1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sở hữu trí tuệ và casestudy về trademark đại học ngoại thương

28 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 577,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 2 I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI 4 1. Khái niệm, chức năng, phân loại nhãn hiệu. 4 1.1. Khái niệm. 4 1.2. Chức năng. 4 1.3. Phân biệt nhãn hiệu với thương hiệu. 5 1.4. Phân loại. 6 2. Quyền bảo hộ nhãn hiệu. 9 2.1 Đối tượng 9 2.2. Nội dung quyền. 11 2.3. Các hành vi xâm phạm. 12 2.4. Ngoại lệ 14 2.5. Thời hạn bảo hộ. 15 II. CASE STUDIES 16 1. “Instagram” thuộc về ai tại Việt Nam? 16 1.1. Tóm tắt vụ việc 16 1.2. Xác định đối tượng 16 1.3. Diễn biến cuộc tranh chấp và pháp luật điều chỉnh 16 1.4. Đề xuất 20 1.5. Kết luận 21 2. Nhãn hiệu Xmen thuộc về ai tại Việt Nam? 22 2.1. Tóm tắt vụ việc 22 2.2. Xác định quyền liên quan 22 2.4. Lập luận của các bên 23 2.5. Căn cứ luật pháp và kết luận 24 2.6. Kết luận 26 KẾT LUẬN 27

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI 4

1 Khái niệm, chức năng, phân loại nhãn hiệu 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Chức năng 4

1.3 Phân biệt nhãn hiệu với thương hiệu 5

1.4 Phân loại 6

2 Quyền bảo hộ nhãn hiệu 9

2.1 Đối tượng 9

2.2 Nội dung quyền 11

2.3 Các hành vi xâm phạm 12

2.4 Ngoại lệ 14

2.5 Thời hạn bảo hộ 15

II CASE STUDIES 16

1 “Instagram” thuộc về ai tại Việt Nam? 16

1.1 Tóm tắt vụ việc 16

1.2 Xác định đối tượng 16

1.3 Diễn biến cuộc tranh chấp và pháp luật điều chỉnh 16

1.4 Đề xuất 20

1.5 Kết luận 21

2 Nhãn hiệu X-men thuộc về ai tại Việt Nam? 22

2.1 Tóm tắt vụ việc 22

2.2 Xác định quyền liên quan 22

2.4 Lập luận của các bên 23

2.5 Căn cứ luật pháp và kết luận 24

2.6 Kết luận 26

KẾT LUẬN 27

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Ý nghĩa của đề tài

Ngày 01/01/2006, Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực, bao gồm các điều khoảnquy định các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu và tên thương mại, tạo cơ sở cho các quyđịnh tại Luật Sở hữu trí tuệ Ngày 1-7-2006, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực; vàLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực từ ngày 01/01/2010quy định chi tiết và cụ thể hơn về những vấn đề thuộc quyền liên quan nhãn hiệu và tênthương mại; bao gồm đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ, điều kiện bảo hộ, nội dung quyền,giới hạn quyền và thời hạn bảo hộ, chủ sở hữu… Tiếp đó, những văn bản hướng dẫn thihành cũng được ban hành, đó là: Nghị định của Chính phủ số 100/2006/NĐ-CP ngày21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật

sở hữu trí tuệ; Nghị định 85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số điều của Bộ luật dân sự,…

Có thể nói, hệ thống pháp luật Việt Nam đã tạo hành lang pháp lý an toàn đểkhuyến khích và đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các công ty về các vấn đề liên quanbảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại Hệ thống này là phương tiện để các chủ thể sử dụngnhằm bảo vệ quyền lợi của mình đồng thời là công cụ quản lý của các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về Quyền liên quan nhãn hiệu và tên thương mại, đồngthời phân tích hai vụ tranh chấp liên quan đến vấn đề nhãn hiệu để làm rõ hơn các phântích nêu trên

Trang 4

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƯƠNG MẠI

1 Khái niệm, chức năng, phân loại nhãn hiệu.

1.1 Khái niệm.

Theo định nghĩa của USTOP, nhãn hiệu là dấu hiệu có khả năng phân biệt dùng đểphân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với những hàng hóa và dịch vụcủa các doanh nghiệp khác

Theo Luật SHTT Việt Nam năm 2005, khái niệm nhãn hiệu được quy định tại điều

4 như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”

Nhìn chung, bất kỳ chữ cái, từ ngữ, chữ số, hình vẽ, màu sắc, hình ảnh, sự sắp đặt,tiêu đề quảng cáo, nhãn hàng hoặc sự kết hợp của các dấu hiệu kể trên được sử dụng đểphân biệt hàng hóa và dịch vụ của các công ty khác nhau có thể được coi là nhãn hiệu Ởmột số nước, các khẩu hiệu quảng cáo cũng được coi là nhãn hiệu và có thể được đăng kýmột cách bình thường tại các cơ quan nhãn hiệu quốc gia Ngày càng có nhiều nước chophép việc đăng ký các nhãn hiệu ít tính truyền thống hơn như dấu hiệu ba chiều (ví dụ,chai Coca-Cola hoặc thành Socola Toblerone), dấu hiệu nghe nhìn thấy được (âm thanh,

ví dụ, tiếng gầm của sư tử hoặc sử dụng trước các bộ phim do Tập đoan Mayer (MGM) sản xuất) hoặc dấu hiệu khứu giác (mùi, ví dụ, nước hoa) Tuy nhiên,nhiều nước giới hạn về dấu hiệu có thể được đăng ký làm nhãn hiệu, nhìn chung, chỉ chophép đăng ký các nhãn hiệu có thể nhìn thấy được hoặc có thể được thể hiện theo hìnhhọa Pháp luật Việt Nam cũng đặt điều kiện này đối với việc bảo hộ nhãn hiệu

Metro-Goldwyn-1.2 Chức năng.

Các chức năng chính của nhãn hiệu là:

• Giúp khách hàng nhận ra sản phẩm (dù là hàng hóa hoặc dịch vụ) của một công

ty cụ thể nhằm phân biệt chúng với các sản phẩm trùng hoặc tương tự do các đối thủ cạnhtranh cung cấp Khách hàng hài lòng với một sản phẩm cụ thể rất có khả năng lại mua

Trang 5

hoặc sử dụng sản phẩm đó trong tương lai Do vậy, họ cần phân biệt được một cách dễdàng giữa các sản phẩm trùng hoặc tương tự.

• Giúp cho doanh nghiệp phân biệt sản phẩm của họ với sản phẩm của đối thủcạnh tranh Do vậy, nhãn hiệu có một vai trò then chốt trong chiến lược quảng cáo và tiếpthị của công ty nhằm xây dựng hình ảnh và uy tín về các sản phẩm của công ty trong mắtngười tiêu dùng

• Tạo động lực cho các công ty đầu tư vào việc duy trì hoặc nâng cao chất lượngsản phẩm nhằm bảo đảm rằng sản phẩm mang nhãn hiệu có uy tín tốt

1.3 Phân biệt nhãn hiệu với thương hiệu.

Sự khác nhay giữa thương hiệu và nhãn hiệu Hiện nay trên thực tế hoạt động kinhdoanh thương mại của các công ty, hai khái niệm thương hiệu và nhãn hiệu gần như đượchiểu đồng nhất và khó phân biệt khi đề cập đến hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cánhân

Khái niệm nhãn hiệu đã được quy định rõ trong luật sở hữu trí tuệ là “dấu hiệudùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” còn khái niệmthương hiệu vẫn chưa được quy định trong pháp luật Việt Nam nhưng lại được sử dụngkhá thông dụng trong thực tiễn để thay cho khái niệm nhãn hiệu Tuy nhiên, đây là haikhái niệm khác nhau và theo pháp luật của một số nước thì đã được phân biệt khá rõ

Thứ nhất, thương hiệu là khái niệm rộng hơn so với nhãn hiệu Khi nhắc đến têngọi, biểu tượng logo của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của các công ty, tổ chức khácnhau người ta đều có thể gọi nó là nhãn hiệu hoặc thương hiệu Tuy nhiên, khác với nhãnhiệu, thương hiệu được đề cập với cách hiểu rộng hơn là tất cả những cái gì gắn liền vớisản phẩm, dịch vụ để có thể tạo ra chỗ đứng của sản phẩm, dịch vị đó trong lòng ngườitiêu dùng Vì vậy, thương hiệu là sự kết hợp của nhãn hiệu, khẩu hiệu, nhạc hiệu hay, chỉdẫn địa lý gắn liền với sản phẩm, dịch vụ…Thương hiệu chính là sự kết hợp của các yếu

tố này để tạo nên hình ảnh, vị trí của sản phẩm, dịch vụ của công ty, tổ chức trong mắtngười tiêu dùng Chằng hạn như: khẩu hiệu “hãy nói theo cách của bạn” kết hợp với logo

Trang 6

hình ảnh, màu sắc làm nên thương hiệu cho dịch vụ Viettel trong lòng người tiêu dùng.Còn nhãn hiệu chỉ là tên dịch vụ Viettel, hình ảnh logo để phân biệt với các dịch vụ viễnthông khác.

Thứ hai, vị trí của nhãn hiệu và thương hiệu Nhãn hiệu là một khái niệm pháp lýđược thừa nhận khi được đăng ký tại các cơ quan có thẩm quyền và được bảo hộ trongthời hạn 10 năm và có thể kéo dài bằng việc gia hạn Còn thương hiệu phải mất một thờigian dài để tạo dựng qua việc tạo dựng hình ảnh hàng hóa, dịch vụ và cả hình ảnh củacông ty trong mắt người tiêu dùng và để được người tiêu dùng công nhận Do đó, thươnghiệu có thể tồn tại mãi mãi mà không bị giới hạn về mặt thời gian và được biết đến rộngrãi hơn so với nhãn hiệu

Thứ ba, hoàn cảnh sử dụng Nhãn hiệu là khái niệm pháp lý đã được thừa nhậnnên nó được sử dụng trong tất cả các loại giấy tờ pháp lý gắn liền với sản phẩm, dịch vụ.Còn thương hiệu không phải là khái niệm pháp lý nên nó chỉ được sử dụng trong thựctiễn hoạt động kinh doanh, cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng

1.4 Phân loại.

● Dựa vào dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu thì có 3 loại nhãn hiệu:

- Nhãn hiệu chữ: bao gồm các chữ cái (có thể kèm theo cả chữ số), từ (có nghĩahoặc không có nghĩa; có thể là tên gọi, từ tự đặt…), ngữ (một cụm từ, có thể là một khẩuhiệu trong kinh doanh)…

Trang 7

- Nhãn hiệu hàng hóa (trademarks): là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của nhữngngười sản xuất khác nhau;

- Nhãn hiệu dịch vụ (service marks): là dấu hiệu để phân biệt dịch vụ do các chủthể kinh doanh khác nhau cung cấp

- Nhãn hiệu tập thể (collective marks)

Nhãn hiệu tập thể thường thuộc sở hữu của một hiệp hội hoặc hợp tác xã mà cácthành viên có thể sử dụng nhãn hiệu tập thể để tiếp thị các sản phẩm của mình Hiệp hội

đó thường xây dựng tập hợp các tiêu chuẩn về sử dụng nhãn hiệu tập thể (chẳng hạn tiêuchuẩn chất lượng ) và cho phép các thành viên sử dụng nhãn hiệu đó nếu họ đáp ứng cáctiêu chuẩn đó Nhãn hiệu tập thể có thể là xem như một hình thức liên kết hiệu quả trongviệc tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của một nhóm doanh nghiệp

Theo quy định của pháp luật khái niệm về nhãn hiệu tập thể được hiểu như sau:Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viêncủa tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khôngphải là thành viên của tổ chức đó

- Nhãn hiệu chứng nhận (certification marks):

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cánhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặctính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấpdịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch

vụ mang nhãn hiệu

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu do các tổ chức có chức năng kiểm soát, chứngnhận chất lượng, đặc tính… của hàng hóa, dịch vụ đăng ký, sau đó tổ chức này có quyềncấp phép sử dụng cho bất kỳ chủ thể sản xuất, kinh doanh nò nếu hàng hóa, dịch vụ của

họ đáp ứng các tiêu chuẩn do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận đặt ra

Trang 8

Sự khác biệt giữa nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu tập thểchỉ có thể do các thành viên của tổ chức tập thể sử dụng, trong khi nhãn hiệu chứng nhận

có thể được sử dụng bởi bất kỳ ai có sản phẩm, dịch vụ đáp ứng các tiêu chuẩn định sẵn

Đăng ký nhãn hiệu đối với một số nhãn hiệu chứng nhận đã được thực hiện tạiViệt Nam, ví dụ như đăng ký Chè Ba Vì, Sữa Ba Vì, Phở Nam Định

- Nhãn hiệu liên kết:

Nhãn hiệu liên kết là nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tựnhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan vớinhau Việc đăng ký nhãn hiệu liên kết mang lại nhiều lợi ích cho chủ sở hữu nhãn hiệu.Chủ sở hữu các nhãn hiệu liên kết được độc quyền sử dụng dấu hiệu có khả năng phânbiệt cho nhiều loại hàng hóa, dịch vụ Bên cạnh đó, việc sử dụng nhãn hiệu liên kết tạo uytín cho những sản phẩm, dịch vụ mới của doanh nghiệp bởi nhãn hiệu đã từng được biếtđến và chiếm được sự tín nhiệm của người tiêu dùng

- Nhãn hiệu nổi tiếng (famous marks):

Những nhãn hiệu này là sự kết tinh nỗ lực kinh doanh của doanh nghiệp cả về trítuệ và vật chất, vì vậy nhãn hiệu nổi tiếng là tài sản có giá trị rất lớn

Một số quốc gia phân biệt hai cấp độ: nhãn hiệu nổi tiếng (well – known marks) lànhãn hiệu được biết đến rộng rãi trong phạm vi quốc gia và nhãn hiệu rất nổi tiếng(famous marks) là nhãn hiệu được biết đến rộng rãi trên thị trường quốc tế, mang tínhtoàn cầu Những nhãn hiệu được coi là nổi tiếng toàn cầu có thể kể đến như: CocaCola,NOKIA, Google, Microsoft…

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được ngườitiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam như: Trung Nguyên cho sản phẩmvà dịch vụ bán cà phê; Biti’s cho giày dép; Vietnam Airlines cho dịch vụ vận chuyển hàngkhông…

Nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ theo cơ chế riêng, khác với bảo hộ nhãn hiệuthường

Trang 9

2 Quyền bảo hộ nhãn hiệu.

2.1 Đối tượng

Đối tượng được bảo hộ của nhãn hiệu, không gì khác, chính là nhãn hiệu Vậy làmthế nào để một dấu hiệu thuộc các đối tượng nêu trên có thể được bảo hộ làm nhãn hiệu?

a) Điều kiện để một đối tượng được bảo hộ nhãn hiệu

Hai điều kiện tiên quyết đó là nó phải có khả năng phân biệt và tính không lừa dối giữa hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu vói hàng hóa, dịch vụ của chủ thể

khác

● VD về tính phân biệt: Để có tính phân biệt, nhãn hiệu phải tự có khả năng phânbiệt hàng hóa và dịch vụ Ví dụ từ "apple" (quả táo) Trong khi từ "Apple" (quảtáo) là một nhãn hiệu có tính phân biệt ở mức độ cao cho sản phẩm máy tính, bởi

vì nó không liên quan gì tới sản phẩm máy tính, nhưng nó lại không có tính phânbiệt nếu được sử dụng đối với quả táo thực Nói cách khác, ai đó trồng và bán táo

sẽ không thể đăng ký từ "apple" (quả táo) để làm nhãn hiệu và bảo hộ nó, bởi vìđối thủ cạnh tranh của anh ta có thể phải sử dụng từ này để mô tả hàng hóa của họ

Vì vậy, nói chung một nhãn hiệu không có tính phân biệt nếu nó mang tính mô tả

● VD về tính không lừa dối: Một nhãn hiệu có khả năng lừa dối là nhãn hiệu chỉ rarằng hàng hóa mang nhãn hiệu đó có chất lượng nào đó trong khi nó lại không cóchất lượng đó Một ví dụ là nhãn hiệu "Da thật" (Real Leather) cho hàng hóakhông phải làm bằng da thật

b) Những đối tượng không được bảo hộ làm nhãn hiệu

Các đối tượng sở hữu các đặc điểm ở dưới đây sẽ không được bảo hộ làm nhãnhiệu

● Tên gọi chung:

Ví dụ nếu công ty bạn có ý định đăng ký nhãn hiệu CHAIR (có nghĩa là ghế) đểbán sản phẩm ghế, nhãn hiệu sẽ bị từ chối do “chair” là tên gọi chung của sản phẩm

Trang 10

● Nhãn hiệu có tính mô tả: đó là những từ ngữ thường được sử dụng trong thươngmại để mô tả sản phẩm

Ví dụ nhãn hiệu SWEET (nghĩa là ngọt) có thể bị từ chối khi đăng kí cho sô cô la

vì tính mô tả của nó Trên thực tế, sẽ là không công bằng khi trao cho một nhà sản xuất sô

cô la độc quyền đối với từ “sweet” để tiếp thị sản phẩm của mình Tương tự các thuật ngữchỉ chất lượng hoặc tán dương sản phẩm như RAPID (nhanh) BEST (tốt nhất) CLASSIC(kinh điển) INNOVATIVE (đột phá) có khả năng làm phát sinh sự phản đối tương tự trừkhi chúng là một bộ phận của một nhãn hiệu có khả năng phân biệt khác Trong nhữngtrường hợp trên, có thể cần phải có lời khước từ “disclaimer” để khẳng định rằng không

có ý định bảo hộ độc quyền bộ phận đó của nhãn hiệu

● Nhãn hiệu có tính lừa dối:

Đó là những nhãn hiệu có khả năng đánh lừa hoặc lừa dối người tiêu dùng về bảnchất, chất lượng, nguồn gốc địa lý của sản phẩm Ví dụ, tiếp thị bơ thực vật với một nhãnhiệu mô tả con bò sữa có thể bị từ chối với lí do bị coi là lừa dối người tiêu dùng vì họ cóthể liên hệ nhãn hiệu với các sản phẩm hàng ngày (nghĩa là bơ)

● Nhãn hiệu bị coi là trái với trật tự công cộng và đạo đức:

Những từ ngữ, sự minh họa bị coi là vi phạm các chuẩn mực về đạo đức và tôngiáo được chấp nhận rộng rãi ở nước đăng ký bảo hộ thì nhìn chung không được phépđăng ký làm nhãn hiệu

● Quốc kỳ, huy hiệu, dấu xác nhận chính thức và biểu tượng của quốc gia và các tổchức quốc tế đã được thông báo cho Văn phòng quốc tế WIPO bị loại ra khỏi đốitượng đăng ký

● Đơn đăng ký còn bị từ chối nếu nhãn hiệu xung đột với quyền của các nhãn hiệu

có trước

Có 2 nhãn hiệu trùng nhau (hoặc rất giống nhau) dùng cho cùng loại sản phẩm cóthể gây ra nhầm lẫn với người sử dụng Một số cơ quan nhãn hiệu kiểm tra sự xung độtvới các nhãn hiệu đang được bảo hộ (kể cả các nhãn hiệu nổi tiếng không đăng ký) như là

Trang 11

một phần của quy trình đăng ký, trong khi nhiều cơ quan nhãn hiệu khác chỉ thực hiệnviệc này khi nhãn hiệu bị bên thứ ba phản đối sau khi công bố nhãn hiệu Trong trườnghợp bất kỳ, nếu cơ quan quản lý nhãn hiệu thấy rằng nhãn hiệu của bạn bị trùng với hoặctương tự tới mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu có trước cho một sản phẩm trùng hoặctương tự, nhãn hiệu đó sẽ bị từ chối hoặc hủy bỏ Do đó, việc tránh sử dụng các nhãnhiệu có nguy cơ bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với những nhãn hiệu trướcđược coi là một giải pháp thông minh.

2.2 Nội dung quyền.

2.2.1 Các quyền bảo hộ (Rights)

Khi trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu thì chủ sở hữu sẽ có các quyền sau đây:

(1) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quyđịnh tại Điều 124 và Chương X của Luật Sở hữu trí tuệ

Điều 124 Sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp

Khoản 5 Điều 124 Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây: a) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinhdoanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;

b) Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãnhiệu được bảo hộ;

c) Nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ

(2) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tạiĐiều 125 của Luật Sở hữu trí tuệ

Điều 125 Quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp

Khoản 1 Điều 125 Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhânđược trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm ngườikhác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nếu việc sử dụng đó không thuộc các trườnghợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này

Trang 12

Quyền ngăn cấm sử dụng nhãn hiệu không được áp dụng đối với trường hợp tạiđiểm g, khoản 2, điều 125 quy định về ngoại lệ đối với nhãn hiệu:

g) Sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu nhãnhiệu đó đã đạt được sự bảo hộ một cách trung thực trước ngày nộp đơn đăng ký chỉ dẫnđịa lý đó

(3) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Chương X của Luật

Sở hữu trí tuệ: CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

2.2.2 Giới hạn quyền (Exclusions)

Các điều luật liên quan đến giới hạn quyền

Quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu bị giới hạn theo Điều 7 của Luật Sở hữu trítuệ 2005

Điều 7 Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ

1 Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vivà thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật này

2 Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhànước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và khôngđược vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan

3 Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và cáclợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặchạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền

sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền củamình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mậtnhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ

2.3 Các hành vi xâm phạm.

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là việc sử dụngnhãn hiệu trong phạm vi và thời hạn bảo hộ mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu

Trang 13

nhãn hiệu, trừ các trường hợp sử dụng hạn chế (Điều 132 - 137 Luật SHTT) Theo Điều

129 Luật SHTT, hành vi sử dụng nhãn hiệu mà không xin phép chủ sở hữu có thể diễn radưới nhiều dạng:

● Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụtrùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệuđó; nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá,dịch vụ;

Trong trường hợp này, bên xâm phạm sử dụng chính nhãn hiệu đã được bảo hộtrước để gắn lên hàng hóa, dịch vụ của mình mà cũng cùng loại với hàng hóa củanhãn hiệu đã được bảo hộ đó Ví dụ, một nhà sản xuất A sử dụng chai nước giảikhát Coca-cola để đựng cho sản phẩm nước giải khát của mình và tung ra thịtrường thì có thể xem các hàng hóa này là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu

● Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụtương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèmtheo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồngốc hàng hoá, dịch vụ;

Trường hợp này, bên xâm phạm sử dụng chính nhãn hiệu đã được bảo hộ trước

đó cho các hàng hóa, dịch vụ của mình mà cũng tương tự với hàng hóa của nhãnhiệu đã được bảo hộ Tương tự như trên, nếu nhà sản xuất A cũng sử dụng nhãnhiệu Coca-cola để gắn lên các sản phẩm khác bánh mì kẹp thịt, bánh ngọt, vốnkhông phải là sản phẩm trùng với nhãn hiệu đã đăng ký, nhưng lại là sản phẩmtương tự và cùng thuộc nhóm sản phẩm thì cũng bị coi là giả mạo nhãn hiệu

● Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch

vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mụcđăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầmlẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ (sản xuất, lưu thông, bán, tiêu thụ hàngnhái);

Trang 14

Trong trường hợp này, bên vi phạm có thể sử dụng nhãn hiệu tương tự, gâynhầm lẫn với một nhãn hiệu đã được bảo hộ trước đó cho hàng hóa, dịch vụ củamình mà trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa đã được đăng ký kèm theonhãn hiệu đó Ví dụ điển hình cho hành vi xâm phạm này là các sản phẩm nướctinh khiết đóng chai có tên gọi tương tự với nhãn hiệu AQUAFINA của Công tyPepsiCo, ví dụ như Aqualeader, Aquafamily, Aquanova.

● Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấuhiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá,dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự vàkhông liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụmang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn vềnguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người

sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng

Trong trường hợp này, bất kể hành vi nào liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng, dù

sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu cho bất kỳ hàng hóa, dịch vụnào không nhất thiết phải trùng hoặc có liên quan đến các hàng hóa, dịch vụ đãđăng ký của nhãn hiệu nổi tiếng đều bị xem là hành vi xâm phạm Ví dụ nếu nhãnhiệu Coca-Cola được công nhận là nổi tiếng tại Việt Nam thì bất kể hành vi nào sửdụng nhãn hiệu Coca-Cola cho các sản phẩm dù không liên quan đến sản phẩmnước giải khát như giày da, hóa chất, xây dựng, v.v… thì cũng đều là hành vi xâmphạm

2.4 Ngoại lệ

Đối ngược lại với việc độc quyền sử dụng, pháp luật cũng quy định một số hành vi

sử dụng không thuộc độc quyền của chủ sở hữu (ai cũng được sử dụng, không cần phảixin phép chủ sở hữu nhãn hiệu)

● Bán lại các đối tượng được bảo hộ do chính chủ sở hữu hay người được chủ

sở hữu mang ra thị trường (exhaustion of right)

Ngày đăng: 24/04/2021, 10:39

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w