Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước được quy hoạch xây dựng tại phường Hòa Hải quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng đã đi vào hoạt động từ năm 2017 Tuy nhiên do không áp dụng các biện pháp giảm thiểu tác động của các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất nên môi trường tại làng nghề ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng Luận văn này nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường tại làng nghề các vấn đề còn tồn tại gây ô nhiễm môi trường Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường có thể đề xuất một số giải pháp quản lý kỹ thuật để giảm thiểu tác động của các chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất tại Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
TRẦN ĐỨC TÚ
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Đà Nẵng, năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của GVHD TS Đặng Quang Vinh Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Các số liệu sử dụng, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn
do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan, phù hợp với thực tiễn địa bàn nghiên cứu và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên
Trần Đức Tú
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
3.1 Mục tiêu tổng quát 2
3.2 Mục tiêu cụ thể 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4.1 Ý nghĩa khoa học 2
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 3
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước 4
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 9
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
2.2 Nội dung nghiên cứu 9
2.2.1 Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, số liệu, tài liệu liên quan 9
2.2.2 Đánh giá hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước 9
2.2.3 Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện công tác bảo vệ môi trường tại làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước 9
2.3 Phương pháp nghiên cứu 10
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu có liên quan 10
2.3.2 Phương pháp điều tra 10
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường, phân tích trong phòng thí nghiệm 10
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14
3.1 Hiện trạng hoạt động sản xuất của Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước 14
3.1.1 Hiện trạng Làng nghề 14
3.1.2 Quy trình sản xuất, các dụng cụ và nguyên, vật liệu sử dụng trong sản xuất 15
3.1.3 Dụng cụ, nguyên liêu và các hóa chất sử dụng trong quá trình sản xuất 19
3.2 Hiện trạng môi trường của Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước 21
Trang 53.2.2 Hiện trạng môi trường nước 25
3.2.3 Hiện trạng thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải rắn 41
3.2.4 Các tồn tại khác ảnh hưởng xấu đến môi trường của Làng nghề 45
3.3 Giải pháp cải thiện môi trường Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước 46
3.3.1 Giải pháp quản lý 46
3.3.2 Giải pháp kỹ thuật 47
3.3.3 Tổ chức thực hiện 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
1 Kết luận 64
2 Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CẢI THIỆN MÔI
TRƯỜNG LÀNG NGHỀ ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC
Học viên: Trần Đức Tú Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
Mã số: 60.52.03.20 Khóa: 34 Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
Tóm tắt – Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước được quy hoạch xây dựng tại phường
Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã đi vào hoạt động từ năm 2017 Tuy nhiên, do không áp dụng các biện pháp giảm thiểu tác động của các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất nên môi trường tại làng nghề ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng Luận văn này nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường tại làng nghề, các vấn đề còn tồn tại gây ô nhiễm môi trường Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường, có thể đề xuất một số giải pháp quản lý, kỹ thuật để giảm thiểu tác động của các chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất tại Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
Từ khóa – Non Nước; Làng nghề đá mỹ nghệ; Hiện trạng môi trường
REVIEW OF CURRENT STATE OF NON NƯỚC MARBLE CARVING VILLAGE AND PROPOSAL FOR ENVIROMENTAL IMPROVEMENT MEASURE
Student: Tran Duc Tu Specialized: Enviromental engineer
Mã số: 60.52.03.20 Science: 34 Polytechnic University – ĐN University
Abstract – Non Nuoc marble carving village is situated at Hoa Hai ward, Ngu Hanh
Son district, Da Nang city and has been in operation since 2017 However, due to the absence of measures to minimize the impacts of waste generated from production activities, the environment in the village is becoming increasingly polluted This dissertation studies and reviews of the current state of the environment in Non Nuoc marble carving village and the ongoing environmental pollution issues Based on the results of research and review of the current state of the environment, a number of management and technical solutions can be proposed
to reduce the environmental impacts caused by waste from the production process at Non Nuoc marble carving village
Key words – Non Nuoc; Marble carving village; Review of current state of the
enviroment
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
3.4 Gia công thô tượng quan âm tại cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ Vĩ
3.18 Mặt bằng hiện trạng trạm xử lý nước thải tập trung của Làng nghề 32
Trang 83.27 Nồng độ độ cứng theo CaCO3 trong nước ngầm 36
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển nền văn hóa cũng như lịch sử phát triển kinh tế của nước ta luôn gắn liền với lịch sử phát triển Làng nghề Việt Nam truyền thống Bởi những sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà nó chính là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nền văn hóa dân tộc, thể hiện mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn của dân tộc Làng nghề là cả một môi trường văn hóa - kinh tế - xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác với những sản phẩm có bản sắc riêng của mình, nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc Việt Nam
Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước tại thành phố Đà Nẵng hoạt động chính thức từ năm 2017 có tổng diện tích khoảng 35,5 ha với gần 500 CSSX, chế tác đá mỹ nghệ với quy mô khác nhau, giải quyết việc làm cho khoảng 4.000 lao động Tuy nhiên, qua thời gian hoạt động, làng nghề đã bộc lộ những bất cập, từ khó khăn của các cơ sở sản xuất đến vấn đề ô nhiễm môi trường từ bụi đá, nước thải
Theo Báo Tài nguyên và Môi trường thì tình trạng ô nhiễm môi trường nặng nề tại Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước khiến nhiều công nhân chịu không nổi xin nghỉ làm việc, khiến công việc bị đình trệ vì không thực hiện kịp đơn đặt hàng, có nhiều cơ sở phải
đi thuê đất để sản xuất trong làng nghề và cũng đang phải làm việc trong môi trường ô nhiễm khủng khiếp từ bụi đá, nước thải [17]
Theo thống kê của Phòng Tài nguyên và Môi trường, quận Ngũ Hành Sơn cho thấy mỗi ngày có khoảng 1.600 m3 đá khô và bột đá ướt thải ra môi trường, trong đó có khoảng 700 m3 lượng đá khô và bột đá ướt được tái sử dụng để sản xuất gạch, đúc tượng
và các sản phẩm mỹ nghệ khác, lượng đá khô còn lại được thải ra bừa bãi ở bãi đất trống
và bột đá ướt sau khi qua các bể lắng thì đổ đống ngoài trời và thỉnh thoảng được thuê xe chở đi đổ ở những nơi khác [9]
Ngoài ra, nhiều CSSX sử dụng dung dịch HCl 37% để làm mềm bề mặt sản phẩm trước khi mài tinh Do vậy, khi nước thải sản xuất tràn ra đường, trộn với bụi đá trở thành những lớp bùn dẻo quánh khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường thêm nghiêm trọng
uất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng và
đề xuất biện pháp cải thiện môi trường Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước” để tìm
hiểu nghiên cứu, đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm, nâng cao chất lượng môi trường, nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và đem lại môi trường trong sạch hơn cho Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung
Trang 12Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các cơ sở sản xuất; hệ thống thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn
- Phạm vi nghiên cứu: làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Đối tượng khảo sát: Các cơ sở sản xuất đang hoạt động trong làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm bụi và tiếng ồn tại cơ sở sản xuất
- Cải thiện hệ thống thu gom nước thải sản xuất
- Đề xuất giải pháp quản lý lượng chất thải rắn phát sinh, cải thiện công tác thu gom, tập kết và xử lý chất thải rắn
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, cơ quan quản lý Nhà nước tham khảo, xem xét chọn các giải pháp khắc phục các vấn đề môi trường phù hợp
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có khả năng triển khai, áp dụng vào thực tiễn công tác cải thiện môi trường khu vực Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Cách đây khoảng bốn trăm năm, vào khoảng thế kỷ XVII, đã có một truyền thống
đá mỹ nghệ nằm dưới chân Ngũ Hành Sơn, người có công đầu khai sáng làng nghề nổi tiếng này là ông Huỳnh Bá Quát - vị cao tổ nhiều đời của quan Đô ngự sử Huỳnh Bá Chánh, Tán tương quân vụ Nghĩa hội Quảng Nam
Huỳnh Bá Quát am tường nghề truyền thống do tổ nghiệp truyền dạy Vì thế, khi
từ Thanh Hóa vào định an sở nghiệp dưới chân núi Non Nước vào nửa đầu thế kỷ XVII, nhận thấy đây là cụm núi đá cẩm thạch, ông bèn ra công khai thác, rồi đục đẽo thành những tấm bia mộ, chế tác cối xay, chày và cối giã tiêu, giã thuốc Bắc, hoặc làm những hòn đá chì cung cấp cho ngư dân quanh vùng Nhận thấy nghề đá này đem lại nguồn lợi trong lúc nông nhàn, ông bèn truyền dạy nghề cho con cháu trong gia đình và những người thân cận trong vùng
Lúc bấy giờ sản phẩm chủ yếu phục vụ đời sống gồm những hòn chì đá dùng để buộc neo tàu thuyền, các loại cối giã gạo, xay bột; tiếp theo là những sản phẩm điêu khắc bia mộ, đặc biệt là những chế tác Rồng, Phượng, Rùa, nghề phục vụ cho trang trí tại các Chùa chiền, Miếu mạo, Lăng tẩm, cung đình Những sản phẩm điêu khắc đá truyền nghề
và phát triển qua nhiều đời, dần đi vào đời sống tinh thần, phản ảnh nền văn hoá truyền thống của một vùng dân cư với nghề điêu khắc đá mỹ nghệ
Chẳng bao lâu sau, nghề đục đẽo đá này phát triển khá nhanh đến nỗi dưới triều nhà Nguyễn, nhằm ngăn chặn việc khai thác đá quy mô làm mất đi danh thắng Ngũ Hành Sơn, các đời vua Gia Long, Minh Mạng và Tự Đức đều có sắc chỉ cấm cư dân làng Quán Khái khai thác đá làm thủ công điêu khắc bán ra ngoài tỉnh và xuất khẩu sang các nước khác, chỉ được phép khai thác đá làm bia mộ nhỏ lẻ cung cấp trong vùng Quán Khái là tên làng dưới chân núi Non Nước, lúc đó thuộc huyện Hòa Vang, xứ Quảng Nam
Có thể nói, gần như hầu hết các văn bia thuộc địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng, từ đầu thế kỷ VII cho đến sau này đều do thợ đá thủ công Non Nước điêu khắc Nổi bật trong số đó có văn bia cổ dựng ở chùa Phổ Khánh, xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, được lập vào năm Mậu Ngọ (1678) đời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Trị thứ 3; Văn bia chùa Long Thủ, phường Bình Hiên, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, lập năm Quý Dậu (1693) đời Lê Hy Tông, niên hiệu Chính Hòa 14 Văn bia cử nhân Lê Tấn Toán, thầy của Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu tại xã Điện Dương, huyện Điện Bàn; Văn bia Tú tài tại Quế Sơn
Hiện nay, nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước đã vươn tới đỉnh cao nghệ thuật, không chỉ điêu khắc văn bia mà còn tạo tác các tượng đài, các nhân vật lịch sử, các danh nhân văn hóa, các linh vật Long, Lân, Quy, Phượng, các Phật Thánh Tiên Thần mang tính
Trang 14Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
chất văn hóa tín ngưỡng tâm linh, tại các đền, chùa, lăng, miếu Tạo tác khá phong phú các hình tượng, cảnh vật của tứ thời Xuân, Hạ, Thu, Đông, hay mai, lan, cúc, trúc [13]
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
a) Điều kiện tự nhiên
Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng là một trong những làng nghề truyền thống lâu đời nhất Đà Nẵng tọa lạc tại phường Hải Hòa, ngay chân núi danh thắng Ngũ Hành Sơn
- Vị trí tiếp giáp như sau:
+ Phía Đông giáp: Khu phố chợ Hòa Hải mở rộng
+ Phía Tây giáp: Đường quy hoạch có mặt cắt (5m + 10,5m + 5m)
