tổchức chặt chẽ, thường có vốn quỹ chung, hoạt động chưa có điều lệ, khôngphải đăng ký kinh doanh nên chưa phải là pháp nhân kinh tế Các tổ hợp táctrong nông nghiệp thường không cố định
- Hợp tác xã: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, có cơ cấu tổ chức chặtchẽ, có vốn quỹ chung, được cấp đăng ký kinh doanh và có tư cách phápnhân Luật HTX nước ta quy định “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ donhững người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn,
Trang 5góp sức lập ra theo quy định của pháp luật” ở nước ta HTX được xem là hìnhthức cơ bản của KTHT
- Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp: Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp là một hìnhthức hợp tác có phạm vi hoạt động linh hoạt, thường gắn với một loại sảnphẩm trồng trọt, chăn nuôi hay một lĩnh vực hoạt động nào đó (nhu hội sinhvật cảnh, hội làm vướn, hội nuôi ong), song không phải là một tổ chức sảnxuất kinh doanh, không có tư cách pháp nhân Các thành viên tham gia chủyếu là để trao đổi, giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kỹ thuật sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm
- Hiệp hội theo sản phẩm hay nhóm sản phẩm: Đây là hình thức hợp tác cóphạm vi hoạt động rộng, có thể là phạm vi một vùng, một miền hay cả nước.Thành viên của hiệp hội là những chủ thể kinh tế (có thể thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau) tham gia hiệp hội nhằm phối hợp, hỗ trợ lẫn nhautrong sản xuất kinh doanh Hiệp hội có điều lệ hoạt động song không phải làđơn vị sản xuất kinh doanh
Mỗi hình thức KTHT nêu trên đều có vị trí, vai trò quan trọng thích hợptrong những điều kiện nhất định mà khi hình thức hợp tác nào có thể thay thế.Bât kỳ một sự áp đặt hình thức hợp tác không phù hợp nào cũng đều dẫn đếnlàm giảm hiệu quả hoạt động và làm suy yếu kinh tế hợp tác
2 Hợp tác xã:
2.1 Khái niệm.
- Theo liên minh HTX quốc tế (International cooperative alliance- ICA):
“HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đápứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoáthông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”
- Tổ chức lao động quốc(TLO) định nghĩa HTX là sự liên kết củanhững người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyệnliên kết lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ
đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết khókhăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng
Trang 6các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích và tinhthần chung.
- Ngày 20/3/1996 Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua Luật HTX Tại Điều 1 Luật khẳng dịnh:” HTX là tổ chức kinh tế tựchủ do những người lao động có nhu cầu lợi ích chung, tự nguyện cùng gópvốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể, cùng giúp nhau thực hiện
có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh “
- HTX kiểu mới là tổ chức kinh tế tự chủ của những người lao động cónhu cầu, lợi ích chung tự nguyện
2.2 Những đặc điểm cơ bản của HTX kiểu mới ở Việt Nam.
góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sứcmạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúy nhau thực hiện có hiệu quảhơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, gópphần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Hợp tác xã có tư cách pháp nhân,
có tổ chức chặt chẽ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt độngcủa mình và được đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác
- Nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã: Khi xây dựng HTX kiểumới phải đảm bảo 5 nguyên tắc cơ bản: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTXtheo quy định của điều lệ HTX; quản lý dân chủ và bình đẳng, mỗi xã viênđều có quyền ngang nhau trong biểu quyết; tự chịu trách nhiệm và cùng cólợi; chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của HTX
- Quan hệ sở hữu và phân phối trong HTX: Khi ra nhập HTX mỗi xãviên bắt buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ Phần vốn góp của xãviên thuộc sở hữu của từng thành viên, các nguồn khác thuộc sở hữu chungcủa HTX Sau khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phốinhư sau: Thanh toán các khoản bù lỗ; trích lập các quỹ của HTX; chia lãi theovốn góp và công sức đóng góp của xã viên có tính đến mức độ sử dụng dịch
vụ của HTX
- Xã viên HTX: Có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình, mỗi xã viên có thểđồng thời là thành viên cuả nhiều HTX, không phân biệt ngành, nghề, địa giớihành chính Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
Trang 7- Quan hệ giữa HTX và xã viên: HTX tôn trọng quyền độc lập tự chủkinh tế của xã viên Sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp không phá
vỡ tính độc lập tự chủ của kinh tế hộ, trang trại gia đình Nó có tác đụng tạođiều kiện phát triển tăng thu nhập cho kinh tế của các hộ xã viên Trên cơ sở
đó mà thúc đẩy sự phát triển của kinh tế HTX
- Điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể HTX: Khi thành lập HTX cầnphải có điều lệ, phương án sản xuất kinh doanh cụ thể có tính khả thi, đượcđại hội xã viên thông qua và cơ quan có trách nhiệm phê duyệt Trong trườnghợp giải thể theo nghị quyết của đại hội xã viên, hoặc bị buộc phải giải thểtheo quyết định của pháp luật, HTX phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với cơquan có thẩm quyền Đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên có thẩmquyền quyết định cao nhất đối với mọi hoạt động của HTX
- HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên tự nguyện lập ra, nókhông phải là một tổ chức xã hội HTX hoạt động theo luật pháp quy địnhtrước hết về mục tiêu kinh tế HTX chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ xãhội đối với các xã viên của chính HTX, không thể biến HTX thành một tổchức xã hội, hoặc bắt buộc HTX làm nhiệm vụ như một tổ chức thành viêntrong hệ thống chính trị của địa phương
2.3 Các loại hình HTX
Căn cứ vào điệu kiện cụ thể của Việt Nam việc phan loại HTX thườngđược dựa vào: Chức năng hoạt động, tính chất trình độ xã hội hoá, quy mô vàđặc điểm hình thành HTX
- HTX dịch vụ: Bao gồm 3 loại: HTX dịch vụ từng khâu, HTX dịch vụtổng hợp đa chức năng và HTX dịch vụ “đơn mục đích” hay HTX “chuyênngành” HTX dịch vụ từng khâu có nội dung hoạt động tập chung vào từnglĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu công việc trong qua trìnhsản xuất HTX dịch vụ tổng hợp - đa chức năng có nội dung hoạt động đadạng, gồm nhiều khâu dịch vụ cho sản xuất cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụsản phẩm …HTX dịch vụ “đơn mục đích” hay HTX “chuyên ngành” thườngđược hình thành từ nhu cầu của các hộ thành viên cùng sản xuất – kinh doanhmột loại hàng hoá tập trung, hoặc cùng làm một nghề giống nhau
Trang 8- HTX sản xuất kết hợp dịch vụ: HTX loại này có đặc điểm nội dunghoạt động sản xuất là chủ yếu, dịch vụ là kết hợp Thường phù hợp trong cácngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, nghề đánh cá, nghề làm muối.
- HTX sản xuất – kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện: Đặc điểm cơbản của mô hình HTX này là: cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máyquản lý theo nguyên tắc của HTX kiểu mới; sở hữu tài sản trong HTX gồmhai phần sở hữu tập thể và sở hữu cổ phần; HTX hoạt động sản xuất – kinhdoanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm phát triển kinh tế HTX và đem lại lợi íchcho xã viên; HTX loại này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xâydựng, khai thác
II.khái niệm và đặc điểm Hợp tác xã nông nghiệp.
1 Khái niệm.
Từ khái niệm về hợp tác và kinh tế hợp tác xã ta có thể hiểu hợp tác xãtrong Nông nghiệp như sau: HTX nông nghiệp trước hết là một tổ chức củakinh tế hợp tác của những người sản xuất nông nghiệp Được thành lập trênnguyên tắc tự nguyện, dân chủ nhằm đáp ứng những yêu cầu về dịch vụ đadạng trong sản xuất nông – lâm – ngư và đời sống của chính các xã viên thamgia HTX nông nghiệp có thể là các tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân, ítnhất trên 3 lĩnh vực: thứ nhất đó là lĩnh vực cung ứng các yếu tố đầu vào củasản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu… hợp tác trong khâu làm đất, thuỷ lợi,thứ hai trong lĩnh vực giải quyết đầu ra của sản xuất nông nghiệp bao gồmhoạt động thu mua chế biến đóng gói và tiêu thụ nông sản ở thị trường trong
và ngoài nước, thứ ba trong lĩnh vực trực tiếp tổ chức sản xuất tập trung trongtrồng trọt, chăn nuôi, kể cả nuôi thuỷ sản
2 Đặc điểm của hợp tác xã nông nghiệp.
