1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHÓM-8-LỊCH-SỬ-ĐẢNG-CỘNG-SẢN-VIỆT-NAM

17 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 63,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THẢO LUẬN

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẨNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG BAO CẤP Ở VIỆT NAM THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

Phần I: Mở đầu 2

Phần II: Nội dung 2

1 Tìm hiểu về cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Loại hình cơ chế 2

2 Hình thức bao cấp 3

3 Đặc trưng 4

4 Đánh giá 7

4.1 Ưu điểm 7

4.2 Hạn chế 7

Phần III: Kết luận 8

Tài liệu tham khảo: 10

Trang 3

Phần I: Mở đầu

Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chiến thắng, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bắt đầu công cuộc xây dựng CNXH và con đường cách mạng CNXH cơ bản được hình thành Năm 1960, sau cải cách CNXH, nước ta áp dụng mô hình kế hoạch hóa tập trung cho cơ chế quản lý kinh tế theo quan niệm lúc bấy giờ Năm 1975, miền Nam hoàn toàn tự do, thông nhất Tổ quốc, cơ chế kế hoạc hóa một lần nữa được sử dụng, đẩy mạnh trên phạm vi toàn quốc Đến tận năm 1986 thì dần dần bộc lộ nhiều khuyết điểm to lớn không thể sửa chữa, Đảng mới thay đổi chính sách, thực hiện đổi mới – đưa nước ta tiến tới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Như vậy, cơ chế kế hoạc hóa tập trung đã tồn tại ở nước ta trong một thời gian từ năm 1960 cho đến tận năm 1986 Một câu hỏi đặt ra: mô hình này có đặc trưng như

thế nào mà lại có thể tồn tại lâu đến vậy? Vì thế, nhóm 8 xin chọn đề tài: “Phân tích

những đăc trưng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới” để tìm hiểu và có thể trả lời một cách rõ ràng hơn.

Trang 4

Phần II: Nội dung

1 Tìm hiểu về cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp

1.1 Khái niệm

Cơ chế là hệ thống cùng những quy tắc, phương thức nhằm vận hành hệ thống đó

Cơ chế kinh tế là bản thân nền kinh tế cùng với các hình thức hoạt động của nền kinh tế đó dưới tác động của các quy luật kinh tế và quy luật khác

Cơ chế quản lý kinh tế là toàn bộ hệ thống pháp quy, gồm những hình thức, cách thức và phương tiện mà nhà nước sử dụng để quản lý và điểu hành nền kinh tế

1.2 Loại hình cơ chế

Lịch sử phát triển kinh tế đã trải qua ba loại hình cơ chế kinh tế:

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung (bàn tay hữu hình): Được hiểu là cơ chế mà trong

đó nền kinh tế vận động dưới sự kiểm soát của nhà nước về các yếu tố sản xuất cũng như phân phối về thu nhập Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế, không coi trọng các quy luật thị trường Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác hầu như không được chú trọng

Cơ chế thị trường (bàn tay vô hình): Sự vận động của nền kinh tế dưới tác động của quy luật thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh Nhà nước hầu như không can thiếp hoặc can thiệp rất ít vào nền kinh tế

Cơ chế hỗn hợp: Nền kinh tế vừa có sự can thiệp của nhà nước vừa tuân thủ theo quy luật thị trường Đây là cơ chế hiện nay nước ta đang áp dụng

2 Hình thức bao cấp

Các hình thức bao cấp ở Việt Nam trước thời kì đổi mới:

 Bao cấp qua giá

Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trên thị trường, do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức

Dưới thời bao cấp mua như cướp và bán như cho là cảnh thường thấy Nhà nước quy định mỗi gia định được giữ 60% sản lượng lúa, số dư phải bán cho nhà nước Sau

Trang 5

đó phải khổ sở đi mua gạo theo chế độ tem phiếu Nhất là giá bán thấp hơn tiền vốn bỏ

ra nên mới có chuyện người dân tìm cách giấu lúa và nhiều chuyện dở khóc dở cười

Có chuyện người dân giấu gạo cất đi, đến khi mở ra thì chuột đã ăn mất quá nửa, hay người nhà nước đến đo bồ thóc để bắt bán ngay thóc thừa hay phạt vì không chịu nộp đủ

Năm 1978 giá thành 1m2 vải caliot sản xuất tại Công ty Dệt Thành Công là 1.5 đồng, nhưng phải bán cho Nhà nước với giá 1.2đ/m2 1m2 vải dệt kiểu oxford hết 10đ, phải bán cho Nhà nước với giá 9đ/m2 Trong khi giá trên thị trường cao gấp 10-12 lần

Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá trị trường đã biến chế độ tiền lương thanh lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động

Thời bao cấp, người dân tìm mọi cách chạy bằng được vào cơ quan Nhà nước để được cấp sổ gạo Mỗi lần đến kỳ đong gạo thì nhà nhà xếp hàng, người người chen chúc Ai không may mất sổ gạo trông mới thảm hại làm sao, bởi cả tháng đó phải chạy ngược chạy xuôi để lo tạm cấp, trước khi làm được sổ mới Gạo mậu dịch cũng ngày một thiếu, rất nhiều nhu yếu phẩm khác cũng vậy

Thời bao cấp ai mua thứ gì cũng phải đến hợp tác xã mua bán hay cửa hàng mậu dịch quốc doanh Nhà nước bán hàng dưới giá thành và thấp hơn giá chợ Để mua được thì rất khó khăn vì hàng hóa không đủ để cung cấp Các cửa hàng mậu dịch luôn

ở tình trạng thiếu hàng, mọi người xếp hàng chầu chực chờ hàng về để được mua đầu tiên

Sổ gạo hay lúc đầu tên là cuốn sổ lương thực Chế độ này được áp dụng vào khoảng những năm 1960, đầu tiên là lương thực, sau đổi thành tem phiếu bao gồm các loại mặt hàng, số lượng mà một gia đình được phép mua, dựa trên quy chuẩn như cấp bậc và niên hạn Do đó, có gia đình được ưu đãi mua, được ưu tiên mua hàng, có gia đình thì không Tem phiếu mua nhu yếu phẩm hàng ngày sẽ có chế độ riêng tùy vào vị trí công việc, nghề nghiệp mà cán bộ công chức nhà nước và người dân lao động được phát khác nhau Theo đó, tem phiếu được phân chia cho những cán bộ viên chức cấp cao như sau: Tiêu chuẩn đặc biệt A1 dành cho cán bộ cao cấp; Phiếu A dành cho bộ trưởng; Phiếu B dành cho thứ trưởng; Phiếu C là trưởng các vụ, cục, viện

Tuy dùng vốn ngân sách nhưng không có cơ chế ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin- cho”

Người cho có thể cho ít, có thể cho nhiều và cũng có thể không cho Bên xin thì phải phụ thuộc vào bên cho và không thể tự quyết, tự tìm ra giải pháp để đáp ứng nhu

Trang 6

cầu của mình mà phải trông chờ vào bên cho Nhiều thủ tục hành chính rườm rà hành dân để thể hiện quyền lực nhà nước Không dựa trên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các

tổ chức, cá nhân trong xã hội trong việc tiếp cận những dịch vụ nhà nước cung cấp; không dựa trên những tiêu chí, biểu mẫu và quy trình cụ thể có thể theo dõi được để những cá nhân, tổ chức xã hội có nhu cầu có thể đăng ký với cơ quan để thực hiện quyền của mình

3 Đặc trưng

Đặc trưng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp ở Việt Nam trước thời kì đổi mới:

thống chỉ tiêu, pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới

Thời kì bao cấp là giai đoạn mà toàn dân đang cố gắng vượt qua những điều kiện khó khăn, thiếu thốn của thực tại và tìm hướng đi để phát triển đất nước tốt hơn Hầu hết người lao động làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp của nhà nước và sống theo chế độ tem phiếu của thời kì này Vì vậy mà đây là thời kì đất nước chịu sự quản

lí nghiêm ngặt của Nhà nước dưới hệ thống pháp lệnh, chỉ tiêu

Tính pháp lệnh thể hiện ở chỗ: Nhà nước xây dựng các chỉ tiêu một cách chủ quan, sau đó đưa xuống cho các doanh nghiệp, thậm chí cả hợp tác xã thưc hiện Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở của các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật

tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức nhà máy, nhân sự, tiền lương đều do các cấp

có thẩm quyền quyết định Mọi sự thay đổi trong kế hoạch và tổ chức thực hiện đều phải báo cáo lên cơ quan chủ quản, khi nào được chấp nhận mới được triển khai

Hệ thống chỉ tiêu thể hiện ở chỗ: sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu và phân phối cho ai? Cấp phát vốn, vật tư doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho nhà nước cũng đều nằm trong chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao cho Nhà nước thực hiện chế độ bao cấp đối với mọi đơn vị cấp dưới và doanh nghiệp nhà nước, kể cả hợp tác xã

Đầu vào của các doanh nghiệp – các yếu tố sản xuất do nhà nước cấp hoàn toàn

Do vậy toàn bộ sản phẩm làm ra đều phải giao nộp lại cho nhà nước để nhà nước phân phối Hợp tác xã cũng phải bán toàn bộ sản phẩm cho nhà nước với giá rất rẻ

Các doanh nghiệp chỉ quan tâm đên một vấn đề duy nhất đó là hoàn thành chỉ tiêu, dù cho chỉ tiêu đó có phi lý đến đâu Bởi vì, doanh nghiệp không phải người định giá bán sản phẩm, không quan tâm đến cái gọi là lỗ hay lãi Chế độ tài chính của nhà nước thực hiện theo nguyên tắc thu đủ, chi đủ Nghĩa là Nhà nước sẽ thu lợi nhuận khi

có lãi, và ngược lại cũng sẽ phải bù khi bị lỗ Và trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp này lỗ thì nhiều mà lãi chẳng thấy đâu do không có sự gắn liền giữa quyền lợi và trách nhiệm của cấp thực hiện

Trang 7

Chỉ tiêu được ví như cái vòng kim cô trên đầu các doanh nghiệp Năm 1979, công ty khai thác than ở Thái Nguyên được giao chỉ tiêu khai thác 150.000 tấn than Nhưng công ty không tìm được đầu ra Sản phẩm chất đống trong kho Gần hết năm

mà chỉ tiêu mới thực hiện được gần nửa Lo sợ ảnh hưởng đến số phận chính trị của ban lãnh đạo, lương cán bộ công nhân viên và danh hiệu thi đua của đơn vị Cả công ty

ra sức khai thác để đạt bằng được chỉ tiêu Nhưng kho chứa có giới hạn nên ngoài việc mất công khai thác công ty còn mất công đổ than đi, đổ bất cứ đâu Sự việc cuối cùng đến tai cấp trên, Giám đốc công ty bị khiển trách Thế nhưng cuối năm công ty vẫn có bằng khen vì đã hoàn thành chỉ tiêu

các doanh nghiệp

Can thiệp từ khâu cấp phát vốn, sản xuất đến khâu phân phối sản phẩm nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình Những thiệt hại về vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh

Giữa cơ quan hành chính - trực tiếp tham gia vào quá trình lên chỉ tiêu kế hoạch

và các doanh nghiệp- thưc hiện chỉ tiêu , thì lại không có bất kỳ sự ràng buộc pháp lý nào với hành động của mình tức là dù có làm sai đi chăng nữa thì họ cũng không có vấn đề gì cả vì vậy mà không có lý do nào khiến họ thực hiện kế hoạch một cách tối

ưu nhất Mà vấn đề cả hai bên quan tâm đó là chạy theo và chạy đua với với chỉ tiêu được ấn từ trên xuống, làm thế nào cho thật đẹp sổ sách báo cáo, và cuối cùng là nhận được tấm bằng khen vì đã hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu đề ra Khi mà chỉ tiêu không được hoàn thành đồng nghĩa với việc số phận chính trị của ban lãnh đạo doanh nghiệp, đồng lương của cán bộ công nhân viên, và thành tích của doanh nghiệp cũng bị đe dọa theo

Ở giai đoạn bao cấp chỉ coi trọng kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Từ đó hạn chế sự phát triển và đóng góp vào nền kinh tế của các thành phần kinh tế khác Ở giai đoạn này không có khái niệm cạnh tranh Do đó không khuyến khích doanh nghiệp tăng năng suất lao động, cải tiến mẫu mã, phát triển mặt hàng mới một cách thực sự

yếu

Các công cụ như giá cả, lãi suất, tiền lương chỉ áp dụng để tính toán một cách hình thức.Đồng tiền vào thời điểm này không có nhiều giá trị sử dụng Qua từng giai đoạn áp dụng và phổ biến chế độ tem phiếu rộng khắp thì đồng tiền cũng mất giá dần dần Ví dụ nếu lấy tiền lương năm 1978 làm chuẩn thì năm 1980, số tiền lương này chỉ còn 51,1%, đến năm 1984 chỉ còn 32,7% Mà quan trọng là hàng hóa do tình trạng

Trang 8

thiếu hàng hóa nghiêm trọng và là thời sử dụng tem phiếu (Do đó, có gia đình được ưu đãi mua, được ưu tiên mua hàng, có gia đình thì không Tem phiếu mua nhu yếu phẩm hàng ngày sẽ có chế độ riêng tùy vào vị trí công việc, nghề nghiệp mà cán bộ công chức nhà nước và người dân lao động được phát khác nhau.)

Nền kinh tế sẽ được nhà nước quản lý theo chế độ “cấp phát – giao nộp” giữa Nhà nước và doanh nghiệp thông qua giá cả Chính vì thế mà giá cả không được coi là

sự biểu hiện cung cầu trên thị trường như trong quan hệ hàng hóa – tiền tệ ( giá tăng thì cầu giảm) mà chỉ là dùng để tính toán cho việc cấp phát và giao nộp giữa Nhà nước

và doanh nghiệp

Tiền lương được quy định theo cấp bậc hành chính và thâm niên, tính theo chủ nghĩa bình quân chứ không phải là được tính theo hiệu quả lao động của mỗi người Các doanh nghiệp khi không có tiền trả lương cho công nhân thì trả bằng sản phẩm Đơn vị có cao su trả bằng cao su, xí nghiệp có mũ cứng thì trả lương bằng mũ cứng, hay sản xuất sứ tích điện thì trả bằng sứ tích điện…

Tình trạng tranh mua, tranh bán làm cho giá của hàng hoá bị đẩy lên cao, Chi ngân sách nhà nước cho tiền lương tăng vọt, nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức Ban Chỉ đạo đề nghị Lạm phát bùng nổ Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ Lương công nhân không có Vật tư, hàng hóa khan hiếm Các cán bộ công chức được cấp 13kg gạo/tháng còn công nhân lao động nặng được cấp 20kg/tháng Do đó, cơm nấu thường được độn thêm khoai, ngô, sắn, bo bo… rất phổ biến và không còn xa lạ đối với những người từng trải qua thời kì bao cấp Hàng hóa các loại đều rất khan hiếm, dù có tiền cũng không mua được Thậm chí

có tem phiếu nhưng có quá nhiều người xếp hàng mua nên không ít trường hợp chờ đến lượt mình thì không còn hàng, đành phải ra về Hàng hóa số lượng ít, không đa dạng về chủng loại, mặt hàng để lựa chọn phục vụ nhu cầu nên nhiều khi không đủ ăn tới cuối tháng, nhiều người dân phải đi mua ở chợ đen Tình trạng khan hiếm hàng hóa này khiến cuộc sống chật vật không những về số lượng mà cả về phẩm chất của nhiều mặt hàng

Bộ máy quản lý qua nhiều cấp từ trung ương tới địa phương Do có nhiều cấp trung gian nên hoạt động không năng động, kịp thời, thậm chí dẫn tới nhiều tiêu cực ảnh hưởng tới quyền lợi của người lao động, người dân Trong thực tế, bộ máy nhà nước và doanh nghiệp quốc doanh còn xuất hiện tham ô và lãng phí (tuy phạm vi và

mức độ khác với ngày nay)

4 Đánh giá

4.1 Ưu điểm

Trang 9

Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chậm, chủ yếu theo chiều rộng, đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước lâm vao thời kì chiến tranh gay gắt khốc liệt, thì cơ chế quản

lý kinh tế kế hoach hóa tập trung cũng có những ưu điểm nhất định sau:

+ Nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, nhất là trong quá trình nước ta từng bước đi theo hướng công nghiệp hóa, đặc biệt ưu tiên ngành công nghiệp nặng

+ Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã đáp ứng được những yêu câu của thời chiến, bởi vì khi đất nước bị các nước Đế Quốc, Thực Dân xâm lược thì mục tiêu hàng đầu của cả nước chính là giải phong đất nước, giải phóng dân tộc bởi vậy việc thực hiện kế hoạch hóa tập trung sẽ huy động được tối đa sức lực của nhân dân vào việc xây dựng và phát triển kinh tế để thực hiện mục tiêu đó, đây là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người chứ không chỉ của riêng ai

+ Nhà nước thực hiện bao cấp hoàn toàn, giúp cho người chiến sỹ ra chiến trường cũng yên tâm phục vụ chiến đấu hơn, bởi họ không phải lo nghĩ đến chuyện gia đình, vọ con ở nhà, vì mọi thứ đã được nhà nước bao cấp

4.2 Hạn chế

Cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung còn mang rất nhiều hạn chế khuyết tật cả trong thời chiến ở nước ta nhưng nó chưa bộc lộ một cách gay gắt Cơ chế này chỉ thực

sự bộc lộ những khuyết điểm của nó sau năm 1975 khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng và phát triển kinh tế Một số hạn chế như sau:

+ Thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật + Triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh

+ Làm cho đội ngũ cán bộ công chức của các cơ quan hành chính nhà nước trở nên quan liêu, lộng quyền, hách dịch

+ Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại thì cơ chế quản lý kinh tế kế hoach hóa tập trung càng bộc lộ những hạn chế của nó

5 Nhu cầu đổi mới cơ chế

Trước những kết quả yếu kém do cơ chế kế hoạch hóa tập trung gây ra cho kinh

tế các nước XHCN, các nước XHCN lần lượt tiến hành các biến đổi quan trọng về cơ chế quản lý:

- Trung Quốc tiến hành công cuộc cải cách theo hướng thị trường - mở cửa bắt đầu diễn ra từ năm 1978 và đạt được những thành tựu nổi bật, vang dội

Trang 10

- Liên Xô tiến hành công cuộc cải tổ nhưng không thành công, kéo theo sự sụp

đổ của hệ thống XHCN ở Đông Âu Sự sụp đổ đó là bằng chứng về sự thất bại của con đường cải tổ theo kiểu "phủ định sạch trơn", sử dụng "liệu pháp sốc", giải quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ

Những biến đổi trên đã tác động tới Việt Nam, giúp ta nhận thức rõ phải đổi mới

tư duy phát triển, đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế theo một phương thức mới Chúng ta cần một tư duy mới, cơ chế mới, tri thức mới và một kiểu dũng cảm mới Sự dũng cảm chấp nhận sự thật, đánh giá đúng sự thật và tìm ra những giải pháp xử lý tận gốc những sự thật bất cập đang hoành hành lúc đó Mặt khác, nó tạo ra các cơ hội và điều kiện để sự thay đổi đó diễn ra thuận lợi

Kết quả là trong kỳ Đại hội Đảng lần thứ VI vào cuối năm 1986, Đảng tuyên bố chủ trương Đổi mới, đề cập sự cần thiết và cấp bách của việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế XHCN, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội" Cuối năm

1986 trở đi, nền kinh tế nước ta đã dần thoát ra được cuộc khủng hoảng Chế độ bao cấp từng bước được xóa bỏ, chấm dứt thời kì ảm đạm, cay đắng trong lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam

Phần III: Kết luận

Qua đây, chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về những đặc trung của cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp ở Việt Nam trước đối mới Cơ chế kế hoạch hóa tập trung

đã có nững tác dụng nhất định trong bối cảnh đất nước ta thời đó Tuy nhiên cơ chế này đã bộc lộ nhiều nhược điểm, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, đời sống nhân dân nhiều khó khăn, các vấn đề tiêu cực nảy sinh Yêu cầu bức thiết cho Đảng ta là phải có một cơ chế về quản lý kinh tế mới nhằm khắc phục những hạn chế của cơ chế

kế hoạch hóa tập trung mà vẫn có thể đi theo con đường chủ nghĩa xã hội

Tại đại hội VI (tháng12/1986) của đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới nền kinh

tế, chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế bao cấp tràn lan và tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Một chủ trương hết sức quan trọng của giai đoạn này là phát triển nền kinh tế hang hóa nhiều thành phần nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng Đổi mới hoạt động của các các doanh nghiệp nhà nước là một trong những chủ trương lớn của đảng và nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu đó Và thực tế đã chứng minh, đây là quyết định đúng đắn của Đảng và nhà nước,

Ngày đăng: 24/04/2021, 10:21

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w