1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa khu văn hóa lịch sử ngũ hành sơn

100 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 10,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa để vạch ra những kế hoạch dài hơi nhằm phát triển Danh thắng Ngũ Hành Sơn cho tương xứng với tiềm năng sẵn có Nguyên cứu những mô hình khai thác du lịch bền vững của các quốc gia phát triển để học tập Nâng cao chất lượng đời sống người dân phục vụ du lịch và nhà quản lý để hoạt động du lịch phát triển tốt hơn Tổ chức không gian kiến trúc nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa vừa đáp ứng nhu cầu người dân trong khu vực vừa giúp nhà quản lý có giải pháp quản lý khoa học và hiệu quả nhất qua đó giúp làng nghề phát huy được các đặc trưng riêng của đá mỹ nghệ non nước Phát triển bền vững di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn dựa trên việc nghiên cứu tổ chức các không gian kiến trúc nhằm phát triển và gắn kết các hoạt động như phát triển làng nghề đá truyền thống công tác trùng tu bảo tồn các di tích lịch sử các giá trị văn hóa phi vật thể và công tác phát triển du lịch dịch vụ

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trang 3

1.1 Ngọn Thủy Sơn thuộc Khu Danh thắng Ngũ Hành Sơn 8

1.2 Chùa tam Thai, một trong 2 ngôi chùa được phong quốc tự ở Danh

1.3 Đường Lê Văn Hiến (màu đỏ) chia cắt Danh thắng thành 2 khu vực 10 1.4 Tháp thang máy cạnh cổng số 2 ngọn Thủy Sơn 11 1.5 Tuyến phố kinh doanh hàng đá mỹ nghệ Non Nước 12 1.6 Bãi đậu xe du lịch trước động Âm Phủ 12

1.8 Phần đất trống tô đỏ phía Bắc ngọn Thủy Sơn 13 1.9 Ngọn Mộc Sơn bị xâm hại do trước đây người dân khai thác đá 14

1.11 Hai trụ đá Chăm được phục dựng, tuy nhiên đã bị mài nhẵn bề mặt

làm mất đi yếu tố gốc của hiện vật 15

1.14 Một góc tuyến đường ven sông Hội An 19

1.18 Tượng đất sét trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng 25

Trang 4

1.20 Cầu đá Rialto 26 1.21 Giao thông đường thủy chủ yếu qua những con kênh nhỏ thơ mộng 27

1.22 Nhà thờ Santa Maria della Salute, một kiệt tác kiến trúc Baroc bên

1.23 Lâu đài Prague hơn 1000 năm tuổi là tòa lâu đài cổ rộng lớn nhất

2.14 Sơ đồ hệ thống giao thông chính quận Ngũ Hành Sơn 40

Trang 5

2.20 Biểu đồ kết quả trả lời câu 6 47

2.30 Chọn bán kính phân tích đoạn Segment analysis 55

2.32 Kết quả Phân tích đoạn Segment analysis 56

2.34 Kết quả phân tích Metric step toàn cục quận Ngũ Hành Sơn 57

2.35 Phân tích đoạn Segment analysis với bán kính toàn quận Ngũ Hành

2.37 Kết quả phân tích giao thông tổng thể thành phố Đà Nẵng 59

3.3 Sơ đồ tổ chức không gian văn hóa khu Danh thắng Ngũ Hành Sơn 66

Trang 6

TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC VÀ BẢO TỒN CÁC GIÁ TRỊ KHU

VĂN HÓA DI TÍCH VĂN HÓA LỊCH SỬ NGŨ HÀNH SƠN

Học viên: Huỳnh Khỏe Chuyên ngành: Kiến trúc

Mã số: …… Khóa: K34 Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN

Tóm tắt – Nghiên cứu tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa để vạch ra

những kế hoạch dài hơi nhằm phát triển Danh thắng Ngũ Hành Sơn cho tương xứng với tiềm năng sẵn có Nguyên cứu những mô hình khai thác du lịch bền vững của các quốc gia phát triển để học tập Nâng cao chất lượng đời sống người dân phục vụ du lịch và nhà quản lý để hoạt động du lịch phát triển tốt hơn Tổ chức không gian kiến trúc nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa vừa đáp ứng nhu cầu người dân trong khu vực vừa giúp nhà quản lý có giải pháp quản lý khoa học và hiệu quả nhất, qua đó giúp làng nghề phát huy được các đặt trưng riêng của đá mỹ nghệ non nước Phát triển bền vững di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn dựa trên việc nghiên cứu tổ chức các không gian kiến trúc nhằm phát triển và gắn kết các hoạt động như phát triển làng nghề đá truyền thống, công tác trùng tu, bảo tồn các di tích lịch sử các giá trị văn hóa phi vật thể và công tác phát triển du lịch dịch vụ

Từ khóa – Tổ chức không gian kiến trúc; bảo tồn giá trị văn hóa; di tích văn hóa lịch sử;

Làng nghề đá mỹ nghệ; Ngũ Hành Sơn

ORGANIZATION OF ARCHITECTURAL SPACE AND PRESERVATION

OF CULTURAL VALUES OF THE CULTURAL AND HISTORICAL RELIC

OF MARBLE MOUNTAINS

Student: Huynh Khoe Major: Architecture Code: …… Course: K34 University of Science and Technology - The University of

Da Nang

Abstract – Study the organization of architectural space and preservation of cultural values

to outline long-term plans for the development of the Marble Mountains to match the tial available Study models of sustainable tourism exploitation of developed countries to fol- low.Enhance the quality of life for people and managers to improve tourism activi- ties.Organize the architectural spaces to preserve cultural values, it not only meets the needs

poten-of people in the area, but also helps managers to have the most scientific and effective agement solution, this helps the craft village to develop the individual features of Non Nuoc Stone Carving Village.Sustainably develop the cultural and historical relic of Marble Moun- tains based on the study of the organization of architectural spaces to develop and associate activities such as the development of traditional stone villages, restoration and conservation works of historical relics of intangible cultural values and the development of tourism ser- vices

man-Key words – Organization of architectural space; preservation of cultural values; cultural

and historic relics; stone carving village; Marble Mountains.

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH QUY HOẠCH KIẾN TRÚC, CÔNG

1.2 Tình hình tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa di tích

1.2.1 Tổng quan về tình hình quy hoạch kiến trúc khu di tích văn hóa lịch sử

1.3 Kinh nghiệm tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa di

1.3.1 Các giải pháp đề xuất tổ chức các không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn 16 1.3.2 Định hướng tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa31

Trang 8

Chương 2: CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC VÀ BẢO TỒN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA DI TÍCH VĂN HÓA LỊCH SỬ

2.3.3 Cơ sở về giao thông, hạ tầng kỹ thuật: 40

2.5.3 Nhận xét chung về kết quả điều tra xã hội học: 51

2.6 Phân tích giao thông, tổ chức không gian đô thị quận Ngũ Hành Sơn: 52

Chương 3: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC VÀ BẢO TỒN

3.2 Giải pháp về kiến trúc, tổ chức không gian cảnh quan 65 3.3 Giải pháp về bảo tồn - trùng tu các di tích lịch sử kiến trúc cổ 67 3.4 Giải pháp phát triển Du lịch dịch vụ gắn với phát triển làng nghề và phát

3.5 Đề xuất cơ chế quản lý di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn 68

Trang 9

1.1 Cho người dân sống ở khu vực Danh thắng: 72

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài

1.1 Tính thời sự của đề tài:

Danh thắng Ngũ Hành Sơn được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm

1990 Tuy nhiên việc khai thác tiềm năng của Danh thắng đi đôi với việc bảo tồn các giá trị văn hóa, di tích lịch sử vẫn chưa được thực hiện một cách có hiệu quả Việc phát triển làng nghề chưa thực sự hiện quả, chưa giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường, phát trển du lịch vẫn chưa thoát khỏi lối mòn, với những ý tưởng và hệ thống

cũ Công tác bảo tồn các di tích văn hóa lịch sử được thực hiện một cách riêng chưa có được sự kết nối với các công tác du lịch, phát triển làng nghề

Quy mô du lịch của thành phố Đà Nẵng phát triển nhanh trong những năm gần đây Danh thắng Ngũ Hành Sơn là một trong những nơi cần được quy hoạch mở rộng

để đáp ứng xu thế phát triển Đi kèm với các công trình kiến trúc, di tích lịch sử thì danh thắng còn có hàng loạt các hoạt động văn hóa phi vật thể nổi bật như lễ hội cấp quốc gia - lễ hội Quán Thế Âm

Việc hình thành các khu đô thị mới, các công trình cao tầng phục vụ du lịch phát triển cũng đã tác động đến cảnh quan của Danh thắng như Resoft Ahyat, Crow, Winpearl…Quá trình đô thị hóa làm tăng nhu cầu ở của dân cư trong khu vực dẫn đến mật độ ở cao gây áp lực về hạ tầng đô thị cũng như cảnh quan xung quanh Công tác quản lý khai thác các sản phẩm du lịch của Danh thắng vẫn chưa thoát khỏi lối mòn, với những ý tưởng và hệ thống cũ

1.2 Tính mới của đề tài nghiên cứu:

Danh thắng Ngũ Hành Sơn lâu nay được khai thác như một hoạt động du lịch bền vững nên việc nghiên cứu tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa

để vạch ra những kế hoạch dài hơi nhằm phát triển Danh thắng cho tương xứng với tiềm năng sẵn có là cần thiết Nguyên cứu những mô hình khai thác du lịch bền vững của các quốc gia phát triển để học tập

Nâng cao chất lượng đời sống người dân phục vụ du lịch và nhà quản lý để hoạt động du lịch phát triển tốt hơn

Tổ chức không gian kiến trúc nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa vừa đáp ứng nhu cầu người dân trong khu vực vừa giúp nhà quản lý có giải pháp quản lý khoa học và hiệu quả nhất, qua đó giúp làng nghề phát huy được các đặt trưng riêng của đá mỹ nghệ non nước

1.3 Tính khoa học của đề tài.

Các đô thị phát triển luôn quan tâm đến các di tích lịch sử, các hoạt động văn hóa phi vật thể trong đô thị, luôn có những hoạt động bảo tồn, trùng tu làm mới để sản phẩm du lịch trở nên đặc sắc Giải quyết tốt vấn đề quy hoạch giúp Danh thắng Ngũ

Trang 11

Hành Sơn vừa phát triển theo xu thế của một đô thị hiện đại vừa giữ gìn được các giá tri đặt trưng của đô thị Đà Nẵng, một đô thị trong lòng thành phố có núi, có sông có biển có các công trình kiến trúc cổ, có di tích lịch sử, các các hoạt động tín ngưỡng tâm linh của người dân và du khách

Danh thắng Ngũ Hành Sơn nằm ở vị thế vô cùng thuận lợi, cùng với đó là việc thành phố Đà Nẵng có những chiến lược thúc đẩy du lịch quảng bá hình ảnh ra thế giới, mặt khác Danh thắng nằm trên tuyến đường thuận lợi về đường bộ, đường thủy, đường hàng không và có làng nghề đá mỹ nghệ đặc trưng Với những xu hướng, vấn