2.1.Quyền hạn và nghĩa vụ của hợp HTX nông nghiệp.
- HTX nông nghiệp có quyền về lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực, quy môsản xuất kinh doanh, địa bàn hoạt động, quyết định cơ cấu tổ chức, thuê laođộng, xuất nhập khẩu, phân phối thu nhập, huy động vốn, được bảo hộ bí
Trang 9quyết về công nghệ và quyền từ chối những can thiệp từ bên ngoài trái vớiquy định của pháp luật.
Cụ thể hơn chi tiết hơn một số nội dung đặc thù của HTX nông nghiệp:thứ nhất chủ động tổ chức các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệptheo khả năng, lợi thế và tập quán sản xuất Thứ hai, chủ động tìm kiếm cáckhả năng phát triển các ngành nghề khác nhau để đa dạng hoá kinh tế HTX,thoát dần khỏi tình trạng thuần nông và độc canh, hiệu quả thấp
- Về nghĩa vụ: Giống như các loại hình doanh nghiệp khác HTX phảitiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ ngành nghề đã đăng ký,thực hiện các nghĩa vụ về việc bảo đảm các quyền của xã viên, thực hiệnnghĩa vụ đối với xã viên trực tiếp lao động cho HTX và người lao động làmthuê Ngoài ra phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước và toàn xãhội
2.2 Điều kiện xã viên, quyền lợi, nghĩa vụ của xã của HTX nông nghiệp.
- Điều kiện để trở thành xã viên HTX nông nghiệp: Là công dân laođộng nông nghiệp hoặc lao động trong một số hoạt động gắn bó mật thiết vớilĩnh vực nông nghiệp từ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, làngười dân sống trong cùng cộng đồng nông thôn
- Quyền lợi của xã viên HTX nông nghiệp: Được làm việc cho HTX vàhưởng thù lao theo lao động, được hưởng phần lãi chia theo vốn góp, theocông sức đóng góp và mức độ sử dụng dịch vụ HTX, được HTX cung cấp cácthông tin cần thiết, được bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, đượchưởng các phúc lợi chung của HTX, được khen thưởng khi có nhiều đóng gópxây dựng và phát triển HTX
- Nghĩa vụ của xã viên HTX nông nghiệp: Gồm hai mặt nghĩa vụ vậtchất và nghĩa vụ chính trị Cụ thể, chấp hành điều lệ, góp vốn theo quy định,cùng chịu rủi ro, thiệt hại và các khoản lỗ của HTX trong phạm vi vốn gópcủa mình, bồi thường thiệt hại cho mình gây ra cho HTX theo quy định củađiều lệ
2.3 Quan hệ tài sản và tài chính của HTX nông nghiệp.
Trang 10- Quan hệ tài sản trong HTX nông nghiệp: Tài sản của HTX nông nghiệpđược hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, đó là nguồn vốn góp của xã viêndưới dạng tiền tệ hoặc hiện vật quy ra giá trị; nguồn vốn vay ngân hàng và các
tổ chức kinh tế; nguồn quà biếu theo tính chất kinh tế và pháp lý của nhuồngốc hình thành tài sản của HTX phân thành: nhóm tài sản từ nguồn nội tại vànhóm tài sản từ bên ngoài Quan hệ tài sản trong HTX nông nghiệp rất đadạng, những tài sản mang tính cộng đồng là những tài sản có giá trị lớnthường là tài sản thuộc về các công trình công cộng
Quan hệ tài chính trong HTX nông nghiệp: Quan hệ tài chính trong HTXnông nghiệp phản ánh sự vận động của các dòng tiền tệ diễn ra trong HTXtrong quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ Cụ thể là những nguyên tắctrong việc huy động vốn góp của xã viên các nguồn vốn khác để phát triểnsản xuất kinh doanh và phân phối lãi trong HTX nông nghiệp
2.4 Cơ sở khoa học về tổ chức quản lý HTX nông nghiệp
Các HTX nông nghiệp thực hiện quản lý dựa trên việc hình thành bađịnh chế cơ bản đi từ dân chủ đến tập trung đó là: Đại hội xã viên, ban quảntrị, ban kiểm soát Trong đó đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất vàthực hiện quyền lực của mình dựa trên nguyên tắc dân chủ tổng hợp quyềnlực của các xã viên, thể hiện ở chỗ có quyền quyết định mọi vấn đề về tổchức, hoạt động của HTX, có quyền lập ra ban quản trị, ban kiểm soát, chủnhiệm HTX cũng như các chức danh quan trọng khác
Ban quản trị HTX nông nghiệp có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thựchiện kế hoạch sản xuất kinh doanh dịch vụ huy động vốn trong HTX nôngnghiệp Ban quản trị có quyền lựa chọn kế toán trưởng, cơ cấu tổ chức và các
bộ phận nghiệp vụ, chuyên môn HTX
Ban kiểm soát thực hiện quyền giám sát, kiểm tra ban quản trị và xã viêntrong việc thực hiện nghị quyết của đại hội xã viên
Chủ nhiệm HTX đại diện trước pháp luật để quan hệ đối ngoại, chủ độngđiều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, được quyền triệu tậpcác cuộc họp ban quản trị để thảo luận và quyết định các vấn đề phát sinh
Trang 112.5 Cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa nhà nước với HTX nông nghiệp.
Nhà nước được xem như một nhân tố cơ bản trong việc nuôi dưỡng pháttriển những nhu cầu hợp tác, hỗ trợ sự hình thành và trưởng thành của từngHTX cũng như toàn bộ phong trào HTX Mối quan hệ nhà nước – HTXthường được thể hiện trên hai mặt:
Thứ nhất, quan hệ trực tiếp: quan hệ này thường bắt đầu từ chức năngcủa nhà nước trong lĩnh vực tổ chức các hoạt động kinh tế của xã hội, đó làtạo khung pháp lý cần thiết cho các lực lượng thị trường hoạt động có hiệuquả Ngoài ra Nhà nước còn tổ chức các cơ quan hỗ trợ phát triển HTX vớichức năng theo dõi giám sát việc thi hành luật pháp của HTX
Thứ hai, quan hệ gián tiếp: mối quan hệ này rất đa dạng nhiều cấp độkhác nhau tuỳ thuộc rất nhiều vào quan điểm, cách nhìn của từng chính phủđối với khu vực kinh tế HTX Chẳng hạn, chính phủ có thể coi HTX làphương tiện để thực hiện các chính sách kinh tế của mình, khi đó chính phủ sẽ
có nhiều hỗ trợ vật chất cụ thể để tác động lên hệ thống này, hoặc nếu chínhphủ chỉ nhìn nhận HTX là một trong nhiều tổ chức kinh tế của lực lượng thịtrường khi đó chính phủ sẽ không sử dụng các yếu tố tác động riêng hoặc ưuđãi nào đối với HTX
III tính tất yếu khách quan của kinh tế hợp tác và hợp tác xã ở Việt Nam
Lịch sử phát triển kinh tế xã hội thế giới đã chứng minh rằng: sự phát triểncủa chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường đã trải qua nhiều giai đoạn khácnhau, song về mặt cơ cấu và tổ chức kinh tế thì trong mỗi giai đoạn đều tồntại rõ nét ba khu vực khác nhau với vai trò vị trí và quy mô của mỗi khu vựcđược biến đổi theo sự phát triển ở mỗi giai đoạn Khu vực kinh tế cá thể tưnhân là khu vực có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế TBCNphát triển với nhịp độ tăng trưởng cao, khu vực kinh tế nhà nước, nhìn chunghoạt động kinh doanh trì trệ kém năng động, hiệu quả kinh tế thấp kém hơnkhu vực tư nhân, song lại có vai trò tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân và cáckhu vực khác phát triển Song song với hai khu vực kinh tế trên, hình thức tổ
Trang 12chức HTX ngày càng phát triển, tuy không phải là khu vực chính để tạo ratăng trưởng kinh tế mà là khu vực phụ trợ, song khu vực này có vai trò, vị tríqan trọng trong giải quyết việc làm đảm bảo đời sống cho đông đảo người laođộng( nhất là ở các nước đang phát triển) tạo sự ổn định xã hội và môi trườngthuận lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Quá trình phát triển kinh tế Việt Nam cũng cho thấy vai trò, vị trí củacác khu vực kinh tế ở từng thời kỳ là khác nhau ở giai đoạn thực hiện cơ chế
kế hoạch hoá tập trung và phân chia nền kinh tế thành hai khu vực: Khu vựckinh tế XHCN và khu vực kinh tế phi XHCN thì khu vực kinh tế XHCN đónggóp 58.8% thu nhập quốc dân, khu vực kinh tế phi XHCN đóng góp 41,19%thu nhập quốc dân
Bước sang giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, so sánhgiữa vốn nắm giữ của các doanh nghiệp với kết quả đóng góp thấy khá rõ:Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ tỷ trọng vốn lớn hơn 68% tổng vốn doannhnghiệp nhưng đóng góp trong tổng sản phẩm xã hội GDP là 40,29%, ngượclại khu vực ngoài quốc doanh chỉ nắm dưới 10% tổng số vốn các doanhnghiệp nhưng đóng góp đến 41,4% tổng GDP, HTX góp 8,9%, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài 9,8% tổng GDP
Chúng ta thấy rõ KTHT và HTX không phải là khu vực đem lại lợinhuận cao và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế vì mục tiêu hoạt động của khuvực này không đơn thuần chạy theo lợi nhuận nhưng lại có vai trò to lớn trongviệc mang lại lợi ích cho người lao động cá lẻ đảm bảo sự ổn định xã hội,thông qua sự giúp đỡ hỗ trợ với mọi người lao động có cơ hội tham gia vàoquá trình phát triển kinh tế, bản thân họ và cộng đồng mà nếu để họ tự làm sẽgặp không ít khó khăn Mặt khác, hình thức hợp tác này họ có thể tiếp nhận
và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn hỗ trợ của nhà nước và các tổ chứckinh tế xã hội đối với họ Với đặc điểm kinh tế nước ta còn chưa phát triển vàkinh tế nông thôn, nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao (cả về lực lượng lao động
và giá trị đóng góp cho xã hội) bộ phận dân cư nghèo và yếu về kinh tế cònkhá lớn Do đó đồng thời với quá trình tăng trưởng , thúc đẩy tăng trưởng vầphát triển kinh tế phải hết sức coi trọng xây dựng quan hệ sản xuất mới phù
Trang 13hợp với từng gia đình của lực lượng sản xuất KTHT và HTX đặc biệt đối vớinông nghiệp , nông thôn có ý nghĩa vai trò vô cùng quan trọng trong quá trìnhphát triển nền kinh tế nước nhà theo định hướng XHCN Song cùng với sựphát triển của toàn nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tấtyếu đòi hỏi KTHT và HTX không chỉ dừng lại ở các hình thức thô sơ mà phải
tự đổi mới luôn coi trọng việc trang bị và sử dụng các công nghệ kỹ thuật hiệnđại, nâng cao năng suất chất lượng mẫu mã chủng loại của sản phẩm làm ra,đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường Đó là con đường đi lên mangtính quy luật khách quan mà kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới đã chỉ ra
IV khái quát tình hình phát triển Hợp tác xã Nông nghiệp ở việt nam
Tình hình phát triển của HTXNN Việt Nam có thể chia thành các giaiđoạn với các bước phát triển và hạn chế như sau:
1 Giai đoạn 1955- 1958:
Thí điểm xây dựng các HTX nông nghiệp
Trong nông nghiệp, sau cải cách ruộng đất chế độ bóc lột ruộng đấtphong kiến bị xoá bỏ, nông dân giành quyền làm chủ, hai triệu hộ nông dânnghèo chia 8 vạn ha ruộng hăng hái làm ăn theo con đường hợp tác mà Đảng
đã vạch ra Khởi đầu là các tổ vần đổi công Đổi công tự nguyện của nôngdân Ngay từ đầu 1955 đã thành lập 153.000 tổ đổi công với 1.094.000 hộtham gia, chiếm 40,5% số hộ nông dân trong đó 12400 là các tổ đổi côngthường xuyên với số hộ nông dân bằng 8,1% số hộ tham gia các tổ đổi công.Đến 1958 tổng số tổ đổi công tăng lên 244.000 thu hút 65.7% tổng số hộ nôngdân, trong đó tổ thường xuyên là 74.500 thu hút 32% số hộ tham gia hợp tác.Hình thức hợp tác lao động giản đơn dưới dạng tổ đổi công tự nguyện tronggiai đoạn này rất có hiệu quả, phù hợp với tâm lí và nguyện vọng của đôngđảo nhân dân, nên đã có tác dụng tích cực đến sản xuất nông nghiệp và quan
hệ sản xuất mới trong nông thôn Trên cơ sở xác định các tổ đổi công, Đảng
ta đã hình thành chủ trương về đẩy mạnh hợp tác hoá trong nông nghiệp Thực hiện chủ trương đó trong nông nghiệp tính đến cuối 1957 đã thí điểm
Trang 14xây dựng 42 HTX ở các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên và Thanh Hoá Các HTXthí điểm chủ yếu được hình thành từ các tổ đổi công có quy mô xóm hoặcthôn bình quân 20-30 hộ xã viên, có ban quản trị rất gọn nhẹ từ 2-3 người và
1 kiểm soát viên, hình thức hợp tác chủ yếu là cùng làm chung và phân phốitheo công điểm Các tư liệu sản xuất chung vẫn của riêng hộ xã viên, quyền
sở hữu ruộng đất của từng hộ vẫn được đảm bảo, nhưng được HTX sử dụng
để sản xuất chung và chia hoa lợi hàng năm cho hộ xã viên Đất khai hoang,tăng vụ được giảm và miễn thuế, được tự do thuê nhân công Với chủ trươngđúng đắn đó đã tạo ra sự hăng hái phấn khởi trong nông dân, sản xuất pháttriển, đời sống nông dân và bộ mặt nông thôn có sự thay đổi rõ rệt, bình quânlương thực đầu người tăng từ 257(1957) lên 304 kg (1958) và 334 kg (1959)
và kỹ thuật lạc hậu Nghị quyết số 16 TW tháng 4/1959 nhận định” Còn chế
độ tư hữu tư nhân về TLSX và lối làm ăn cá thể thì vẫn còn cơ sở vật chất vàđiều kiện cho khuynh hưóng TBCN phát triển” Từ quan điểm này NQ 16
TW qưuyết định cần phải cải tạo sản xuất cá thể thành nền sản xuất tập thể,chặn đứng con đường TBCN ở nông thôn, cứu nông dân thoát khỏi nanh vuốtcủa CNTB góp phần củng cố liên minh công nông Nguyên tắc xây dựngHTX là” Dân chủ, tự nguyện, cùng có lợi Ưu tiên kết nạp xã viên là bần cốnông, trung nông lớp dưới, sau đó mới kết nạp trung nông, không bố trí trungnông vào vị tríchủ chốt”
Về hình thức tổ chức: HTX bậc thấp trả hoa lợi ruộng đất, HTX bậccao tập thể hoá TLSX, xoá trả hoa lợi ruộng đất
Về quản lý: HTX thốngnhất quản lý điều hành đến từng lao động theocông việc chung
Trang 15Về phân phối: Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động bằngphương pháp “trừ lùi”, thuế quỹ, chi phí sản xuất, các khoản điều hoà Còn lạichia theo ngày công theo chế dộ kinh tế hiện vật.
