1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

chuyen de su dung bai tap o chu trong cung co bai o mon sinh 8

5 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 199,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên đây là một trong những phương pháp mà tôi sử dụng trong giảng dạy môn sinh học 8 năm học 2009- 2010, mong quý thầy cô đóng góp ý kiến để chuyên đề hoàn chỉnh hơn và để có thể áp [r]

Trang 1

PHÒNG GD & ĐT DUYÊN HẢI

TRƯỜNG THCS LONG KHÁNH

CHUYÊN ĐỀ: SỬÛ DỤNG BÀI TẬP Ô CHỮ TRONG CỦNG CỐ BÀI

Ở MÔN SINH 8

I LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

Trong những năm gần đây Bộ GD & ĐT đang tiến hành đổi mới giáo dục một cách tồn diện, địi hỏi giáo viên phải luơn suy nghĩ tìm tịi phương pháp dạy học một cách phù hợp, mới hy vọng đáp ứng được yêu cầu của chương trình

Xuất phát từ mục đích đĩ, là giáo viên ai cũng trăn trở, làm sao phải tìm ra cho mình một phương pháp dạy học hữu hiệu nhất, phù hợp với đối tượng học sinh, gây được hứng thú cho học sinh, giúp học sinh cĩ một kết quả cao trong học tập là một vấn đề khĩ

Với kinh nghiệm giảng dạy sách giáo khoa đổi mới, bản thân tơi nhận thấy một trong những phương pháp dạy học sinh học cĩ hiệu quả cao là: “Sử dụng bài tập ơ chữ -trong củng cố bài ở mơ sinh 8 “

II BÀI TẬP Ơ CHỮ - CÁCH TIẾN HÀNH

1/ Bài tập ơ chữ

Là một dạng bài tập kiểm tra kiến thức đã tiếp thu của học sinh, dưới nhiều ơ chữ bí mật

- Mỗi ơ chữ cĩ nhiều hàng ngang và một từ hàng dọc, mật mã nội dung kiến thức từng bài trong chương trình

- Học sinh muốn biết được mật mã của các từ sau ơ chữ, địi hỏi phải cĩ kiến thức nhất định đã học

- Sau khi giải được các ơ chữ hàng ngang thì ơ chữ hàng dọc được thể hiện cĩ nội dung cơ bản quan trọng nhất của bài học, của chương giúp học sinh khắc sâu và nhớ mãi

2/ Cách tiến hành.

-Sau mỗi bài học giáo viên cĩ thể đưa ra ơ chữ, cĩ nội dung kiến thức của bài đĩ, ở phần củng cố bài học

-Hoặc giáo viên cĩ thể đưa ơ chữ vào kiểm tra bài cũ để học sinh cĩ thể ơn lại kiến thức

-Hoặc cĩ thể đưa ra ơ chữ khi kết thúc một chương nhằm hệ thống kiến thức trong chương

Trang 2

3/Một số ví dụ về bài tập ô chữ

Trong khi trả lời câu hỏi hàng ngang, HS nào đoán được từ khóa có thể trả lời ngay.

a/ Ví dụ 1.

Sau khi học xong bài: bộ xương người, cấu tạo và tính chất của cơ, cấu tạo và tính chất của xương

GV đưa ra các gợi ý hang ngang:

1.Có 9 từ : đây là nơi tiếp giáp giữa các đầu xương

2.Có 7 từ : tế bào màng xương giúp xương to ra về

3.Có 5 từ : một tên gọi khác của cơ xương

4.Có 7 từ : đây là tên gọi của cơ duỗi cánh tay

5.Có 11từ : là bộ phận chứa tủy đỏ ở trẻ em, sinh hồng cầu, chứa tủy vàng ở người lớn 6.Có 8 từ : bộ phận có cấu tạo gồm sụn bọc đầu, mô xương xốp gồm các nan xương

7.Có 7 từ : :nơi có nhiều đốt sống khớp với nhau, có bốn chổ cong,tạo thành hai chữ S giúp

cơ thể đứng thẳng

8.Có 8 từ : tên gọi của xương ống tay, xương đùi

9.Có 8 từ :tên gọi của xương đốt sống, xương cổ tay, xương cổ chân

Trang 3

b Ví dụ 2.

Sau khi học xong bài: máu và môi trường trong cơ thể

GV đưa ra gợi ý về hang ngang:

1 Có10 từ : chất lỏng màu vàng nhạt chiếm 55% thể tích có trong thành phần của máu

2 Có 7 từ tế bào máu nhỏ nhất

3 Có 7 từ : tế bào trong suốt, kích thước lớn có nhân, gồm 5 loại

4 Có 9 từ : màu máu từ tế bào về tim rối tới phổi

5 Có 3 từ : nhờ chứa nhiều chất này mà máu từ phổi về tim đỏ tươi

6 Có 6 từ : một số thành phần của máu thẩm thấu qua thành mạch máu tạo ra

7 Có 9 từ được tạo thành nhờ nước mô thẩm thấu qua thành mạch bạch huyết

8 có 3 từ : nơi mà sau khi bạch huyết lưu chuyển trong mạch bạch huyết rồi lại đổ về tỉnh mạch hòa tan vào

Với gợi ý trên, học sinh sẽ giải được ô chữ như sau:

Trang 4

III KẾT QUẢ

Qua một học kì I áp dụng trên các lớp 8/1, 8/2, 8/3, 8/4 , tôi thấy được học sinh học tốt hơn so với những bài không sử dụng phương pháp ô chữ, tự giác tìm tòi hơn để giải được các ô chữ

Kết quả đạt được trong học kì I rất tương đối:

Nhận xét:

Ưu điểm: HS tự giác tìm tòi, tự nhớ kiến thức và khắc sâu kiến thức hơn, lớp học sôi nổi và hứng thú hơn

Khuyết điểm: vẫn cón một số HS chưa hứng thú với phương pháp này

Nguyên nhân: do HS tiếp thu bài chậm, không hoạt bát, nhút nhát, sợ sai…

IV.KẾT LUẬN

Trên đây là một trong những phương pháp mà tôi sử dụng trong giảng dạy môn sinh học 8 năm học 2009- 2010, mong quý thầy cô đóng góp ý kiến để chuyên đề hoàn chỉnh hơn và để có thể áp dụng vào việc dạy học môn sinh học theo sách giáo khoa mới tốt hơn

Ngày đăng: 24/04/2021, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w