đề có tính khoa học và cần thiết như thế nên tôi đã lựa chọn đề tài “ Tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa khu văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn” để

phục vụ cho sự phát triển chung của thành phố Đà Nẵng

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Phát triển bền vững di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn dựa trên việc nghiên cứu tổ chức các không gian kiến trúc nhằm phát triển và gắn kết các hoạt động như phát triển làng nghề đá truyền thống, công tác trùng tu, bảo tồn các di tích lịch sử các giá trị văn hóa phi vật thể và công tác phát triển du lịch dịch vụ

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là quần thể Danh thắng Ngũ Hành Sơn bao gồm làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp:

+ Phương pháp phân tích - tổng hợp - khảo sát thực địa

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu

+ Phương pháp chuyên gia, điều tra xã hội học

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn bao gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình quy hoạch kiến trúc, công tác bảo tồn di tích

văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

Chương 2: Các cơ sở khoa học để tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các

giá trị văn hóa di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

Chương 3: Giải pháp tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa

di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH QUY HOẠCH KIẾN TRÚC, CÔNG TÁC BẢO TỒN DI TÍCH VĂN HÓA LỊCH SỬ NGŨ HÀNH SƠN 1.1 Lịch sử hình thành

1.1.1 Lịch sử quá trình hình thành và phát triển của di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

Lâu nay, theo truyền thuyết và sử sách ghi lại Ngũ Hành Sơn là vùng đất linh thiêng, có giá trị văn hóa tâm linh đặc sắc Tương truyền trong thời khắc sinh ra của trời và đất, khi Đà Nẵng vẫn còn hoang sơ một con rùa biển lớn từ Biển Đông bò vào

bờ và chọn vùng đất này làm nơi đẻ trứng

Khác biệt là con rùa lớn này chỉ đẻ duy nhất 1 quả trứng rồi trở lại biển, vỏ trứng nứt làm 5 mảnh, trở thành 5 trái núi nên gọi là Ngũ Hành Sơn Tuy nhiên các nhà nghiên cứu lịch sử chỉ ra rằng, các cứ liệu lịch sử cho thấy, vùng đất này có tên gọi là Non Nước từ lâu đời và đã đi vào ca dao như một tổng kết kinh nghiệm về thời tiết của dân chúng: “Chiều chiều mây phủ Sơn Trà, Sấm rền Non Nước trời đà chuyển mưa” Trong Giáp Ngọ bình Nam đồ do Đoan quốc công Nguyễn Hoàng lập năm 1594, sau khi được vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa, vẽ đường đi từ Chiêm Thành đến biên giới Chân Lạp có ghi địa danh “Non Nước Sơn”

Cũng như trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá Công Đạo, tự Đạo Phủ, quê Nghệ An, soạn vào năm Bính Dần (1686), vẽ đường đi từ Thăng Long đến Chiêm Thành đều có ghi “Non Nước Sơn tam đỉnh” bằng chữ Nôm Như vậy, địa danh núi Non Nước đã xuất hiện trên văn bản hơn 5 thế kỷ, còn sự ra đời của vùng đất này chắc phải kể từ khi những lưu dân Việt đặt chân đến đây

Trong khi đó, tên Ngũ Hành Sơn được Lê Quang Định nói đến trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806) như sau: “Phía đông bến đò xã Hoàn Ký Đông có núi Ngũ Hành Sơn, năm tòa núi chia làm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi là núi Non Nước”

Nhưng phải đến năm Minh Mạng thứ mười tám (1837) cũng là lần thứ 3 đến ngự

du nơi này (lần thứ nhất vào năm 1825 và lần thứ hai vào năm 1827), nhà vua mới chính thức ghi tên Ngũ Hành Sơn vào bản đồ địa chính của Đại Nam (quốc hiệu nước

ta thời bấy giờ) bằng một sắc chỉ - theo sách Đại Nam dư địa chí ước biên, đồng thời tiến hành tu sửa chùa Tam Thai và xây dựng chùa Ứng Chân [12]

1.1.2 Vai trò của di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn trong cấu trúc đô thị

Sau di tích cấp quốc gia đặc biệt thành Điện Hải, thành phố Đà Nẵng đang tiến hành lập hồ sơ di tích cấp quốc gia đặc biệt cho di tích quốc gia Ngũ Hành Sơn (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn) Theo các nhà nghiên cứu, kể từ khi di tích

Trang 13

này được công nhận di tích cấp quốc gia vào năm 1980, những nghiên cứu, khảo cổ càng xác minh giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử của Ngũ Hành Sơn

Các nhà nghiên cứu còn cho rằng dấu tích về con người ở cụm núi này, ngoài những hiện vật Chăm được thờ tự trong các hang động, thì công tác khảo cổ cũng đã chứng minh khu vực núi Ngũ Hành Sơn là nơi sinh tụ của người Chămpa từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IX

Ngoài ra, với mật độ dày đặc chùa chiền, tượng phật được xây dựng rất sớm trên các ngọn núi ở Ngũ Hành Sơn, cùng những văn bia, hiện vật văn hóa phật giáo…đang còn lưu giữ được, đủ điều kiện để xác định Ngũ Hành Sơn chính là một trong những trung tâm phật giáo ở khu vực

Dưới góc nhìn phong thủy, Ngũ Hành Sơn là vùng đất địa linh không chỉ của riêng Đà Nẵng mà còn của cả nước Nếu quan sát kỹ, địa hình thành phố Đà Nẵng như lòng bàn tay ngửa, vuông vức với đầy đủ các nhân tố của vùng đất linh thiêng Tính từ đông sang tây, năm đỉnh núi gồm: Ngũ Hành Sơn, Phước Tường, núi Chúa (Bà Nà), Hải Vân và Sơn Trà được ví như 5 đầu ngón tay bao bọc xung quanh che chở lòng bàn tay là thành phố

Ngoài ra, Ngũ Hành Sơn cùng với núi Sơn Trà tạo nên thế đất theo thuật phong thủy gọi là “Rồng chầu hổ phục” cho Đà Nẵng “Ngũ Hành Sơn sở hữu địa thế đa dạng hiếm có gồm núi, đồng bằng, sông, biển xen kẽ nhau

1.1.3 Các đặc điểm cơ bản khi tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

Đặc điểm về bảo tồn các di tích lịch sử trong khu Danh thắng:

Ngũ Hành Sơn là danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng với những truyền thuyết lịch sử và điển tích Phật giáo, nơi lưu giữ những di vật, cổ vật từ thế kỷ XV - XIX như: chuông đồng, tượng đồng, tấm kim bài vua ban, khánh đá, liễn đối, các bức hoành phi, các tượng Chămpa bằng đá sa thạch, các công trình kiến trúc di tích…rất có giá trị về mặt văn hóa lịch sử

Nhằm ghi lại vị trí, địa danh, danh xưng, các vị sư trụ trì tại các chùa cũng như các vua quan nhà Nguyễn cũng đã để lại một số văn bia và ký tự bằng chữ Hán được khắc trên đá tại quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn

Các văn bia cổ và các ký tự với những đường nét tỉ mỉ, công phu, có tính nghệ thuật cao, bên cạnh có những dòng chữ nhỏ ghi lại niên đại của các thời vua trị vì, ghi đậm dấu ấn thời gian, tồn tại trong lòng một di tích qua bao thế kỷ

Các văn bia cổ như:

Trang 14

Bia “Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật”, bia có kích cỡ (59 x 96cm), được Thiền sư Huệ Đạo Minh lập năm Canh Thìn, hiện đặt tại động Hoa Nghiêm trên ngọn Thủy Sơn

Bia “Ngũ Uẩn Sơn cổ tích Phật diệt lạc”, bia này cũng do Thiền sư Huệ Đạo Minh lập thành vào tháng 10 Tân Tỵ (1641), sau bia "Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật" một năm, được khắc ở động Vân Thông

Bia cổ trên vách động Tàng Chơn: Trên vách động Tàng Chơn có hai văn bia cổ, nhưng rất tiếc những dòng chữ trong lòng bia bị xóa mờ do thời gian nên hiện nay không còn đọc được nữa Qua trình bày trang trí và dấu tích còn lại, văn bia này có thể khắc cùng với hai văn bia "Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật " tại động Hoa Nghiêm và bia "Ngũ Uẩn sơn cổ tích Phật diệt lạc" tại động Vân Thông

Bia “Vọng Giang Đài” và “Vọng Hải Đài”: Trên ngọn Thủy Sơn - Ngũ Hành Sơn có hai địa điểm ở tầm cao để nhìn sông và nhìn biển Điểm phía Tây nhìn sông gọi

là Vọng Giang Đài, điểm phía Đông nhìn biển gọi là Vọng Hải Đài

Các ký tự cổ:

“Thủy Sơn”: kích cỡ (40cm x 40cm) chạm khắc rất sắc nét trên một tảng đá cao,

có mặt phẳng đứng, lối lên đường cấp gần đến chùa Tam Thai nhằm ghi địa danh ngọn Thủy Sơn

“Dương Hỏa Sơn”: kích cỡ (40cm x40cm) được khắc trên ngọn Hỏa Sơn (Hỏa Sơn có 2 ngọn; Âm Hỏa Sơn và Dương Hỏa Sơn), chữ khắc rất sắc nét trên một vách

đá cao của đỉnh Dương Hỏa Sơn

“Huyền Không động”, kích cỡ (30cm x30cm), sơn màu vàng, được khắc trên cao, bên cạnh tượng Phật Thích Ca trong động Huyền Không

“Động Thiên Phước Địa”, kích cỡ (40cm x40cm) được khắc trên đỉnh hang gió Tây (cổng vào phía Tây của động Thiên Phước Địa)

“Vân Nguyệt Cốc”, và “Thiên Long cốc” có nghĩa là động để ngắm gió trăng và động Rồng thiêng, kích cỡ (40cm x40cm) được khắc trên vách đá trong lòng động Thiên Phươc Địa

“Tàng Chơn động” kích cỡ (40cm x40cm) được khắc trên vách đá, phía tay trái lối vào động Tàng Chơn

“Vân Thông động”, kích cỡ (40cm x40cm) khắc bên trong lòng động Vân Thông (lối lên trời)

Các văn bia cổ và các ký tự được nhà chùa và các vua quan nhà Nguyễn cho khắc trên các vách đá tại thắng tích Ngũ Hành Sơn có giá trị nhất định về mặt lịch sử, qua

đó thấy được ý nghĩa tôn vinh vẽ đẹp danh thắng cũng như biểu thị sự sùng bái tín ngưỡng đối với đạo Phật của người Việt từ các thế kỷ trước [13]

Trang 15

Đặc điểm về tổ chức làng nghề đá Mỹ nghệ truyền thống:

Nằm dưới chân núi Ngũ Hành Sơn (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn), Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước là làng nghề lâu đời nhất và nổi tiếng nhất Đà Nẵng Nghề chế tác đá ở vùng năm ngọn núi này được hình thành vào thế kỷ XVIII do một nghệ nhân có tên là Huỳnh Bá Quát mang nghề từ Thanh Hóa vào Ban đầu, những người thợ đá bấy giờ chỉ khai thác đá tại chỗ dùng trong xây dựng và tạo ra một

số dụng cụ lao động đơn giản như: cối xay, cối giã, đá buộc neo thuyền, đá buộc chài

dụ cá… Sau đó, phát triển thêm các sản phẩm điêu khắc bia mộ, chế tác các tác phẩm nghệ thuật trang trí tại các miếu thờ, lăng tẩm, cung đình… cho tới những sản phẩm nghệ thuật trang trí có giá trị mỹ thuật cao

Ngày trước, một người thợ giỏi trong làng là ông Huỳnh Bá Triêm đã từng ra kinh đô Huế trang trí các lăng tẩm, cung đình Ông đã học được cách làm bộ ấm chén trà bằng đá cẩm thạch đỏ - sản phẩm được xem là độc đáo, tinh xảo nhất của nghề đá

mỹ nghệ Non Nước hồi đó Nhưng nói về người đầu tiên dùng đá quý tạc tượng là phải nhắc đến nghệ nhân Nguyễn Chất, ông đã tạo tác hai pho tượng thờ ở động Hoa Nghiêm và động Tàng Chơn, đến nay vẫn ngày ngày được khách hành hương chiêm ngưỡng [8]

Sau ngày thống nhất đất nước, những người làm nghề điêu khắc đá tập hợp lại thành lập HTX Đá mỹ nghệ Non Nước, hoạt động trong suốt thập niên 80 thế kỷ trước HTX lúc đó chỉ có 130 xã viên; trong đó thợ điêu khắc có 35 người, còn hầu hết là lao động phổ thông Nguyên liệu được khai thác tại chỗ, sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống Sản phẩm mỹ nghệ lúc đó có kích thước nhỏ gọn, nghệ thuật điêu khắc độc đáo, nhưng số lượng chưa nhiều, chủ yếu là hàng gia dụng và vật lưu niệm phục vụ cho du khách trong nước và quốc tế mỗi khi tới Đà Nẵng

Sản phẩm đá mỹ nghệ Non Nước giờ đây không chỉ có mặt khắp nơi trong nước

mà còn được đóng công-tai-nơ xuất ra thế giới, chủ yếu qua một số thương nhân nước ngoài

Nghệ nhân chế tác đá đã truyền nghề qua nhiều thế hệ con cháu của họ Dần dần nghề chế tác đá mỹ nghệ tại phường Hòa Hải đã trở thành nghề truyền thống Nghề vừa mang ý nghĩa kinh tế, tham gia xóa đói giảm nghèo, đồng thời cũng có ý nghĩa về đời sống tinh thần, phản ánh bản sắc văn hóa truyền thống địa phương

Đặc điểm về phát triển du lịch, dịch vụ

Từ lâu, khách du lịch khi tham quan Ngũ Hành Sơn hầu hết chỉ đến với ngọn Thủy Sơn và tưởng như đã trọn vẹn chiêm ngưỡng toàn bích về một bức tranh non nước hữu tình Thực tế ngọn Thủy Sơn chỉ là một trong năm ngọn: Kim- Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ chỉ là ngọn tương đối ưu thế về vị trí giao thông, cảnh sắc phong phú, đa dạng với các hang động, chùa chiền thâm nghiêm cổ kính Thế nhưng, dấu ấn lịch sử,

Trang 16

văn hóa, du lịch chỉ dừng lại, cô đọng ở ngọn Thủy Sơn mà nó phân bổ đều khắp ở năm ngọn núi và làm nên một Ngũ Hành Sơn với bao truyền thuyết được truyền tụng muôn đời Vì thế phát triển du lịch về phía Tây là định hướng đúng đắn, từng bước giới thiệu với khách du lịch có cái nhìn tổng quát, toàn diện về Danh thắng Ngũ Hành Sơn

Khu du lịch phía Tây trong quần thể Ngũ Hành Sơn cách ngọn Thủy Sơn, làng đá

mỹ nghệ và bờ biển du lịch Non Nước khoảng 2km về phía đông, nằm trên trục đường

Đà Nẵng - Hội An Hệ thống giao thông đến khu du lịch phía Tây rất dễ dàng, thuận lợi, là gạch nối giữa các tours du lịch Ngũ Hành Sơn - bờ biển Non Nước - Hội An, phía Tây Nam giáp sông Cổ Cò với đồng lúa, bãi bồi, làng mạc, môi trường khí hậu trong lành, mát mẻ

Phía Tây Ngũ Hành Sơn gồm có ngọn Hỏa Sơn, Thổ Sơn và Kim Sơn Dưới ngọn Kim Sơn là chùa Quan Thế Âm, đây là ngôi chùa xây dựng vào năm 1956 do Hòa Thượng Thích Pháp Nhản khi phát hiện ra động quan Âm sau chùa Trong động

có thạch nhũ tạo ra tượng Quan Âm hoàn chỉnh, cao lớn bằng người thật với tư thế an nhiên, đứng trên mình con rồng uốn khúc Tại đây, hàng năm tổ chức lễ hội Quan Thế

Âm truyền thống, mang đậm chất văn hóa dân gian và sắc màu tôn giáo tín ngưỡng Bên cạnh ngọn Kim Sơn là ngọn Hỏa Sơn- ngọn Hỏa Sơn gồm có Âm Hỏa Sơn

và Dương Hỏa Sơn Ngọn Âm Hỏa Sơn nằm ở phía Đông, sườn núi có nhiều thớ đá nằm nghiêng, cắt ra từng đoạn, cây cối mọc ở các kẻ đá và có một cái hang thông từ sườn phía Nam ra sườn phía Bắc Ngọn Dương Hỏa Sơn nằm ở phía Tây, dưới ngọn núi này có chùa Linh Sơn được xây dựng vào năm 1964 , sau chùa có động Huyền Vi được phát hiện vào thời Lê Cảnh Hưng Đến năm 1825, vua Minh Mạng cho người khắc tên lên vách đá ba chữ: Động Huyền Vi Mãi đến năm 1960 , các thầy trù trì ở đây khai phá lớp đá dày nơi cửa động Động có nhiều tầng, nhiều ngóc ngách, tranh tối, tranh sáng Trong động có một hồ nước với hình tượng ông Lữ đi câu ngồi trên ghềnh đá, nên gọi là hồ ông Lữ Cuối ngọn Dương Hỏa Sơn về phía Tây lưng chừng núi có một hang xuyên suốt từ sườn phía Bắc ra sườn phía Nam gọi là hang Phổ Đà Sơn Phong cảnh ở đây rất u tịch, trong hang có ngôi chùa nhỏ có tên là chùa Phổ Đà Sơn Đây là ngôi chùa của các sư nữ đầu tiên tại Ngũ Hành Sơn Tương truyền rằng, tại ngôi chùa này công chúa Ngọc Lan, em gái vua Minh Mạng sau khi thọ giới tại chùa Tam thai đến ẩn tu tại ngôi chùa này

Ngọn Hỏa Sơn ngoài chùa chiền, hang động còn có miếu Ông Chài được xây dựng vào thời Gia Long (1802-1819) Đây là trạm thu thuế các tàu buôn qua lại trên sông Cổ Cò giữa Hội An và Đà Nẵng Theo thời gian, do phù sa bồi lấp đã làm mất vị trí giao thông quan trọng này

Thổ Sơn là ngọn ở phía Tây Bắc Ngũ Hành Sơn, vách đá dựng đứng và ít cây cối Điểm thấp nhất nằm ở sườn phái Tây, phía Đông có một cái hang sâu, khoảng

Trang 17

20m, lối vào rất hẹp, có một đường thông lên cao gọi là hang Bồ Đề, hay còn gọi là “ Địa đạo núi đá chồng” Đây là địa đạo tự nhiên, nơi ẩn nấp và họat động bí mật của các chiến sĩ cách mạng trong 2 thời kỳ kháng chiến và hiện nay trở thành là di tích lịch sử tại danh thắng Ngũ Hành Sơn Sườn núi phía Bắc ngọn Thổ Sơn là chùa Long Hoa và chùa Huệ Quang, đây là các ngôi chùa xây dựng vào thập niên 90 trong khung cảnh rất tĩnh lặng, hữu tình

Khu du lịch phía Tây Ngũ Hành Sơn còn ẩn chứa nhiều di tích lịch sử, văn hóa như: Đền thờ công chúa Ngọc Lan, đền thờ Huyền Trân Công Chúa, miếu ông Chài, đình Khuê Bắc, bến ngự thuyền vua Minh Mạng trên sông Cổ Cò…Trong đấu hai cuộc kháng chiến, khu du lịch phía Tây Ngũ Hành Sơn đầy ắp những di tích đấu tranh cách mạng như: Địa đạo núi đá chồng, hang bà Tho, chùa cô Đáng (chùa Phổ Đà Sơn) Đến với du lịch phía Tây Ngũ Hành Sơn, du khách không những đơn thuần thưởng ngoạn cảnh trí chùa chiền, hang động mà còn chiêm bái đạo pháp, tham gia lễ hội, tịnh dưỡng tâm trí

Tất cả những yếu tố đó làm nên mảng du lịch phía Tây Ngũ Hành Sơn

1.2 Tình hình tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa

di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

1.2.1 Tổng quan về tình hình quy hoạch kiến trúc khu di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

Hình 1.1 Ngọn Thủy Sơn thuộc Khu Danh thắng Ngũ Hành Sơn Quận Ngũ Hành Sơn được xác định là đô thị lớn phía đông nam thành phố Tuy nhiên, việc triển khai các đồ án quy hoạch và đầu tư phát triển chưa tương xứng hiện

có nhiều dự án trên địa bàn quận chậm triển khai Cụ thể như Công viên văn hóa - lịch

Trang 18

sử Ngũ Hành Sơn, Trung tâm giao lưu văn hóa hữu nghị Việt Nhật, Làng đại học Đà Nẵng và hàng loạt các dự án du lịch ven biển Dự án Công viên văn hóa - lịch sử Ngũ Hành Sơn là dự án đầu tư trọng điểm của thành phố và có tác động đến phát triển dịch

vụ du lịch ở địa phương Đây là vùng lõi trung tâm của đô thị quận Ngũ Hành Sơn Trên vệt đô thị này, điểm nhấn là khu danh lam thắng cảnh Ngũ Hành Sơn

Nơi đây được quy hoạch để đầu tư phát triển Khu Công viên văn hóa - lịch sử Ngũ Hành Sơn trên tổng diện tích tích gần 139ha Việc phê duyệt quy hoạch và thiết

kế dự án đã trải qua 6 năm nhưng việc triển khai dự án vẫn cầm chừng, manh mún Năm 2014, thành phố đã bố trí vốn để thực hiện công tác giải tỏa đền bù và đầu

tư hoàn thành các tuyến đường giao thông như Sư Vạn Hạnh, Huyền Trân Công chúa, Nguyễn Duy Trinh, Năm 2015, thực hiện công tác đền bù giải tỏa nhưng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế nên nhiều hộ dân trong vùng dự án chưa được đền bù, nhà cửa xuống cấp ảnh hưởng đến cuộc sống hiện nay Dự án Làng đại học quy hoạch “treo” gần 20 năm qua và các dự án tái định cư lân cận cũng “treo” tác động đến đời sống nhân dân

Trong vệt ven biển, nhiều dự án cũng chưa triển khai tạo ra những lát cắt không gian đô thị ven biển Đây là khu vực phát triển các khu nghỉ mát, biệt thự ven biển đẳng cấp

Tuy nhiên, hiện khu vực ven biển quận Ngũ Hành Sơn mới có khoảng 1/3 số dự

án đã được đầu tư xây dựng và khai thác Những dự án khác “treo” dai dẳng nhiều năm qua, kéo theo sức ỳ về phát triển đô thị ở khu vực này Các dự án nạo vét khơi thông sông Cổ Cò vẫn còn hoang sơ và chưa được đầu tư, khai thác tiềm năng du lịch Nhiều dự án bị chia cắt bởi chưa được khớp nối hạ tầng giao thông

Mục tiêu quy hoạch xây dựng quận Ngũ Hành Sơn thành quận du lịch, đô thị hiện đại có kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, không gian kiến trúc cảnh quan phù hợp với môi trường sinh thái và điều kiện tự nhiên Ngũ Hành Sơn có vùng lõi đô thị thể hiện tính đặc trưng của địa phương là khu vực danh thắng Ngũ Hành Sơn

1.2.2 Tình hình tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan khu di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

Các hoạt động chủ yếu trong khu Danh thắng Ngũ Hành Sơn chủ yếu tập trung xung quanh ngọn Thủy Sơn (một trong 5 ngọn núi cấu thành nên khu Danh thắng) nơi

có nhiều các công trình kiến trúc cổ mang đập nét phật Giáo như Chùa Tam Thai, chùa Linh ứng, Động Huyền Không, Vọng Hải Đài, Cổng Tam Quan vv…mặt khác không gian kiến trúc cảnh quan khu Danh thắng được cấu thành bởi các công trình kiến trúc

cổ Phật giáo, các di tích Chăm, làng nghề Đá mỹ Nghệ truyền thống Non nước

Trang 19

Hình 1.2 Chùa tam Thai, một trong 2 ngôi chùa được phong quốc tự ở Danh

thắng Ngũ Hành Sơn Tổng thể quy hoạch khu danh thắng bị chia cắt do tuyến đường giao thông chính kết nối thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam làm cho khu vực phân thành 2 vùng rõ rệt thể hiện ở mức độ thu hút du lịch, phát triển kinh tế Vùng giáp biển gồm ngọn núi Thủy Sơn (ngọn lớn nhất), Mộc Sơn đây là vùng phát triển mạnh về du lịch, kinh tế, hạ tầng và phát triển làng nghề đá mỹ nghệ Non nước Vùng giáp sông cổ Cò gồm các ngọn núi Hỏa Sơn, Kim Sơn, Thổ Sơn là vùng ít phát triển hơn về mọi mặt, khu vực này chỉ có ngọn Kim Sơn có chùa Quán Thế Âm điểm nhấn là lễ hội Quán Thế Âm cấp quốc gia diễn ra hằng năm thu hút rất lớn khách thật phương và hạ tầng vùng này cũng chưa được đầu tư đúng mức

Hình 1.3 Đường Lê Văn Hiến (màu đỏ) chia cắt Danh thắng thành 2 khu vực

Trang 20

Một số công trình hình thành trong khu Danh thắng gây mất mỹ quan chưa đúng với định hướng quy hoạch không gian kiến trúc văn hóa tâm linh

Tháp thang máy nằm ở ngọn Thủy Sơn đoạn cổng số 2 lên Tổ Đình Linh Ứng (H1.4), về mặt kiến trúc với khối kiến trúc hiện đại tương phản mạnh với cảnh quan tự nhiên xung quanh gây mất thẩm mỹ Hơn nữa nơi đây là khu di tích lịch sử danh lam thắng cảnh mang đậm yếu tố tâm linh lại bố trí một công trình kiến trúc nhằm mục đích di chuyển nhanh lên ngọn núi để chiêm ngưỡng vẽ đẹp thiên nhiên và đỡ tốn thời gian du khách việc làm này không đúng với tính thiền trong phật giáo, các ngôi chùa thường nằm trên núi cao được dẫn lên bằng nhiều tầng bậc cấp bằng đá để cho người đến với nơi thanh tịnh này có được cảm giác chiêm nghiệm lại mình, khi mệt mỏi leo lên từng bậc cấp cảm giác khi dừng nghỉ giữa chừng lại nhìn thấy từng cung bậc cảm xúc, thấy từng khung cảnh thiên nhiên khác nhau, rồi khi đến với bậc cấp cuối cùng ta nhìn thấy ngôi chùa cổ kính, tráng lệ âm thanh tiếng vọng của chuông chùa, tiếng tụng niệm A Di đà Phật mang lại cho con người ta cảm giác thanh tịnh, thư thái, tâm hồn và thiên nhiên hòa hợp, xua tan đi hết những phiền não đời thường Đó mới chính là cảnh giới mà các phật tử, du khách cần cảm nhận khi đến với khu văn hóa tâm linh này

Hình 1.4 Tháp thang máy cạnh cổng số 2 ngọn Thủy Sơn

Trang 21

Cảnh quan tuyến phố kinh doanh hàng đá Mỹ Nghệ Non nước còn lộn xộn chưa thể hiện được nét kiến trúc đặt trưng cho khu kinh doanh đặc thù Nên chỉnh trang kiến trúc cho các của hàng kinh doanh đá mỹ nghệ trên tuyến đường Huyền Trân Công Chúa đồng nhất về kính thước bảng hiệu, cao tầng, chỉ giới của gian hàng trưng bày

Hình 1.5 Tuyến phố kinh doanh hàng đá mỹ nghệ Non Nước Bãi đổ xe trong khu danh thắng hiện được bố trí tại bãi động Âm Phủ xe ra vào gây mất an toàn, ô nhiễm tiếng ồn gây ảnh đến môi trường tâm linh tại đây

Hình 1.6 Bãi đậu xe du lịch trước động Âm Phủ Giao thông trong khu Danh thắng chưa được quy hoạch đồng bộ, tuy hạ tầng đường xá đã đầu tư khang trang xong các phương tiện xe tải, xe ben vẫn lưu thông trên tuyến đường Huyền Trân Công Chúa gây mất mỹ quan, an toàn

Trang 22

Hình 1.7 Đường Huyền Trân Công Chúa Khu vực phía Bắc ngọn Thủy Sơn vẫn là bãi đất trống chưa được đầu tư phát triển khu đất có địa hình lõm tại chân núi

Hình 1.8 Phần đất trống tô đỏ phía Bắc ngọn Thủy Sơn Ngọn Mộc Sơn và Thổ Sơn cần được bảo tồn để phát huy vai trò của “Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ” Những ngọn núi này đang ngày càng bị xâm hại, tác động của khu dân cư Các hộ dân hình thành ngày sát chân núi tác động trục tiếp và gây mất

an toàn khi thời tiết mưa bão, gió lốc Năm 2011 đã xảy ra 2 vụ sạc lỡ tại chân núi Mộc Sơn làm hư hại nhà cửa của các hộ dân sống cạnh chân núi Riêng ngọn Thổ Sơn dưới chân núi có di tích Chăm cổ đã được tu sửa, khai quật được rất nhiều hiện vật khảo cổ có giá trị, hiện sát chân núi có các hộ dân sản xuất xây bột đá và sinh sống

Trang 23

Hình 1.9 Ngọn Mộc Sơn bị xâm hại do trước đây người dân khai thác đá

Chùa Quán Thế Âm tại ngọn Kim Sơn nơi tổ chức lễ hội Quán Thế Âm hằng năm (lễ hội cấp quốc gia) thu hút rất đông phật tử, khách thập phương xa gần về tham

dự chiêm bái diễn ra trong 3 ngày liên tiếp Là lễ hội đặc sắc nhất của khu Danh thắng mang đậm màu sắc Phật Giáo Khuôn viên tổ chức lễ hội hằng năm diện tích còn nhỏ chưa đáp ứng quy mô phát triển mở rộng của lễ hội

Hình 1.10 Không gian lễ hội Quán Thế Âm

1.2.3 Tình hình trùng tu bảo tồn các giá trị văn hóa khu di tích văn hóa lịch

sử Ngũ Hành Sơn

Ngũ Hành Sơn là một không gian văn hóa đặc trưng của vùng văn hóa xứ Quảng

Ở đây có những ngọn núi đá vôi là danh thắng nổi tiếng của cả nước Núi Ngũ Hành gốm có năm ngọn, đặt tên dựa trên sự tương ứng về phương vị theo thuyết Ngũ Hành: Thủy, Mộc, Thổ, Kim, Hỏa Đây còn là mảnh đất có bề dày lịch sử và văn hóa, có hai

Trang 24

di tích khảo cổ học Đình Khuê Bắc và Nam Thổ Sơn lần đầu tiên xác nhận ở Đà Nẵng

có dấu tích con người sinh sống vào thời tiền sử và phát triển liên tục từ văn hóa Sa Huỳnh đến văn hóa Chămpa

Các nhà nguyên cứu về văn hóa Ngũ Hành Sơn cũng đã tổ chức buổi tọa đàm khoa học “Di sản Phật giáo Ngũ Hành Sơn" tại Thành phố Đà Nẵng đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học chuyên môn về văn hóa, sử học, kiến trúc văn học, tôn giáo, dân tộc học… làm rõ vị trí của trung tâm Phật giáo Ngũ Hành Sơn trong tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam, đánh giá đúng mức hệ thống các di sản Phật giáo hiện còn và cần có những giải pháp hữu hiệu đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị vốn có của trung tâm Phật giáo Ngũ Hành Sơn - mảnh đất mà các vương triều nhà Nguyễn quan tâm kiến tạo ngày một quang rạng, xứng danh là “Nam châu đệ nhất danh thắng” Đồng thời, đã có nhiều nội dung trao đổi của các nhà nghiên cứu với mong muốn xác định giá trị các bảo vật hiện còn, cần có sự quan tâm hơn nữa nhằm thẩm định, lập hồ sơ để có hướng bảo vệ, trùng tu

Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực di sản văn hóa gặp nhiều khó khăn bởi nhiều nguyên nhân như: Cán bộ của Ban quản lý danh thắng chưa có chuyên môn sâu

về công tác bảo tồn, bảo tàng mặt khác Danh thắng nằm xen lẫn dưới chân các ngọn núi là các chùa và khu dân cư sinh sống bằng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ lâu đời trong phạm vi bảo vệ di tích Khu vực I và II; việc khai thác đá trong thời kỳ bao cấp kéo dài đến năm 1990 đã phá vỡ nguyên trạng yếu tố gốc của di tích (đặc biệt tại động Âm phủ); việc xây dựng trái phép, cơi nới thường xảy ra vào ban đêm của một số hộ dân

và chùa nên khó khăn trong công tác đảm bảo trật tự đô thị

Hình 1.11 Hai trụ đá Chăm được phục dựng, tuy nhiên đã bị mài nhẵn bề mặt

làm mất đi yếu tố gốc của hiện vật

Trang 25

Trên thực tế các đoàn kiểm tra liên ngành của thành phố Đà Nẵng đã rà soát đánh giá hiện trạng xâm hại, xuống cấp khu danh thắng đề ra các giải pháp trùng tu bảo tồn, xong vẫn chưa mang lại hiệu quả thiết thực còn nhiều bất cập

1.3 Kinh nghiệm tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn

hóa di tích văn hóa lịch sử trong nước và ngoài nước

1.3.1 Các giải pháp đề xuất tổ chức các không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa di tích văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn

Bảo tồn, trùng tu Quần thể kiến trúc cung đình tại cố đô Huế

Quần thể kiến trúc cung đình tại cố đô Huế là di sản văn hóa đầu tiên của Việt Nam được UNESCO vinh danh từ năm 1993 Cho đến nay, sau 24 năm được công nhận đã có một sự thay đổi rất lớn đối với diện mạo khu di sản này Toàn bộ khu di sản dường như đang được hồi sinh mạnh mẽ, rất nhiều công trình kiến trúc trong Hoàng cung, Kinh thành, các khu lăng tẩm hoàng gia, đàn miếu, chùa quán… đã được trùng tu phục hồi; hệ thống hạ tầng và cảnh quan được đầu tư tôn tạo Cố đô Huế ngày càng thêm xanh, thêm đẹp và trở thành một điểm đến không thể bỏ qua trên Con đường Di sản miền Trung đối với du khách trong nước và quốc tế

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, quần thể di tích kiến trúc Huế bị tàn phá vô cùng nặng nề Các trận chiến ác liệt năm 1947, mùa Xuân năm 68… đã phá hủy hàng loạt công trình; điện Cần Chánh và hàng loạt cung điện trong Tử Cấm Thành

bị thiêu rụi; Trấn Bình Đài bị quân Pháp và sau đó là quân đội Sài Gòn biến thành khu vực quân sự mà hậu quả vẫn còn đến bây giờ; khu vực Văn – Võ Miếu, Miếu Lịch Đại

Đế Vương, Miếu Lê Thánh Tông, đàn Nam Giao… bị triệt phá, hủy hoại; những khu vực lăng tẩm, hoặc nằm trong khu vực tranh chấp, hoặc là rơi vào khu vực thiếu an ninh nên bị huỷ hoại hoặc lãng quên trong bom đạn Thêm vào đó, các thiên tai tàn khốc, như trận lũ năm 1953, trận bão năm 1985, trận lụt lịch sử năm 1999… đã tiếp tục tấn công và huỷ diệt các di tích…

Sau chiến tranh, toàn bộ khu vực Tử Cấm Thành gần như bị xoá sổ Khu vực Hoàng Thành chỉ còn lại 62 công trình so với 136 công trình kiến trúc nguyên thuỷ (số liệu do Nguyễn Bá Lăng thống kê trong bài Danh sách cung điện trong Đại Nội Huế) Khu vực Kinh thành còn 97 công trình trong tình trạng hư hỏng nặng Lăng Gia Long còn 10/15 công trình, lăng Minh Mạng còn 28/35 công trình, lăng Thiệu Trị còn 16/25 công trình, lăng Tự Đức còn 16/20 công trình, lăng Khải Định còn 16/20 công trình, khu vực Văn Miếu còn 11/15 công trình… Toàn bộ quần thể di tích cố đô Huế sau chiến tranh còn khoảng 300 công trình lớn nhỏ bao gồm: Thành quách, cung điện, đền miếu, lầu gác, lăng mộ, cầu cống, đình tạ… hầu hết đều bị hư hỏng ở những mức độ khác nhau, hoặc bị dột nát, nứt vỡ bờ nóc, bờ quyết, các cấu kiện chịu lực mục ruỗng, nhiều công trình hư hỏng nghiêm trọng, có nguy cơ đổ sụp vào bất kỳ lúc nào 42 ha

Trang 26

tường thành bị cây cỏ xâm thực, 100.000m2 ao hồ cần được nạo vét, 33 cầu cống và 20km đường đi trong các di tích bị hư hại nặng cần phải tu sửa cấp thiết

Hình 1.12 Kinh thành Huế Các hoạt động trùng tu, bảo tồn tại cố đô Huế:

Hầu hết các di tích đều được bảo quản, bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hóa nhờ vậy mà trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt xảy ra liên tiếp, các di tích vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổi thọ

Đã có khoảng 170 công trình di tích lớn nhỏ đã được đầu tư trùng tu, bảo tồn, trong đó tiêu biểu là: Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Hiển Lâm Các, cụm di tích Thế Miếu, cung Diên Thọ, Duyệt Thị Đường, cung Trường Sanh, hệ thống Trường lang (Tử Cấm Thành), vườn Thiệu Phương, Thái Bình Lâu, lầu Tứ Phương Vô Sự, Đông-Tây Khuyết Đài, điện Long An, cung An Định, tổng thể đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, tổng thể lăng Gia Long, Minh Lâu, Điện Sùng Ân, Hữu Tùng Tự, Bi đình, Hiển Đức Môn (lăng Minh Mạng), Điện Hòa Khiêm, Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Điện, Xung Khiêm

Tạ, Dũ Khiêm Tạ, Bửu thành (lăng Tự Đức), Thiên Định Cung, Bi Đình (lăng Khải định), Chùa Thiên Mụ, Cung An Định, 10 cổng Kinh Thành và Quan Tượng Đài, sông Ngự Hà… Hiện nay, lăng Gia Long, lăng Đồng Khánh, lăng Thiệu Trị và lăng Tự Đức cũng đang được triển khai trùng tu nhiều hạng mục

Cơ sở hạ tầng các khu di tích như: Hệ thống đường, điện chiếu sáng khu vực Đại Nội, Quảng trường Ngọ Môn – Kỳ Đài, điện đường đến các lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định, Đồng Khánh… đã được đầu tư, nâng cấp Hệ thống sân vườn các di tích Hưng Miếu, Thế Miếu, cung Diên Thọ, Cung Trường Sanh, vườn Cơ

Hạ, vườn Thiệu Phương, cung An Định, hệ thống phòng chống hỏa, chống sét, hệ

Trang 27

thống nhà vệ sinh trong di tích đã cơ bản được tu bổ hoàn nguyên hoặc xây dựng hoàn thiện

Trong 15 năm (1996-2010), lĩnh vực trùng tu và tôn tạo di tích Cố đô Huế đã được đầu tư khoảng 586 tỷ đồng, nhưng chỉ trong 5 năm 2011-2015, ngân sách dành cho tu bổ đã đạt xấp xỉ 600 tỷ đồng Có thể nói đó là những nỗ lực rất lớn của nhà nước ta và cả cộng đồng xã hội, trong đó có sự hỗ trợ không nhỏ của bạn bè quốc tế Điều quan trọng là các di tích đã được tu bổ đảm bảo các nguyên tắc khoa học về bảo tồn của quốc gia và thỏa mãn các điều luật của Hiến chương – Công ước quốc tế về bảo tồn di sản mà Chính phủ ta đã công nhận và tham gia, được các nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giá cao Cũng chính qua thực tiễn của công cuộc bảo tồn tôn tạo di tích Huế mà đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên của Trung tâm đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu và phong phú, đặc biệt đã nắm vững cả 2 mặt cốt yếu của phương pháp trùng tu khoa học: Đó là phương pháp luận khoa học và kỹ năng thực hiện, vì vậy các hoạt động trùng tu đã đem lại nhiều hiệu quả tích cực

Công cuộc trùng tu bảo tồn di sản Huế không chỉ là việc hồi sinh các giá trị di sản văn hóa mà còn góp phần quan trọng vào chỉnh trang đô thị, phục hưng sức sống mãnh liệt của các giá trị truyền thống, khiến cố đô Huế thực sự trở thành một điểm đến không thể bỏ qua trên Con đường Di sản miền Trung [15]

ảo tồn di sản văn hóa Hội n

Với đặc thù là di sản có người ở, cùng những khó khăn về nguồn kinh phí cũng như yếu tố chuyên môn và các quy định chặt chẽ về bảo vệ di tích, khiến Hội An phải tìm mọi giải pháp linh động, nhằm trùng tu, sửa chữa các nhà cổ Hội An

Hình 1.13 Chùa Cầu – Hội An

Trang 28

Thống kê từ Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An, hiện toàn thành phố có 1.429 di tích các loại, riêng khu vực phố cổ gồm 1.130 di tích, chủ yếu các công trình kiến trúc nghệ thuật và nhà ở Các di tích - tùy vào xếp loại và vị trí - có mức hỗ trợ kinh phí trùng tu cao thấp khác nhau, trong đó, cao nhất là hỗ trợ 75 đối với nhà loại đặc biệt trong kiệt hẻm, còn ở mặt tiền là 60 ; thấp nhất là mức hỗ trợ

45 đối với nhà loại 4 trong kiệt, hẻm và 40 cho nhà mặt tiền Những gia đình không đủ tiền, thành phố sẽ cho vay không tính lãi, trường hợp chủ nhà vẫn không đủ sức, Nhà nước sẽ hỗ trợ đầu tư 100 nhưng sau khi sửa xong sẽ cho thuê lấy tiền hoàn trả đến lúc đủ thì bàn giao lại nhà cho dân

Đặc biệt ngày 27.7.2010, UBND thành phố Hội An đã ban hành Quyết định số

17 (17/2010/QĐ-UBND) về “Cơ chế hỗ trợ kinh phí đầu tư tu bổ các di tích trên địa bàn thành phố nằm ngoài khu vực phố cổ”, với đối tượng hưởng lợi là các di tích ở bên ngoài phố cổ thuộc danh mục bảo vệ của UBND thành phố Hội An Theo đó, mức hỗ trợ đối với di tích thuộc sở hữu nhà nước là 100 và di tích thuộc sở hữu tư nhân, tập thể là 30 - 60 Với những cơ chế này, hầu như các di tích xuống cấp nặng trong và ngoài phố cổ đều được đưa vào danh mục tu bổ Hiện tại, mỗi năm có khoảng 10 di tích được lập dự án đưa vào danh sách tu bổ Riêng năm 2016 có 18 di tích trên địa bàn được tiến hành trùng tu với tổng số vốn hơn 10 tỷ đồng

Hình 1.14 Một góc tuyến đường ven sông Hội An Ngay từ đầu thành phố đã xác định bảo tồn phố cổ Hội An chính là bảo tồn phần xác và phần hồn Trong đó, phần xác chính là các công trình của khu phố cổ, nên việc trùng tu, tôn tạo chống xuống cấp luôn được chú trọng để thúc đấy phát huy giá trị di tích Cùng với đó, việc phục hồi các giá trị văn hóa phi vật thể cũng góp phần làm cho phố ngày càng đẹp hơn, hấp dẫn hơn “Công tác bảo tồn không chỉ tập trung vào

Trang 29

những công trình kiến trúc nhà cổ mà còn là các dự án về hạ tầng và chống sạt lở phố cổ… Điều này đã giúp làm cho phố cổ vững chắc và đẹp hơn, tỷ lệ nhà có nguy cơ sụp

đổ giảm hẳn Ngoài ra, các giá trị văn hóa phi vật thể cũng được phục hồi gìn giữ tốt như nếp sống hiền hòa mến khách của người dân hay các trò chơi dân gian như hô bài chòi, múa tứ linh, múa sắc bùa…”

Với đặc điểm là di sản có người ở, vấn đề vừa đảm bảo tính nguyên gốc của di tích, vừa đáp ứng nhu cầu sinh sống, làm ăn của người dân là rất khó giải quyết Một cách làm “táo bạo” của Hội An là “lách” một số quy định để giải quyết hài hòa các mục tiêu trên Theo các Nghị định 70 (70/2012/NĐ-CP) và Nghị định 15 (15/2013/NĐ-CP) của Chính phủ, quy định về thẩm quyền, thủ tục lập, thẩm định phê duyệt chủ trương lập dự án tu bổ di tích quốc gia đặc biệt và di tích cấp quốc gia phải

có ý kiến từ các bộ ngành trung ương, thì những di tích nhà ở trong phố cổ muốn sửa chữa dù nhỏ đều phải ra Hà Nội xin phép Bộ VH-TT DL và cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Xây dựng thẩm tra thiết kế trước khi tiến hành tu bổ Quy định này đã gây nhiều khó khăn cho các hộ dân phố cổ khi muốn sửa chữa ngôi nhà của mình, vì di tích quốc gia đặc biệt phố cổ là sự cấu thành của nhiều hạng mục nhà cổ Do vậy, thành phố đã linh động để cấp phép sửa chữa nhà cho người dân Bình quân mỗi năm

có hơn 200 lượt đơn xin sửa chữa nhà của các hộ dân trong phố cổ, nếu đúng theo quy định của Nghị định thì không thể giải quyết được, nên Hội An đã linh động xử lý những nhu cầu cấp thiết cho dân Quá trình tu bổ phải theo đúng nguyên tắc và quy định Bằng những cách làm trên, đến nay hầu hết di tích trong và ngoài phố cổ đã được quản lý tốt, tình trạng xuống cấp nặng không còn Riêng năm 2016, đã có 242 trường hợp di tích trong khu phố cổ được cấp phép tu bổ, chủ yếu là nhà tư nhân và tập thể, từ

sự linh động này

Tuy vậy, quá trình quản lý bảo tồn di sản văn hóa tại thành phố Hội An vẫn còn những vướng mắc, hạn chế cần điều chỉnh Đặc biệt là cơ chế hỗ trợ kinh phí tu bổ cho các chủ di tích khu vực phố cổ Cơ chế quy định chỉ hỗ trợ hệ mái ngói âm dương đối với các ngôi nhà không được xếp hạng trong phố cổ là chưa phù hợp, khiến dân khó tiếp cận được “Chỉ hỗ trợ ít kinh phí sửa chữa mái ngói, trong khi việc tu bổ thường phát sinh nhiều vấn đề tốn kém, chưa nói thủ tục chờ đợi rất lâu” Việc hỗ trợ kinh phí

tu bổ đều tuân thủ theo quy chế cụ thể, kể cả quy định chỉ hỗ trợ cho những ngôi nhà chủ sở hữu mang tính truyền thống (không phải qua mua bán) nhằm bảo tồn yếu tố văn hóa phi vật thể bên trong ngôi nhà Những di tích nào mà toàn bộ hoặc hoặc 2/3 chi phí Nhà nước bỏ ra trùng tu thì Nhà nước phải làm chủ đầu tư, còn lại các di tích thuộc loại 3, loại 4 thì dân làm chủ đầu tư

Mỗi năm UBND thành phố Hội An chi khoảng 6 - 10 tỷ đồng từ nguồn thu bán

vé tham quan để tu bổ di tích Du lịch đã thực sự tạo nguồn lực quan trọng cho công

Trang 30

tác bảo tồn di sản Hội An khi mà nguồn vốn hỗ trợ từ tỉnh và trung ương cho di tích ngày càng eo hẹp

Theo tính toán của Trung tâm VHTT Hội An, trong vài năm trở lại đây tiền thu

từ bán vé tham quan phố cổ mỗi năm đạt khoảng 100 tỷ đồng, riêng năm 2016 ước đạt

150 tỷ đồng Sau khi để lại 30 chi cho hoạt động, 70 tiền bán vé được nộp ngân sách thành phố để đầu tư lại cho phố cổ như trùng tu di tích, bảo tồn văn hóa phi vật thể, đầu tư hạ tầng, phòng cháy chữa cháy… Riêng công tác tu bổ di tích, thống kê từ năm 1999 đến nay, khoảng 80 tỷ đồng từ nguồn bán vé tham quan đã được chi cho các hoạt động bảo tồn di tích trong và ngoài phố cổ, đây là số tiền rất lớn, nhiều ý nghĩa, không phải địa phương nào cũng làm được, nhất là trong tình hình nguồn vốn hỗ trợ của tỉnh và trung ương dành cho công tác bảo tồn di tích eo hẹp như hiện nay

Nhiều năm qua thành phố Hội An luôn xác định bảo tồn di sản phải gắn với phát triển du lịch bền vững Vì vậy, trong công tác nghiên cứu, quản lý, tu bổ di sản văn hóa đều gắn với mục tiêu này, xem đây là mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, trong đó hiệu quả từ việc tu bổ di tích mang lại không chỉ giúp các di tích an toàn hơn mà còn tạo điều kiện để phát huy giá trị di sản, phục vụ phát triển du lịch dịch vụ Đến nay, thương hiệu du lịch Hội An ngày càng được khẳng định vững chắc trong và ngoài nước, những năm gần đây mỗi năm đều đón cả triệu lượt khách tham quan, lưu trú, ngỉ dưỡng Riêng năm nay, tính đến tháng 11 đã có gần 1,6 triệu lượt khách tham quan du lịch đến với đô thị cổ Hội An tăng 34 so với cùng kỳ

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa luôn là nhiệm vụ trọng tâm của thành phố nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội bền vững, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân, do đó, công tác này luôn được đặt lên hàng đầu trong các kế hoạch phát triển của Hội An “Những năm qua, thành phố đã huy động được nhiều nguồn lực khác nhau, từ sự hỗ trợ giúp đỡ, phối hợp, cộng tác của các cấp các ngành ở trung ương đến địa phương; của các tổ chức cá nhân trong và ngoài thành phố Đặc biệt, là sự đồng lòng chung tay của toàn thể cộng đồng dân cư nên đã bảo tồn

và phát huy đúng hướng giá trị của di sản, qua đó tạo nguồn lực và động lực giúp di sản được gìn giữ tốt hơn, góp phần hướng đến xây dựng thành công thành phố sinh thái - văn hóa - du lịch”

Có thể thấy, việc UBND tỉnh Quảng Nam đồng ý cho thành phố Hội An giữ lại

70 số tiền thu từ bán vé dành cho công tác bảo tồn trùng tu di sản là một thuận lợi lớn Đây cũng chính là quan điểm xuyên suốt của thành phố Hội An khi gắn kết giữa bảo tồn và phát triển, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và dân, từ đó thúc đẩy sự gắn bó

và ủng hộ của người dân ngày càng mạnh mẽ hơn Thành công của công tác bảo tồn di sản tại đô thị cổ Hội An chính là sự kết hợp của 3 yếu tố, gồm: nhà quản lý (chính quyền); sự tham gia ủng hộ mạnh mẽ của cơ quan chuyên môn, các nhà khoa học; và

sự ủng hộ của cộng đồng dân cư, những chủ di sản” 16

Trang 31

Kinh nghiệm của Hàn Quốc: Xây dựng thương hiệu qua di sản quốc gia

Hàn Quốc luôn nhận thức được tầm quan trọng của các di sản trên đất nước mình

và không ngừng nỗ lực bảo vệ, nâng cao nhận thức về giá trị các di sản này Mỗi di sản đều được Chính phủ xác định là tài sản và báu vật của quốc gia và địa phương Chính phủ Hàn Quốc hiện đã và đang rất nỗ lực nâng cao vị thế và hình ảnh của Hàn Quốc như một phần của “Sáng kiến Xây dựng Thương hiệu Quốc gia” thông qua việc phát huy các di sản vật thể và phi vật thể

Hình 1.15 Cung Gyeongbok – Hàn Quốc

Du khách đến với Hàn quốc đều được giới thiệu về giá trị kiến trúc của Cung Gyeongbok – niềm tự hào của kiến trúc cung điện phương Đông; di sản những phản

gỗ Tripitaka Koreana (dùng để in kinh Phật) và Janggyeongpanjeon (một địa danh cổ xưa lưu giữ những tấm phản gỗ này), đền Haeinsa, tạ đình Gyeongsangnam-do, miếu thờ Jongmyo và Cung Changdeokgung ở Seoul, pháo đài Hwaseong tại Suwon; Di sản phi vật thể như món Kim chi, hồng sâm, linh chi…tất cả đều được thế giới biết đến Chính phủ Hàn quốc luôn tổ chức định kỳ các sự kiện ở từng địa phương nhằm xúc tiến chương trình nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp xã hội, tạo điều kiện cho toàn dân hiểu về giá trị của đất nước mình để người dân thấm nhuần những gì mình đang có, tôn vinh và nghiêm khắc trong ứng xử với di sản của quốc gia Chính quyền địa phương luôn tổ chức các cuộc thi sáng tác, thi viết phóng sự các hoạt động liên quan đến công tác bảo tồn di sản Cùng với các cuộc thi này, nhiều hoạt động thực tế cũng như các bài giảng, đào tạo được đưa đến thanh niên, giúp cho họ hiểu được sự tuyệt vời và tầm quan trọng của di sản vật thể và phi vật thể của quốc gia và từ đó có ý thức tuyên truyền cho cộng đồng quốc tế Hầu như bất kỳ đại sứ quán nào của Hàn quốc trên thế giới cũng mang đậm tinh thần “Hàn quốc và di sản Hàn quốc” [14]

Trang 32

Kinh nghiệm của Ấn Độ - bước đầu thành công

Hình 1.16 Đền Swaminarayan - Ấn Độ Chính phủ Ấn Độ rất quan tâm đến việc nhận diện các di sản tồn tại dưới nhiều dạng thức vật thể và phi vật thể vì coi tất cả đều có giá trị lớn của quốc gia Nhận thức được các di sản sẽ mất đi ý nghĩa và sự truyền đạt thông tin cho các thế hệ tương lai một khi bị hư hại bởi tác động của thiên tai cũng như hoạt động của con người, vì vậy Chính phủ coi việc bảo tồn di sản phải có hành động nghiêm túc và đã lập nên nhiều chiến lược cụ thể, dành kinh phí đáng kể cho quá trình này

Với nỗ lực để New Delhi được công nhận là Thành phố Di sản Thế giới của UNESCO, Chính phủ Ấn Độ đã tiến hành không biết bao nhiêu chương trình và chiến dịch thúc đẩy xây con đường di sản kết nối hơn 30 di tích lịch sử tại thành phố Thủ đô này với nhau Bên cạnh đó, việc xây dựng các tuyến phố đi bộ, tuyến phố dành cho những đặc sản địa phương được đặc biệt chú trọng Đây cũng là nỗ lực đầu tiên của

Ấn Độ nhằm giúp New Delhi đủ điều kiện để được trao tặng danh hiệu Thành phố Di sản Thế giới của UNESCO Con đường Di sản Dehli sẽ kết nối ít nhất 30 di tích lịch

sử lớn nhỏ trong thành phố với nhau, nhằm đưa New Delhi vào danh sách 200 thành phố di sản thế giới trong nỗ lực bảo tồn thành phố 1.000 năm tuổi có bề dày về văn hóa và lịch sử này của Chính phủ Ấn Độ [14]

Kinh nghiệm đau xót từ nước Ý: Mất di sản do quá phụ thuộc vào kinh tế

Pompeii, thành phố từng bị chôn vùi trong trận phun trào của núi lửa Vesuvius vào năm 79 sau Công nguyên, hiện là một trong những điểm thu hút khách du lịch nhiều nhất thế giới, khoảng 3 triệu lượt khách mỗi năm Tuy nhiên trong năm 2010,

Trang 33

một số bức tường cổ cùng một ngôi nhà cổ từng được các võ sĩ giác đấu sử dụng tại Pompeii đã đổ sập Mưa lớn được cho là nguyên nhân tàn phá các kiến trúc hơn 2.000 năm tuổi này Nhưng nguyên nhân sâu sa làm dấy lên tranh cãi về việc bảo tồn các di sản ở nước này là gì? Và đây cũng là bài học đáng để nhiều nước trên thế giới lưu tâm

Hình 1.17 Thành Phố Pompeii - Ý Theo Cựu lãnh đạo khu Pompeii, việc bảo tồn không được Chính phủ thực hiện hợp lý Việc cắt giảm mạnh tay nguồn ngân sách từ 9,2 tỉ USD xuống còn 6,6 tỉ USD làm giảm việc giữ gìn, bảo tồn khu di tích Ông Maurizio Quagliuolo - Tổ chức Herity cũng khẳng định “vấn đề là chính phủ không hiểu rằng bảo tồn di sản văn hóa không nên được xem là một điều xa xỉ trong thời buổi khủng hoảng tài chính, mà phải là một phần cơ bản của sự hồi phục kinh tế”

Các khu di tích ở Ý góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, mang lại doanh thu hỗ trợ các dịch vụ của nhà hàng, khách sạn, du lịch, giao thông Vậy mà chính phủ Ý đã có lúc xem nhẹ và để cho những di tích ấy phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế nước nhà [14]

Kinh nghiệm Trung Quốc – lỗ lớn trong nỗ lực đi tìm danh hiệu Di sản Thế giới

Năm 1985 Trung Quốc mới chính thức gia nhập Công ước di sản thế giới, nhưng đến nay đã có 40 di sản thế giới, chỉ đứng sau Ý và Tây Ban Nha Hiện Trung Quốc có khoảng 200 hồ sơ xin UNESCO công nhận di sản thế giới Sau khi được công nhận di sản thế giới, hầu hết các địa phương đều tăng giá vé vào tham quan, nguồn thu từ vé tăng lên chóng mặt, chiếm 80-90% thu nhập của các khu di sản Thành phố cổ Bình

Trang 34

Dao, tỉnh Sơn Tây, sau khi được công nhận di sản văn hóa thế giới, năm 1998 nguồn thu từ vé tham quan của thành phố cổ từ 180.000 NDT vọt lên 5 triệu NDT, tăng gấp

Ba, tỉnh Quý Châu, được công nhận di sản thiên nhiên thế giới sau 12 năm nỗ lực, nhưng cái giá phải trả quá đắt: nợ đến 200 triệu NDT Tương tự, kiến trúc Điêu Lâu ở Quảng Châu được công nhận vào năm 2007, nay chính quyền đang đau đầu về chi phí hàng trăm triệu NDT để bảo tồn [14]

Bảo tồn di sản ở Venice:

Thành phố cổ kính 1500 năm tuổi Venice mang trong lòng một gia tài đồ sộ các công trình kiến trúc: khoảng 120 nhà thờ, hơn 60 tu viện (theo nhiều phong cách: Thiên chúa giáo, Byzantine, Roman, Gothic, Phục hưng với phong cách chiết trung, baroc hoặc roccoco), hơn 100 tháp chuông và 40 cung điện được xây dựng trải dài nhiều thế kỷ Kiến trúc ở Venice là sự pha trộn phong cách của các dòng kiến trúc chính thống châu Âu và phong cách Byzantine, xen lẫn các ảnh hưởng mang hơi hướng Ả Rập dưới tác động của khí hậu Địa Trung Hải…hình thành phong cách kiến trúc gọi là Venetian style với đặc trưng là các vòm hình lưỡi mác đậm chất Gothic, các chi tiết trang trí mang phong cách Byzantine và Ả Rập Kiến trúc Venetian đã gây bất ngờ cho nhiều KTS khi đặt chân đến đây

Trang 35

Hình 1.19 Venice nhìn từ trên cao

Bộ sưu tập các công trình di sản nằm dọc hai bên bờ Canal Grande (kênh lớn) hết sức đồ sộ, mỗi công trình mang một vẻ độc đáo riêng Ánh nắng chói chang, nước biển lấp lánh cùng vô vàn công trình kiến trúc làm nên cảnh tượng hấp dẫn dọc từng con phố dòng kênh

Hình 1.20 Cầu đá Rialto Những chiếc cầu cũng là đặc sản của thành phố Người ta thường nhắc đến những cây cầu nổi tiếng bắc ngang Canal Grande như cầu đá Rialto cầu gỗ Academia,

Trang 36

nhưng ít ai biết Venice còn một chiếc cầu đặc biệt bằng kính và thép của KTS

Santia-go Calatrava nằm giữa quảng trường Roma và ga tàu điện Santa Lucia

Do Venice nằm trong một vịnh kín (đầm phá), nền đất khá yếu, từ ngàn năm nay, người ta xây công trình trên cọc gỗ (của cây tổng quán sùi hoặc thông rụng lá của Nga) đóng xuống bùn san sát nhau Do ngâm trong môi trường nước biển, hầu hết cọc

gỗ vẫn làm việc tốt sau hàng trăm năm Công trình ở đây hầu hết xây bằng gạch đất nung hoặc bằng đá, lợp ngói ống Quần thể Kiến trúc Venice đều có tuổi đời vài trăm năm

Điểm độc đáo nhất của Venice chính là một đô thị thời hiện đại mà không ô tô,

xe máy Giao thông trong thành phố dựa hoàn toàn vào hệ thống đường thủy gồm các kênh đào, với xương sống là Kênh Lớn (Canal Grande) xuyên suốt thành phố: “đại lộ” độc đáo dài 3,5km này được phủ kín hai bên mình những nhà thờ, khách sạn, quảng trường, các điểm tham quan chính của Venice “Đại lộ” nước này là nơi chứng kiến tất

cả những hoạt động của Venice từ buôn bán, lễ hội đến đám cưới, đám tang Khoảng

150 con kênh đào và khoảng 400 cây cầu biến không gian đô thị ở đây trở nên lãng mạn và độc đáo hiếm có

Hình 1.21 Giao thông đường thủy chủ yếu qua những con kênh nhỏ thơ mộng Phương tiện giao thông nội đô gồm có phà (water bus), ca nô (taxi), thuyền chèo

cá nhân (gondola) Giao thông đối ngoại có tàu điện, hai sân bay quốc tế và đường bộ đến cửa ngõ thành phố Tuy nhiên, hầu hết người dân và du khách ưa thích đi bộ trong các con hẻm nhỏ thay vì dùng các phương tiện giao thông công cộng

Đây là yếu tố quan trọng góp phần gìn giữ môi trường cảnh quan tạo điều kiện tốt cho việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc thông qua phát triển du lịch Thành phố có hàng trăm quảng trường, do không có xe cộ qua lại, người dân có thể tự do thưởng ngoạn mà không cần bận tâm đến giao thông Quảng trường thường

Trang 37

gắn liền tượng đài và nhà thờ hoặc tu viện cùng tháp chuông, khiến không gian đô thị liên tục thay đổi, hấp dẫn ở mọi góc nhìn Đẹp nhất và nổi tiếng nhất là quảng trường San Marco, một mặt quay ra biển, phần còn lại được bao bọc bởi các kiến trúc di sản

và lúc nào cũng đầy ắp chim bồ câu Nói về quảng trường San Marco, Napoléon cho rằng đó là “căn phòng khách thanh lịch nhất Châu Âu” (nguyên văn: “le plus élégant salon d’Europe”)

Có thể nói hệ thống kênh đào, những chiếc cầu, những quảng trường, nhà thờ và

tu viện, tháp chuông chính là các thành tố cấu trúc nên không gian đô thị độc đáo của Venice Công tác bảo tồn đi đôi với phát triển du lịch

Hình 1.22 Nhà thờ Santa Maria della Salute, một kiệt tác kiến trúc Baroc bên dòng

Kênh lớn Venice được nguyên vẹn như ngày nay là nhờ những nỗ lực tột bậc của Chính phủ Italia, người dân ở đây và cả cộng đồng quốc tế, điều này có thể ghi nhận qua chính sách quản lý xây dựng rất hiệu quả Mỗi ngôi nhà là một di sản và dường như chứa đựng cả một pho truyện cổ tích về lịch sử và gốc gác của nó Nhà giáp với kênh đào luôn có một cửa chính mở trực tiếp ra mặt nước Những ngôi nhà nhìn bề ngoài sứt sẹo, mốc meo và hầu như không thay đổi qua thời gian, nhưng nội thất thì lại tiện nghi sang trọng, đáp ứng yêu cầu cuộc sống hiện đại Không có nhà nhiều tầng và cao tầng, biển quảng cáo cũng không hề xuất hiện và cũng không có kiến trúc mới xây chen Một điểm rất thú vị là dường như chính quyền thành phố cho phép người dân tự

do sinh hoạt đời thường như việc phơi phóng quần áo trước nhà, tự chọn màu sơn cho ngôi nhà của mình… khiến du khách rất thích thú và muốn khám phá cuộc sống nơi đây [11]

Trang 38

Bảo tồn di sản kiến trúc ở Praha – Cộng hòa Séc

Hình 1.23 Lâu đài Prague hơn 1000 năm tuổi là tòa lâu đài cổ rộng lớn nhất thế giới

Lâu đài Praha – lâu đài cổ nhất trên thế giới với nhiều cung điện đền đài, được bao bọc bởi bức tường thành, bên trên có nhiều ngọn tháp uy nghiêm trên đỉnh đồi Strahop trấn giữ, trông coi toàn thành phố Cây cầu Charles Karluvmost (Hình 1.24) với 30 bức tượng thánh kiệt tác bằng đá mà người ta quen gọi là “cầu tình” miệt mài đón đưa hàng triệu du khách trên thế giới mỗi năm từ quận Srato Mesto bên hữu ngạn qua sông Vltava sang bên tả ngạn, khu Cung điện nhà vua Quảng trường “Con gà trống” với chiếc đồng hồ thiên văn nổi tiếng vẫn chạy cần cù đều đặn suốt 400 năm qua không sai một phút Cứ mỗi giờ chúa Jesus và 12 vị tông đồ quay đi một vòng, ở nóc đồng hồ có chú gà trống vàng cứ đúng 12 giờ trưa lại cất tiếng gáy vang

Các cung điện lâu đài từ Nhà thờ Praha, Tu viện Thánh Gioóc, Tháp toà thánh trong dinh Tổng thống, Tháp chuông cổ Oóclôi, Cung điện Mùa hè Hoàng gia tới các con phố lát đá nhỏ hẹp trong khu phố trung tâm chứa đựng hàng ngàn ngôi nhà cổ châu Âu xinh đẹp, sang trọng Tất cả vẫn giữ nguyên vẻ thơ mộng lãng mạn làm say đắm du khách đến thăm

Năm 1992, trung tâm thành phố Praha được Unesco công nhận là di sản thế giới Nhà nước và nhân dân cộng hoà Séc đã làm rất tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị của hàng ngàn công trình tượng trưng cho nhiều phong cách nghệ thuật kiến trúc khác nhau từ Roman, Gothic đến Phục hưng, Ba rốc và cả Tân nghệ thuật

Trang 39

Hình 1.24 Cầu Charles về đêm Trong khu trung tâm thành phố quanh năm có những đền đài, miếu mạo được quây phủ bên ngoài để tu sửa phục chế bên trong

Nói vậy không có nghĩa là Praha bất biến Nếu cố tình đi tìm những kiến trúc mới ta sẽ phát hiện ra tòa nhà “dancing house” xây xen cấy ở khu trung tâm Thành phố cổ Đây là minh chứng rõ nét cho quan điểm bảo tồn theo phương pháp cải tạo của chính quyền Thành phố: Trong khi giữ gìn giá trị của kiến trúc cũ vẫn có thể dung nạp những yếu tố kiến trúc mới phù hợp với thẩm mỹ nghệ thuật đương đại

Tòa nhà văn phòng Nhà nước Hà Lan tại Praha của KTS tài ba Frank O Gehry đến từ California mà người ta thường gọi là toà nhà nhảy múa “dancing house” Toà nhà được xây dựng từ năm 1992-1996 sau nhiều tranh cãi, nằm trên đại lộ dọc theo sông Vltrava bên phía hữu ngạn, được thiết kế theo trường phái “Kiến trúc ấn tượng”

Hình 1.25 Quảng trường Wenceslas Hình dáng bên ngoài tòa nhà miêu tả một đôi trai gái đang dìu nhau trong điệu nhảy cổ điển, làm ta liên tưởng tới các buổi dạ hội cung đình với các quý ông, quý bà

Trang 40

trong giới quý tộc Châu Âu Chính yếu tố đó là lý do khiến cho nó không bị xa lạ, lạc lõng giữa đại lộ toàn những dinh thự cổ kính Frank O Gehry còn tìm tòi sáng tạo hình dáng và tỷ lệ cửa sổ tòa nhà ăn nhập và phù hợp với cửa sổ các tòa nhà bên cạnh Điều

đó khiến nó đứng được ổn định hài hoà với bối cảnh chung quanh

Nó như muốn chứng tỏ rằng, Praha vẫn đập nhịp thời đại, vẫn mang hơi thở cuộc sống, vẫn phản ánh kiến trúc đương thời dù rằng thành phố mãi mãi vẫn là đô thị cổ thơ mộng và lãng mạn, mãi mãi vẫn là viên ngọc quý báu của nhân loại cần phải trân trọng gìn giữ cho muôn đời sau [11]

* Những nội dung quan trọng rút ra từ kinh nghiệm tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa các di tích văn hóa lịch sử của các đô thị nêu trên:

- Các di tích lịch sử có một giá trị rất quan trọng trong việc hình thành đô thị Các quốc gia phát triển đều xem các di tích văn hóa lịch sử là nơi để thu hút du lịch,

là giá trị cốt lõi hình thành nên đô thị sinh động mang nhiều màu sắc, thể hiện được nét văn hóa của từng quốc gia từng vùng miền

- Việc trùng tu, bảo tồn cá di tích văn hóa lịch sử là công việc hết sức quan trọng, để công việc mang lại hiệu quả cao, cần phải nghiên cứu áp dụng các giải pháp hợp lý, hiệu quả cho từng loại di tích lịch sử

- Cần phải có những giải pháp cụ thể lâu dài trong việc bảo vệ các di tích trước

sự phá hoại, tác động xấu của việc đô thị hóa

- Việc bảo vệ phát huy vai trò của di tích lịch sử, các công trình kiến trúc cổ cần

có định hướng quy hoạch rõ ràng tạo sự đồng thuận cao từ giới chuyên môn cho tới người dân bản địa

1.3.2 Định hướng tổ chức không gian kiến trúc và bảo tồn các giá trị văn hóa

Là một địa bàn định hướng phát triển đô thị theo hướng bền vững, có vị trí chiến lượt về quốc phòng, an ninh cho khu vực thành phố Đà Nẵng và Hội An

Tận dụng tối đa lợi thế về địa hình, điều kiện tự nhiên con người, làng nghề để phát triển du lịch dịch vụ, nâng cao đời sống văn hóa xã hội cho người dân

Tổ chức không gian kiến trúc nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể sẵn có, gắn kết các giá trị văn hóa làng nghề và văn hóa tâm linh Phát huy vai trò

to lớn của làng nghề đá mỹ nghệ truyền thống trong việc xây dựng hình ảnh, sản phẩm thương hiệu của Danh thắng Ngũ Hành Sơn

Hình thái không gian khu Danh thắng Ngũ Hành Sơn được hình thành dựa theo ý tưởng vòng tròn kết nối năm ngọn núi Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) với Sông Cổ Cò và Biển Đông Xác định Danh thắng Ngũ Hành Sơn là vùng trung tâm để

Ngày đăng: 24/04/2021, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phạm Từ (2012), “Quy hoạch khu danh thắng Ngũ Hành Sơn hướng đến một di sản văn hóa”, Tạp chí Kiến trúc, (số 6-2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch khu danh thắng Ngũ Hành Sơn hướng đến một di sản văn hóa"”, "Tạp chí Kiến trúc
Tác giả: Phạm Từ
Năm: 2012
[2] Lê Đức Viên (2017), Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng theo hướng bền vững, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng theo hướng bền vững
Tác giả: Lê Đức Viên
Năm: 2017
[4] Đặng Thái Hoàng (2000), Lịch sử đô thị, Nxb. Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đô thị, Nxb
Tác giả: Đặng Thái Hoàng
Nhà XB: Nxb. "Xây dựng
Năm: 2000
[5] Trần Thị Vân (2011), Phát triển dịch vụ du lịch trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ du lịch trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
Tác giả: Trần Thị Vân
Năm: 2011
[8] BQL Danh thắng Ngũ Hành Sơn (2017), Những giá trị đặc sắc của Danh thắng Ngũ Hành Sơn,Web site BQL Danh thắng Ngũ Hành Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giá trị đặc sắc của Danh thắng Ngũ Hành Sơn
Tác giả: BQL Danh thắng Ngũ Hành Sơn
Năm: 2017
[9] UBND quận Ngũ Hành Sơn (2017), Giới thiệu chung về quận Ngũ Hành Sơn, Web site UBND quận Ngũ Hành Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu chung về quận Ngũ Hành Sơn
Tác giả: UBND quận Ngũ Hành Sơn
Năm: 2017
[10] BQL Danh thắng Ngũ Hành Sơn (2018), Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng,Web site BQL Danh thắng Ngũ Hành Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng
Tác giả: BQL Danh thắng Ngũ Hành Sơn
Năm: 2018
[11] GS.TS.KTS Nguyễn Việt Châu (2013), “ Bảo tồn, Trùng tu Di sản Kiến trúc thế giới Lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Kiến trúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, Trùng tu Di sản Kiến trúc thế giới Lý luận và thực tiễn”
Tác giả: GS.TS.KTS Nguyễn Việt Châu
Năm: 2013
[12] Ngoc Hà (2018), Giá trị đặc biệt của di tích Ngũ Hành Sơn,Web site Báo Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị đặc biệt của di tích Ngũ Hành Sơn
Tác giả: Ngoc Hà
Năm: 2018
[13] BQL Danh thắng Ngũ Hành Sơn (2017), Các văn bia cổ và ký tự tại Danh thắng Ngũ Hành Sơn,Web site BQL Danh thắng Ngũ Hành Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bia cổ và ký tự tại Danh thắng Ngũ Hành Sơn
Tác giả: BQL Danh thắng Ngũ Hành Sơn
Năm: 2017
[20] Phạm Hoàn Hải (2004), Đà Nẵng trên con đường di sản, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đà Nẵng trên con đường di sản
Tác giả: Phạm Hoàn Hải
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2004
[21] Hoàng Đạo Kính (2002), Di sản văn hoá Bảo tồn và trùng tu, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hoá Bảo tồn và trùng tu
Tác giả: Hoàng Đạo Kính
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2002
[22] Doãn Minh Khôi (2002), Những vấn đề triết học trong kiến trúc Phương Đông và Việt Nam, Tạp chí kiến trúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề triết học trong kiến trúc Phương Đông và Việt Nam
Tác giả: Doãn Minh Khôi
Năm: 2002
[23] Ngô Thế Thi (1997), Giải pháp thẩm mỹ trong kiến trúc cảnh quan, Tạp chí kiến trúc Việt Nam số 4, 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thẩm mỹ trong kiến trúc cảnh quan
Tác giả: Ngô Thế Thi
Năm: 1997
[24] Nguyễn Hồng Ngọc (2016), Giáo trình Thiết kế Đô thị: Phương pháp gen- erative và ngôn ngữ kiểu mẫu, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thiết kế Đô thị: Phương pháp gen-erative và ngôn ngữ kiểu mẫu, Nxb
Tác giả: Nguyễn Hồng Ngọc
Nhà XB: Nxb. "Đà Nẵng
Năm: 2016
[25] Nguyễn Hồng Ngọc (2013), Cần phải có một luật Đô thị thông minh cho thành phố Đà Nẵng, Tạp chí kiến trúc số 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần phải có một luật Đô thị thông minh cho thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Hồng Ngọc
Năm: 2013
[26] Nguyễn Đăng Trường, Ngô Trường Thọ Và Dương thị Thơ (2003), Nghiên cứu phát triễn các lọai hình và hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn TPĐN. Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, Sở du lịch TPĐN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triễn các lọai hình và hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn TPĐN
Tác giả: Nguyễn Đăng Trường, Ngô Trường Thọ Và Dương thị Thơ
Năm: 2003
[28] UBND TPĐN, Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.B. TÀI LIỆU THAM KHẢO NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
[29] Al_Sayed, K., Turner, A., Hillier, B., Iida, S., Penn, A., 2014 (4th Edition), "Phương pháp luận về không gian cú pháp", Trường Kiến trúc Bartlett, UCL, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận về không gian cú pháp
[17] Nguyễn Thế Bá - Nguyễn Quốc Hùng - Lê Trọng Bình (1980), Qui hoạch xây dựng đô thị - Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm