Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã tràng xá, huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã tràng xá, huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên
Trang 1HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu
Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Mạnh Thắng
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi.Các số liệu, kết quả trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luân văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Minh Thắng
Trang 3Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với thầy giáo Th.s Nguyễn Mạnh Thắng người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế
và Phát triển Nông thôn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ
em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn Uỷ ban Nhân dân huyện Võ Nhai,
Ủy ban Nhân dân xã Tràng Xá, các phòng ban chức năng và những người đã cung cấp số liệu, tư liệu khách quan, chính xác giúp đỡ em đưa ra những phân tích đúng đắn
Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của báo cáo không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô để bài báo cáo này được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên,thángnăm 2020
Sinh viên
Nguyễn Minh Thắng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa nghiên nghiên cứu đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
1.4 Ý nghĩa đối với sinh viên 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Vai trò của sản xuất chè 4
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè 5
2.1.3 Một số khái niệm liên quan 6
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 10
2.2.1 Tiềm năng phát triển ngành chè Việt Nam 10
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 12
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam 15
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
Trang 53.4 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Phương pháp xác định mẫu 21
3.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 21
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 22
3.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 23
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá 24
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 26
4.1.3 Một số nét cơ bản về sản xuất chè trên địa bàn xã 29
4.2 Đánh giá chung về tình hình sản xuất chè của các hộ được điều tra 30
4.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng điều tra 30
4.2.2 Cơ cấu giống chè của các hộ được điều tra 31
4.2.3 Chi phí sản xuất chè của nông hộ 33
4.2.4 Năng suất chè của các hộ được điều tra 35
4.2.5 Giá bán chè bình quân của các hộ điều tra 36
4.2.6 Hình thức tiêu thụ của nông hộ 38
4.3 Nhận thức, nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ tham gia 41
4.3.1 Sự tham gia trong tập huấn, hội thảo về sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra 41
4.3.2 Nhận thức về sản xuất chè hữu cơ của nông hộ 42
4.3.3 Nhận thức về tầm quan trọng của sản xuất chè hữu cơ 43
4.3.4 Nhận thức về sự ảnh hưởng của các cơ quan, tổ chức đến quá trình chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ của nông hộ 44
4.3.5 Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra 45
4.4 Phân tích SWOT đối với sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra 48
4.4.1 Thuận lợi khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ được điều tra 48
4.4.2 Khó khăn ưu tiên khắc phục khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra 49
Trang 64.4.3 Phân tích SWOT 51
4.5 Giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ 54
4.5.1 Giải pháp về vốn 55
4.5.2 Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, đảm bảo chất lượng 56
4.5.3 Đào tạo nguồn nhân lực sản xuất chè hữu cơ 56
4.5.4 Đảm bảo đầu vào về giống, phân bón và các chế phẩm hữu cơ 57
4.5.5 Mở rộng thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu chè hữu cơ Tràng Xá 57 4.5.6 Đầu tư khoa học, công nghệ cao cho sản xuất và chế biến chè hữu cơ 58
4.5.7 Giải pháp về cơ chế, chính sách 58
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.2.1: Đặc điểm chung của các hộ được điều tra 30 Bảng 4.2.2: Cơ cấu giống chè của các hộ được điều tra 32 Bảng 4.2.3.1: Bình quân số lần bón phân và sử dụng thuốc BVTV mỗi lứa của
các hộ được điều tra 33 Bảng 4.2.3.2: Bình quân chi phí sản xuất mỗi vụ của nông hộ 34 Bảng 4.2.4: Năng suất chè của các hộ được điều tra 35 Bảng 4.2.5: Giá bán chè búp khô của hộ sản xuất chè truyền thống so với hộ
sản xuất chè an toàn 37 Bảng 4.2.6.1: Hình thức tiêu thụ chè của các hộ được điều tra 38 Bảng 4.2.6.2: Bình quân phần trăm tiêu thụ sản phẩm chè của các hộ được điều
tra 39 Bảng 4.3.1: Sự tham gia tập huấn sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra 41 Bảng 4.3.2: Nhận thức về chè hữu cơ của các hộ điều tra 42 Bảng 4.3.3: Nhận thức tầm quan trọng về sản xuất chè hữu cơ của các hộ điều
tra 43 Bảng 4.3.4: Nhận thức về sự ảnh hưởng của các cơ quan, tổ chức đến quá trình
chuyển đổi từ sản xuất chè thường sang sản xuất chè hữu cơ của nông hộ 44 Bảng 4.3.5.1: Nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra 45 Bảng 4.3.5.2: Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ
đã được điều tra 46 Bảng 4.3.5.3: Nguyên nhân không tham gia sản xuất chè hữu cơ của hộ đã
được điều tra 47 Bảng 4.4.1: Thuận lợi khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được điều tra 48 Bảng 4.4.2: Khó khăn ưu tiên khắc phục khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của
các hộ được điều tra 50 Bảng 4.4.3: Phân tích SWOT khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ được
điều tra 51
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè, một loại cây công nghiêp lâu năm đem lại giá trị kinh tế cao được trồng phổ biến và rộng rãi ở nước ta.Lịch sử cây chè ở nước ta đã có từ
4000 năm trước, tuy nhiên nó mới chỉ được khác thác và phát triển mạnh trong khoảng 50 năm gần đây
Cây chè có vai trò vô cùng quan trọng trong cơ cấu cây trồng vùng trung
du và miền núi phía Bắc Cây chè đem lại nguồn thu nhập tương đối ổn định cho người trồng chè, mỗi năm cho thu hoạch từ 8 - 9 lứa, cây chè giúp chống xói mòn, phủ xanh đất chống đồi trọc, tạo việc làm cho người lao động nông thôn Phát triển sản xuất chè là biện pháp tích cực giải quyết việc làm, tạo ra nguồn thu nhập chắc chắn, ổn định cho người dân, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của cả nước nói chung và vùng trung du miền núi phía Bắc nói riêng
Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam,
có khí hu nhiệt đới gió mùa, chỉ có một mùa đông ngắn, thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, trong đó có cây chè Là một trong những vùng sản xuất chè lớn của cả nước, với diện tích gần 22 nghìn
ha, cây chè đã trở thành một trong những cây trồng mũi nhọn của tỉnh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống người dân Với thổ nhưỡng phù hợp, khí hậu đặc thù, người dân giàu kinh nghiệm trồng và chế biến đã tạo nên thương hiệu chè Thái Nguyên không chỉ trên thị trường trong nước mà còn trên
cả thị trường quốc tế Tỉnh có vùng trồng chè tập trung, chế biến, đóng gói, tiêu thụ mang tính chất chuyên nghiệp tại các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương
và TP Thái Nguyên (1)
Trang 9Huyện Võ Nhai, một trong chín vùng chè ngon của tỉnh Thái Nguyên Vùng chè Võ Nhai hiện nay có diện tích khoảng 1.250 ha, tập chung chủ yếu tại xã Tràng Xá, Liên Minh và Phú Thượng Xã Tràng Xá, với hơn 300 ha chè, trong đó khoảng 500 ha chè trung du, còn lại là chè cành với các giống chủ yếu: LDP1, TRI777, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên Là một trong những xã có diện tích chè lớn nhất của huyện Võ Nhai.Từ lâu đời, cây chè luôn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế của người dân nơi đây.(2)
Mặc dù là cây trồng chủ lực đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân nhưng chủ yếu sản xuất tự phát, nhỏ lẻ, sản xuất theo tư duy truyền thống, người sản xuất chè đã và đang sử dụng thái quá phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật
do đó hiệu quả sản xuất không cao, chất lượng chè thấp, các chất hóa học tồn
dư trong đất và nước, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, thị trường chè trong nước và quốc tế ngày càng yêu cầu sản phẩm chè với chất lượng ngày một cao hơn.Bởi chất lượng thấp nên giá bán chè tại đây rất thấp, chênh lệch
từ 20 – 40 ngàn đồng/ kg so với các sản phẩm chè cùng loại của vùng chè khác trong tỉnh, thậm chí cả trăm ngàn đồng/kg (so với vùng chè đặc sản Tân Cương)
Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, tận dụng tối đa thế mạnh của địa phương, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và tạo ra sản phẩm an toàn chất lượng cao đối với cây chè tại Tràng Xá, cần thiết tiến hành
đề tài “Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu thực trạng sản xuất chè.Đánh giá nhận thức, nhu cầu về sản xuất chè hữu cơ của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá Từ đó đề xuất
Trang 10giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất chè của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá nhận thức và nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các
hộ điều tra
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc chuyển
từ sản xuất chè thường sang sản xuất chè hữu cơ tại Tràng Xá
- Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
1.3 Ý nghĩa nghiên nghiên cứu đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
Cung cấp những thông tin về thực trạng sản xuất chè năm 2019 và hiểu biết về chè hữu cơ của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Nhu cầu và những khó khăn cản trở tham gia sản xuất chè hữu cơ của họ
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ trồng chè đồng thời tận dụng tối đa thể mạnh về tự nhiên và xã hội của địa phương để phát triển sản xuất
1.4 Ý nghĩa đối với sinh viên
Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có cơ hội tiếp cận thực tế,
có cơ hội vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn.Đồng thời giúp sinh viên củng cố kiến thức và học tập thêm những kiến thức kỹ năng mới
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Vai trò của sản xuất chè
Chè là thứ nước uống có nhiều công dụng, vừa giải khát, vừa chữa bệnh Người ta tìm thấy trong chè có tới 20 yếu tố vi lượng có lợi cho sức khoẻ, ví dụ cafein kích thích hệ thần kinh trung ương, tamin trị các bệnh đường ruột và một
số axit amin cần thiết co cơ thể
Chè là cây công nghiệp dài ngày, trồng một lần cho thu hoạch nhiều năm Tuổi thọ của chè kéo dài 50 - 70 năm, cá biệt nếu chăm sóc tốt có thể tới hàng trăm năm.Chè là loại cây có giá trị kinh doanh tương đối cao Một ha chè thu được 5 - 6 tấn chè búp tươi có giá trị ngang với một ha lúa ở đồng bằng và gấp
3 - 4 lần một ha lúa nương Vì vậy có thể nói cây chè là cây "xoá đói giảm nghèo, điều hoà lao động từ đồng bằng lên các vùng xa xôi hẻo lánh, góp phần phát triển kinh tế miền núi bảo vệ an ninh biên giới
Sản xuất và xuất khẩu chè thu hút một lượng lao động khá lớn (hơn 22 nghìn lao động chính kể cả lao động chính, kể cả lao động phụ và lao động dịch
vụ là gần 300 nghìn người với mức thu nhập ổn định và không ngừng tăng (thu nhập bình quần quân toàn ngành năm 1996 đạt 250 nghìn đồng/người/tháng, năm 1999 tăng lên 350 nghìn người/tháng).[3]
Trồng chè cũng chính là "phủ xanh đất trồng đồi trọc", cải thiện môi trường sinh thái.Với phương châm trồng chè kết hợp nông lâm, đào dãy hào giữa các hàng chè để giữ mùn giữ nước, sử dụng phân bón hợp lý… ngành chè
đã gắn kết được phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
Chè là một sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao: Một ha chè thâm canh thu hoạch được 10 tấn búp tươi chế biến được hơn 2 tấn chè khô, đem xuất khẩu sẽ
Trang 12thu được một lượng ngoại tệ tương đương với khi xuất khẩu 200 tấn than và đủ
để nhập khẩu 46 tấn phân hoá học
Sản xuất chè thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ khác phát triển: phát triển cây chè gắn liền với phát triển ngành công nghiệp chế biến Chè là nguyên liệu cho các nhà máy chế biến các sản phẩm liên quan đến cây chè.Ngoài ra chè còn thúc đẩy du lịch, du lịch sinh thái phát triển
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè
Điều kiện tự nhiên: Nhân tố điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất chè Các yếu tố như lượng mưa, khí hậu, nhiệt độ, đất đai,
là các yếu tố quan trọng có tác động đến chất lượng chè