Sau NQ 16 TW đã xuất hiện một cao trào vận động nông dân vào HTXnông nghiệp bằng nhiều biện pháp, nhằm mục tiêu hoàn thànhnhiệm vụ hợptác hoá nông nghiệp vào năm 1960 Chỉ trong 1 năm từ mùa hè 1959 đến mùathu 1960 đã đưa 2,4 triệu hộ vào HTX bằng 84,8% số hộ nông dân và 70%diện tích ruộng đất vào làm ăn tập thể trong 41000 HTX nông nghiệp , ở miềnbiển thu hút 75% thuyền lưới vào HTX Quy mô HTX lúc này khoảng 40-50
hộ xã viên trong đó có 10% HTX bậc cao
Về lao động: Các HTX nông nghiệp đã thu hút được 4,93 triệu ngườitrong tổng số 5,75 triệu lao động hiện có ở nông thôn ( khoảng 85%).Đồngthời với quá trình xây dựng và phát triển HTX nông nghiệp trong nông thôncũng tiến hành xây dựng và phát triển các HTX tín dụng , đến năm 1956 đãxây dựng được 5294 cơ sở với 2082000 xã viên tham gia chiếm 71% tổng số
hộ nông dân miền Bắc Mỗi HTX tín dụng hoạt động trên quy mô một xã,đóng vai trò cho kinh tế phụ gia đình vay vốn để mua lương thực, thuốc men,sửa chữa nhà cửa của xã viên HTX nông nghiệp
3 Giai đoạn 1961-1980:
Giai đoạn củng cố hoàn thiện đưa HTX nông nghiệp bậc thấp lên bậccao, mở rộng quy mô HTX theo mô hình tập thể hóa Xây dựng các HTX cấphuyện ở miền Bắc và thực hiện mô hình HTX tập thể hoá ở miền Nam saugiải phóng với mong muốn thúc đẩy nhanh quá trình cải tạo XHCN trên phạm
vi cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH
Ơ giai đoạn đầu 1961-1975 phong trào hợp tác hoá bộc lộ nhiều nhượcđiểm biểu hiện là sự không phù hợp của mô hình HTX bậc cao Quá trìnhcủng cố và mở rộng quy mô HTX luôn luôn trái ngược với kết quả trong sảnxuất nông nghiệp Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, sản xuấtnông nghiệp ngày càng sa sút, kinh tế HTX ngày càng biểu hiện tiêu cực: mấtđân chủ, tham ô , lãng phí thu nhập của xã viên HTX đã thấp lại càng giảm.Thời kỳ1966-1972, tốc độ tăng thu nhập bình quân hàng năm là 13,6% thì tốc
Trang 16độ tăng chi phí là 15,1% Tương tự thời kỳ 1973-1975 là 23,75% và 75%.Năm 1972, giá trị tài sản cố định HTX thất thoát tới 35,4%, quỹ tích luỹ khấuhao tính khống 40,7% Mức lương thực bình quân đầu người giảm từ17kg/người/tháng 1965 xuống còn 10,4 kg năm 1980 Xã viên HTX chán nản,ruộng đất bỏ hoang hoá, số lượng ngưòi xin ra khỏi HTX ngày càng tăng, đờisống nông dân gặp nhiều khó khăn, bao trùm đời sống ở nông thôn miền núi
là tinh thần đoàn kết đùm bọc, chia sẻ khó khăn, tất cả giành cho tiền tuyến.Giai đọan này khối lượng lương thực nhập khẩu tăng liên tục qua cácnăm( Năm 1966 nhập khẩu 388,1 ngàn tấn, năm 1975: 1055 ngàn tấn)
Giai đoạn 1976-1980: ở miền Nam, số HTX tổ đổi công tăng lên nhanhchóng, thậm chí dùng cả biện pháp hành chính đưa nông dân vào HTX Giaiđoạn này nền kinh tế đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng,trước hết là tình trạng khủng hoảng kinh tế tập thể trong nông nghiệp trênphạm vi cả nước
Chỉ thị 100 đã mang lại một sinh khí mới cho nông nghiệp giai đoạn1981-1985,được coi là thời kỳ thành công của quá trình thực hiện chỉ thị 100.Sau đó những hạn chế của khoán 100 bộc lộ rõ: hoạt động quản lý yếu kém,phân phối bình quân bao cấp, chi phí bất hợp lý đã dẫn đến tình trạng vi
Trang 17phạm lợi ích của người lao động, tỷ lệ vượt khoán ngày càng giảm, nông dânchán nản, trả ruộng khoán ngày càng nhiều.
5 HTX nông nghiệp giai đoạn 1986-1996.
Dưới tác động của cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng tới người lao độngtheo chỉ thị 100, cơ chế quản lý đã tháo gỡ được một bước, tạo điều kiện cho
xã viên chủ động trong sản xuất sau khi nhận khoán với HTX do đó đã tạo rađộng lực và trong HTX nông nghiệp tình hình sản xuất nông nghiệp nhữngnăm đầu thập kỷ 80 có sự khởi sắc sau thời sa sút vào cuối thập kỷ 70
Tuy nhiên, cơ chế khoán theo chỉ thị 100 chủ yếu mới giải phóng laođộng và một phần quan hệ phân phôí, quan hệ sở hữ vẫn như tình trạng baocấp, phân phối theo công điểm, quản lý tập trung, mệnh lệnh, thu nhập từ kinh
tế tập thể thấp, mức khoán không ổn định, tình trạng tham ô, lãng phí trongHTX vẫn tiếp diễn nông dân xã viên vẫn phải chịu nhiều khoản đóng góp,điều bất hợp lý, làm cho mức thu nhập giảm dần, động lực tạo ra nhanh chóng
bị suy giảm, người sản xuất không yên tâm, tình trạng chán nản tăng lên, hộ
xã viên trả lại ruộng khoán ngày một tăng
Năm 1993, Luật HTX được ban hành , hộ xã viên được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất lâu dài và được hưởng 5 quyền HTX rút dần khỏicác hoạt động trực tiếp tiến hành sản xuất để chuyển giao quyền tự chủ cho hộ
xã viên Quan hệ HTX – hộ xã viên chuyển dần sang quan hệ hợp đồng kinh
tế giữa hai chủ thể bình đẳng theo các nguyên tắc thoả thuận, xoá bỏ chế độphân phối công điểm trong HTX Bộ máy quản lý HTX giảm nhẹ, phổ biếntới40-50%, các khoản chi phí bất hợp lý trong HTX cũng giảm, dần xoá bỏ tệrong công, phóng điểm và tham ô công quỹ
Trước sự thay đổi của cơ chế mới, các HTX nông nghiệp kiểu cũ gặpnhiều khó khăn, lúng túng, lâm vào tình trạng trì trệ, suy giảm tác dụng đốivới hộ xã viên tự chủ, thậm chí một bộ phận HTX , đặc biệt các tập đoàn sảnxuất tan rã: Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp &PTNT từ 1988 đến 1995 giảithẻ 2958 HTX và 33804 TĐsản xuất nông nghiệp , đồng thời số hộ xã viêntham gia HTX và TĐsản xuất cũng giảm mạnh từ 86%xuống còn 10% ở cáctỉnh Nam bộ, mỉền núi phía Bắc giảm từ 91% xuống 45%
Trang 18Số HTX còn lại buộc phải tiến hành đổi mới mạnh mẽ về cơ cấu tổchức và cơ chế quản lý nội bộ theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, nhiều chứcdanh được lồng ghép để giảm bớt chi phí quản lý Nhiều HTX phải chia nhỏcho phù hợp với trình độ quản lý, đến năm 1995 cả nước còn 16.243 HTX và
2548 TĐ sản xuất với 64% số hộ nông dân cả nước Các HTX đang tồn tại cóthể chia thành ba nhóm theo mức độ dịch vụ cho hộ xã viên và hiệu quả hoạtđộng:
Loại hoạt động tốt: 2528 đơn vị chiếm 15,5% tổng số, là những HTXcòn vốn, có đội ngũ cán bộ giỏi, có hướng hoạt động tốt, làm tốt công tác dịch
vụ tưới tiêu, BVTV, giống, kỹ thuật, vật tư, vốn cho xã viên, HTX có vốn vàtài sản Bình quân tài sản cố định một HTX thuộc nhóm này khoảng 742 triệuđồng
Loại hoạt động cầm chừng ở một vài khâu công việc nhưng kết quảthấp 6562 đơn vị, chiếm 40,4% tổng số HTX còn ít vốn, nợ đọng nhiều vàban quản lý kém năng động hoặc trì trệ
Loại không hoạt động, tồn tại hình thức:7152 đơn vị chiếm 43,3% Đây
là những HTX đã hoàn toàn mất vai trò của KTHT, xã viên không an tâm vàtin tưởng vào bộ máy quản lý cũng như bộ phận kinh tế tập thể của HTX
6 Giai đoạn từ khi có Luật HTX ra đời và có hiệu lực (1/1/1997) đến nay.
6.1 Một số thành công bước đầu.
Thứ nhất: việc ban hành Luật HTX cùng một loạt các nghị định, thông
tư hướng dẫn thực hiện chỉ thị của Đảng và nghị định của Chính phủ về HTX
đã thể hiện rõ quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước trong việc tiếp tục đổimới và phát triển các HTX ở Việt Nam Lần đầu tiên HTX có một khungpháp lý tương đối đầy đủ, bảo vệ và điều chỉnh các hoạt động, với tư cách làmột tổ chức kinh tế bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong cơ chếthị trường đó là một thành tựu rất đáng kể trong đổi mới từ nhận thức tư duyđến chỉ đạo hành động của Đảng ta
Thứ hai: đổi mới HTX sau khi Luật HTX ra đời diễn ra toàn diện trên cơ
sở những quy định về tiêu chuẩn và nguyên tắc HTX mà pháp luật quy định
Trang 19HTX được thành lập trên cơ sở phải xác định rõ về: tư cách xã viên, vốn góptối thiểu, phương án sản xuất kinh doanh, điều lệ HTX và hàng loạt các quyđịnh khác Những điều kiện này trở thành tiêu chuẩn cụ thể mang tính địnhlượng mà từ trước đến nay chưa từng được quy định Với những quy định vàràng buộc như vậy rõ ràng là việc chuyển đổi các HTX cũ cũng như việcthành lập HTX mới theo Luật HTX đã thể hiện rõ tính chất tích cực và toàndiện, đề cao chất lượng và các nguyên tắc hợp tác cũng như nhu cầu kháchquan là điều kiện tiên quyết
Thứ ba: kết quả chuyển đổi các HTX cũ thu được một số kết quả như
sau: nhìn chung, mô hình HTX sau chuyển đổi thường gồm hai loại, thứ nhấtHTX có đông xã viên, thứ hai HTX có ít xã viên Số HTX sau chuyển đổi loại
có đông xã viên chiếm tỷ lệ cao hơn số HTX có ít xã viên tuy nhiên hiệu quảhoạt động thì loại HTX có ít xã viên hoạt động tốt hơn (xem bảng 1.)
Trang 20
Bảng 1: Quy mô HTX tính theo số liệu xã viên của HTX đã chuyển đổi.
Tây Nguyên
Miền Nam
Tổngsố
Nguồn: số liệu điều tra xã hội học năm 1999.
Cụ thể các HTX sau chuyển đổi đạt được một số kết quả như sau:
Làm rõ tài chính của các HTX cũ và mới,tỷ lệ xã góp vốn của xã viênbình quân tăng 2,5 lần so với trước khi chuyển đổi, cổ phần của xã viên trongHTX được xác định rõ hơn Từ bảng 2 cho thấy các chỉ số về tổng số vốnbình quân một HTX cũng như tài sản lưu động so với tổng số vốn của HTX ởcác vùng rất khác nhau: ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, các sốliệu nói trên đều thấp hơn so với mức trung bình của các HTX ở miền Bắc Sovới các HTX ở miền Nam thì tỉ lệ này còn thấp hơn nhiều
Bảng 2: Tài sản, vốn của HTX nông nghiệp chuyển đổi
Bìnhquân/HTX(Triệuđồng)
Tài sản cố định Tài sản lưu độngSố
lượng(Triệuđồng)
Bìnhquân/HTX(Triệuđồng)
Sốlượng(Triệuđồng)
Bìnhquân/HTX(Triệuđồng)
Trang 21Nguồn: số liệu điều tra xã hội học năm 1999
Đối với khoản nợ HTX phải thu : tính bình quân một HTX có số nợphải thu khoảng 50 triệu đồng, trong đó xã viên nợ HTX chiếm khoảng 70-90% Đa số các HTX đã thực hiện việc giảm, xoá một số khoản nợ như: giảmcác khoản xã viên nợ từ trước năm 1998, giảm nợ của các hộ gia đình thươngbinh, liệt sĩ, gia đình nghèo neo đơn, xoá nợ đối với những người đã chết, các
hộ gia đình chuyển đi nơi khác sinh sống
Đối với các khoản nợ phải trả :hầu hết các HTX chuyển đổi đã làm rõ
về cơ sở pháp lý các khoản nợ HTX phải trả và đã loại trừ khỏi phần vốn khiphân bổ vốn góp cho xã viên tham gia HTX mới Nhìn chung sau khi đã cốgắng thu nợ,các HTX đã bàn giao cho HTX mới hoặc UBND về các khoảncông nợ của HTX cũ
Xác định nội dung và phạm vi hoạt động của HTX,xã viên được biết,tham gia và có quyền kiểm tra hoạt động của HTX thông qua bộ máy quản lý
do đại hội xã viên lựa chọn.Nhiều HTX đã xây dựng được phương hướng sảnxuất kinh doanh có tính khả thi, phù hợp với nhu cầu của thị trường, HTX vàkhả năng của cơ sở
Quan hệ giữa xã viên với ban quản trị được quy đinh rõ trên cơ sở xácđịnh chức năng, quyền hạn của các bên
Xoá bỏ sự can thiệp hành chính của chính quyền địa phương vào côngviẹc nội bộ của HTX những việc làm trên đây đã không thể thực hiện được
Trang 22trong những năm chưa có luật HTX, đồng thời quạ chuyển đổi có căn cứ đểđưa ra các biện pháp phù hợp giúp đỡ các HTX phát triển.
Thứ tư, việc thành lập HTX kiểu mới có sự phát trồng triển khá về sốlượng và loại hình; theo thống kê bước đầu số lượng HTX thành lập mới là
1563 đơn vị Phần lớn các HTX này có đội ngũ cán bộ giỏi , có năng lực xãviên là những người có quyết tâm cao trong việc xây dựng và phát triển HTXcủa mình Các HTX mới thành lập nhìn chung đã thực hiện tương đối đầy đủquy định của luật pháp: xác định rõ xã viên, góp vốn khi vào HTX, có phương
án sản xuất kinh doanh và điều lệ rõ ràng Bên cạnh vệc hình thành các HTXkiểu mới, đã xuất hiện một số mô hình hợp tác, liên kết giữa HTX với các loạihình HTX khác( như liên kết với DNNN, với công ty TNHH ) bước đầu đemlại kết quả
Thứ năm: Tính đa dạng trong hoạt động của HTX tăng lên, dịch vụ vănhoá, trường học, chăn nuôi, thú y, điện năng, chế biến dược liệu ở khắp cácvùng trong cả nước Điều này cho thấy HTX có nhiều triển vọng và khả năngphát triển đa dạng không đơn điệu và chỉ “đóng khung” ở một số ngành sảnxuất như trước kia
6.2 Một số tồn tại và nguyên nhân.
Thực trạng phát triển HTX ở một số địa phương nổi lên một số vướngmắc như sau:
Tiến độ chuyển đổi còn chậm và không đồng đều, nguyên nhân của sựchậm chễ này xuất phát từ hai mặt chủ quan và kách quan Về chủ quan, doviệc ban hành các văn bản dưới luật của các Bộ , ngành còn chậm so với quyđịnh của Chính phủ Những tỉnh có sự lãnh đạo sát sao của Đảng và chínhquyền thì công tác chuyển đổi HTX đã hoàn thành như: Đà Nẵng, QuảngNam, Tiền Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, Hà Tây, Hưng Yên ở một số tỉnh miềnnúi do quan điểm của các cấp uỷ, cơ quan địa phương muốn thông quachuyển đổi phải giữ được HTX kiểu cũ vì liên quan đến an ninh biên giới và
ổn định chính trị ở nông thôn nên công tác chuyển đổi diễn ra rất chậm thậmchí dẫm chân tại chỗ.Lý do khách quan là điều kiện thông tin, phổ biến vàtuyên truyền vầ mục đích yêu cầu, cách làm trong chuyển đổi đối với cán bộ
Trang 23cơ sở và người lao động gặp nhiều khó khăn nhất là các tỉnh ở xa, điều kiệntài chính nghèo nàn, gặp rất nhiều khó khăn trong chuyển đổi.
Chất lượng chuyển đổi chưa cao, chưa thực hiện đúng các yêu cầu củaLuật và Nghị định của Chính phủ Nhiều HTX đã chuyển đổi một cách hìnhthức để đối phó với các quy định của Luật và các văn bản của Chính phủ, một
số HTX đã chuyển đổi nhưng lúng túng về phương hướng hoạt động, về tổchức xã viên xã viên thờ ơ với HTX Qua khảo sát một số HTX đã chuyểnđổi cho thấy còn tồn tại các vấn đề: xử lý tài sản, công nợ, xác định vốn gópcủa xã viên, điều lệ HTX do sao chép điều lệ mẫu là chủ yếu nên chưa rõràng, phương án hoạt động quá chung, trách nhiệm, lợi ích của Ban quản lýkhông được quy định rõ, hoặc sai quy định Một số HTX biểu hiện chuỷên đổihình thức chưa đảm bảo đầy đủ các tính chất và các nguyên tắc của HTX.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là: Một số văn bản hướng dẫn của Nhànước chưa có( như thông tư hướng dẫn nghị định số 02 CP về quản lý Nhànước với HTX, nghị định 43/CP về hưóng dẫn thi hành điều lệ mẫu HTXnông nghiệp ) Mặt khác cán bộ triển khai thiếu, chưa thấu đáo tinh thần củacác văn bản pháp luật, thông tư hướng dẫn hoặc làm theo hướng dẫn thì khónên làm tuỳ tiện cho
qua việc
Việc theo dõi và uốn nắn những lệch lạc của các HTX trong chuyển đổichưa được đặt thành nhiệm vụ quan trọng và cần thiết và chưa xác định rõ tổchức nào có trách nhiệm việc này Cho đến nay theo Nghị định 16/CP ngày21/2/1997 trách nhiệm thụ lý hồ sơ và cấp ĐKKD cho các HTX chuyển đổi
và thành lập mới là phòng kế hoạch và đầu tư các quận và huyện trong cảnước, nhưng việc theo dõi, phát hiện những sai sót và xử lý kịp thời thì nghịđịnh chưa quy định cơ quan, tổ chức nào chịu trách nhiệm
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các HTX còn thấp, không đồng bộ
và vẫn quen hoạt động theo lề lối cũ, kém năng động và chậm thích ứng với
cơ chế thị trường đây cũng là một tồn tại khá cơ bản có tác động làm trì trệquá trình phát triển kinh tế HTX Muốn khắc phục tồn tại này cần phải tổchức đào tạo và bồi dưỡng trình độ kinh tế thị trường cho đội ngũ này Coi
Trang 24đây là một phần đầu tư của Nhà nước cho sự nghiệp phát triển kinh tế HTXtrong tương lai.
Các chính sách của Nhà nước đối với HTX chưa được tổ chức thựchiện: như chính sách đất đai, chính sách về xử lý công nợ đối với HTX cũ đãchuyển đổi, chính sách miễn , giảm thuế lợi tức, thuế doanh thu đối với HTXlàm dịch vụ phục vụ các hộ xã viên, chính sách về thuế môn bài của các HTX
đã chuyển đổi, đã thực sự chưa khuyến khích, động viên HTX chuyển đổi vàthành lập theo quy định của pháp luật
Trang 25Phần II Thực trạng phát triển HTX nông nghiệp ở Hà tây
I Khái quát tình hình HTX nông nghiệp trước khi có luật hợp tác xã năm 1996.
Ban quản lý HTX đã vươn lên làm được 1 số nội dung như hướng dẫnthưòi vụ, kỹ thuật canh tác tiến bộ, làm được 1 số dịch vụ như: nước, bảo vệthực vật, bảo vệ đồng, dự tính, dự báo, sâu bệnh, cung ứng một số giốngmới nhưng mức độ dịch vụ còn một số khâu chưa tốt
2 Những tồn tại( những mặt yếu kém)
Nhìn chung số lượng HTX từ khi có Nghị Quyết X về tiếp tục đổi mớiHTXNN, Với xu hướng số lượng HTX ngày càng giảm do các HTX làm ănkém hiệu quả, tổng số 519 HTX, qua quá trình đổi mới số HTX đổi mới cóhiệu quả là 104 = 20%
Còn lại là số HTX đổi mới bước đầu và HTX yếu kém
- Các HTX đổi mới có hiệu quả có nội dung hoạt động khá phong phúbiết tận dụng và phát huy các thế mạnh, nội bộ đoàn kết, nhân dân đồng tìnhtin tưởng vào HTX
- Các HTX đổi mới bước đầu chiếm 66,5% số HTX
Trang 26Vốn quỹ nợ đọng sản phẩm nhiều, sơ sở vật chất kỹ thuật có phát triểnnhưng không đáng kể( giá trị TSCĐ có từ 300- 500 triệu đồng, vốn lưu động
và quỹ thực có từ 10 - 50 triệu đồng nợ đọng sản phẩm từ 50- 150 tấn/ 1HTX
*Ban quản lý HTX thường thụ động chưa biết khai thác các tiềm năngcủa địa phương, không dám vươn lên kinh doanh,dịch vụ những mặt hàngmới, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả
* Đối với HTX yếu kém: Chiếm 13,5% số HTX 1 số HTX cụ thểnhư HTX Thư Phú( Thường Tín), Ngọ xá, Hậu Xá ( ứng Hoà), An Tiến( MỹĐức), Quyên Cao( Ba Vì), Phương Viên( Hoài Đức)
Ban Quản Lý HTX chỉ tổ chức làm được 1 số khâu dịch vụ như nước,bảo vệ đồng, cung ứng gióng mới, chất lượng dịch vụ thấp Hộ xã viên tự loliệu là chính, hộ xã viên không quan tâm tới HTX
HTX không có vốn quỹ hoạt động, nợ đọng sản phẩm nhiều, nội mấtđoàn kết, một số nơi tuy đã được củng cố lại nhưng chưa thể khắc phục ngayđược trong một thời gian ngắn
Tóm lại: Những tồn tại chung trong HTXNN trước 1996 như sau:
a Nội dung hoạt động của HTX trừ 1 số HTX có nội dung hoạt động tốt
được hộ xã viên đồng tình còn phần lớn các HTX có nội dung hoạt độngchung chung chưa cụ thể như: chưa phân định rõ trách nhiệm của ban quản lýHTX, trách nhiệm của tổ dịch vụ, trách nhiệm của hộ xã viên trong việchướng dẫn sản xuất cũng như các dịch vụ sản xuất, quyền lợi được hưởng và
xử lý đề bù vật chất vi phạm, khong thực hiện đầy đủ hợp đồng dịch vụ đã kýkết Chức năng của chính quyền và HTX còn lẫn lộn như: HTX còn thutoàn bộ thuế, HTX phải thu các khoản phạt của UBND xã thông qua phương
án, HTX thu dân công nghĩa vụ, đóng góp kinh phí cho các doàn thể xã hoạtđộng
Nội dung hoạt động mới của HTX chưa được xã viên bàn bạc kỹ, chưaphát huy được dân chủ của xã viên như: các đề án sản xuất kinh doanh chưađược thảo luận sâu rộng trong xã viên, đại hội HTX chủ yếu làm nhiệm vụ
Trang 27bầu bộ máy quản lý và giải quyết những vấn đề sự vụ, còn phương hướng vàcác làm ăn chưa được tập trung bàn đầy đủ
b Vốn quỹ của HTX ít ỏi chỉ có khaỏng 60 % số HTX còn vốn quỹ 40%
HTX vốn quỹ chủ yếu đọng sản phâmr trong dân( toàn tỉnh nợ đọng sản phẩmkhoảng 35.000 tấn) Chính quyền chưa hỗ trợ được nhiều cho HTX trong việcgiải quyết các tồn tại, nhất là nợ đọng sản phẩm gây không công bằng giữa hộkhông nợ và những hộ trây ì không nộp sản phẩm
c Chế độ thù lao cho cán bộ HTX giai đoạn này còn mang tính bình quân:
như quỹ quản lý ở HTX đều trích băng 1% sản lượng, tính thuế trong đó chi
305 hành chính phí còn lại chia theo tỉ lệ chủ nhiệm 100%, phó chủ nhiệm95% như vậy Ban quản lý HTX làm nhiều việc nhưng cũng hưởng cùng tỉ lệ1% HTX yếu kém ban quản lý HTX ít việc nhưng vẫn có 1 tỉ lệ % quản lýphí, nên ít chịu vươn lên lo làm tốt các dịch vụ cho hộ xã viên
d Các khoản đóng góp của hộ xã viên nay vẫn còn nhiều
( ngoài thuế và các dịch vụ thoả thuận) Hộ xã viên còn phải đóng gópdân công, nghĩa vụ địa phương và 1 số khoản thu khác tuỳ địa phương, nênngười lao động chỉ có 1- 1,3 sào ruộng thường phải nộp 100kg/ năm
e Các chính sách của nhà nước còn thiếu chưa được thể chế hoá cụ thể nên các HTX còn trông chờ như: hoàn chỉnh giao ruộng theo luạt đất đai, đổi
mới HTX Đất thực sử dụng và diện tích đất chịu thuế, việc lập sổ bộ thuế tới
hộ, chức năng nhiệm vụ của chính quyền
II.thực trạng phát triển HTXNN từ 1997 đến nay.
a.Ttình hình chuyển đổi.
Trước khi có Luật HTX, tỉnh Hà tây có 514 HTXNN Trong đó quy môtoàn xã 235 HTX, quy mô thôn và liên thôn 279 HTX Thực hiện Luật HTX,
Trang 28Nghị Định 16 CP các HTXNN về chuyển đổi, đã thu hút 98% Hộ xã viên cũđăng ký lại trở thành xã viên của HTXNN chuyển đổi.
451 HTX = 89 % HTXNN chuyển đổi đã được cấp phép đăng ký kinhdoanh, 244HTXNN = 50% số HTX khắc dấu mới
Hiện còn 6 HTX : ứng Hoà( 3 HTX), Hoài Đức( 1 HTX), ThanhOai(2HTX) chưa chuyển đổi còn do những vướng mắc về kinh tế nội bộ chưagiải quyết được dưtrong sạch vững mạnh điểm
Thành lập mới 1 HTX ở thạch hoà- Thạch Thất gồm 278 hộ xã viên đãcấp đăng ký kinh doanh và bước đầu hohạt động có kết quả
Việc chuyển đổi HTX có những mặt được là:
- Làm rõ đước xã viên tham gia HTX: trên cơ sở xã viên cũ tự nguyệnđăng ký lại Các HTX có danh sách xã viên, theo dõi được tình hình biếnđộng xã viên, không còn tình trạng xã viên " cả làng", 98% xã viên cũ, tựnguyện đăng ký trở thành xã viên HTX mới
Làm rõ và có phương án cụ thể xác đáng xử lý tài sản và công nợ củaHTX: thông qua việc kiểm kê đánh giá lại tài sản HTX nắm chắc được tài sản,vốn, quỹ công nợ Tài sản công ích chuyển giao cho UBND xã, HTX tậptrung quản lý nâng cấp TSCĐ phục vụ sản xuất được tốt hơn công nợ củaHTX được làm rõ hơn, có phương án xử lý nợ trình đại hội xã viên xem xét
xã viên nắm chắc được vốn quỹ, công nợ của HTX; công khai về tài chínhđược chú ý hơn, cổ phần của xã viên được xác lập trên cơ sở phân chia tàisản, vốn tích luỹ của HTX, tuý từng nơi mỗi cổ phần xã viên từ 50 tới 300ngàn đồng
Rà soát lại các nội dung hoạt động và có biện pháp nâng cao hiệu quảhoạt động của HTX Các HTX khi chuyển đổi đều có đề án hoạt động làm rõnhiệm vụ HTX, nhiệm vụ tổ dịch vụ và các bộ phận của HTX, rõ các khoảnthu của xã viên Đề án hoạt động đã được xã viên thảo luận dân chủ, đượcđại hội xã viên bàn bạc quyết định Vì vậy hiệu quả hoạt động của HTX đượcnâng cao địa vị pháp lý của HTX được củng cố Vai trò của HTX được nângcao hơn, nhận thức của cán bộ đảng viên và xã viên về HTX nông nghiệp làm
rõ và cụ thể hơn
Trang 29- Việc chuyển đổi HTX nông nghiệp theo luật trên cơ sở kế thừa nhữngmặt tích cực của HTX cũ, điều chỉnh khắc phục những điểm chưa phù hợpvới Luật nên ít gây xáo trộn ở nt, chính trị xã hội ổn định, nt đoàn kết xâydựng HTX.
Tuy nhiên việc chuyển đổi HTX cũng còn hạn chế cụ thể một số tồn tạinhư sau: Nhận thức về HTX mới nhiều nơi nhận thức chưa đầy đủ nên có tìnhtrạng " làm lướt" "Chuyển đổi cho xong" HTX mới về hình thức nhưng chưachuyển đổi, chưa đổi mới, việc huy động thêm vốn cổ phần hầu như khônghuy động được, chỉ có một số ít HTX cán bộ góp vốn trách nhiệm, việc kiểm
kê đánh giá tài sản không thống nhất, có nơi xác định lại nguyên giá, có nơixác định giá trị còn lại Nội dung hoạt động của HTX vẫn là chủ yếu dịch
vụ đầu vào mang tính cộng đồng cao, chưa mở mang được dịch vụ nhất làtiêu thụ sản phẩm, chế biến phát triển ngành nghề nông thôn
Bảng 3: Tiến độ thực hiện chuyển đổi, đăng ký kinh doanh theo luật của
HTX nông nghiệp tỉnh Hà Tây.
(Tính đ n ng y 01/01/2001)ến ngày 01/01/2001) ày 01/01/2001)
vị tính
Sốlượng
I Tổng số HTX của tỉnh( cả HTX cũ Và HTX
mới thành lập)
II Tổng số HTX cũ đã tiến hành chuyển đổi HTX 507
III Sổ HTX đã được cấp phép đăng ký kinh doanh HTX 451
Số HTX có khả năng chuyển đổi
Số HTX không có khả năng chuyển đổi và dự
kiến sẽ giải thể
70
Để biết:
Tổng số hộ nông dân có tham gia HTXNN của
Trang 30b.1- Về tổ chức chỉ đ ạo đ iều hành sản xuất
HTXNN sau chuyển đổi đã đổi mới chỉ đạo, điều hành trực tiếp nôngnghiệp với hộ xã viên, bỏ hình thức điều hành trực tiếp đến hộ, Ban quản trịHTX tập trung xây dựng quy hoạch kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn cơ cấugiống, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hướng dẫn thời vụ, khuyến nông, cung cấpcác giống lúa có năng suất cao, tổ chức sản xuất giống theo chương trìnhgiống lúa nhân dân tỉnh, khắc phục hạn hán, úng lụt, chỉ đạo hộ xã viên sảnxuất hoàn thành các chương trình mục tiêu của Huyện và của tỉnh: tráchnhiệm của Ban quản trị, tổ dịch vụ, đội trưởng, kế toán được phân công rõràng và chịu trách nhiệm về công việc được giao trước Ban quản trị và Đạihội xã viên, dưới sự kiểm tra, giám sát của BKS HTX 95% HTX có xây dựng
kế hoạch sản xuất, có chỉ đạo hộ xã viên sản xuất Trong đó số HTX làm đấttốt chiếm 50 %, 453 HTX tham gia sản xuất giống lúa nhân dân 76% HTX tổchức cung cấp giống mới tiến bộ cho hộ xã viên các HTX chỉ đạo tổt làVõng Xuyên( huyện Phúc Thọ) Đại Đồng( (huyện Thạch Thất), LêThanh( Huyện Mỹ Đức), Hà Hồi( huyện Thường Tín), Đông Sơn (HuyệnChương Mỹ), Đan Phượng, Văn Nhân, Tiền Lệ
Kết quả sản xuất nông nghiệp năm 2000 đạt trên 1 triệu tấn lương thực,xây dựng 560 Km kênh bê tông, trên 800 ngàn con lợn, đời sống của xã viênđược cải thiện Lòng tin của xã viên vào HTX được nâng lên
Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều những hạn chế khó khăn vướng mắc như:
Hiện còn 15- 20% số HTX vai trò điều hành còn yếu, thời vụ gieo cấy chậm,
kế hoạch vụ đông không đảm bảo tổ chức dịch vụ ít, cung ứng , tổ chức câygiống lúa lai thấp, xã viên ít tin tưởng Ban quản trị HTX
b2 Tổ chức các khâu dịch vụ sản xuất của hộ xã viên.
Dịch vụ của HTX nông nghiệp tập trung chủ yếu vào khâu có tính chất
xã hội hoá cao
Theo báo cáo của các huyện, thị, tổng hợp ở 493 HTX số HTX nôngnghiệp làm các dịch vụ sau:
- Dịch vụ thuỷ nông và bảo vệ sản xuất có 473 HTX =95% số HTX
- Dịch vụ Bảo vệ thực vật có 375 HTX = 75% số HTX
Trang 31- Dịch vụ vật tư nông nghiệp có 370 HTX = 75% số HTX
- Dịch vụ Khuyến nông : các HTX đều làm khuyến nông dưới hình thứckhác nhau, có 45% số HTX xây dựng thành đề án khuyến nông, tổ chứckhuyến nông, chuyển giao công nghệ các tiến bộ khoa học kĩ thuật cho hộ xãviên
các loại dịch vụ khác như dịch vụ vốn, thú y, tiêu thụ 1 phần sản phẩm
nợ đọng sản phẩm, có 20% HTX thậm chí còn đọng vào chi phí dịch vụ đãđầu tư chính do tình trạng nợ đọng sản phẩm nên phần lớn HTX không thựchiện được nội dung phân phối cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ màchỉ có một số ít HTX phân chia lại cho xã viên dưới dạng chia theo diện tíchmỗi sào từ 5-7 ngàn đồng/ năm
Từ khi thực hiện Luật HTX hàng năm các HTX đã tổ chức Đại hội xãviên để quyết định kế hoạch sản xuất nông nghiệp trong năm, công khai tàichính và kết quả hoạt động dịch vụ, điều chỉnh bổ xung những điểm cần bổxung khắc phục của từng dịch vụ cho phù hợp với thực tế hơn qua tổ chứcdịch vụ của HTX vai trò trách nhiệm của HTX được xác định rõ hơn, giá cảdịch vụ ở HTX đảm bảo, hộ xã viên sản xuất ngày càng thuận lợi
- Khó khăn, tồn tại: Hiện nay còn 20% số HTX chỉ tổ chức 1-2 dịch vụcòn lại do hộ xã viên tự lo là chính do vậy sản xuất của hộ xã viên ở nhữngHTX còn khó khăn, HTX làm ít dịch vụ doanh thu ít công cán bộ HTX
Trang 32thấp( 50-70 ngàn đồng/ tháng) việc mở rộng dịch vụ ở HTX khó khăn dokhông có vốn, xã viên không tin tưởng vào dịch vụ ở HTX
- Các HTXNN làm dịch vụ chủ yếu dịch vụ đầu vào cho hộ xã viên sảnxuất Chưa mở rộng được được dịch vụ nhất là các dịch vụ đầu ra, chế biến,tiêu thụ sản phẩm, HTX chưa thực hiện được liên kết liên doanh giữa HTX vàCông ty, xí nghiệp quốc doanh, các thành phần kinh tế khác để mở rộng dịch
Mức
độ đápứng sovớinhucầucủa xãviên(%)
Doanh thu(1000đ) của
399 HTXnông nghiệp
Lỗ, lãi(1000đ)
Nguồn: Báo cáo hoạt động sản xuất kinh donh của các HTX năm 2001
b.3: tình hình vốn quỹ công nợ của HTX
Trang 33Hà tây có 14 Huyện thị với tổng số HTX đã tổng hợp với tổng số vốnquỹ là 450.074 triệu đồng tăng hơn so với chuyển đổi là 64.078 triệu đồng.Bình quân 1 HTX là 898 triệu đồng tăng thêm là 128 triệu đồng Nguyênnhân chủ yếu vốn tăng thêm là do chủ trương cứng hoá kênh mương bắng cácnguồn vốn hỗ trợ của nhà nước, của xí nghiệp thuỷ nông, của HTX và xã viênđóng góp, đã xây dựng được 560 Km kênh mương bê tông nội đồng.
Tài sản cố định hiện có biình quân 1 HTX là 557 triệu, vốn lưu độngbình quân 1 HTX 199 triệu đồng, các quỹ HTX bình quân 142 triệu
Nợ phải thu chủ yếu do nợ đọng sản phẩm, tổng hợp ở 501 HTX là95.285 triệu, bình quân 1 HTX là 190,2 triệu tăng 15,1% so với lúc chuyểnđổi Có 182 HTX tiếp tục phát sinh nợ mới trong tổng 404 HTX có nợ đọngsản phẩm, số nợ mới sau chuyển đổi là 14.440 triệu đồng, biình quân 1 HTXlà:28,8 triệu đồng
Nợ phải trả là 44.585 triệu đồng, bình quân 1 HTX 89 triệu, trong đó nợngân háng là 11.401 triệu, bình quân 22,7 triệu/HTX Còn lại là nợ thuỷ lợiphí, nợ xã viên và nợ các cơ quan nhà nước từ trước chuyển đổi HTX
Do tình trạng nợ nần của HTX: xã viên nợ HTX, HTX nợ các doanhnghiệp nhà nước, đã làm cho công tác tài chính HTX gặp không ít khó khăn,
sổ sách có vốn nhưng thực tế vồn hoạt động lại không có, HTX không giám
mở các dịch vụ, các doanh nghiệp không dám đầu tư vào HTX vì sợ mất vốn
Số HTX có đủ vốn lưu đông để hoạt động chiếm 30% còn từ 20 triệu tới 50triệu: 40%, còn lại 31% không có vốn lưu động hoặc còn rất ít
Tóm lại sau 5 năm chuyển đổi HTX nông nghiệp mặc dù còn nhiều khókhăn về vốn do nợ đọng sản phẩm, nhưng cơ bản cơ sở vật chất kí thuật củaHTX được tăng cường nhất là hệ thống thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng, tạo điềukiện thuận lợi cho xã viên sản xuất có hiệu quả, tồn tại cần khắc phục là: giảiquyết được tình trạng nợ đọng sản phẩm để tạo vồn cho HTX và đảm bảo sựcông bằng ở nông thôn
Phần lớn các HTX nông nghiệp không thực hiện được nội dung phânphối theo Luật và điều lệ HTX, chỉ có 10% HTX chia lãi cho xã viên dướihình thức chia theo đầu sào( 5-7 nghìn đồng/ sào/năm)
Trang 34Bảng 5 Tài sản vốn quỹ công nợ của HTX nông nghiệp đã chuyển đổi tỉnh
IV Công nợ của HTX
Nguồn: Báo cáo doanh thu của các HTX năm 2001
c.Bộ máy quản lý và thù lao cán bộ HTXNN.
Tổng hợp của 508 HTX có báo cáo, tổng số cán bộ HTX là 8.128 người.Bình quân 1 HTX là 16 người, trình độ văn hoá cấp 1 là 5,4% , cấp 2,3 là94,6% và trình độ chuyên môn đại học là 15,1% Số người đã được đào tạobồi dưỡng từ tháng 1 trở lên = 23,1%
Ban quản trị HTX có 2-3 người/HTX Số tốt nghiệp trung cấp trở lênchiếm 28,7% Ban kiểm soát 1-2 người/ HTX số tốt nghiệp trung cấp trở lên12,1% Kế toán HTX 1-3 người/HTX, số tôt nghiệp từ trung cấp trở lên là27,9%.( kế toán trưởng là 44,8%) cán bộ HTX khác( đội trưởng, cán bộchuyên môn ) bình quân 11 người/HTX, số đó có chuyên môn từ trung cấptrở lên chiếm 9,7% Thù lao cán bộ HTX: Chủ nhiệm HTX bình quân 176,3ngàn đồng/ tháng, cao nhất là 350 ngàn đồng/ tháng; thấp nhất 50.000 đồng/tháng cán khác hưởng theo tỷ lệ của chủ nhiệm HTX Bằng từ 40 tới 95%
Trang 35lương chủ nhiệm Có 203 HTX = 40% đã tính công quản lý vào đơn giá dịch
vụ, 304 HTX = 60% vẫn thu quản lý phí băng 1% sản lượng tính thuế nôngnghiệp
Tình trạng chung hiện nay là cán bộ HTX phần lớn chưa qua đào tạo,không an tâm với công việc của HTX do lương thấp, không ổn định, không cóchế độ bảo hiểm xã hội nên cán bộ HTX nếu có điều kiện là thoát ly hoặcchuyển sang làm cán bộ đảng, cán bộ UBND xã
Thực hiện chỉ đạo của tỉnh uỷ, UBND tỉnh sở nông nghiệp & PTNTnăm 2001 đã phối hợp với trường cao đẳng và một số cơ quan mở 17 lớp học,thời gian 10 ngày/ lớp với 12 chuyên đề quản lý nông nghiệp cho 1.558 cán
bộ là chủ nhiệm, trưởng ban kiểm soát và kế toán trưởng, cán bộ HTX bướcđầu năm được những vấn đề cơ bản về luật và nội dung quản lý HTXNN
Bảng 6 Bộ máy quản lý HTX nông nghiệp đã chuyển đổi tỉnh Hà Tây
Thù laobìnhquân1tháng(1000đ/
tháng)
Trong đóCấpI CấpII
,III
Trunghọc,đạihọc
Caonhất(1000đ)
Thấpnhất(1000đ)