+ Phía Nam giáp: Trường Cao đẳng Tư thục Tinh Hoa, Danatol, Tổng kho công ty xuất nhập khẩu Đà Nẵng
+ Phía Bắc giáp: Đường Mai Đăng Chơn [3]
Hình 1.1 Vị trí địa lý Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
- Điều kiện về khí tượng: Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa nhiệt đới, nhiệt độ cao, ít biến động và chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12
+ Nhiệt độ:
Nhiệt độ trung bình hằng năm 25,8 0C
Nhiệt độ cao nhất trung bình hằng năm: 30,50C
Nhiệt độ thấp nhất trung bình hằng năm: 22,60C
Trang 15 Nhiệt độ cao tuyệt đối: 40,50C
Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối: 12,0 0C
Tháng có nhiệt độ cao nhất từ tháng 5 đến tháng 8 còn tháng có nhiệt độ thấp nhất từ tháng 11 đến tháng 12
+ Mưa: mùa mưa thường tập trung và kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, mưa lớn tập trung vào tháng 10 và tháng 11 và chiếm hơn 70% tổng lượng mưa cả năm Các tháng ít mưa trong năm là tháng 3, 4, 5, 6
Lượng mưa cao nhất trung bình hằng năm: 3.100 mm
Lượng mưa thấp nhất trung bình hằng năm: 1.400 mm
+ Nắng: ngày nắng thường tập trung và kéo dài trong mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6
Tổng số giờ nắng trung bình hằng năm: 2253 giờ
Số giờ nắng cao nhất trong tháng (tháng 5): 248 giờ
Số giờ nắng thâp nhất (tháng 12): 120 giờ
Lượng bốc hơi trung bình hằng năm: 1.174 mm
Lượng bốc hơi cao nhất: 1.286,5 mm
Lượng bốc hơi nhỏ nhất: 1.025 mm
Các tháng có lượng bốc hơi cao: tháng 4 đến tháng 8
+ Gió: hướng gió thịnh hành là Đông Bắc và Tây Nam Gió Đông Bắc thường xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau và mang theo không khí lạnh, vận tốc lớn nhất là 24 m/s Gió Tây Nam xuất hiện vào tháng 4 đến tháng 9 và mang theo nhiều hơi nước, tốc độ gió lớn nhất là 15 m/s
Tốc độ gió trung bình trong năm là 3,3 m/s
Tốc độ gió lớn nhất: 15 – 25 m/s
+ Bão: thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 11 hằng năm, cấp bão lớn nhất lên đến cấp 11, 12 Mỗi năm ít nhất có 5 cơn bão gây ảnh hưởng hay trực tiếp đổ bộ lên đất liền
+ Lũ: lũ tiểu mãn thường xuất hiện vào tháng 5, 6 lũ chính vụ thường xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 12 Lũ kéo dài do ảnh hưởng lượng mưa từ thượng nguồn sông Hàn [8]
Trang 16Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
+ Chế độ sóng vùng biển Đà Nẵng: bờ biển Đà Nẵng kéo đài khoảng 90km, chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều mỗi ngày lên xuống 2 lần với biên độ dao động khoảng 0,6m Chế độ sóng vùng biển Đà Nẵng phụ thuộc vào mùa trong năm Sóng có hướng thịnh hành là Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau với tần xuất ổn định vào tháng 7 là 75,21 % Vào mùa đông, tần suất sóng theo hướng Đông Bắc giảm dần và chuyển sang hướng Đông, đạt 32,34% vào tháng 4 Từ tháng 5 đến tháng 7 hướng sóng Tây Nam chiếm ưu thế với tần suất đạt 61,7% vào tháng 7 Vào tháng 8 sóng chuyển dần theo hướng Nam với tần suất 55,37%
+ Dòng chảy: dòng chảy trong khu vực biển Đà Nẵng chịu ảnh hưởng lớn của chế
độ gió Dòng chảy vào mùa hè dao động từ 13 - 36 cm/s với hướng dòng chảy thịch hành
là Đông Nam, nghĩa là chảy từ vùng biển khơi vào hướng bờ biển Tốc dộ dòng cực địa mùa đông là 71 cm/s, lớn gấp 2 lần tốc độ dòng chảy lớn nhất vào mùa hè [3]
b) Điều kiện kinh tế - xã hội
- Về kinh tế: tăng trưởng kinh tế chung của phường Hòa Hải trong thời gian qua có mức tăng trưởng khá, vượt chỉ tiêu thu ngân sách trong cơ cấu kinh tế của toàn quận
Trong đó, tổng thu ngân sách phường trong 9 tháng đầu năm 2017 là 15,789 tỷ đồng, đạt
trên 113% kế hoạch; giá trị thương mại - du lịch - dịch vụ, ngành kinh tế mũi nhọn của quận, ước đạt 181 tỷ đồng, bằng 96,27% kế hoạch giao
+ Sản xuất thuỷ sản - nông - lâm: giá trị sản xuất thuỷ sản - nông - lâm (giá CĐ 2010) năm 2015 ước đạt 196 tỷ đồng, lũy kế năm ước đạt 378 tỷ đồng, đạt 16,6% kế hoạch, tăng 3,6% so với cùng kỳ, trong đó thủy sản tăng 4,4%, nông nghiệp tăng 1,9% và lâm nghiệp bằng 100% so với cùng kỳ 2014
+ Lĩnh vực Tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ, thương mại: tình hình di dời giải tỏa công viên văn hoá Ngũ hành Sơn trên tuyến phía bắc Huyền Trân Công Chúa hiện đang bàn giao mặt bằng chuyển về đường Trần Hưng Đạo nối dài nên việc kinh doanh hàng đá
mỹ nghệ của các hộ còn gặp nhiều khó khăn Nhưng trên lĩnh vực Tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ, thương mại của phường vẫn có bước phát triển khá, mặt hàng đá mỹ nghệ vẫn ổn định, tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm, quảng bá cho khách du lịch trong và ngoài nước
- Về xã hội:
+ Y tế:
Trạm Y tế phường Hòa Hải có nhiều cố gắng trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Trong năm qua công tác tuyên truyền các bệnh truyền nhiểm, bệnh sốt xuất huyết, bệnh chân tay miệng luôn được Trạm Y tế phường lồng ghép vào các trường trên địa bàn phường để tuyên truyền, đặc biệt là tổ chức mít tinh, diễu hành hưởng ứng tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS Làm tốt công tác phòng, khám các chương
Trang 17trình sức khỏe cộng đồng, tiêm phòng mở rộng, cấp phát thuốc miễn phí cho các đối tượng nghèo và trẻ em hằng tháng theo quy định và quản lý các bệnh xã hội
Tổ chức ký cam kết cho các chủ hộ kinh doanh về ATTP, đảm bảo VSMT Công tác phòng, ngừa các loại dịch bệnh được Trạm Y tế thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hạn chế thấp nhất về dịch bệnh xảy ra
Thực hiện Công văn số 16/HBT ngày 16/02/2017 của Hội Bảo trợ phụ nữ và Trẻ
em nghèo bất hạnh thành phố Đà Nẵng về “Khám sàng lọc phát hiện bệnh tim cho trẻ em”, trong 4 ngày, từ ngày 24 đến ngày 27 Hội Bảo trợ Phụ nữ và Trẻ em nghèo bất hạnh quận Ngũ Hành Sơn phối hợp với Trung tâm Y tế quận tổ chức các đợt khám sàng lọc bệnh tim miễn phí tại Trạm Y tế các phường và một số trường học trên địa bàn quận
Kết quả có 3.490 trẻ và học sinh các trường trên địa bàn quận được khám, qua đó
có 53 em nghi mắc bệnh tim Những trường hợp nghi phát hiện bệnh tim ở trẻ sẽ được Trung tâm Y tế và Hội Bảo trợ Phụ nữ và Trẻ em nghèo bất hạnh quận tư vấn và vận động gia đình đối tượng mắc bệnh đến bệnh viện tuyến trên để khám và chỉ định cứu chữa; đồng thời, Hội sẽ lập hồ sơ đề xuất Hội Bảo trợ Phụ nữ và Trẻ em nghèo bất hạnh thành phố và UBND quận hỗ trợ kinh phí phẫu thuật và điều trị tại nhà đối với những em được chỉ định phẫu thuật, giúp các em có được trái tim khỏe mạnh và sớm hòa nhập, vui chơi như bao bạn bè cùng trang lứa
+ Giáo dục:
Theo báo cáo thể hiện tại Hội nghị, Đề án Nâng cao chất lượng giáo dục giai đoạn 2017-2021 bước đầu được triển khai thực hiện với đồng bộ các giải pháp, như: nâng cao đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, phòng bộ môn đạt chuẩn; tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng các hoạt động giáo dục-đào tạo; chú trọng giáo dục thể chất và đầu tư công tác thư viện Hiện nay, toàn quận có 771 cán bộ, giáo viên, nhân viên đạt chuẩn 100%, trong đó trên chuẩn đạt 84,4% Đội ngũ này được bố trí đủ tại 20 trường công lập trên địa bàn quận để phục vụ công tác quản lý và giảng dạy
Đến nay, có 08 trường đạt chuẩn Quốc gia, trong đó 04/20 trường Mầm non đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 20%, 02/8 trường tiểu học đạt chuẩn, tỷ lệ 25%; 02/4 trường THCS đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 50% Có 04 trường THCS có phòng học bộ môn đạt chuẩn, với số lượng
12 phòng đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 44,4% 100% thư viện đạt chuẩn
Năm học 2017-2018 đầu tư 66 tỷ đồng xây dựng mới, cải tại, sửa chữa phòng học, phòng chức năng, nhà bếp, nhà ăn…đảm bảo hiệu quả, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng và yêu cầu đổi mới dạy và học hiện nay
Ở bậc mầm non thực hiện tốt công tác nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Kết quả, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm dưới 1,8%, SDD thấp còi giảm dưới 1,4%, thừa cân so với tuổi giảm dưới 3,5% Triển khai có hiệu quả chương
Trang 18Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
trình “Sữa học đường”, tại 9 trường MN và 33 nhóm lớp độc lập tư thục trên địa bàn phường Hòa Hải và Hòa Quý với 2.823 trẻ được thụ hưởng
Bậc tiểu học và THCS bên cạnh nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, mũi nhọn, Ngành Giáo dục chỉ đạo tăng cường hoạt động giáo dục kỹ năng sống và tư vấn tâm lý cho học sinh, phòng chống bạo lực học đường Triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình “Học làm người có ích”, “Học từ thiên nhiên”, hành trình “Đi để biết, học để sống”
Giải pháp trong thời gian đến, quận Ngũ Hành Sơn và ngành chức năng đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục của mỗi địa phương, đơn vị và xây dựng chương trình, kế hoạch nâng cao chất lượng với những giải pháp phù hợp, khả thi; nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn, tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý Chú trọng tổ chức định kỳ các hội thi cho giáo viên, cán bộ quản lý; nâng cao tỷ lệ học sinh khá, giỏi, giảm tỷ lệ học sinh yếu, kém từng năm học và lấy kết quả nâng cao chất lượng giáo dục để bình xét thi đua [6]
Trang 19CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các cơ sở sản xuất; hệ thống thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn
- Phạm vi nghiên cứu: làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Đối tượng khảo sát: Các cơ sở sản xuất đang hoạt động trong làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, số liệu, tài liệu liên quan
- Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, đặc điểm địa hình, khí tượng thủy văn, kinh tế xã hội tại làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
- Điều tra, khảo sát các số liệu, thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất, tình hình thoát nước, xử lý nước thải; thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn sản xuất và chất thải nguy hại tại làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
- Khảo sát về khối lượng (sử dụng phương pháp điều tra), thành phần, tính chất chất thải rắn sản xuất tại làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
2.2.2 Đánh giá hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
- Phân tích chất lượng môi trường không khí và tiếng ồn, nước thải sản xuất tại các
cơ sở sản xuất; nước thải sau xử lý tại trạm xử lý nước thải tập trung của làng nghề; thành phần bùn thải trong nước thải sản xuất
- Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí, tiếng ồn, nước thải tại các CSSX
- Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất
- Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn sản xuất, chất thải nguy hại
2.2.3 Đề xuất giải pháp nhằm cải thiện công tác bảo vệ môi trường tại làng nghề đá
mỹ nghệ Non Nước
- Giải pháp quản lý:
+ Đề xuất các quy định hỗ trợ cho công tác duy trì, vận hành các biện pháp bảo vệ môi trường
+ Đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn
+ Tuyên truyền nâng cao hiểu biết cho người dân
- Giái pháp kỹ thuật:
+ Đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm bụi, tiếng ồn tại các cơ sở sản xuất
Trang 20Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
+ Cải tạo hệ thống thu gom nước thải sản xuất
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu có liên quan
Kế thừa, tổng hợp các nguồn tài liệu lưu trữ tại các cơ quan, đơn vị quản lý
2.3.2 Phương pháp điều tra
Khảo sát và lập phiếu điều tra các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất, công tác bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất tại Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
Số lượng cơ sở điều tra được chọn theo công thức [7]:
n =
=
= 23 cơ sở Trong đó:
n: Số cơ sở cần điều tra N: Tổng số cơ sở e: Độ sai số được tính bằng % của sai số gốc, e biến thiên trong khoảng từ 10% ÷ 40% Chọn e = 20%
Vị trí cơ sở cần điều tra theo được chọn ngẫu nhiên, cách đều theo tuyến đường
2.3.3 Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm
a) Thời gian lấy mẫu: Tiến hành lấy mẫu 03 đợt vào các ngày 24/3/2018, 4/4/2018
và 17/04/2018
b) Số lượng mẫu mỗi đợt:
- Môi trường không khí: 03 mẫu ở các khu dân cư xung quanh và 03 mẫu trong khu vực sản xuất
- Môi trường nước: 01 mẫu nước ngầm, 01 mẫu nước mặt và 05 mẫu nước thải c) Vị trí lấy mẫu:
Bảng 2.1 Vị trí lấy mẫu quan trắc môi trường
I Môi trường không khí xung quanh
(KK1)
Giao nhau giữa đường Quán Khải 4
(8h00 - 11h30) 4/4/2018 (8h00 - 11h30) 17/04/2018 (13h30h-17h)
Trời nắng
(KK2)
Trước nhà ông Trương Công Tuấn,
Lô B2.1, lô số 10, đường Phạm Như Hiền
(KK3)
Ngã 3 giao nhau giữa đường Quán Khải 9 và đường Mai Đăng chơn
II Môi trường lao động
Trang 21(KK4) Vũ, khu sản xuất 7, lô số 06, đường
Quán Khải 10
(8h00 - 11h30) 4/4/2018 (8h00 - 11h30) 17/04/2018 (13h30h-17h)
(KK5)
Tại cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ Thanh,
Lô sản xuất số 61, đường Trương Gia
Nước giếng khoan cơ sở điêu khác đá
mỹ nghệ Huy Hùng, đường Quán Khải 12
24/3/2018 (8h00 - 11h30) 4/4/2018 (8h00 - 11h30) 17/04/2018 (13h30h-17h)
Trang 22Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
Hình 2.1 Sơ đồ quan trắc môi trường tại Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
Trang 23d) Quy chuẩn so sánh:
- Môi trường nước: QCVN 40:2011/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về nước thải công nghiệp), QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt), QCVN 09-MT:2015/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm)
- Môi trường không khí: QCVN 05:2013/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia
về chất lượng không khí xung quanh), QCVN26: 2010/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về tiếng ồn)
e) Phương pháp đo, phân tích các thông số môi trường:
Bảng 2.2 Phương pháp phân tích các thành phần môi trường
Không khí
Nhiệt độ Đo tại hiện trường bằng thiết bị đo
Hướng gió Đo tại hiện trường bằng thiết bị đo
Tốc độ gió Đo tại hiện trường bằng thiết bị đo
Độ ồn (Leq) Đo tại hiện trường bằng máy
Amoni
(NH4+)
TCVN 5988 - 1995 (ISO 5664 - 1984) - Chất lượng nước - ác định amoni - Phương pháp chưng cất và chuẩn độ
Trang 24Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng hoạt động sản xuất của Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
3.1.1 Hiện trạng Làng nghề
Hiện nay, làng nghề có gần 500 CSSX với hơn 4.000 lao động tạo ra giá trị sản phẩm hằng năm từ 120 - 130 tỷ đồng, góp phần đáng kể ổn định kinh tế địa phương Để làng nghề tiếp tục tồn tại và phát triển ổn định, UBND thành phố đã có Quyết định số 5633/QĐ-UBND ngày 18/7/2007 về việc phê duyệt quy hoạch tổng mặt bằng chi tiết làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, tập trung vào một khu vực, tách biệt khỏi khu dân cư nhằm giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường Làng nghề được quy hoạch tập trung với tổng diện tích 35,5ha với các hạng mục như sau [14]:
- Đất bố trí cho sản xuất đá mỹ nghệ: 7,46 ha
- Đất trạm xử lý nước thải: 0,20 ha
- Đất cây xanh vành đai cách ly: 6,74 ha
- Đất bãi chứa đá nguyên liệu: 6,68 ha
- Đất giao thông, vỉa hè, mương thoát nước,…: 8,43 ha
- Trụ sở làm việc của BQL làng nghề kết hợp nhà sinh hoạt cộng đồng: 0,03 ha
- Một số hạng mục đất khác (đất quỹ điều khắc, đất chia lô liền kề, đất trại tạm giam và kho vật chứng CAQ, đất đơn vị A20 - Bộ Công an, Nhà thờ tộc Huỳnh): 5,5ha
Theo [2] thì cơ cấu lao động tại làng nghề như sau:
Bảng 3.1 Cơ cấu lao động làng đá Non Nước
An, Hà Tĩnh Lực lượng lao động này chủ yếu làm các công việc cưa cắt đá trong các CSS Người lao động (NLĐ) làm việc trong các hộ gia đình mà đề tài khảo sát nhìn một các tổng quát có tuổi đời và tuổi nghề cao NLĐ 18 – 40 tuổi chiếm tỷ lệ lớn
Trang 25Bảng 3.2 Tuổi đời và tuổi nghề làng đá Non Nước
Nhìn về tổng thể làng đá mỹ nghệ Non Nước vẫn là một Làng nghề vẫn là một Làng nghề truyền thống, học nghề theo hình thức “Cha truyền con nối nghiệp” Bên cạnh nghề truyền thống tại Làng nghề một thế hệ làm việc chiếm tỷ lệ 72%, có nhiều hộ gia đình thuê cả lao động Thanh Hóa, Nghệ An cùng làm chủ yếu là làm hàng “chợ” để tăng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường [2]
3.1.2 Quy trình sản xuất, các dụng cụ và nguyên, vật liệu sử dụng trong sản xuất
Theo [3] thì:
- Quy trình công nghệ sản xuất:
Quy trình công nghệ của các hộ sản xuất ở Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước có thể mô tả như sau [3]:
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình chế tác đá mỹ nghệ Làng nghề đá Non Nước
Trang 26Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
- Thuyết minh quy trình sản xuất:
+ Công đoạn cắt:
Đây là công đoạn đầu tiên trong quy trình sản xuất đá mỹ nghệ Các tảng đá to lớn
cần được cắt ra theo những kích thước hợp lý cho các sản phẩm cần làm
Các máy cưa cắt được gắn vào các động cơ điện và có gắn thêm các ống nước để làm mềm đá, mát lưỡi cưa Lưỡi cưa dạng đĩa có nhiều kích cỡ khác nhau nhưng chủ yếu
là 2 cỡ là chiều dài d = 1,2 m và chiều dài d = 0,6 m
Sau khi cắt xong, các xe cẩu vận chuyển đá về lại cơ sở sản xuất đã đặt (tại vị trí sản xuất của mỗi hộ, ở trên một khoảng đất trống)
Hình 3.2 Đá lớn trước khi đưa vào cắt
Hình 3.3 Đá được cưa tại cơ sở Trương Thị Nga
Trang 27+ Công đoạn gia công tạo hình thô:
Các khối đá sau khi được cắt theo yêu cầu được các nghệ nhân đục, khoan,… để tạo hình thô ban đầu Tại công đoạn này, khối đá thường nằm ngang để dễ thao tác và tránh văng mảnh đá vào công nhân bên cạnh Đối với tượng kích thước cao × dài × rộng = 3m × 1m × 1m, thời gian gia công thô khoảng 15 ngày
Hình 3.4 Gia công thô tượng quan âm tại cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ Vĩ Loan
+ Gia công chính:
Đây là công đoạn nghệ nhân thể hiện ý tưởng vào tác phẩm Từng chi tiết của
tượng được gia công cụ thể, các nét uốn lượn được thể hiện chuẩn xác
Trong công đoạn này, các máy được huy động tối đa như máy mài đĩa, mài côn, khoan, đục … Công đoạn này chiếm thời gian lớn nhất Tuỳ theo độ phức tạp của sản phẩm mà thời gian hoàn thành công đoạn này dài ngắn khác nhau Nước vẫn được dùng kèm theo trong quá trình cho mềm đá, dễ thao tác, làm giảm nhiệt cho các máy và giảm
bụi
+ Mài:
Quá trình mài láng được thực hiện qua các khâu như sau: mài láng bằng máy, mài láng bằng tay (dùng giấy nhám) Mài bằng máy để sửa chữa các lỗi lớn trên tượng Quá trình mài máy không dùng nước bởi lưỡi cưa này làm bằng vật liệu dễ thấm nước, ảnh hưởng đến thao tác Cuối cùng, chà tay bằng giấy nhám và nước
+ Đánh bóng:
Đây là công đoạn tôn thêm vẻ đẹp của tượng Sau khi bức tượng được hoàn thành,
để trở thành sản phẩm đem trưng bày hoặc bán cần làm bóng cẩn thận Có 3 cách làm bóng đang được áp dụng là dùng máy chà kết hợp với nước, dùng dầu bóng 2k (dầu Duxone) hoặc axit loãng Đánh bóng bằng axit: axit HCl được pha loãng với nồng độ khoảng 10%, sau đó dội từ từ lên bề mặt sản phẩm Axit chỉ dùng cho các tượng làm bằng
đá trắng, các loại đá khác nếu dùng sẽ bị sần sùi Mài bóng bằng máy thì yêu cầu thời
Trang 28Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
gian và sinh ra nhiều bụi Phun lớp dầu bóng 2k lên bề mặt sản phẩm: dầu bóng được pha với dung môi sau đó phun trực tiếp lên bề mặt sản phẩm Trong 3 phương thức đó, thường dùng axit hơn cả Do cách này nhanh chóng, sản phẩm bằng đá trắng chiếm 80% Tuy nhiên, lượng axit dùng phụ thuộc vào bề mặt tượng tưới Chỉ dùng tưới sơ qua bề mặt tượng
Hình 3.5 Sản phẩm được mài trước khi đem đi đánh bóng
Hình 3.6 Sản phẩm được đem đi đánh bóng bằng axit
+ Thành phẩm:
Sau khi hoàn thành, sản phẩm được trưng bày, bán hoặc vận chuyển cho các đơn đặt hàng Để có một sản phẩm nghệ thuật ra đời đúng ý, nghệ nhân phải biết chọn đá phù hợp với sản phẩm, đồng thời cũng dựa trên nét đẹp hình khối vốn có của đá Mặt hàng mỹ nghệ ở đây phong phú về kích thước, đa dạng về hình dáng Từ tượng Phật bà, Sư tử lăn banh (bá chủ toàn cầu) cao 1,5 ÷ 2m đến mặt hàng trang sức, bình hoa, gạt tàn thuốc… sản phẩm nào cũng có nhiều hình dáng khác nhau Muốn được như vậy, trước hết nghệ
Trang 29nhân phải luôn làm mới ý tưởng cũng như kết hợp hài hoà yếu tố thẩm mỹ Do đó, sản phẩm luôn mới phải kết hợp yếu tố thẩm mỹ nghệ thuật Có những sản phẩm mất thời gian khá dài mới hoàn thành, nhưng để 3 năm sau bán vẫn chưa được, ấy vậy mà có thứ vừa làm ráo tay người mua đã đặt hàng
Trước đây công việc khá vất vả, từ công đoạn tạc hình đến một sản phẩm hoàn chỉnh đều làm thủ công là chính Hiện tại, hầu như cơ sở nào cũng trang bị máy móc nên công việc nhẹ và nhanh hơn rất nhiều, chất lượng và số lượng sản phẩm tăng lên
Lượng nguyên liệu trong sản phẩm đá điêu khắc chiếm 54,3%, lượng bột đá và vụn
đá chiếm 45,7%, dùng làm những sản phẩm khác như đúc đá, làm vật liệu trát tường… Hiện nay, các quy mô cơ sở sản xuất còn mang tính tạm bợ nên việc thu gom vụn đá chưa tốt, gây mất cảnh quan
Sản phẩm điêu khắc kích cỡ nhỏ (từ 5 cm đến 30 cm) ngày càng ít được sản xuất Thay vào đó là sản phẩm đúc từ bột đá cỡ 5cm đến 30cm dần dần chiếm thị phần lớn dần
Vì nó thu hút được sức mua của du khách, với ưu điểm là độ thẩm mỹ cao, sắc sảo, màu sắc đa dạng phong phú, giá thành lại thấp
Bên cạnh cơ sở điêu khắc đá còn các cơ sở tiện đá chiếm 10% Sản phẩm tiện rất đẹp mắt và thu hút nhiều khách mua Trong quá trình sản xuất ra sản phẩm này lượng bụi sinh ra lớn hơn quá trình mài, cắt do không dùng nước tại các máy tiện
- Qui trình sản xuất các sản phẩm tiện: cũng giống như quy trình điêu khắc tượng
đá, sản phẩm được tạo ra cũng qua các công đoạn: cắt đá, làm thô, tiện chính, làm bóng Chỉ khác là tại công đoạn tiện chính, không dùng nước vì sản sản phẩm dễ bị nứt Do đó lượng bụi phát sinh ở các phân xưởng tiện rất lớn
3.1.3 Dụng cụ, nguyên liêu và các hóa chất sử dụng trong quá trình sản xuất
Theo [3] thì:
“- Dụng cụ sử dụng trong quá trình sản xuất: Tình trạng máy móc sử dụng trong sản xuất của Làng nghề phần lớn đều rất thô sơ, nhiều thiết bị không đảm bảo yêu cầu an toàn
- Thiết bị máy móc đang hoạt động tại Làng nghề:
+ Máy cưa đá, có đường kính 250 – 1200mm
+ Máy tiện đá, đường kính tiện phổ biến 500mm
+ Máy cắt đá cầm tay, có đường kính từ 60 – 250mm
+ Máy mài đĩa, có đường kính từ 90 – 180mm
+ Mày mài hình côn; có đường kính 10 - 30mm, chiều dài 30 - 50mm
+ Máy khoan dùng khí nén hoặc điện (các cơ sở sản xuất lớn dùng)
+ Và một số thiết bị thủ công khác
- Nguyên liệu:
Trang 30Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
+ Đá: Nguồn đá nguyên liệu các loại chủ yếu ở các mỏ đá từ các tỉnh phía Bắc như Thanh Hóa, Bắc Kạn, Thái Nguyên, thành phố Vinh… các hộ sản xuất mua từ các hộ kinh doanh đá nguyên liệu Ngoài ra đá xanh còn được khai thác từ các mỏ đá ở huyện Đại Lộc, tỉnh Hiệp Đức Quảng Nam
Hiện nay, ngoài những nguyên liêụ khai thác trong nước, còn có một số nguyên liệu và sản phẩm được nhập khẩu từ Ấn Độ và Afghanistan, có độ thẩm mỹ cao và thu hút mạnh thị hiếu người tiêu dùng
+ Hóa chất:
Hóa chất các hộ sản xuất sử dụng là axit HCl có nồng độ 37% dùng để đánh bóng sản phẩm Trong quá trình sử dụng, người ta thường dùng dung dịch HCl có nồng độ khác nhau để nhúng hay tưới lên đá Dung dịch HCl phản ứng với CaCO3 có hiện tượng sủi bọt khi đá hay sản phẩm hết sủi bọt sẽ vớt ra để mài bóng Các hộ sử dụng HCl để chế tác sản phẩm dưới hai dạng sau:
Đối với sản phẩm có kích thước nhỏ:
Sản phẩm này không đòi hỏi kĩ thuật cao, giá thấp là những đồ lưu niệm, sản phẩm này chiếm 70% sản lượng hàng năm của Làng nghề Non Nước Các sản có kích thước nhỏ sau khi được tạo hình sản phẩm (đục, đẽo, cưa, tiện tùy theo dòng sản phẩm), trước khi hoàn tất người ta cho các sản phẩm này vào ngâm trong dung dịch HCl nồng độ cao Sau khoảng 5 phút khi đã hết hiện tượng sủi bọt người ta lấy sản phẩm ra mài và đánh bóng Đối với sản phẩm này HCl có tác dụng làm tan ngay lớp CaCO3 và CaO trên bề mặt
và tạo lớp bảo vệ bên ngoài mà trong quy trình người ta gọi là tạo bóng
Qua khảo sát các CSSX tại Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước cho thấy HCl được
đổ trong xô nhựa (40 lít) để ngâm sản phẩm Phản ứng xảy ra nhanh giữa axit mạnh và đá vôi tạo ra một lượng khí CO2 bay lên và muối CaCl2 Người ta cứ tiếp tục ngâm sản phẩm, sau một thời gian dung dịch này sẽ bão hòa và thay dung dịch axit mới
HCl + CaCO3 → CaCl2 + CO2 + H2O
Đối với sản phẩm loại này, các hộ gia đình sẽ thu gom dung dịch axit sau khi sử dụng vào môt bể thu gom và tiếp tục cho trung hòa tiếp tục bằng lượng CaCO3 thải ra của công đoạn cưa, xẻ hay mài thô trước đó
Đối với các sản phẩm có kích thước lớn:
Các sản phẩm này là những loại tượng có kích thước lớn Sau một thời gian khắc mài sản phẩm hoàn tất, các hộ gia đình dùng axit HCl để tưới lên trên bề mặt tượng hiện tượng cũng xảy ra như trên khoảng 2 - 3 phút Lượng axit chảy ra đất lại tiếp tục phản ứng với bột đá vôi
Lượng axit của các hộ sử dụng tùy vào nhu cầu thực tế của từng cơ sở Nồng độ của axit sử dụng cho công đoạn làm bóng tùy thuộc vào yêu cầu của sản phẩm Đối với các sản phẩm có kích thước lớn thường sử dụng HCl nồng độ 37% tưới thẳng vào các sản
Trang 31phẩm, khối đá chế tác Đối với các sản phẩm đòi hỏi độ tinh xảo các hộ gia đình sử dụng dung dịch HCl pha loãng với tỷ lệ 1/10 đến 1/5 để nhúng hoặc tưới lên sản phẩm.”
Một số loại sản phẩm khi mài láng được làm bóng bằng dầu 2k (có tên khoa học là Duxone là chất có thể cháy, tránh tiếp xức với mắt hoặc hít thở trực tiếp; thành phần gồm: Butyl acetate 30.0-60%, polyisocyante alphatic 10.0%, xylên 5.0-10%, ethylbenzene 1,0% - 5,0%) [2]
3.2 Hiện trạng môi trường của Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước
3.2.1 Hiện trạng môi trường không khí
a) Tình hình thực hiện công tác bảo vệ môi trường:
Theo kết quả điều tra thì hầu như các cơ sở sản xuất trong Làng nghề chưa áp dụng các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm bụi và tiếng ồn phát sinh trong quá trình sản xuất, nếu
có thì chỉ trang bị khẩu trang cho công nhân; Hạ tầng kỹ thuật của Làng nghề đã được hoàn thiện và trồng vệt cây xanh cách ly theo quy hoạch giữa Làng nghề với khu dân cư xung quanh và trong Làng nghề cũng đã thực hiện trồng cây xanh theo quy hoạch
b) Kết quả phân tích chất lượng môi trường
- Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí xung quanh:
Trang 32Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
Hình 3.8 Nhiệt độ tại khu vực Làng nghề
Hình 3.9 Tốc độ gió tại khu vực Làng nghề
Hình 3.10 Nồng độ bụi lơ lửng trong môi trường không khí tại Làng nghề
0.38
0.3 0.2
Trang 33Hình 3.11 Mức ồn trong môi trường không khí xung quanh tại Làng nghề
Nhận xét: Qua bảng kết quả phân tích trên cho thấy môi trường không khí của khu
dân cư (khu vực KK1) chưa ô nhiễm bụi, tiếng ồn; bị ô nhiễm bụi, tiếng ồn tại khu vực KK2 và KK3, cụ thể:
+ Tổng bụi lơ lửng vị trí KK2 (đợt 1) vượt quy chuẩn cho phép 1,03 lần Đợt 2, vị trí KK2 vượt quy chuẩn cho phép 1,26 lần Đợt 3, vị trí KK2 vượt quy chuẩn cho phép 1,1 lần, vị trí KK3 vượt quy chuẩn cho phép 1,17 lần
+ Tiếng ồn tại vị trí KK2 (đợt 1) vượt quy chuẩn cho phép từ 4,4 dBA Đợt 2 giá trị nằm trong quy chuẩn cho phép Đợt 3, vị trí KK2 vượt quy chuẩn cho phép 3,2 dBA,
vị trí KK3 vượt quy chuẩn cho phép 6,9 dBA
- Kết quả phân tích chất lượng môi trường lao động:
Hình 3.12 Nhiệt độ trong môi trường lao động
Trang 34Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
Hình 3.13 Nồng độ bụi lơ lửng trong môi trường lao động
Hình 3.14 Tiếng ồn trong môi trường lao động
Ghi chú: QCVN 24:2016/BYT, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn, mức tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc với thời gian tiếp xúc tiếng ồn là 4 giờ
Nhận xét: Qua kết quả phân tích ở trên cho thấy môi trường lao động ở Làng nghề
đã bị ô nhiễm bụi, tiếng ồn, cụ thể:
+ Tiếng ồn tại các vị trí KK4, KK5, KK6 (đợt 1) vượt qui chuẩn cho phép từ 0,6dB-14,5dB Đợt 2 vượt quy chuẩn cho phép 13,2dB - 20dB Đợt 3 vượt quy chuẩn cho phép 2,2dB - 10,4dB
+ Bụi lơ lửng tại các vị trí KK4, KK6 (đợt 1) vượt quy chuẩn cho phép 1,45-1,7 lần Đợt 2 vượt qui chuẩn cho phép 1,6 - 2,05 lần Đợt 3 vượt quy chuẩn cho phép 1,55 - 1,9 lần
2.9
1.8
3.4 3.2
Trang 35c) Những vấn đề còn tồn tại gây tác động xấu đến môi trường của Làng nghề
- Các cơ sở sản xuất chưa áp dụng các giải pháp thu gom, xử lý bụi và tiếng ồn phát sinh tại nơi làm việc
- Các cơ sở sản xuất chưa xây dựng nhà xưởng sản xuất theo đúng quy định, chi xây dựng, lắp đặt sơ sài
- Hiện nay, chỉ có khu vực phía trước Ban Quản lý và trạm xử lý nước thải cây xanh phát triển tốt; toàn bộ vệt phía Tây, phía Nam, 2/3 vệt phía Bắc và 1/2 vệt phía Đông cây xanh phát triển không tốt nên không giảm được tiếng ồn, đặc biệt là bụi phát tán rất nhiều gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động của người dân xung quanh Làng nghề
3.2.2 Hiện trạng môi trường nước
3.2.2.1 Tình hình thực hiện công tác bảo vệ môi trường:
a) Nước thải sản xuất:
- Làng nghề đã đầu tư hoàn chỉnh tuyến ống thu gom nước thải sản xuất (ống HDPE đường kính 300mm), tách riêng với nước thải sinh hoạt và nước mưa trong khu vực dự án [14] Theo bản vẽ hoàn công hệ thống thu gom nước thải sản xuất do BQL Làng nghề cung cấp thì Làng nghề có 17 tuyến ống đảm bảo thu gom hoàn toàn lượng nước thải sản xuất phát sinh từ Làng nghề
Hình 3.15 Mạng lưới thu gom nước thải sản xuất tại Làng nghề
Trang 36Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
- Theo kết quả điều tra thì các cơ sở sản xuất tại Làng nghề đã thực hiện đấu nối nước thải sản xuất vào hệ thống thu gom nước thải sản xuất của Làng nghề để dẫn về trạm
xử lý nước thải tập trung đã được xây dựng xử lý đạt cột B, QCVN 40:2011/BTNMT trước khi thải ra môi trường Để đảm bảo chất lượng nước thải đầu vào đúng theo thiết kế của trạm xử lý nước thải và giảm tác động đến hệ thống thu gom nước thải sản xuất, các
cơ sở sản xuất đã xây dựng bể lắng 03 ngăn nhằm tách một phần bột đá lẫn trong nước thải Lượng nước thải sản xuất phát sinh tại các CSS như sau:
Bảng 3.3 Lưu lượng nước thải sản xuất phát sinh tại các cơ sở
STT Cơ sở sản
xuất Loại hình sản phẩm
Khối lượng nguyên liệu (tấn/tháng)
Lưu lượng nước thải (m 3 /tháng)
Lưu lượng nước thải trung bình (m 3 /tấn đá nguyên liệu)
Lượng hóa chất
sử dụng (lít/tháng)
Tượng, bàn ghế, sản phẩm đá
Trang 3717 Lê Văn Hiên Tượng 4 30 7,5 1,0
Như vậy, lượng nước thải phát sinh khoảng 7,6 m3
/tấn đá nguyên liệu đầu vào và lượng hóa chất sử dụng cho sản xuất là 0,4 lít/tấn nguyên liệu đầu vào
- Theo [4] thì các thông tin cơ bản của trạm xử lý nước thải tập trung như sau: + Sơ đồ khối công nghệ xử lý nước thải:
Hình 3.16 Sơ đồ khối dây chuyền công nghệ XLNT sản xuất tại làng nghề
Mùa mưa
Hóa chất điều
chỉnh pH
Bể điều hòa
Mùa khô
Trang 38Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
Hình 3.17 Sơ đồ dây chuyền công nghệ trạm xử lý nước thải
Trang 39+ Thuyết minh dây chuyền công nghệ:
* Tách rác, bể thu gom (TK01):
Nguồn nước thải sản xuất của các hộ trong Làng nghề sẽ được đấu nối vào hệ thống ống thu gom, trước khi các hộ đấu nối vào tuyến ống thu gom chung của Làng nghề, cần phải xây dựng 01 bể thu cặn bột đá có kích thước DxRxC (tối thiểu 2,4 x 1,2 x 1,4m), tùy theo lượng nước thải của mỗi hộ sẽ xây dựng bể thu cặn có kích thước phù hợp Nước thải sẽ tự chảy về bể thu gom của Trạm Xử lý Nước thải
Nước thải trước khi chảy vào bể thu gom sẽ đi vào giỏ tách rác; toàn bộ rác có kích thước > 2mm sẽ được giữ lại và hằng ngày sẽ được kéo lên bằng pa lăng và đưa vào thùng chứa tập kết nơi qui định, hợp đồng với Công ty Môi trường Đô Thị thu gom và xử
lý
Bể thu gom được xây dựng với kích thước: LxBxH = (4,0x3,0x4,0)m
Cao trình tuyến ống vào bể thu gom ở (+0,7)m (tương ứng với cốt giả định là 3,1m)
-Tại bể gom sẽ được lắp đặt 02 bơm (P-01/02-01) có công suất: 187 m3/h với H = 8m
Trong đó: 01 bơm hoạt động; 01 bơm dự phòng; phụ thuộc vào mức nước ở bể gom, thì 1 hoặc 2 bơm có thể hoạt động đồng thời ; các bơm hoạt động hoàn toàn tự động
* Bể điều hoà nước thải (TK02):
Nước thải sau khi chảy vào bể gom và được bơm lên bể điều hoà, nước đi vào bể thường có độ đục cao, pH thấp, bể điều hòa ngoài chức năng điều hòa các chất, pH, còn
có chức năng qua trọng đó là điều hòa lưu lượng Vì lượng nước thải sản xuất của Làng nghề chủ yếu thải ra ban ngày từ 6h sáng đến 6h chiều Vì vậy bể điều hòa phải có thể tích đủ lớn chứa lượng nước cho hoạt động liên tục của hệ thống
Bể điều hòa được xây dựng có thể tích chứa khoảng 14h x Qtb(xl) khoảng 875m3;
bể được xây dựng có kích thước: (19,4x6,5+14,1x5,0)x5.0m
Do nước thải có độ đục cao, chủ yếu là bột đá mịn, và pH thấp do đó không lắng được, vì vậy cần phải được loại bỏ ở bể lắng
Dưới đáy bể điều hòa được lắp đặt cụm đĩa tán khí nhằm tăng khả năng khuấy trộn đồng đều các chất trong bể, đồng thời tránh lên men yếm khí gây mùi
Nguồn không khí được cấp bởi 02 thiết bị Airblower (01) dự phòng; với lưu lượng khí mỗi máy là 3,75m3/ph; H=5m, hoạt động theo cài đặt thời gian để tiết kiệm năng lượng
Tại bể này được lắp đặt 02 bơm P-01/02-02 có công suất: 65 m3/h với H = 8m Trong đó: 01 bơm hoạt động; 01 bơm dự phòng; các bơm hoạt động hoàn toàn tự động và luân phiên nhau Lưu lượng của bơm có thể điều chỉnh được nhờ bộ biến tần
* Bể keo tụ tạo bông (TK03):
Trang 40Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng
Nước thải sau khi ổn định pH tại bể điều hòa, để đảm bảo cho quá trình keo tụ và lắng tốt, cần phải điều chỉnh pH về giá trị thích hợp là 7,0 – 7,5, đồng thời sẽ bổ sung hóa chất keo
tụ tạo bông PAC Nước thải từ bể điều hòa sẽ được bơm lên bể keo tụ tạo bông (TK03), quá trình chỉnh pH và châm hóa chất PAC khuấy trộn tạo bông tại bể này trước khi đi vào bể lắng
Tại bể này quá trình điều chỉnh pH nhờ vào bộ pH controller tự động; phụ thuộc vào giá trị pH, khi giá trị dưới mức cho phép, sẽ điều khiển bơm định lượng ĐL-01/02 châm NaOH hoạt động
Hoá chất keo tụ được bổ sung bằng hệ bơm định lượng ĐL-03/04 với Q = 330lit/h; hoạt động tự động theo tín hiệu từ bơm điều hoà
Hóa chất keo tụ được sử dụng là phèn nhôm hoặc PAC, nồng độ liều lượng sẽ được chỉnh định theo thực tế
Do đặc tính nước thải sản xuất chỉ có pH thấp, do đó sẽ không có trường hợp phải điều chỉnh bằng axit
* Bể lắng (TK04A/B):
Bể lắng là loại bể lắng tròn Nước thải sau khi đã điều chỉnh pH và châm hoá chất keo tụ tạo bông từ bể TK03 và sẽ tự chảy vào ống trung tâm của 02 bể lắng; và sẽ được phân bổ đều từ tâm ra thành bể Hầu hết bông cặn keo tụ sẽ lắng xuống đáy bể, và được gom lại tại tâm đáy bể nhờ một thiết bị cào bùn Cặn lắng ở đáy bể được bơm về bể chứa bùn để tiếp tục xử lý hoặc bơm ra sân phơi bùn để làm khô (điều kiện thời tiết cho phép)
Để hệ thống hoạt động ổn định, an toàn khi có sự cố, thiết kế gồm 02 bể lắng hoạt động song song nhau
Nước thải sau khi lắng sẽ đạt được các thông số yêu cầu theo cột B, QCVN40:2011 Phần nước trong theo máng thu quanh thành chảy vào bể chứa nước rồi chảy ra nguồn tiếp nhận
Để đảm bảo thời gian lắng và tải trọng làm việc của hệ thống, bể lắng xây có kích thước :2x(DxH = 9,0m x 3,5m)
Để đảm bảo an toàn cho hệ thống hoạt động liên tục, chúng tôi tính toán, thay vì thiết kế 01 bể lắng (có kích thước lớn), chúng tôi chia làm 02 bể lắng; nếu có 01 bể lắng
bị sự cố, có thể tăng hàm lượng hóa chất PAC, tăng khả năng lắng của bể còn lại, để hệ thống được hoạt động được liên tục
Phần cặn lắng ở đáy được gom vào tâm được bơm qua bể nén cặn hoặc trực tiếp ra sân phơi bằng 02 bơm cặn đặt nổi công suất Q = 24 m3/h, H=13m Bơm được điều khiển hoàn toàn tự động và cài đặt thời gian
* Bể chứa nước (TK-05) :
Nước thải sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn cột B-QCVN40:2011, trước khi xả vào môi trường, sẽ được chứa lại tại bể chứa 50m3, để tái sử dụng cho việc tưới cây
* Bể chứa cặn, nén cặn (TK06):