Nguồn vốn: Để phát triển sản xuất chè, việc huy động vốn đầu tư là rất quan trọng Hiện nay có rất nhiều nguồn vốn có thể huy động, nhưng nguồn vốn quan trọng nhất là Nhà nước đã giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người trồng chè.Ở các nông trường công nghiệp cũng được giao khoán vườn chè và giao đất để trồng chè mới
Kỹ thuật - công nghệ: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng của cây chè Nếu áp dụng khoa học kỹ thuật tốt sẽ tạo điều kiện tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm chè Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ có liên quan tới trình độ tay nghề, những hiểu biết của người làm chè về những kỹ thuật trong trồng, chế biến chè
Lao động: Nhân tố con người có vai trò quyết định trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung và cũng là nhân tố quan trọng trong phát triển sản xuất chè Lao động trong sản xuất chè bao gồm lao động trong trồng chè, lao động chế biến và tiêu thụ Để đạt được năng suất, chất lượng cao trong sản xuất chè thì ngoài công nghệ chế biến hiện đại, yếu tố quan trọng hơn cả là người lao động phải có trình độ tay nghề Trong cả ba khâu: trồng, chế biến, tiêu thụ đều đỏi hỏi người lao động phải có kỹ năng lao động Hiện nay ở nước ta trình
Trang 13độ của người lao động ngày càng được nâng cao, tuy nhiên số lượng lao động này lại phân bố không đều Vì vậy ngành chè cần phải có biện pháp phân bố lại lao động sao cho hợp lý và đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho lao động ở các vùng trồng chè vùng sâu, vùng xa
Cơ sở hạ tầng: Kết cấu hạ tầng cơ sở là toàn bộ các công trình và trang thiết bị của quá trình tái sản xuất xã hội, được tổ chức cân đối và liên kết với nhau trong không gian Chúng phục vụ cho những nhu cầu cung cấp và dịch vụ của nhân dân, của bộ máy hành chính và các cơ sở sản xuất.Đối với ngành chè, mạng lưới cơ sở hạ tầng là điều kiện phát triển sản xuất và tiêu thụ cho người,
cơ sở và doanh nghiệp
Chính sách nhà nước: Để phát triển sản xuất chè cần phải có một hệ thống chính sách hỗ trợ và thúc đẩy của nhà nước Ví dụ: Thuế, vay vốn,
2.1.3 Một số khái niệm liên quan
2.1.3.1 Khái niệm nông nghiệp hữu cơ
Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống quản lý sản xuất toàn diện nhằm đẩy mạnh tăng cường sức khỏe của hệ thống sinh thái nông nghiệp bao gồm cả đa dạng sinh học và năng suất sinh học Nông nghiệp hữu cơ nhấn mạnh việc quản
lý các hoạt động canh tác, giảm thiểu việc dùng vật tư, nguyên liệu đầu vào từ bên ngoài cơ sở và có tính đến các điều kiện từng vùng, từng địa phương
Nông nghiệp hữu cơ phải đáp ứng các mục tiêu sau đây:
Áp dụng sản xuất hữu cơ lâu dài, bền vững, theo hướng sinh thái và có
hệ thống;
Đảm bảo độ phì nhiêu của đất lâu dài và dựa trên đặc tính sinh học của đất; Giảm thiểu (và tránh dùng nếu có thể) vật tư, nguyên liệu đầu vào là chất tổng hợp trong mọi hoạt động của chuỗi sản xuất hữu cơ cũng như sự phơi nhiễm của con người và môi trường đối với các hóa chất bền hoặc có nguy cơ gây hại;
Trang 14Giảm thiểu việc gây ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất đến môi trường xung quanh;
Không sử dụng các công nghệ không có nguồn gốc tự nhiên (ví dụ: các sản phẩm từ kỹ thuật biến đổi gen, công nghệ chiếu xạ );
Tránh bị ô nhiễm từ môi trường xung quanh;
Duy trì tính chất hữu cơ trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản và vận chuyển.[4]
2.1.3.2 Khái niệm thực phẩm hữu cơ
Thực phẩm hữu cơ là những loại thực phẩm được sản xuất bằng phương thức và tiêu chuẩn của nông nghiệp hữu cơ.Tiêu chuẩn về thực phẩm hữu cơ là khác nhau trên thế giới Tuy nhiên nông nghiệp hữu cơ nói chung luôn hướng đến nuôi trồng thúc đẩy cân bằng sinh thái, đa dạng và bảo tồn đa dạng sinh học Trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ có thể hạn chế sử dụng một số loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón tổng hợp.Thực phẩm hữu cơ cũng không được phép xử lý bằng chiếu xạ, dung môi công nghiệp hoặc các chất phụ gia thực phẩm tổng hợp
Động vật dùng để lấy sữa, trứng, thịt được gọi là hữu cơ khi: Được nuôi thả ngoài trời, được ăn thức ăn hữu cơ không có kháng sinh hoặc chất kích thích tăng trưởng
Tiêu chuẩn đế dán nhãn thực phẩm hữu cơ thay đổi theo tường tổ chức cấp phép Tổ chức y tế thế giới -WHO, tổ chức lương thực và nông nghiệp Mỹ,
cơ quan bảo vệ môi trường mỹ (EPA) đưa ra những tiêu chuẩn để các loại thực phẩm được dãn nhãn hữu cơ như sau: có 3 cấp độ
- 100% hữu cơ (100 percent organic) : khi tất cả các thành phần của sản phẩm được chứng minh là nuôi hoặc trồng hoàn toàn hữu cơ
- Hữu cơ ( organic) : Phải gồm ít nhất 95% các thành phần là hữu cơ (không gồm nước và muối), 5% còn lại có thể không được sẳn xuất kiểu hữu
cơ nhưng phải nằm trong thành phần được cho phép trong danh sách quốc gia của bộ nông nghiệp Mỹ (USDA)
Trang 15- Được làm từ các thành phần hữu cơ (made with organic ingredients): Các sản phẩm này chứa ít nhất 70% thành phần hữu cơ (không gồm muối và nước) và có thể liệt kê ba thành phần hữu cơ trong bảng thành phần, nhưng không ghi là sản phẩm hữu cơ ở mặt trước bao bì.[5]
2.1.3.3 Khái niệm chè hữu cơ, sự khác nhau giữa chè hữu cơ và chè sản xuất thông thường
Chè hữu cơ là loại chè đã được canh tác theo quy trình nông nghiệp hữu
cơ Quy trình này không sử dụng các chất hóa học như phân hóa học, thuốc trừ sâu hay thuốc trừ cỏ Nông dân sử dụng các chất thải tự nhiên ví dụ như phân
ủ để tạo chất màu cho đất và dùng các phương pháp tự nhiên để kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại
Chè được coi là một sản phẩm hữu cơ khi được xác nhận hoạt động trồng, chăm sóc, chế biến phù hợp với tiêu chuẩn TCVN 11041 – 6:2018 Nông nghiệp hữu cơ
Quy trình chứng nhận chè hữu cơ:
Hình 2.1: Quy trình chứng nhận chè hữu cơ
Trang 16Ý nghĩa của sản xuất chè hữu cơ:
Có lợi cho sức khỏe: Vì không sử dụng hóa chất trong sản xuất nên người sản xuất không bị tác hại của hóa chất mà lại được tận hưởng một môi trường trong sạch và thiên nhiên rất tốt cho sức khỏe
Tạo ra sản phẩm chất lượng, an toàn cho người sử dụng: Canh tác hữu cơ được chọn lựa kỹ càng nên sản phẩm tạo ra an toàn tuyệt đối cho người sử dụng
Tốt cho môi trường: Vì sản xuất mang tính thuận theo thiên nhiên nên đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường Các phế phẩm nông nghiệp được ủ để làm phân hữu cơ trả lại vào đất nên sẽ tạo cân bằng cho hệ sinh thái Ngoài
ra, phân hữu cơ góp phần cải tạo đất tăng độ màu mỡ cho đất và tránh các hiện tượng xói mòn
Mang lại thu nhập cao: Theo đúng chuỗi giá trị thì sản phẩm hữu cơ sẽ mang lại cho người sản xuất thu nhập cao Hiện nay đa số sản phẩm hữu cơ của Việt Nam được xuất khẩu mang lại khoản lợi nhuận lớn cho các công ty.Tuy nhiên thị trường trong nước chưa sôi động và chỉ có một phần nhỏ khách hàng biết đến và mặn mà với dòng sản phẩm này
Tốt cho đất và cây trồng: Phương pháp canh tác hưu cơ sẽ tăng chất lượng của đất So sánh với canh tác hóa học, canh tác hữu cơ tăng các chất dinh dưỡng hữu cơ cho đất Tăng khả năng giữ carbon, chuyển hóa dinh dưỡng trong đất và giữ nước Đất tốt ngăn ngừa các bệnh cho cây trồng Chất lượng đất nâng cao giúp cây trồng tăng sức đề kháng với sâu bệnh Một loại nấm có ở trong đất có thể tác động đến 100 loại cây trồng.Mức độ ảnh hưởng của loại nấm này đối với cây trồng canh tác hữu cơ thấp hơn 3 - 5 lần so với canh tác hóa học
Sự khác nhau giữa chè hữu cơ và chè sản xuất thông thường
Người trồng chè hữu cơ không sử dụng bất kỳ một loại phân hóa học hay thuốc trừ sâu nào cả Thay vào đó họ dựa vào phân ủ và các loại phân hữu cơ
Trang 17khác nhằm tăng độ phì nhiêu cho đất vườn chè Để kiểm soát sâu bệnh, họ dùng các chất chiết xuất từ cây xanh hoặc dùng tay để bắt sâu hay cắt tỉa những cành
có sâu hại ăn Ngược lại, người trồng chè thông thường sử dụng rất nhiều phân hóa học ví dụ như phân đạm và các loại thuốc kích thích.Họ có thể phun thuốc trừ sâu 10-15 lần/năm.Nếu nương chè hữu cơ giáp với nương chè trồng thường thì người trồng chè hữu cơ phải tiến hành các biện pháp để ngăn không cho các chất hóa học dính bám vào nương chè của họ.Ngoài ra, nương chè hữu cơ phải trải qua quy trình kiểm định và chứng nhận hữu cơ của một tổ chức cấp giấy chứng nhận độc lập Chè chỉ được chứng nhận là chè hữu cơ sau khi đã trồng
theo quy trình hữu cơ ít nhất là 18 tháng
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tiềm năng phát triển ngành chè Việt Nam
Cây chè xuất hiện ở Việt Nam từ hàng ngàn năm, hiện trên các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái vẫn lưu giữ những quần thể chè cổ hàng mấy trăm năm Diện tích sản xuất chè của Việt Nam tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền núi, trung du phía bắc.Ở phía nam, diện tích sản xuất chè chủ yếu trên cao nguyên Lâm Đồng Hiện Lâm Đồng có diện tích chè 24.000 ha, chiếm 20% diện tích chè toàn quốc và chiếm 90% toàn vùng phía nam
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, lượng mưa hàng năm lớn (1500 – 2000 mm) thuận lợi cho phát triển cây chè.Các giống chè ở Việt Nam rất đa dạng phong phú cung cấp nguồn nguyên liệu đa dạng để sản xuất nhiều loại sản phẩm về chè Hơn nữa nhu cầu tiêu thụ chè trên thế giới và cả trong nước ngày càng tăng thúc đẩy mở rộng sản xuất chè giúp ngành chè Việt Nam có thể vươn xa trên thị trường chè thế giới
Trong những năm gần đây.sản xuất chè cả nước không nhưng tăng cả về diện tích, năng suất , sản lượng mà còn chuyển biến tích cực về giống, kỹ thuật canh tác và tổ chức sản xuất Sản lượng và xuất khẩu chè Việt Nam đứng thứ 5
Trang 18thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanka, Kenya.Sản lượng chè xanh của Việt Nam đang đứng thứ 2 thế giới sau Trung Quốc Ngành chè Việt Nam đang có
xu hướng tăng tỷ lệ chế biến chè xanh, chè Ô Long và giảm chế biến chè đen trong tổng cơ cấu sản phẩm chè của Việt Nam để tăng cao giá trị xuất khẩu Hiện nay, Việt Nam đang quy hoạch diện tích trồng chè cả nước là 140 nghìn
ha, cho nên còn cơ hội mở rộng thêm diện tích tại một số tỉnh miền núi phía Bắc
Tuy nhiên, thực trạng trồng và chế biến chè Việt Nam cho thấy đa phần
là năng suất lao động thấp, diện tích manh mún nhỏ lẻ, năng suất thu hoạch thấp khiến thu nhập của người trồng chè chưa đảm bảo cuộc sống và khó có cơ hội tái đầu tư Mặt khác cũng cần nhìn nhận là việc tranh mua tranh bán (cả nước có trên 455 cơ sở chế biến chè) mặc dù chỉ là giá thấp vẫn xảy ra nên còn hiện tượng nhiều vùng sản xuất chè phơi, chè chất lượng thấp, không tuân thủ quy trình quy định đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm,… làm ảnh hưởng tới
uy tín xuất khẩu
Trên thực tế, cây chè được coi là cây có hiệu quả kinh tế cao so với các cây trồng khác, đóng vai trò xoá đói giảm nghèo và góp phần quan trọng để làm giàu cho địa phương song hiện tại cây chè Việt chưa khẳng định đúng vị thế so với cây chè các nước có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự như: Kenya, Srilanca, Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan,…
Giá chè xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở mức thấp so với sản phẩm cùng loại của các nước trên thế giới, chỉ bằng 55- 70% so với giá xuất của nhiều nước bình quân chỉ đạt 1-1,2 USD/kg chè so với mức chung của thế giới 1,4-2,2 USD/kg.(Viện khoa học Kỹ Thuật Việt Nam – IASVN).Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều cơ sở chế biến lớn nhưng nếu xét theo toàn ngành thì rất phân tán, đa số nhà máy quy mô nhỏ, số nhà máy có quy mô lớn không nhiều Bên cạnh đó, hệ thống tổ chức còn yếu kém và chế độ chế tài về sản xuất, chế biến,
Trang 19thương mại còn quá lỏng lẻo, thương mại chè bị phụ thuộc và ép giá bởi khách hàng trung gian nước ngoài Do có quá nhiều công ty tham gia xuất khẩu chè, trong đó nhiều công ty xuất khẩu tổng hợp không chuyên về chè nên không gắn với cây chè mà chỉ kinh doanh thuần tuý có lãi thì sẵn sàng chào bán các loại chè chất lượng thấp Đây là một trong những nguyên nhân để các cơ sở sản xuất chè tiếp tục sản xuất chè chất lượng thấp, giá rẻ, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành chè nước ta [6]
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
Trên thế giới chỉ có khoảng hơn 30 nước là có điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng chè trong khi đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng chè với mức độ khác nhau Các nước trồng chè đã tận dụng ưu thế đó để phát triển sản xuất, có những nước xem chè là cây trồng chính của đất nước như Kenya,
Ấn Độ
Trong năm 2010, lượng chè sản xuất trên toàn thế giới đã vượt qua con
số 4 triệu tấn để đạt mức 4.126.527 tấn Trong đó Việt Nam là một trong những nước có sản lượng chè sản xuất đứng thứ 5 Qua thống kê sản phẩm chè của các nước trên thế giới thì thị phần Châu Á chiếm 83% sản lượng chè thế giới, tiếp theo là Châu phi chiếm 15% và Nam Mỹ chiếm 2,4%
Về thị trường tiêu thụ trong giai đoạn gần đây, nhập khẩu chè đen thế giới ước tính khoảng 1,15 triệu tấn, mức tăng trung bình khoảng 0,6%/năm Các nước nhập khẩu chính như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản… sẽ chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu chè toàn thế giới
Những thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với sản phẩm chè xanh và chè đen là: Thị trường Nga (đã nhập khẩu trên 174.000 tấn, Pakistan nhập khẩu 126.170 tấn, Hy Lạp nhập khẩu 81.700 tấn, Iran nhập khẩu 62.000 tấn, và Morocco nhập khẩu 58.000 tấn)
Trang 20Ngoài ra còn có các chi nhánh bán lẻ ở thị trường Mỹ và Canada với tổng
số lượng chè nhập khẩu lên tới 144.000 tấn, Vương quốc Anh là 126.000 tấn,
và EU với tổng số lượng chè nhập khẩu là 128.000 tấn
Kinh nghiệm sản xuất chè hữu cơ của một số nước trên thế giới:
Chè hữu cơ lần đầu tiên được sản xuất năm 1986 ở Sri Lanka.Từ đó trở
đi, chè hữu cơ phổ biến rộng khắp Ấn Độ và Sri Lanka.Một số các nước đang sản xuất chè hữu cơ gồm có Trung Quốc, Nhật Bản, Seychelles, Tanzania, Kenya, Malawi và Ác-hen-ti-na
Trung Quốc
Trung Quốc là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới.Diện tích và sản lượng chè của Trung Quốc phát triển nhanh chóng, đặc biệt là diện tích.Tính đến cuối năm 2018, diện tích trồng ở 18 tỉnh có ngành chè phát triển ở Trung Quốc là 2,9 triệu ha, tăng 1,8 triệu ha so với năm 2000, tỷ lệ là 175% Trong khi đó, sản lượng chè cũng tăng trưởng ổn định hàng năm từ 680 ngàn tấn năm
2000 lên tới 2,6 triệu tấn năm 2018
Trong bối cảnh diện tích trồng và sản lượng tăng, Trung Quốc cũng quan tâm đến mô hình sản xuất xanh để bảo vệ môi trường.Cụ thể, các loại phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật được hạn chế, thay vào đó là các loại phân hữu
cơ, phân công thức tạo ra những vườn chè sinh thái tiêu chuẩn cao
Sau năm 2000, diện tích trồng chè để sản xuất chè hữu cơ đạt 6.700 ha, chủ yếu ở Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phúc Kiến Tổng sản lượng chè hữu cơ đạt khoảng 4.000 tấn, tổng trị giá sản xuất đạt khoảng 150 triệu Tệ Trong đó, khoảng 3000 – 3500 tấn chè xuất khẩu sang các nước Nhật Bản, Mỹ, và châu
Âu, nội tiêu khoảng 500 tấn Nhằm khuyến khích sản suất, xuất khẩu chè, Trung Quốc đã ban hành pháp lệnh về tiêu chuẩn chè đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và có các chính sách hỗ trợ như cho vay vốn, bù giá trong những năm
Trang 21đầu, giảm thuế v.v Trong hiện tại và tương lai sản xuất chè đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là hướng ưu tiên lớn của ngành chè Trung Quốc.[7]
Một trang trại chè tại Nhật Bản được chứng nhận hữu cơ trước tiên phải đảm bảo vùng đất sản xuất không có hóa chất như thuốc trừ sâu và phân bón nhân tạo ít nhất ba năm trước khi được chứng nhận Sau đó, trồng trọt phải được thực hiện theo các yêu cầu của chứng nhận hữu cơ Các yêu cầu chính là:
Cấm sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón tổng hợp và phân bón bùn thải của con người
Không có các sinh vật biến đổi gen
Đảm bảo không gây ô nhiễm thuốc trừ sâu hoặc phân bón tổng hợp từ các trang trại lân cận
Lưu giữ hồ sơ chi tiết về hoạt động của trang trại để kiểm toán và kiểm tra hàng năm
Được giám sát nghiêm ngặt hàng năm bởi cơ quan chứng nhận hữu cơ cho các hoạt động nông nghiệp
Một doanh nghiệp chế biến trà tại Nhật Bản được chứng nhận hữu cơ chế biến và đóng gói các loại trà hữu cơ theo quy định hữu cơ do JAS (Tiêu chuẩn Nông nghiệp Nhật Bản) đặt ra, tại các cơ sở được chứng nhận hữu cơ được kiểm tra hàng năm Các quy định hữu cơ yêu cầu hồ sơ tài liệu nghiêm ngặt cho từng quy trình chế biến để đảm bảo rằng tất cả các yêu cầu cho chế
Trang 22biến chè hữu cơ đều được đáp ứng và có thể truy nguyên được Một số yêu cầu là:
Bảo quản các loại trà thô hữu cơ và trà chế biến trong không gian không
có bất kỳ loại trà hoặc nguyên liệu không hữu cơ nào;
Chế biến và đóng gói các loại trà hữu cơ trong các cơ sở riêng biệt với các loại trà không hữu cơ;
Ghi lại tất cả các quy trình chế biến kể từ khi nhập nguyên liệu hữu cơ đến thời điểm trà hữu cơ được chế biến rời khỏi cơ sở.[8]
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam
2.2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ
Việt Nam là có diện tích chè dao động khoảng126.000 – 133.000 ha và thu hút khoảng 2 triệu lao động Trong năm 2011 cả nước có diện tích trồng chè là 133.000 ha, sản lượng (thô) đạt 888.600 tấn, sản lượng (đã chế biến) đạt 165.000 tấn, xuất khẩu lầ 132.600 tấn Việt Nam là nước xuất khẩu và sản xuất chè lớn thứ 5 thế giới, với kế hoạch sản xuất đạt 1,2 triệu tấn chè thô và xuất khẩu 200.000 tấn chè chế biến vào năm 2015
Cả nước có khoảng 300 cơ sở chế biến chè có công suất 900 nghìn tấn búp tươi/năm, trong đó có khoảng 31 nhà máy có quy mô sản xuất lớn 30 tấn búp tươi/ngày chiếm 47% công suất chế biến; 103 nhà máy có quy mô vừa công suất chế biến 10 đến 28 tấn búp tươi/ ngày chiếm 43%; còn lại là cơ sở chế biến nhỏ công suất từ 3 đến 5 hoặc 6 tấn búp tươi/ngày và các hộ chế biến nhỏ lẻ chiếm khoảng 10% tổng công suất chế biến
Kết thúc năm 2012, xuất khẩu chè của cả nước đạt 146.708 tấn, trị giá 224.589.666 USD, tăng 9,6% về lượng và tăng 10,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước với thị trường xuất khẩu mở rộng tới gần 100 quốc gia
Trong đó Pakistan là thị trường Việt Nam xuất khẩu nhiều chè nhất, với lượng 24.045 tấn, trị giá 45.304.840 USD, tăng 38% về lượng và tăng 39% về trị giá năm 2012, chiếm 20,1% tổng trị giá xuất khẩu chè của Việt Nam Tiếp
Trang 23đến là Đài Loan, lượng chè xuất khẩu sang thị trường này đạt 22.453 tấn, trị giá 29.589.578 USD, tăng 10,4% về lượng và tăng 13% về trị giá; đứng thứ ba là Nga rồi Trung Quốc, Inđônêxia, Mỹ,… [9]
2.2.3.2 Kinh nghiệm sản xuất chè hữu cơ của một số địa phương
a Kinh nghiệm trồng chè hữu cơ tại Hợp tác xã chè Khe Cốc (xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên)
Phú Lương là một trong hai huyện có diện tích sản xuất chè lớn nhất tỉnh Thái Nguyên với diện tích hơn 4.000 ha Để nâng cao giá trị cây chè, trong những năm qua việc cải tạo, trồng thay thế giống chè cũ bằng các giống chè mới, chất lượng cao như: LDP1, TRI777, cải tạo chè trung du… áp dụng khoa học công nghệ sản xuất theo quy trình VietGAP, chè an toàn theo hướng hữu cơ… Điều này góp phần cải tạo môi trường, an toàn cho người trồng trọt, sản phẩm sạch, đem lại giá trị thu nhập cho mỗi héc ta đất trồng chè đặc sản khoảng
200 triệu đồng/năm
Nằm tại vùng đất được mệnh danh là tứ địa danh chè của tỉnh Thái Nguyên, Hợp tác xã chè Khe Cốc, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương hiện đang canh tác hơn 60 ha chè VietGAP và chè hữu cơ Với điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, khí hậu mát mẻ, cây chè lại được chăm bón từ phân chuồng hoai mục, phân gà nhập khẩu từ Nhật Bản, phun chế phẩm sinh học xua đuổi côn trùng, sâu bệnh… để cho ra sản phẩm chè sạch, thơm, ngon, an toàn, chất lượng cao được thị trường ưa chuộng với giá thành từ 500.000 đồng tới 10 triệu đồng/kg Doanh thu năm 2019 của Hợp tác xã đạt trên 3 tỷ đồng
Hiện nay hợp tác xã đang thực hiện dự án 35 ha chè an toàn, hữu cơ và
đã được Nhà nước hỗ trợ từ 25- 35 triệu đồng/ha/năm kéo dài từ 3 - 5 năm Đây
là sự hỗ trợ kịp thời cho bà con nhân dân chuyển đổi từ chè VietGAP, chè sản xuất thông thường sang sản xuất an toàn, hữu cơ Organic
Bà Tống Thị Xuyến thành viên Hợp tác xã cho biết, sản xuất chè an toàn theo quy trình VietGap, an toàn hữu cơ, bà con thấy rất an tâm từ khâu chăm
Trang 24bón, thu hái, môi trường được trong lành hơn, giá trị búp chè thành phẩm cũng được nâng lên, giá trị các sản phẩm trà tăng lên từ 15% - 20%
Sản xuất theo quy trình hữu cơ người dân thấy an toàn cho sức khỏe, sản phẩm được thị trường đón nhận, đây lại là xu hướng chung của nền nông nghiệp Do vậy, đến nay tất cả các hộ dân trong xóm và vùng nguyên liệu của Hợp tác xã, bà con đã ký cam kết sản xuất trà an toàn, chuyển đổi dần từ chè VietGAP, chè thông thường sang chè hữu cơ.[10]
b Kinh nghiệm trồng chè hữu cơ tại hợp tác xã chè Sơn Trà (thôn Đồng Đài, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang)
Đồng Đài là địa phương có thế mạnh và truyền thống phát triển cây chè Toàn thôn hiện có 60 hộ với hơn 80% số hộ sản xuất chè, cây chè đã được người dân trồng từ hơn 20 năm trước nên có nhiều kinh nghiệm trong thâm canh.Để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường, đảm bảo lợi ích kinh tế, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, các hộ trồng chè trên địa bàn thôn Đồng Đài (xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) đang đẩy mạnh phát triển theo hướng hữu cơ
Đầu năm 2018, thực hiện thành công chương trình mỗi xã một sản phẩm đặc trưng (OCOP), Đồng Đài được cấp giấy chứng nhận làng nghề chè
Trong quá trình phát triển, bên cạnh đẩy mạnh cải tạo đất đai, đưa các giống chè mới năng suất, chất lượng cao vào canh tác, các hộ trồng chè cũng tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới, đẩy mạnh cơ giới hóa vào sản xuất, nhằm nâng cao giá trị cho sản phẩm
Ông Trần Công Thông (thôn Đồng Đài), chia sẻ: “Sản xuất hữu cơ khiến sản lượng giảm 15 - 20% nhưng chất lượng đảm bảo, giá trị tăng 30 - 50%, đặc biệt, giúp giảm lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, qua đó giảm thiểu phát thải gây ô nhiễm môi trường Sang năm 2020, gia đình tôi sẽ chuyển đổi toàn
bộ diện tích chè sang sản xuất hữu cơ”
Trang 25Để đảm bảo hiệu quả bền vững cho mô hình, huyện đã chủ động tổ chức cho các hộ dân được tập huấn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp hữu cơ, kiến thức
về bảo vệ môi trường, an toàn lao động; hỗ trợ phân vi sinh, chế phẩm sinh học, cấp cây giống để trồng mới 3 ha và đầu tư máy đóng gói hút chân không
Bên cạnh đó, huyện hỗ trợ HTX dịch vụ, sản xuất, chế biến chè Sơn Trà xây dựng tem, nhãn mác, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm chè, giúp HTX nâng tầm ảnh hưởng, phát huy vai trò kết nối sản xuất, mở rộng thị trường, nâng cao giá bán cho sản phẩm
Về phía người dân, áp dụng các phương pháp sản xuất hữu cơ, các hộ trồng chè thôn Đồng Đài đã tự pha chế thuốc trừ sâu sinh học từ nguyên liệu là
ớt cay, tỏi, gừng, thuốc lào Chế phẩm này không những hạn chế được sâu bệnh hại chè, mà còn an toàn cho người sử dụng, thân thiện với môi trường
Sản xuất chè hữu cơ ở thôn Đồng Đài đang có những thành tựu đầu tiên,
sự đồng hành và hỗ trợ của cơ quan chuyên môn huyện Sơn Dương là động lực thúc đẩy người dân mạnh dạn áp dụng phương pháp sản xuất chè hữu cơ đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, từ đó mở ra hướng đi bền vững cho cây chè (11)
c Kinh nghiệm trồng chè hữu cơ tại hợp tác xã chè an toàn Núi Cốc (xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên)
Hợp tác xã chè Núi Cốc nằm tại xã Phúc Trìu, Thành phố Thái Nguyên Với vị trí địa lý phía nam nằm giáp ranh với xã Tân Cương của thành phố Thái Nguyên, phía bắc giáp với hồ Núi Cốc huyền thoại, có sông Công chảy qua dẫn nước từ hồ Núi Cốc cung cấp cho quá trình trồng và chăm sóc chè nên sản phẩm chè nơi đây có hương vị thơm ngon đặc biệt của tự nhiên
Trước đây, những đồi chè của xã thường không được tưới vì thế mỗi năm chỉ cho thu hái bảy, tám lứa/ năm; công đoạn sao, vò, sấy chè chủ yếu dùng củi, tay với những công cụ thô sơ khiến chất lượng chè chưa được cao Những năm
Trang 26gần đây, một số hộ gia đình trong xóm chè tham gia vào HTX chè Núi Cốc, được đầu tư hệ thống tưới xoay chiều, đủ độ ẩm, cho thu hái 10 đến 11 lứa/năm Công cụ tự động hóa sử dụng ga, điện trong các khâu chế biến, đóng gói, giảm đến mức thấp nhất sức lao động, mẫu mã, chất lượng chè được nâng lên.Hợp tác xã chè Núi Cốc đã xây dựng được vùng nguyên liệu khoảng 16 ha, trong đó
có hơn6 ha sản xuất theo hướng hữu cơ, còn lại sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap
Tham gia vào HTX, các xã viên sản xuất chè theo hướng hữu cơ đều xây bể hoặc đào hố rải bạt để ủ phân chuồng, ủ các phế phụ phẩm nông nghiệp
và sử dụng phân hữu cơ vi sinh để bón cho chè Đồng thời, tăng cường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học trong sản xuất Từ đó, tạo ra các sản phẩm chè chất lượng cao, an toàn cho người sản xuất và người tiêu dùng, chinh phục thị trường trong nước và quốc tế Nhờ áp dụng quy trình sản xuất và chế biến an toàn nên giá trị sản phẩm chè của các thành viên HTX Chè
an toàn Núi Cốc được nâng lên đáng kể, sản phẩm chè của HTX đưa vào thị trường từ bình dân tới quà biếu, với mức giá dao động từ 300.000 đồng một kg đến 3,5 triệu / kg đem lại lợi nhuận bình quân đạt tới hơn 100 triệu đồng/ha/năm
Trong công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm, HTX tích cực tham gia các kỳ lễ hội chè của tỉnh, các hội chợ thương mại trên cả nước.Nhờ hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả cao, các sản phẩm chè của HTX không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong tỉnh, mà còn có mặt tại thị trường Hà Nội và nhiều tỉnh, thành trong cả nước Không chỉ dừng lại tại thị trường trong nước, sản phẩm của HTX đang hướng tới xuất khẩu.(12)
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 273.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cây chè, các hộ trồng chè và các hoạt động liên quan đến sản xuất chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Tràng xá, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập trong năm 2020
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ ngày 10/01/2020 đến ngày 10/05/2020
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Tình hình sản xuất chè của các hộ được điều tra
- Nhận thức về chè hữu cơ và nhu cầu chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ của các trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Thuận lợi, khó khăn khi tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ điều tra
Trang 28- Các giải pháp đề xuất để thực hiện chuyển đổi từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ cho các trồng chè trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp xác định mẫu
Trong nghiên cứu khoa học, việc chọn mẫu đủ lớn và mang tính đại diện
là rất quan trọng Để có được số mẫu có cơ sở thống kê và tránh những sai sót trong quá trình chọn mẫu trong đề tài nghiên cứu tôi áp dụng công thức chọn mẫu Slovin (1960), độ tin cậy 90%, sai số 10%:
n = N
1+ N (e)2Trong đó:
n là cỡ mẫu
N là số lượng tổng thể
e là sai số tiêu chuẩn
Toàn bộ xã có 2094 hộ, theo công thức tính ta tìm được n= 100.Chọn 4 xóm trên địa bàn xã để tiến hành lấy mẫu nghiên cứu.Xóm Đồng Ruộng, xóm
có diện tích chè lớn nhất xã với hơn 50ha chè các loại.Xóm Tân Thành và Thành Tiến với 100% hộ gia đình sản xuất chè.Xóm Đồng Ẻn với hơn 80% hộ gia đình sản xuất chè
Tại 4 xóm đã chọn, chọn ngẫu nhiên các hộ gia đình để tiến hành điều tra,dân số của mỗi xóm là khác nhau, áp dụng công thức ở trên tôi thu được số mẫu tại mỗi xóm cụ thể như sau:
Trang 29Là phương pháp thu thập thông tin từ các tài liệu đã được công bố của các cơ quan, các trường đại học, các tạp chí và báo chí chuyên ngành, những báo cáo khoa học, nghiên cứu trong và ngoài nước,…
Trong đề tài này, tôi đã thực hiện nghiên cứu và thu thập các thông tin thứ cấp liên quan đến tình hình sản xuất chè, sản xuất nông nghiệp hữu cơ thông qua sách báo, các hội thảo nông nghiệp, hay qua phương tiện thông tin đại chúng(Trang Web, bài báo),…
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Là phương pháp thu thập thông tin, số liệu chưa được công bố ở bất cứ tài liệu nào mà người thu thập có được thông qua việc sử dụng các phương pháp khác nhau như: phỏng vấn trực tiếp, quan sát thực tế,… Với đề tài nghiên cứu “Đề xuất giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” tôisử dụng phương pháp quan sát, khảo sát thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn với những câu hỏi mở
- Quan sát trực tiếp: Đây là một trong những phương pháp được sử dụng
để thu thập thông tin sơ cấp thông qua tri giác Trực tiếp, nghe, nhìn, sử dụng phương tiện ghi âm, ghi hình.Các thông tin quan sát sẽ được ghi chép lại, vừa
để thu thập thêm thông tin vừa có thể kiểm chứng về tính xác thực của các nguồn thông tin thu thập được bằng các phương pháp khác Tôi đã quan sát thái
độ, hành động của người lao động trong các hoạt động sản xuất, trong những buổi tập huấn, hội thảo về chè để đánh giá mức độ quan tâm của họ đối với nhu cầu thay đổi phương thức sản xuất
- Khảo sát thông qua phiếu điều tra: Để có số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tôi tiến hành thu thập thông tin của các hộ nông dân Các hộ nông dân được điều tra bằng phiếu điều tra với những câu hỏi đóng và câu hỏi mở,
Trang 30nhằm thu thập những thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất chè, nhu cầu của hộ đối với sản xuất chè theo hướng hữu cơ
- Phỏng vấn với câu hỏi mở: Cùng với việc quan sát phỏng vấn bằng những câu hỏi mở vừa giúp có thêm thông tin vừa góp phần kiểm chứng tính xác thực của những thông tin mà hộ được phỏng vấn đã cung cấp trong phiếu điều tra
3.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu trong nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm Excel 2010.Sử dụng một số hàm như: hàm tính trung bình (AVERAGE), hàm đếm dữ liệu (COUNT), hàm tính tổng (SUM), để xử lý số liệu đã được điều tra
Trang 31PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Xã Tràng Xá nằm ở phía Nam huyện Võ Nhai, là cái nôi của Cách mạng Việt Nam những năm kháng chiến chống pháp, xóm Đồng Ruộng (Tràng Xá) nơi thành lập Trung đội Cứu quốc quân II (tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam) Tràng Xá là địa bàn chiến lược kinh tế - Quốc phòng của huyện Võ Nhai.Tổng diện tích xã là 47,80 km², với dân số 7.057 người, mật độ dân số đạt
148 người/km² Phía Đông giáp xã Dân Tiến và Phương Giao, phía Tây giáp Xã Liên Minh, phía Nam giáp xã Dân Tiến, phía Bắc giáp thị Trấn Đình Cả, xã Lâu Thượng và xã Phú Thượng với danh lam thắng cảnh Hang Phượng Hoàng, một địa danh du lịch nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên
Khí hậu và Tài nguyên thiên nhiên
Tràng Xá mang những nét chung của khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa biến tính, chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4, kết thúc vào đầu tháng 10 hàng năm.Trong thời gian này gió mùa đông nam chiếm ưu thế tuyệt đối, nóng ẩm mưa nhiều, tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 41,50C, nhiệt độ trung bình 28,50C Mùa khô bắt đầu từ gần cuối tháng 11 năm trước đến gần cuối tháng 3 năm sau, gió mùa đông bắc chiếm ưu thế tuyệt đối, trong thời gian này, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô, tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình 15,50C, nhiệt độ thấp tuyệt đối xuống đến 30C Độ ẩm không khí trên địa bàn xã khá cao Mùa mưa độ ẩm dao động từ 78% đến 86%, mùa khô từ 65% đến 70%
