1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP điều DƯỠNG (HOÀN CHỈNH) vai trò của y tế học đường trong hỗ trợ trẻ vị thành niên có khó khăn về tâm lý

40 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 619,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thang Long University LibraryCHƯƠNG 1 CÁC KHÓ KHĂN VỀ TÂM LÝ CỦA LỨA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN Tuổi vị thành niên là giai đoạn tính từ lúc bắt đầu của tuổi dậy thì cho tới khi chấm dứt sự phát

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhậnđược sự dạy bảo, giúp đỡ và động viên hết sức tận tình của các thầy cô, giađình và bạn bè

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn ThS

Hà Thị Huyền – người thầy đã tận tình hướng dẫn, trực tiếp giúp đỡ tôitrong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Ban giám hiệu, PhòngĐào tạo, Bộ môn Điều dưỡng - trường Đại học Thăng Long đã tạo điềukiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Trường Quốc tế Pháp, Lycée français AlexandreYersin de Hanoi đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

Trang 2

Thang Long University Library

THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: CÁC KHÓ KHĂN VỀ TÂM LÝ CỦA LỨA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN 3 1.1 Các giai đoạn phát triển 3

1.1.1 Giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên 4

1.1.2 Giai đoạn giữa của tuổi vị thành niên 4

1.1.3 Giai đoạn cuối của tuổi vị thành niên 5

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi vị thành niên 6

1.2.1 Sự phát triển về mặt sinh lý 6

1.2.2 Sự phát triển về mặt xã hội 6

1.2.3 Sự phát triển của các quá trình nhận thức 6

1.2.4 Sự phát triển nhu cầu 7

1.2.5 Sự phát triển nhân cách 7

1.2.6 Hình thành kế hoạch cuộc đời và sự lựa chọn nghề nghiệp 7

1.3 Các khó khăn về tâm lý thường gặp 7

1.3.1 Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với bạn bè 8

1.3.2 Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với bạn khác giới 8

1.3.3 Khó khăn trong việc tham gia sinh hoạt tập thể và tu dưỡng đạo đức 9 1.3.4 Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với thầy cô giáo 10

1.3.5 Băn khoăn, lo lắng về sự phát triển cơ thể và hình thức của mình

10 1.3.6 Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với cha mẹ 11

1.3.7 Băn khoăn, lo lắng từ sự đánh giá của người khác về mình 11

1.3.8 Khó khăn, vướng mắc trong học tập 12

1.3.9 Khó khăn nảy sinh khi suy nghĩ, ước mơ về tương lai của mình 12

1.4 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ dẫn đến các khó khăn về tâm lý ở trẻ vị thành niên 12

1.4.1 Do bản thân trẻ 12

1.4.2 Do gia đình 14

1.4.3 Do nhà trường 16

1.4.4 Một số nhóm nguy cơ khác 17

1.5 Hậu quả do tình trạng gặp khó khăn tâm lý kéo dài 17

Trang 4

Thang Long University Library

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA Y TẾ HỌC ĐƯỜNG TRONG HỖ TRỢ TRẺ 21

2.1 Vai trò của tư vấn tâm lý trong y tế học đường 21

2.2 Một số đặc điểm lưu ý khi giao tiếp với trẻ vị thành niên 22

2.2.1 Nội dung chú ý khi giao tiếp 22

2.2.2 Đảm bảo tính bí mật 23

2.2.3 Một số vấn đề liên quan tới pháp luật 23

2.3 Hỗ trợ khi trẻ có khó khăn về tâm lý 24

2.3.1 Tiếp cận để phát hiện các khó khăn tâm lý 24

2.3.2 Xác định những khó khăn tâm lý mà trẻ đang gặp phải 27

2.3.3 Xây dựng kế hoạch hỗ trợ trẻ gặp khó khăn về tâm lý 27

2.3.4 Tư vấn, giáo dục sức khỏe 29

2.3.5 Lượng giá 31

KẾT LUẬN 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Lắng nghe và khuyến khích học sinh chia sẻ 26Hình 2 Gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh học sinh 29Hình 3 Tổ chức hoạt động tập thể 31

Trang 6

Thang Long University Library

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong hành trình phát triển và hoàn thiện, con người sẽ trải qua nhiều

giai đoạn phát triển về cả thể chất và tâm lý Với mỗi giai đoạn phát tiển sẽ

có những xáo trộn về tâm lý được xem là những khủng hoảng lứa tuổi

mang tính quyết định cho sự "lớn lên" Mổi người đều trải qua một hành

trình dài với những trải nghiệm thú vị, đương đầu với các biến cố, thách

thức, khó khăn mang tính đặc trưng của mỗi cá nhân qua từng giai đoạn

phát triển nhất định Sự đương đầu này sẽ là những thách thức giúp cho

mỗi cá nhân trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn.Trong toàn bộ quá trình phát

triển tâm lý cá nhân thì giai đoạn tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển

tâm lý rất phức tạp Một giai đoạn mang tính bùng nổ và có phần nổi loạn

khi mà mỗi cá nhân chịu sự tác động cộng hưởng do những thay đổi về mặt

sinh lý cùng các tác động từ môi trường xung quanh như: gia đình, nhà

trường, xã hội cùng các mối quan hệ từ các bạn đồng trang lứa Sự thiếu

kém về kỹ năng ứng phó và thích nghi với môi trường cũng như sự hạn chế

trong các mối quan hệ xã hội mang tính hỗ trợ - nâng đỡ tâm lý làm cho cá

nhân trở nên khó khăn, vất vả hơn trong việc chấp nhận, ứng phó và vượt

qua các thách thức [7]

Ở các nước đang phát triển, việc hỗ trợ tâm lý, chăm sóc sức khỏe tâm

thần (SKTT) của học sinh được tiếp cận toàn diện, đa khía cạnh, thực hiện

nhờ vào sự liên kết các nguồn lực nhà trường, gia đình và cộng đồng để tối

ưu hóa sự can thiệp Trong khi đó tại Việt Nam, công tác này ở trong

trường học còn rất rời rạc, non yếu Ngay cả việc triển khai tư vấn tâm lý

trong các trường cũng đang gặp nhiều trục trặc, hầu như chưa được triển

khai, công nhận về mặt nhân sự và nhân viên y tế (NVYT) học đường

thường kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau Alain Bentolila cho rằng:

những khó khăn tâm lý học đường của trẻ có thể liên quan đến đời sống

tình cảm của trẻ Trẻ thường tìm đến phòng y tế để mong muốn được tạm

1

Trang 7

nghỉ trong một bầu không khí tin tưởng, kín đáo và được tôn trọng, nằmngoài lớp học và những bài thi, bài kiểm tra Điều này có thể khiến trẻ cảmthấy dễ chịu hơn nhiều [13] Chính vì thế, những người làm công tác y tếhọc đường không chỉ cần kiến thức chuyên môn đa dạng, tinh tế trong giaotiếp với học sinh, phụ huynh và giáo viên mà còn phải tinh ý để phát hiện

ra những vấn đề thực sự mà trẻ đang gặp phải Từ đó để có thể ứng xử chophù hợp, hỗ trợ và theo dõi từng vấn đề ở trẻ [2], [13] Xuất phát từ thực tế

đó, chuyên đề này đề cập tới các nội dung chính sau:

1 Các khó khăn về tâm lý của lứa tuổi vị thành niên.

2 Vai trò của y tế học đường trong hỗ trợ trẻ vị thành niên có khó

khăn về tâm lý.

2

Trang 8

Thang Long University Library

CHƯƠNG 1 CÁC KHÓ KHĂN VỀ TÂM LÝ CỦA LỨA TUỔI VỊ THÀNH NIÊN

Tuổi vị thành niên là giai đoạn tính từ lúc bắt đầu của tuổi dậy thì cho

tới khi chấm dứt sự phát triển của cơ thể, theo quy định được tính từ 10 tuổi

đến 19 tuổi [20] Trong giai đoạn này, sự phát triển về thể chất không thích

ứng với sự phát triển về nhận thức, xúc cảm, tâm lý, hành vi,chính vì vậy tự

bên trong trẻ đã xảy ra sự mất cân bằng rất lớn mà nếu chúng ta không

hiểu, không thông cảm, không giúp đỡ kịp thời sẽ rất dễ xảy ra những hậu

quả đáng tiếc [11] Cũng trong giai đoạn này, trẻ vị thành niên nảy sinh các

vấn đề liên quan tới sinh hoạt tình dục, thiết lập các chuẩn mực đạo đức

một cách độc lập, xây dựng mối quan hệ với bạn khác giới và có thể quyết

định sống dời cha mẹ

Theo điều tra quốc gia về nguy cơ của nhóm tuổi trẻ ở Mỹ cho thấy,

các vấn đề sức khỏe liên quan tới hành vi trong nhóm tuổi này bao gồm: có

thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, những xung

đột hay bạo lực mang tính cá nhân, xuất hiện ý tưởng và hành vi tự tử, sử

dụng rượu, hút thuốc lá và chất gây nghiện

Trẻ vị thành niên thường có xu hướng tự đánh giá mình cao hơn so

với hiện thực, bắt đầu bộc lộ khuynh hướng tự khẳng định mình thông qua

việc tự lựa chọn kiểu tóc, cách ăn mặc, tác phong, cử chỉ, sở thích

riêng… và giữa trẻ với bố mẹ bắt đầu có những khoảng cách đầu tiên Vì

vậy, thường xuyên quan tâm đến những người xung quanh trẻ, quan tâm

đến những hoạt động của trẻ là việc làm hết sức cần thiết với các em trong

độ tuổi này

1.1 Các giai đoạn phát triển

Sự phát triển bình thường ở độ tuổi vị thành niên chia thành 3 giai

đoạn với những đặc điểm riêng biệt về phát triển thể chất, xã hội và nhận

thức Hiểu biết về về những đặc điểm bình thường cho từng giai đoạn sẽ

3

Trang 9

giúp chúng ta đặt ra những câu hỏi thích hợp và tập trung vào những vấn đềsức khỏe ưu tiên cho từng giai đoạn phát triển.

1.1.1 Giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên (từ 11 – 14 tuổi)

Đặc điểm phát triển thể chất : thay đổi về cơ thể rất nhanh đôi khi khiến

trẻ không hiểu là liệu việc thay đổi như vậy là có bình thường không ?Những vấn đề này đôi khi khiến trẻ xuất hiện lo âu Giai đoạn này nữthường quan tâm tới những vấn đề liên quan tới trọng lượng cơ thể, chế độ

ăn kiêng và nam thì quan tâm nhiều tới lòng tự trọng gắn với sự phát triển

về thể chất và sự gây ấn tượng với bạn bè cùng lứa nên trong giai đoạn nàynếu trẻ nào phát triển chậm hơn so với bạn bè cùng lớp thì sẽ dễ dẫn đến sự

tự ti Trong giai đoạn này, những vấn đề cần phải hỏi khi phỏng vấn sẽ liênquan tới sự xuất hiện kinh nguyệt, mộng tinh, sự phát triển của ngực…nhưng khi đặt các câu hỏi này cần tế nhị và thận trọng

Đặc điểm phát triển mang tính xã hội: trong giai đoạn này, vai trò của

các bạn cùng lứa tuổi tăng trong khi vai trò của gia đình giảm Tình bạn lýtưởng thường xuất hiện trong cùng giới Do sự tò mò về phát triển giới tínhnên trong giai đoạn này dễ dẫn đến thử quan hệ tình dục, cũng có thể xuấthiện tình dục đồng giới

Đặc điểm phát triển về nhận thức : có sự chuyển đổi từ tư duy cụ thể đến

tư duy trừu tượng Do kinh nghiệm và cảm xúc đóng vai trò quan trọngtrong việc đưa ra quyết định nên chỉ tăng cường nhận thức trong giai đoạnnày thường không đủ để phòng trẻ không quyết định hành động một cáchbốc đồng

1.1.2 Giai đoạn giữa của tuổi vị thành niên (từ 15 – 17 tuổi)

Đặc điểm phát triển thể chất : trong giai đoạn này, sự phát triển về thể

chất vẫn tiếp tục duy trì và phát triển này thường hoàn thành vào cuối giaiđoạn này

Đặc điểm phát triển mang tính xã hội : giai đoạn này được đặc trưng bởi

tăng tính độc lập và sự tự chủ Chính do điều này nên bạn bè đồng lứa đóng

4

Trang 10

Thang Long University Library

vai trò quan trọng hơn rất nhiều so với gia đình và do vậy đối với một số

gia đình sẽ xuất hiện sự xung đột giữa trẻ và cha mẹ Giai đoạn tuổi này

cũng là giai đoạn mà nhiều trẻ thử hút thuốc, uống rượu, sử dụng chất gây

nghiện Cũng do muốn thể hiện tính không bị đánh bại và bốc đồng nên

cũng trong giai đoạn này tỷ lệ tai nạn, tự tử và xung đột mang tính cá nhân

cao hơn nữa, tỷ lệ xuất hiện hành vi tự tử do những mâu thuẫn liên quan tới

thất bại trong tình yêu cũng cao Mặc dù xuất hiện các nhóm « fan » có

cùng chung sở thích về âm nhạc, kiểu tóc, … nhưng trẻ vẫn muốn có những

dấu ấn mang tính chất cá nhân

Đặc điểm phát triển về nhận thức : trẻ đưa ra những lý lẽ và những quan

điểm để bảo vệ mối quan hệ mang tính cá nhân và có sự đồng cảm của các

cá thể trong cùng nhóm Cũng trong giai đoạn này, trẻ bắt đầu quan tâm tới

việc đánh giá kế hoạch hướng nghiệp trong tương lai Do vậy, những cá thể

nào học hành thua kém bạn bè sẽ dễ dẫn đến sự lo lắng, không có định

hướng và dễ sa ngã vào việc sử dụng rượu, chất gây nghiện Vì vậy, nên

xây dựng những hướng dẫn mang tính thực hành để tăng cường và xây

dựng lòng tự trọng ở trẻ

1.1.3 Giai đoạn cuối của tuổi vị thành niên ( từ 18 – 24 tuổi)

Đặc điểm phát triển thể chất : trong giai đoạn này, sự phát triển về cơ thể

dường như đã dừng lại nhưng trong suy nghĩ thì vẫn tiếp tục quan tâm tới

hình thể bên ngoài

Đặc điểm phát triển mang tính xã hội : nếu sự phát triển diễn ra bình

thường cùng với sự hỗ trợ tích cực của gia đình, nhà trường và bạn bè thì

sự phát triển cá nhân sẽ tương đối hoàn thiện trong giai đoạn này Trong

những năm cuối của giai đoạn này, thời gian chính sẽ được sử dụng để tìm

kiếm và xây dựng mối quan hệ vợ chồng

Đặc điểm phát triển về nhận thức : hy vọng vào việc đào tạo nghề nghiệp

là đặc điểm mấu chốt trong giai đoạn này

5

Trang 11

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi vị thành niên

1.2.2 Sự phát triển về mặt xã hội

Ở gia đình: lứa tuổi này có nhiều quyền lợi và trách nhiệm của người

lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề trong gia đình,các em cảm thấy trách nhiệm của mình lớn hơn, đồng thời nếp sống của giađình, sự giáo dục của cha mẹ cũng ảnh hưởng tới bộ mặt tâm lý của lứatuổi này

Ở nhà trường: lứa tuổi này ý thức được mình đang đứng trước

ngưỡng cửa của cuộc đời nên thái độ tự giác của các em tăng lên, vì vậyhoạt động học tập mang ý nghĩa rõ ràng

Ngoài xã hội: hoạt động giao tiếp của lứa tuổi này phát triển mạnh,

vai trò xã hội và hứng thú xã hội ngày càng được mở rộng về số lượng vàchất lượng [2], [19]

1.2.3 Sự phát triển của các quá trình nhận thức

Tri giác: tri giác có mục đích đã đạt đến mức độ cao nhất Quan sát

có mục đích có hệ thống và toàn diện hơn Tuy nhiên do kỹ năng, kỹ xảocòn thiếu nên quan sát thường phân tán, vội vàng rút ra kết luận khi chưa

đủ dẫn chứng cần thiết

Trí nhớ: ghi nhớ có lôgic, có chủ định phát triển mạnh và giữ vai trò

chủ đạo trong hoạt động nhận thức

Sự chú ý: năng lực chú ý phát triển, tính lựa chọn của chú ý và tính

ổn định của chú ý ngày càng phát triển

6

Trang 12

Thang Long University Library

Tư duy: khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập

sáng tạo, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển Tuy nhiên hoạt

động tư duy của các em còn thiếu tính độc lập, chưa chú ý phát huy hết

năng lực độc lập suy nghĩ, vội vàng kết luận theo cảm tính

Tưởng tượng: tưởng tượng sáng tạo và tái tạo đều phát triển nhưng

tưởng tượng sáng tạo dần dần chiếm ưu thế hơn [2], [19]

1.2.4 Sự phát triển nhu cầu

Nhu cầu giao tiếp: quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so

với quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn

Nhu cầu xác định vị trí xã hội: đây là sự thể hiện nhu cầu tự khẳng

định, các em đòi hỏi xã hội công nhận các quyền lợi nghĩa vụ xã hội của

mình[2], [19]

1.2.5 Sự phát triển nhân cách

Sự phát triển của tự ý thức: là một đặc điểm nổi bật trong sự phát

triển nhân cách của lứa tuổi này, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển

tâm lý

Sự hình thành thế giới quan: lứa tuổi này quyết định sự hình thành

thế giới quan, hệ thống quan điểm về tự nhiên, về xã hội, về các nguyên tắc

và quy tắc ứng xử, định hướng giá trị của con người [2], [19]

1.2.6 Hình thành kế hoạch cuộc đời và sự lựa chọn nghề nghiệp

Ở lứa tuổi này đã có kế hoạch cuộc đời nhưng còn mơ hồ và thường

lẫn với ước mơ Các em nêu ra được lý do chọn nghề và hiểu biết về yêu

cầu của nghề nhưng còn phiến diện chưa đầy đủ [19]

1.3 Các khó khăn về tâm lý thường gặp

Phụ huynh ngày nay thường chỉ chú trọng vào việc học của con,

chưa trang bị cho con những kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết tình huống,

lại bao bọc con một cách quá mức, không cho con cơ hội tự lập Vì thế, các

em bối rối, lo lắng trước những tình huống mới mẻ, không biết cách giải

quyết, hoặc giải quyết theo suy nghĩ chưa phù hợp Các triệu chứng rối

7

Trang 13

loạn của cơ thể là những thông điệp của các em về khó khăn mà mình gặpphải.

1.3.1 Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với bạn bè

Những biến đổi tâm lý đặc trưng, thường thấy của giai đoạn này làtrẻ nỗ lực tìm kiếm sự độc lập, muốn tách khỏi sự quản lý, kiểm soát củagia đình, hay phê phán cha mẹ, nỗ lực tìm kiếm những quan hệ ngoài giađình, hướng tới những người bạn đồng lứa và do vậy trong một số gia đình

sẽ xuất hiện xung đột giữa trẻ và cha mẹ Tuổi này có nhu cầu đặc biệt vềtình bạn, cảm nhận được những tinh tế trong tình bạn nhưng trẻ vẫn muốn

có những dấu ấn mang tính cá nhân Tuy nhiên, lứa tuổi này nhiều xúccảm, dễ xúc động, khó kềm chế xúc cảm bộc phát, dễ bị tổn thương, trạngthái tình cảm của các em thất thường, không ổn định, thoắt vui rồi lại thoắtbuồn, dễ bị kích động (dễ nổi nóng, dễ chán nản, tủi thân),những thất bạinho nhỏ, những xích mích vụn vặt cũng có thể làm trẻ có cảm xúc và hành

vi tiêu cực [2] Mặt khác, theo nhận xét của nhiều thầy cô giáo, trong guồngquay nhanh của xã hội, cùng với việc học sinh năng động hơn thì tình bạncủa các em cũng trở nên năng động, mạnh mẽ, táo bạo, mang tính thực tếnhiều hơn Đây là những đặc điểm khiến cho tình bạn của vị thành niên đôikhi mang màu sắc vụ lợi, bạo lực, thiếu chân thành và giảm sự bền chắc[9] Một tình bạn tốt cần có những đặc điểm sau:

- Có sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau

- Có sự chân thành, tin cậy, có trách nhiệm cao với nhau

- Có sự cảm thông sâu sắc với nhau

- Có thể tồn tại nhiều mối quan hệ tình bạn cùng một lúc nhưng vẫngiữ được sự thắm thiết

1.3.2 Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với bạn khác giới

Đây là lứa tuổi phát triển những xúc cảm yêu đương, dễ rung độngtrước người bạn khác giới.Tình bạn khác giới có thể là khởi điểm cho quá

8

Trang 14

Thang Long University Library

trình chuyển thành tình yêu sau này mặc dù nó chưa phải là tình yêu, bắt

đầu có nhu cầu về sự hấp dẫn tình dục, nhưng cũng dễ ngộ nhận, nhầm lẫn

giữa tình bạn với tình yêu Tuổi VTN với những mối quan hệ khác giới đầu

tiên có thể chịu ảnh hưởng của những tác động tiêu cực, ví dụ như bị thất

bại ở những quan hệ đầu đời có thể làm cho lòng tự tin bị suy giảm; bị ảnh

hưởng xấu của bạn bè, làm biến đổi vai trò giới đã hình thành từ trong quá

trình giáo dục của gia đình, do sự tò mò về phát triển giới tính nên giai

đoạn này có thể xảy ra quan hệ tình dục… [2], [19] Mặc dùvậy, tình bạn

khác giới vẫn được xem là có tác dụng tích cực như:

- Tăng cường lòng tự tin

- Nâng cao kỹ năng giao tiếp xã hội

- Khẳng định bản sắc và vai trò giới

- Phát triển những kỹ năng để hòa hợp

- Hiểu biết những đặc tính tâm lý và những nhu cầu riêng của bạn

1.3.3 Khó khăn trong việc tham gia sinh hoạt tập thể và tu dưỡng đạo

đức

Một số nghiên cứu về các khó khăn tâm lý của vị thành niên tại Hà

Nội cho thấy nguyên nhân chủ yếu khiến học sinh cảm thấy khó khăn là do

trong tập thể lớp các em chưa hiểu biết, đồng cảm lẫn nhau, chưa có sự

tương xứng giữa phạm vi kết bạn và nhu cầu kết bạn mạnh mẽ của các em

Chính điều này dẫn đến việc nhiều em khó hòa đồng vào các hoạt động tập

thể và các thành viên trong lớp không giúp đỡ được nhau trong học tập,

trong cuộc sống [9], [10] Những trẻ thiếu sự gắn kết với tập thể lớp hoặc

sẽ chọn kết bạn không cùng lớp hoặc bị bỏ rơi mà sa vào nghiện chơi

game, nghiện chất… Nghiên cứu trên thử đưa ra can thiệp là tổ chức các

hoạt động cùng nhau, các sinh hoạt tập thể theo chủ đề (thảo luận phương

pháp học, hoạt động văn nghệ - thể thao chung, tổ chức kỷ niệm ngày

20/11, 8/3, 26/3…, chúc mừng sinh nhật cho các bạn trong lớp, giúp bạn có

9

Trang 15

hoàn cảnh khó khăn…) và thấy kết quả thay đổi rất rõ rệt: tỷ lệ học sinhchọn bạn cùng lớp tăng lên, các thành viên hướng đến nhau nhiều hơn.Điều này cho thấy, nếu được hoạt động cùng nhau, được thu hút vào cácsinh hoạt tập thể đòi hỏi sự hợp tác cùng nhau, các em sẽ hiểu nhau và gắn

bó với nhau hơn Măt khác, nhờ hoạt động nhóm, các em có điều kiện bày

tỏ, chia sẻ suy nghĩ, quan điểm riêng, biết lắng nghe suy nghĩ của các bạnkhác, tạo nên sự đồng cảm và cùng giúp nhau hoàn thiện bản thân, xâydựng tập thể đoàn kết [9]

1.3.4 Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với thầy cô giáo

Nếu như ở tuổi thơ các em luôn xem bố mẹ, thầy cô giáo là hình mẫu

lý tưởng của mình thì trong lứa tuổi vị thành niên trẻ bắt đầu thay đổi trongcách nhìn nhận, mặt khác do ít trải nghiệm, kiến thức xã hội chưa phongphú nên sự đánh giá người khác của các em có thểmang tính cực đoan-cứng nhắc Những thầy cô được các em đánh giá cao thì sẽ được các em tintưởng, yêu quí, thích hoàn thành nhiệm vụ người đó giao phó và tỏ rõ thái

độ ngược lại với những người mà các em phát hiện ở họ có những lời nóihành động mà các em cho là không đúng, không tốt Tuy nhiên, theo các

em, những vấn đề nảy sinh trong cách ứng xử với thầy cô giáo thường ítgặp [11]

1.3.5 Băn khoăn, lo lắng về sự phát triển cơ thể và hình thức của mình

Ở giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên, thay đổi về cơ thể rất nhanh,đôi khi khiến trẻ không hiểu là liệu việc thay đổi như vậy có bình thườnghay không? Đặc điểm phát triển rõ nhất của vị thành niên là dấu hiệu dậythì Giai đoạn này nữ thường quan tâm đến trọng lượng cơ thể, chế độ ăn.Trẻ nam thì quan tâm đến lòng tự trọng, hành vi thể hiện sự can đảm vì nógắn liền với sự phát triển thể chất, do đó nếu trẻ nào phát triển chậm hơncác bạn thì dễ dẫn tới sự tự ti [2]

10

Trang 16

Thang Long University Library

1.3.6 Khó khăn trong quan hệ, ứng xử với cha mẹ

Mâu thuẫn liên quan đến học hành, chọn bạn, chọn nghề: Con cái có

ý riêng muốn tự quyết định, còn cha mẹ lại có những nhận định, quyết định

khác, hai bên chưa thuyết phục được nhau

Những va chạm trong cách đối xử hàng ngày: Con cái có thiếu xót

trong cách đối xử với cha mẹ, ông bà, anh em trong nhà Hoặc cha mẹ độc

đoán, đối xử không công bằng giữa các con… Cha mẹ tùy ý quyết định

việc có liên quan đến con cái, không bàn bạc, không lắng nghe ý kiến hợp

lý của con Nhiều va chạm xảy ra do lời nói nặng nề, cử chỉ, thái độ thô bạo

của cha mẹ, hoặc vô lễ, hỗn láo của con cái, mặc dù chuyện xảy ra chẳng

có gì quan trọng, làm cho không khí trong gia đình trở nên căng thẳng

Những va chạm do việc làm, hành động của con cái, làm đảo lộn thói

quen, nếp sống của gia đình, khiến cha mẹ từ khó chịu đến mắng mỏ, trừng

phạt Ví dụ sống mất trật tự, bừa bãi, thói xấu, tham lam, hay ganh tị… Có

những trường hợp cũng do cá tính khác nhau của cha mẹ và con cái Ví dụ

người nói nhiều, người nói ít, tác phong nhanh nhẹn mâu thuẫn với tác

phong chậm chạp, hoặc do sở thích khác nhau trong ăn uống, vui chơi, giải

trí…

1.3.7 Băn khoăn, lo lắng từ sự đánh giá của người khác về mình

Trẻ vị thành niên có sự tự ý thức phát triển mạnh nên thường nhạy

cảm với những nhận xét, đánh giá của người khác về bản thân Chẳng hạn

như nhận xét của thầy cô giáo về kết quả học tập và rèn luyện, nhận xét của

bạn bè về các sở thích cá nhân, về hoàn cảnh gia đình… Ðiều xảy ra đối

với trẻ vị thành niên là trẻ không phân biệt được phải trái, ngay cả khi nghe

điều người khác nói xấu, trẻ cũng cho đó là đúng hoặc ngược lại Lời nhận

xét đó sẽ làm ảnh hưởng đến mối quan hệ về sau của trẻ đối với xã hội

[19]

11

Trang 17

1.3.8 Khó khăn, vướng mắc trong học tập

Bước vào thời kỳ này, các em phải tiếp nhận một cách thức dạy vàhọc khác căn bản so với trước Cùng một lúc các em chịu sự giảng dạy củanhiều thầy cô khác nhau về trình độ, đặc điểm nhân cách, hành vi, cáchgiao tiếp… Thêm vào đó, số môn học, số giờ học tăng lên nhiều tạo thành

áp lực cho trẻ, hình thành nên môn học “hay” và “không hay” Những khókhăn, vướng mắc trong học tập mà trẻ thường gặp là nội dung học quá tải,phương pháp học tập mới lạ, sự thay đổi thường xuyên của việc thi cử vàthời gian học thêm quá nhiều [11]

1.3.9 Khó khăn nảy sinh khi suy nghĩ, ước mơ về tương lai của mình

Ở giai đoạn đầu của tuổi VTN, hầu như trẻ chỉ quan tâm đến hiện tạihoặc tương lai gần nên các khó khăn kớn chưa xuất hiện Đến giai đoạngiữa trở đi, trẻ bắt đầu hướng đến hứng thú về nghề nghiệp và phát triển sựsáng tạo và dần tiến đến định hướng cho tương lai, suy nghĩ về vai trò củamình trong cuộc sống Quá trình này chịu sự tác động rất lớn từ các bậc cha

mẹ Cha mẹ thường đặt kỳ vọng quá lớn vào con cái Ai cũng muốn chocon mình học giỏi, đỗ đạt cao và cuối cùng là có một công việc tốt nhưngđôi khi kết quả ấy không phải là mơ ước của trẻ Điều này khiến trẻ mâuthuẫn trong việc chọn lựa giữa đường đi theo mơ ước của cá nhân và conđường mà cha mẹ quyết định Hoặc đôi khi dù cha mẹ không can thiệpnhiều vào sở thích, mơ ước của trẻ nhưng lại thiếu sự định hướng, hướngdẫn từ gia đình và nhà trường khiến trẻ thiếu thông tin và mất phươnghướng [10], [11]

1.4 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ dẫn đến các khó khăn về tâm lý ở trẻ vị thành niên

1.4.1 Do bản thân trẻ

Do sự thay đổi đột ngột, nhanh chóng về tâm sinh lý, chính vì vậy từbên trong trẻ đã xảy ra sự mất cân bằng rất lớn, trẻ thường có xu hướng tựđánh giá mình cao hơn so với hiện thực, bộc lộ khuynh hướng tự khẳng

12

Trang 18

Thang Long University Library

định mình nên có tác phong, cử chỉ, sở thích riêng… và do đó dễ bị tác

động từ những người xung quanh

Vì lực học kém hơn nên trẻ khó theo kịp bài so với các bạn dù có cố

gắng Từ đó trẻ có tâm lý chán nản, xin vào phòng y tế để trốn bài kiểm tra,

để được nghỉ ngơi, hoặc được về nhà

Bản thân trẻ có khuynh hướng giới tính khác biệt (đồng tính): Đây là

một vấn đề vẫn còn rất nhạy cảm và gây nhiều tranh cãi, mặc dù đã được

biết đến từ lâu Rất nhiều nhân viên y tế cũng như nhà tư vấn thực sự cảm

thấy lúng túng và không đủ tự tin khi giao tiếp cũng như khi hỗ trợ cho

nhóm bệnh nhân này.Nhiều giả thiết cho rằng, môi trường gia đình, sự

chăm sóc, cách giáo dục của bố mẹ và sự tương tác của cuộc sống xung

quanh là một yếu tố ảnh hưởng khá rõ đến biểu hiện của hiện tượng này

Trong nghiên cứu “trẻ em đường phố đồng tính, song tính, chuyển giới tại

thành phố Hồ Chí Minh”, hầu hết các em đều cho biết mình bắt đầu có cảm

xúc với người cùng giới khi bước vào giai đoạn vị thành niên Đối với

nhiều đồng tính nam tham gia nghiên cứu này, phải đến giai đoạn dậy thì

các em mới nhận ra mình có cảm xúc mạnh với người cùng giới, mặc dù

một số từng có bạn gái Khi giới tính thật của trẻ hé lộ, đa số các bậc phụ

huynh phản ứng rất gay gắt, đôi khi là bạo lực Trẻ có thể trở thành trung

tâm của sự chỉ trích, bị phân biệt đối xử, bị trừng phạt, can thiệp đến thân

thể Cũng theo nghiên cứu này, tất cả các em tham gia trả lời phỏng vấn

đều cho biết từng chịu thái độ tò mò, kỳ thị và định kiến từ hàng xóm, và

những người xung quanh Không chỉ là nạn nhân chịu phân biệt đối xử

ngoài xã hội, nhiều trẻ đồng tính, song tính và chuyển giới còn bị quấy rối

và phân biệt đối xử trong trường học Trẻ có thể bị trêu chọc khiến trẻ thấy

xấu hổ, bị ám ảnh và bị ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của trẻ Ngoài ra các

em cũng có thể bị phân biệt đối xử từ thầy, cô giáo Điều này khiến trẻ

chán nản, bỏ học, bỏ nhà, đi theo cộng đồng của những người giống mình

Cuộc sống đường phố hay trong công viên đầy rẫy hiểm họa: ăn uống thất

13

Trang 19

thường, thay đổi chỗ ngủ, không được chăm sóc sức khỏe đầy đủ, thườngxuyên đối mặt với nguy cơ bạo lực và bị quấy rối, nguy cơ bị lây nhiễmHIV và các bệnh khác Nhiều trường hợp do khủng hoảng tâm lý dẫn đến ý

đồ tự tử, làm dụng các chất gây nghiện hay tự làm tổn thương cơ thể [4].Trẻ có thể bị kỳ thị và phân biệt đối xử với cơ hội học nghề và tìm việclàm Như một vòng lẩn quẩn, vì mưu sinh và tồn tại trẻ có thể bị sa vào conđường phạm pháp, từ đó trẻ càng bị kỳ thị và phân biệt đối xử từ phía giađình, cộng đồng Vì vậy, khi thấy trẻ có dấu hiệu lệch lạc giới tính thì nên

tư vấn cho gia đình nên đưa con đi khám và gặp chuyên viên tâm lý đểđược khai thác bệnh sử, tìm hiểu về cuộc sống, về mối quan hệ giữa cácthành viên trong gia đình và tình trạng sức khỏe của trẻ, để giúp các emcókhái niệm rõ ràng về giới tính của mình Sự thay đổi cần một tiến trình dài,

để kéo trẻ về giới tính thực, đòi hỏi cha mẹ phải thật kiên nhẫn, lắng nghetâm tư tình cảm và góp ý sửa đổi hành vi chuẩn xác cho con Nếu gia đìnhnóng vội, yêu cầu trẻ phải cắt đứt các mối quan hệ, cách sống hiện tại độtngột, con sẽ phản ứng theo chiều hướng xấu như đã đề cập đến ở trên

1.4.2 Do gia đình

Lý do thứ nhất là do phương thức giáo dục của gia đình, giao tiếp vàứng xử giữa các thành viên trong gia đình hạn chế: cha mẹ thiếu sự quantâm chăm sóc nên không kịp thời phát hiện, hỗ trợ khi trẻ có khó khăn hoặcquá khắt khe và kiểm soát, xét nét con cái Bên cạnh đó cha mẹ thườngxuyên tạo áp lực về học tập cho con cũng khiến trẻ bị căng thẳng, dễ gâytâm lý tiêu cực [6]

Lý do khác từ phía gia đình là sự thiếu thốn tình cảm của bố hoặc mẹtrong gia đình ly hôn/ly thân Theo một nghiên cứu của Viện số liệu vànghiên cứu kinh tế quốc gia Pháp, trong năm 2005 có 16% trẻ dưới 18 tuổisống trong gia đình có bố hoặc mẹ đơn thân Trong đó, những báo cáo và

số liệu chính thức của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ cũng như những nghiên cứucủa Viện nghiên cứu dân số quốc gia Pháp đã chỉ ra nguồn gốc của tình

14

Trang 20

Thang Long University Library

trạng này: 50,8% bố mẹ ly hôn, 20,5% bố mẹ ly thân, 11,6% bố hoặc mẹ

chết hoặc cả hai, 7,9% bố mẹ không bao giờ sống cùng, 6,6% không biết

bố [18] Một nghiên cứu của Hiệp hội các gia đình ở Châu Âu năm 2011 đã

chỉ ra rằng : 63% những người từ 18 đến 56 tuổi có bố mẹ ly hôn nói rằng

họ đã từng chịu đựng rất nhiều khi bố mẹ không hạnh phúc Hơn nữa,

Marie Huret và Sebatien Lebourcq đã trích dẫn nghiên cứu của Viện nghiên

cứu dân số quốc gia Pháp, 13% trẻ dưới 15 tuổi sống sống với bố hoặc mẹ

(so với năm 1990 là 9%), 88% những trường hợp này sống với mẹ [14],

[17] Nhà tâm lý học đường Christine Falchetti cho rằng càng ngày càng có

nhiều trẻ phải chịu đựng từ cuộc ly hôn và chia tay của bố mẹ 13% trẻ

dưới 15 tuổi tương đương với trung bình 4 trẻ trong một lớp có 30 học sinh,

con số này không hề nhỏ Vì thường xuyên gặp phải nên đôi khi giáo viên

có thể coi nhẹ chuyện này, cộng thêm với sự thiếu quan tâm của phụ

huynh, điều này có thể gây nên nhiều ảnh hưởng tới trẻ [15]

Khi cha mẹ chia tay, trẻ gặp phải những khó khăn như :

- Thiếu tình cảm do bị xa cách với người bố hoặc mẹ mà trẻ không

sống cùng

- Thiếu sự giáo dục: do không sống cùng nhau nên có khoảng cách

trong sự giáo dục của bố và mẹ, vậy là trẻ ở giữa, băn khoăn không biết

phải làm như thế nào, cộng thêm sự giáo dục của nhà trường Giáo viên có

thể không chấp nhận được điều này ở trẻ

- Trẻ thiếu tự tin vào chính bản thân mình và vào người khác, thậm trí

trẻ cảm thấy áp lực

Có những trường hợp bố mẹ ly dị từ khi trẻ còn nhỏ, trẻ sống với một trong

hai người hoặc sống với người chăm sóc khác, nhưng những triệu chứng cơ

thể gần đây mới xuất hiện Như vậy, rất có thể việc cha mẹ ly dị là nguyên

nhân sâu xa của rối loạn, nỗi buồn đó bị dồn nén, khi lớn lên gặp điều kiện

nào đó như áp lực xã hội, nhà trường, tình cảm hoặc sự chia ly khác, thì các

triệu chứng mới được bộc lộ ra ngoài

15

Ngày đăng: 24/04/2021, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Thị Liên, Đỗ Thị Thư, Trần Thị Xuyến, Ngô Thu Dung (2012), Những khó khăn, rào cản tâm lý đối với học sinh lớp 12 hiện nay trên địa bàn Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn, rào cản tâm lý đối với học sinh lớp 12 hiệnnay trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Liên, Đỗ Thị Thư, Trần Thị Xuyến, Ngô Thu Dung
Năm: 2012
6. Nguyễn Trọng Lăng (2013), “Rối nhiễu tâm lý thường gặp ở trẻ em”, Tạp chí Khoa học xã hội và nhân văn, số 8 (tháng 3/2013), tr. 64 - 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối nhiễu tâm lý thường gặp ở trẻ em”
Tác giả: Nguyễn Trọng Lăng
Năm: 2013
8. Phan Trọng Ngọ, Trần Thị Lệ Thu (2014), Khó khăn tâm lý của học sinh trung học cơ sở và vai trò của các nhà tâm lý học trẻ tuổi trong hệ thống học đường, Kỷ yếu hội thảo khoa học toàn quốc về sức khỏe tâm thần trường học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khó khăn tâm lý của họcsinh trung học cơ sở và vai trò của các nhà tâm lý học trẻ tuổi tronghệ thống học đường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ, Trần Thị Lệ Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phốHồ Chí Minh
Năm: 2014
9. Đỗ Thị Hạnh Phúc (2010), “Quan niệm của giáo viên về tình bạn và giáo dục tình bạn cho học sinh Trung học Cơ sở”, Tạp chí Giáo dục, số 240 (2010), tr.23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của giáo viên về tình bạn vàgiáo dục tình bạn cho học sinh Trung học Cơ sở”
Tác giả: Đỗ Thị Hạnh Phúc (2010), “Quan niệm của giáo viên về tình bạn và giáo dục tình bạn cho học sinh Trung học Cơ sở”, Tạp chí Giáo dục, số 240
Năm: 2010
10.Đỗ Thị Hạnh Phúc (2007), “Thử nghiệm tác động nhằm xây dựng quan hệ tích cực của học sinh THCS trong lớp học”, Tạp chí Giáo dục, số 179 (2007), tr.13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm tác động nhằm xây dựngquan hệ tích cực của học sinh THCS trong lớp học”
Tác giả: Đỗ Thị Hạnh Phúc (2007), “Thử nghiệm tác động nhằm xây dựng quan hệ tích cực của học sinh THCS trong lớp học”, Tạp chí Giáo dục, số 179
Năm: 2007
11.Đỗ Thị Hạnh Phúc (2007), “Những khó khăn tâm lí ở học sinh THCS”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 27 (2007), tr.15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn tâm lí ở học sinhTHCS”
Tác giả: Đỗ Thị Hạnh Phúc (2007), “Những khó khăn tâm lí ở học sinh THCS”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 27
Năm: 2007
12.Trịnh Văn Thành, Nguyễn Thị Yến, Ngô Thu Dung (2012), Rào cản tâm lý của học sinh lớp 12, Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rào cảntâm lý của học sinh lớp 12
Tác giả: Trịnh Văn Thành, Nguyễn Thị Yến, Ngô Thu Dung
Năm: 2012
13.Alain BENTOLILA (2007), “Le verbe contre la barbarie”, Edition Odile Jacob Sách, tạp chí
Tiêu đề: Le verbe contre la barbarie
Tác giả: Alain BENTOLILA
Năm: 2007
14.Bulletin Officiel du ministère de l’Education Nationale et du ministère de la Recherche (2001), “Mission des infirmiers de l’Education Nationale”, Politique de santé en faveur des élèves, page 21 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mission des infirmiers de l’EducationNationale”
Tác giả: Bulletin Officiel du ministère de l’Education Nationale et du ministère de la Recherche
Năm: 2001
15.Caroline CHATELARD (2013), “Quand l’école devient sa plus grande peur”, Le Progres, page 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quand l’école devient sa plusgrande peur”
Tác giả: Caroline CHATELARD
Năm: 2013
16.Hélène DAUDE (2011), “L’infirmière scolaire face à la demande de soins d’adolescents : une approche spécifique ?”, Mémoire, Université Pierre et Marie Curie Sách, tạp chí
Tiêu đề: L’infirmière scolaire face à la demande desoins d’adolescents : une approche spécifique
Tác giả: Hélène DAUDE
Năm: 2011
17.Julie GASTEBOIS (2012), “Difficultés scolaires des enfants confrontés à des séparations familiales : détection des symptômes et pistes de remédiations”, Mémoire de recherche Université d’Orléans, page 4, 5, 7 – 9, 17 – 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Difficultés scolaires des enfantsconfrontés à des séparations familiales : détection des symptômes etpistes de remédiations”
Tác giả: Julie GASTEBOIS
Năm: 2012
1. Bộ môn Nhi, Trường Đại học Y Hà Nội (2013), Bài giảng nhi khoa tập 1, Nhà xuất bản Y học, 321 tr Khác
2. Phạm Thị Minh Đức (2012), Tâm lý và đạo đức y học, NXB Giáo dục Việt Nam, 138 tr Khác
3. Nguyễn Văn Hiến (2006), Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe, Nhà xuất bản Y học Khác
4. Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Nam, Lê Quang Bình, Vũ Kiều Châu Loan (2013), Trẻ em đường phố đồng tính, song tính và chuyển giới tại thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản thế giới, 75 tr Khác
7. Đặng Hoàng Minh (2013), Sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam: thực trạng và các yếu tố nguy cơ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 113 tr Khác
18.AUDOUS G. et BARRES R. (2005), Communication 2, La communication dans le secteur du sanitaire et social, Vanves, Editions Foucher, page 45 Khác
19.Daniel MARCELLI (2008), Adolescence et psychopathologie, Edition Masson Khác
20.Unicef (2011), Adolescence an age of opportunity, The state of the world’s children 2011, French Edition – Marc Chalamet, Spanish Edition – Carlos Perellón Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w