Trang 32Xã Tràng xá nằm trong vùng có lượng mưa lớn, lượng mưa trung bình hàng năm 2.025,3 mm, phân bố theo mùa, và có sự chênh lệch lớn giữa 2 mùa Mùa mưa, lượng mưa chiếm tới 80% lượng mưa cả năm.Số ngày mưa trên 100mm trong một năm khá lớn.Mùa khô thời tiết lạnh và hanh khô.Tổng lượng mưa mùa khô chỉ chiếm khoảng 15% lượng mưa cả năm (300 mm).Trong đó đầu mùa khô thời tiết hanh khô có khi cả tháng không có mưa, gây nên tình trạng hạn hán Cuối mùa khô không khí lạnh và ẩm do có mưa phùn
Xã Tràng Xá có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú:
- Tài nguyên đất: Tràng Xá có nhiều loại đất khác nhau như đất phù sa tập trung ở một số xóm Đồng Ẻn, Cầu Nhọ; đất đen ở hầu hết các xóm trên địa bàn xã và đất xám bạc màu chiếm trên 70% phân bố ở thung lũng, đồi thấp Nhìn chung xã Tràng Xá có nhiều loại đất canh tác phù hợp với nhiệu loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng, song chủ yếu là đất đồi núi
- Tài nguyên rừng: Rừng ở Tràng Xá chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng trồng theo chương trình 327, rừng trồng theo chương trình PAM cùng với các loại cây trồng của nhân dân như cây Bưởi, Cam, Nhãn Cây lương thực chủ yếu là cây Lúa nước, Ngô, Đậu
- Nguồn nước: Trên địa bàn xã có sông Dong (một nhánh của sông Thương) chảy qua và nhiều khe suối nhỏ do đó nguồn nước mặt tương đối phong phú nhưng phân bố chưa đều
- Du lịch sinh thái: Với địa hình có dãy núi đá vôi xen lẫn núi đất trung điệp tạo nên những thắng cảnh đẹp tự nhiên của núi rừng Hang Huyện và rừng Khuôn Mánh là nhân chứng lịch sử cho cuộc chiến chống giặc ngoại xâm hào hùng của ông cha ta
Trang 33Về nông nghiệp
Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2019 của toàn xã đạt 8.489,53 tấn Cây ăn quả được xác định là cây mũi nhọn của địa phương, nhân dân tích cực chăm sóc, hiện nay diện tích cây ăn quả các loại khoảng 260ha trong đó diện tích bưởi là 185ha (diện tích cây bưởi đã cho sản phẩm là 103ha); Thu nhập từ cây bưởi diễn khoảng hơn 400 triệu đồng/ha Các xóm có diện tích cây
ăn quả nhiều: Thắng Lợi, Mỏ Đinh, Lò Gạch, Hợp Nhất Trong năm 2019, UBND xã đã phối hợp cùng Trường Đại học KT&QTKD Thái Nguyên triển khai trồng mới 20ha na dai; trên địa bàn xã trong năm 2019 có 50ha bưởi diễn được công nhận sản xuất theo quy trình VietGAP
Đàn lợn duy trì ở mức 3.000 - 4.000 con/năm; đàn gia cầm duy trì ở mức 37.000- 40.000 con; đàn trâu, bò năm 2015 là 1.080 con, năm 2019 là 1.155 con; thuỷ sản duy trì 80 tấn Tổng sản lượng thịt lợn hơi hàng năm bình quân 320 tấn
Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn đã và đang phát triển tốt góp phần đẩy mạnh xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng, thay đổi bộ mặt nông thôn mới góp phần tăng tỷ trọng của tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn toàn xã, giải quyết tốt nguồn lao động tại địa phương
Sản xuất ngói xi măng bình quân 7,5 vạn viên/năm
Trang 34Tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp- dịch vụ đóng góp 30% thu nhập bình quân toàn xã
Thương mại - dịch vụ
Trong năm 2017 xã Tràng Xá đã đầu xây dựng nâng cấp Chợ Tràng Xá, đảm bảo cho các hoạt động giao thương buôn, bán diễn ra thuận tiện, thị trường hàng hóa lưu thông phong phú, đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, đồng thời góp phần quan trọng vào việc tăng tỷ trọng thương mại và dịch dịch
vụ trên địa bàn, giải quyết lao động tại chỗ, đóng góp vào tổng thu ngân sách
xã
Cơ sở hạ tầng
Đường tỉnh 265 chạy dọc theo địa bàn xã nối xã với Quốc lộ 1B tuyến đường huyết mạch Thái Nguyên - Lạng Sơn và xã Quyết Thắng (Hữu Lũng – Lạng Sơn) thuận lợi cho giao thương buôn bán Hiện nay xã đang triển khai dự
án xây dựng tuyến đường Tràng Xá - Phương Giao - Bắc Sơn (Lạng Sơn) dài 28,35km với kinh phí 156,5 tỷ đồng
Các tuyến đường liên xóm, trục xóm và đường ngõ xóm, đường nội đồng
ở 18/18 xóm trên địa bàn xã và đường vào nghĩa địa… được đầu tư theo chương trình nông thôn mới từ năm 2015-2019 và đối ứng của nhân dân làm mới được
là 44,42 km
Y tế
Xã có 1 trạm y tế, 07 cơ sở có giấy phép hành nghề dược bán thuốc trên địa bàn Năm 2019 tổng số thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại Trạm y tế
xã là 7.091 thẻ; số bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại trạm là 4.026 lượt
Giáo dục và đào tạo
Chất lượng giảng dạy của các trường trên địa bàn xã ngày càng được
nâng cao Cụ thể:
Trang 35Trường mầm non: Trên địa bàn xã có 02 trường mầm non, trong đó có
58 cán bộ, giáo viên; có 519 học sinh, số học sinh 5 tuổi hoàn thành chương trình mẫu giáo đủ điều kiện vào lớp 1 là 173/173 học sinh đạt 100%
Trường tiểu học: Trên địa bàn xã có 02 trường tiểu học, trong đó: Có 63 cán bộ, giáo viên; có 799 học sinh, số học sinh hoàn thành chương trình học đạt 100%
Trường THCS: Trên địa bàn xã có 02 trường THCS, trong đó: Có 44 cán
bộ, giáo viên; có 560 học sinh; học sinh xét tốt nghiệp là 129/129 học sinh đạt 100%
Tình hình dân số và lao động
Xã Tràng xá có 18 đơn vị hành chính (xóm) với dân số 7.057 người Về trình độ lạo động nhìn chung tương đối thấp Số người được bồi dưỡng về kỹ thuật trồng, chăm sóc cây là 42,5%/ tổng số hộ Số lao động có văn hoá bậc tiểu học chiếm 74,32%, trình độ bậc Trung học cơ sở và Trung học phổ thông chiếm 25% Số còn lại có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học rất ít Tuy nhiên với kinh nghiệm trồng và sản xuất lâu đời lao động tại đây tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chất lượng tốt như: Chè, Bưởi, Nhãn, (13)
An ninh - Quốc phòng
Công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tiếp tục được đẩy mạnh, có bước phát triển mới với nhiều nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, hiệu quả, khơi dậy tinh thần cảnh giác cách mạng, góp phần làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
và trật tự an toàn giao thông luôn được Cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo sát sao, tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tai nạn giao thông từng bước được kiềm chế Quần chúng nhân dân đã tích cực tham gia vào công tác giữ gìn an ninh chính trị và phòng ngừa, tấn công trấn áp tội phạm, tệ nạn xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc