ĐẶT VẤN ĐỀTai nạn giao thông là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của ngườiđiều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường, do vi phạm các quytắc an toàn giao
TỔNG QUAN
Nh ững hiểu biết về tai nạn giao thông
Tai nạn là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do một tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thương thương tích cho cơ thể về thể chất hay tinh thần của nạn nhân.
Có hai loại tai nạn:
+ Tai nạn không chủ định thường không có nguyên nhân rõ ràng, khó có thể đoán trước được như ngã, bỏng, ngộ độc, chết đuối.
+ Tai nạn có chủ định như chiến tranh, bạo lực, tự tử, bạo hành thường có nguyên nhân và có thể phòng tránh được.
TNGT là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản
TNGT đã có từ rất lâu trong lịch sử dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa thật chính xác có thể lột tả hết những đặc tính của nó Về cơ bản tai nạn giao thông có những đặc tính như:
- Được thực hiện bằng những hành vi cụ thể.
- Gây ra những thiệt hại nhất định về tính mạng, sức khỏe con người, vật, tài sản
- Chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi cuối cùng trong vụ tai nạn giao thông cụ thể phải là đối tượng đang tham gia vào hoạt động giao thông.
- Xét về lỗi, chỉ có thể là lỗi vô ý hoặc là không có lỗi, không thể là lỗi cố ý.
Các lo ại tai nạn giao thông
- Tai nạn giao thông đường bộ là tai nạn phổ biến hay gặp nhất các quốc gia Loại tai nạn này thường xảy ra đối với ô tô và xe gắn máy 2 bánh, xe thô sơ
- Ngoài ra còn có các loại tai nạn giao thông khác: tai nạn giao thông đường sắt, tai nạn giao thông đường thuỷ, tai nạn giao thông đường hàng không
Nguyên nhân và điều kiện xảy ra tai nạn giao thông đường bộ
TNGTĐB phát sinh chủ yếu từ một số nguyên nhân như: cơ sở hạ tầng (đường, cầu),do lưu lượng phương tiện tham gia giao thông phát triển ngày càng tăng mà phương tiện giao thông lại không đảm bảo điều kiện an toàn (quá hạn, quá cũ, xe tự tạo ) Cùng với đó là ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông còn kém
1.3.1 Người điều khiển phương tiện: Ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông kém, không tuân thủ quy định về đảm bảo an toàn giao thông: Sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông, không nắm chắc luật lệ giao thông một cách kỹ lưỡng, phóng nhanh vượt ẩu… Đây chính là yếu tố chính dẫn đến tai nạn giao thông ngày càng gia tăng.
1.3.2 Phương tiện tham gia giao thông
Phương tiện tham gia giao thông đường bộ đang gia tăng nhanh chóng đủ chủng loại Bên cạnh những xe đạt tiêu chuẩn thì giá thành cao, xe giá rẻ nhiều người sử dụng thì không đảm bảo điều kiện an toàn (quá hạn, quá cũ, xe tự tạo…)
1.3.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông:
Những yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động giao thông như : đường cầu đều có những ảnh hưởng nhất định tới việc có xảy ra TNGT ĐB hay không Những điều kiện của đường như các yếu tố hình học của đường, lưu lượng, độ bằng phẳng và độ nhám của mặt đường, tầm nhìn và độ chiếu sáng trên đường, sự bố trí của các biển báo hiệu.
Bảng 1: Đánh giá tình trạng đường qua hệ số an toàn
Giá trị hệ số an toàn < 0,4 0,4 - 0,6 0,6 - 0,8 > 0,8
Tình trạng của đoạn đường Rất nguy hiểm Nguy hiểm ít nguy hiểm Thực tế không nguy hiểm
Thang Long Library Để đánh giá mức độ nguy hiểm của các đoạn đường, người ta sử dụng hệ số an toàn: K=V2/V1.
Trong đó V2 là tốc độ tối thiểu của xe phương tiện chạy trên đoạn đường đang xem xét V1 là tốc độ tối đa của xe chạy trên đoạn đường liền kề trước đó Trị số K có giá trị càng nhỏ thì càng có khả năng xảy ra TNGT trên đoạn đường đó, tức là những đoạn đường nguy hiểm dễ xảy ra TNGT chính là những đoạn đường mà phương tiện phải giảm tốc độ nhiều trong thời gian ngắn.
Mức an toàn chạy xe của các đoạn đường được đánh giá theo trị số của hệ số an toàn như ở bảng dưới đây :
Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông còn nhiều yếu kém, chưa đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, không đồng bộ chính là một trong những nguyên nhân làm xảy ra nhiều vụ TNGT Điều này được thể hiện rõ nét ở các quốc gia kém phát triển và đang phát triển.
Các tai n ạn thương tích tại mắt do tai nạn giao thông
Các tai nạn thương tích tại mắt do tai nạn giao thông thường phức tạp để lại di chứng nặng nề và tỉ lệ mù loà cao Các tai nạn thương tích được chia làm các nhóm sau:
1.4.1 Chấn thương mi mắt và lệ bộ:
- Đụng dập và tụ máu:
Những va chạm với vật tù đầu không gây rách bề mặt da nhưng có thể gây bầm dập tổ chức, mi sưng nề khó mở mắt Máu tụ ở vùng bầm dập gây bầm tím nhưng sẽ tiêu đi và thường là không để lại di chứng Những tổn thương ở vùng lân cận như mũi, thái dương, nền sọ trước hay gây bầm tím hoặc tụ máu ở mắt do máu ngấm lan từ chỗ tổn thương nguyên phát tới vùng mắt nhưng xuất hiện chậm, khoảng 12-24-48 giờ sau chấn thương Loại tụ máu này cũng làm cho vùng mắt sưng tấy nhưng khi khám sẽ chỉ thấy các dấu hiệu của tổn thương nguyên phát (lạo xạo xương, vết thương ), các môi trường trong suốt của nhãn cầu vẫn bình thường, thị lực không giảm.
+ Đứt lệ quản (vết thương ở đoạn phía trong cục lệ)
+ Đứt dây chằng mi trong, dây chằng mi ngoài
+ Vết thương có đứt bờ mi tự do: Tổn thương loại này thường kèm theo đứt các thớ cơ vòng cung mi, hai đầu cơ co lại làm cho vết thương toác rộng, kết giác mạc do đó bị lộ.
Cơ chế và đặc điểm của tổn thương đụng dập
Một vật tù đầu, một sóng xung kích tác động mạnh vào vùng mắt có thể trực tiếp vào bề mặt nhãn cầu hoặc qua lớp mi - ép mạnh nhãn cầu về phía sau, gây tăng nhãn áp bất ngờ và tiếp ngay sau đó là sự đàn hồi trở lại gây chèn ép, giằng giật, xáo động tổ chức nội nhãn đưa tới hậu quả là sự vỡ rách tức thì của lớp vỏ nhãn cầu và sau đó là quá trình bệnh lý thứ phát: viêm, thoái hoá do rối loạn tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng ở toàn bộ các chi tiết giải phẫu của nhãn cầu. + Kết mạc: Có thể gặp chảy máu, tụ máu, rách kết mạc Máu tụ dưới kết mạc thường tự tiêu đi được và không để lại di chứng
+ Giác mạc: Đụng dập thường làm cho giác mạc bị trợt biểu mô hoặc có khi tới lớp nông của nhu mô Tiếp đó, rối loạn dinh dưỡng và tổn thương nội mô làm cho giác mạc bị nề phù , mờ đục.Có thể có hiện tượng đĩa máu giác mạc nếu nội mô bị tổn thương kết hợp với xuất huyết tiền phòng mà máu đọng ở tiền phòng kéo dài quá 7 ngày. + Củng mạc: Tổn thương có thể gặp ở nhiều mức độ khác nhau, đó có thể là:
• Nứt rạn, về sau sẽ giãn lồi củng mạc ở chính vùng này do sự tác động liên tục của nhãn áp.
• Nứt vỡ, phòi các chất nội nhãn: vùng nứt vỡ thường là quanh rìa giác mạc, vùng xích đạo nhãn cầu, chỗ bám của các cơ thẳng vì đó là những nơi củng mạc mỏng và yếu nhất. Ở nơi vỡ củng mạc, tổ chức nội nhãn phòi qua đó sẽ tạo một đám phồng có màu tương ứng của tổ chức nội nhãn kết hợp với màu máu chảy tại chỗ.
+ Mống mắt, thể mi, tiền phòng :
• Đồng tử giãn và méo là dấu hiệu hay gặp.
• Đứt chân mống mắt Nếu đoạn đứt chân mống đủ dài, mép đứt cuộn lại sẽ gây nhìn đôi ở mắt bị thương, méo đồng tử rõ Đứt chân mống mắt cũng thường kèm theo chảy máu tiền phòng.
• Nứt rách thể mi, lùi góc tiền phòng dẫn đến chảy máu tiền phòng, hậu quả của lùi góc sẽ là tăng nhãn áp thứ phát.
• Xuất huyết tiền phòng : máu tiền phòng về mặt đại thể nếu số lượng ít thường tạo thành ngấn ngang ở phía thấp Nếu máu chảy số lượng nhiều sẽ tràn ngập toàn bộ tiền phòng, che lấp hoàn toàn mống mắt và diện đồng tử
• Lệch từng phần : Tiền phòng nông sâu không đều, có dấu hiệu rung rinh mống mắt, bệnh nhân có thể nhìn đôi ở mắt bị thương (trong khi bịt mắt lành).
• Lệch toàn phần: Thường do lực tác động rất mạnh gây đứt toàn bộ các dây chằng Zinn Thể thuỷ tinh có thể bị lệch tới các vị trí:
• Ra tiền phòng: Do ban đầu thuỷ tinh thể còn trong cho nên trông giống như một giọt dầu ăn ở trong tiền phòng Lệch thuỷ tinh thể kiểu này gây tăng nhãn áp cấp tính, bệnh nhân bị đau nhức dữ dội.
• Phòi ra ngoài qua chỗ vỡ giác - củng mạc.
• Vỡ bao thể thuỷ tinh: Khi bao bị nứt vỡ, thuỷ dịch sẽ ngấm vào gây trương phồng thể thuỷ tinh, chất thể thuỷ tinh sẽ bị phòi ra tiền phòng gây viêm mống mắt thể mi.+ Dịch kính: Xuất huyết dịch kính rất hay gặp và thường là hậu quả của tổn thương võng mạc, hắc mạc.
+ Đáy mắt: Phù võng mạc ở cực sau (phù
Berlin), chảy máu, bong võng mạc, rách hắc mạc
+ Thị thần kinh : Có thể bị chèn ép gây ứ phù đĩa thị, bị đứt do giằng giật gây mù đột ngột, đồng tử giãn hoàn toàn và mất phản xạ ánh sáng.
Cũng có thể gặp trường hợp đứt mạch máu ở màng nuôi gây chảy máu trong bao thị thần kinh.
Nhìn chung, tổn thương thị thần kinh mất thị lực tức thì sau sang chấn ít khi hồi phục, thường dẫn tới teo thị thần kinh.
• Vỡ thành xương gây tụt nhãn cầu vào các xoang lân cận Cũng có thể gặp trường hợp vỡ thành xương tạo mảnh chèn về phía hốc mắt kết hợp chảy máu gây tăng áp lực hốc mắt đẩy lồi nhãn cầu Khám những mắt này sẽ thấy hiện tượng lép bép dưới da do tràn khí từ các xoang, mi phù rõ Nếu có hạn chế vận nhãn ở một hướng nào đó thì cần làm test cưỡng bức cơ để xác định hiện tượng kẹt cơ vào khe nứt vỡ xương, test này thường phải được làm vào lúc mà hiện tượng nề phù đã giảm bớt Nứt vỡ xương có thể xảy ra ở vùng ống thị giác gây chèn ép dây thần kinh thị giác hoặc gây xuất huyết vùng quanh thị thần kinh và rồi cũng đưa đến sự chèn ép thần kinh thị giác làm cho thị lực giảm trầm trọng hoặc mất.
Các tổn thương xương nói trên đều cần phải được kiểm tra bằng chụp Xquang, có thể chỉ với phim thông thường nhưng nhiều khi phải chụp CT Scan hoặc đôi khi phải nhờ tới chụp M.R.I mới đủ để xác định chẩn đoán, nhất là những trường hợp bệnh nhân có kèm theo giảm hoặc mất thị lực.
+ Vết thương ở bề mặt có dị vật (không xuyên): Đây thường là loại vết thương trợt nông Bản thân nó đã gây đau rức kết hợp với dị vật lại gây ra thêm triệu chứng cộm rất khó chịu, kích thích liên tục.
+ Vết thương xuyên giác mạc:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghi ên c ứu
Là những bệnh nhân chấn thương tại mắt do TNGT đến khám tại phòng trực cấp cứu bệnh viện mắt trung ương từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 10 năm 2010.
Bệnh nhân chấn thương mắt do TNGT đến khám tại phòng trực cấp cứu bệnh viện mắt Trung ương đồng ý tham gia nghiên cứu
Bệnh nhân không đồng ý hoặc không phối hợp tham gia nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Phiếu điều tra tai nạn trong các buổi trực
Tập huấn các điều dưỡng trực tham gia điều tra bệnh nhân bị tai nạn và điền vào phiếu điều tra TNGT gồm:
+ Họ tên, tuổi, giới, địa chỉ
- Các yếu tố liên quan đến tai nạn :
+ Địa điểm xảy ra tai nạn
+ Tình trạng uống rượu, bia, các chất kích thích
+ Có đội mũ bảo hiểm hoặc không…
+ Tình trạng tổn thương tại mắt:
• Vết thương da mi, đứt lệ quản.
• Vết thương nhãn cầu: Rách giác mạc, củng giác mạc, vết thương đụng dập nhãn cầu
• Tình trạng tổn thương toàn thân phối hợp
X ử lý v à phân tích s ố liệu
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm EPSS 15.0
Đạo đức trong nghi ên c ứu
- Được sự đồng ý của khoa khám bệnh và điều trị ngoại trú bệnh viện Mắt TƯ
- Bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân được tôn trọng quyết định của mình
- Thông tin được đảm bảo bí mật
- Không kì thị, phân biệt đối xử
Nghiên cứu 92 trường hợp bệnh nhân chấn thương tại mắt do TNGT đến khám tại phòng trực cấp cứu bệnh viện mắt trung ương từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 10 năm 2010 Chúng tôi thu được kết quả như sau:
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới:
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới tính
Qua biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ gặp tai nạn giao thông ở nam là 79,3% và ở nữ là 20,7% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Tỉ lệ bệnh nhân nam gặp nhiều hơn nữ với 73 trường hợp chiếm 79,3%
Kết quả này cũng phù hợp với thống kê về tình hình tai nạn thương tích tại cộng đồng 6 tháng đầu năm 2005 của Tổng cục nghiên cứu thống kê.
3.1.2 Đặc điểm bệnh nhân theo nhóm tuổi:
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Qua biểu đồ 3.2 tỉ lệ BN TNGT gặp ở nhóm tuổi từ 16-40 chiếm nhiều nhất với
62 trường hợp chiếm 56,6%, tiếp theo là độ tuổi từ 41-60 có 21 trường hợp chiếm 33,7% Ở độ tuổi từ 0 -15 tuổi có 5 trường hợp chiếm 5,4 % Ở tuổi trên 60 tuổi có 4 trường hợp chiếm 4,3% Khi so sánh độ tuổi từ 16-40 với độ tuổi trẻ nhỏ và trên 60 thì có sự khác biệt về thống kê p < 0,05
3.1.3 Đặc điểm trình độ văn hóa
Tỷ lệ Đại học ,trên đại học Trung học phổ thông
Trung học cơ sở Tiểu học Trình độ
Biểu đồ 3.3: Phân bố trình độ văn hóa
Qua biểu đồ 3.3 cho thấy số BN TNGT có trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất ( 62% ) tiếp đến là trình độ đại học và trên đại học (18,5%), trung học cơ sở 15,2%, tiểu học 4,3% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05
3.1.4 Đặc điểm bệnh nhân theo nhóm nghề nghiệp:
0% Cán bộ CC HS, SV Công nhân
Lao động tự do Nông dân Khác
Nghề nghiệp Biểu đồ 3.4 : Phân bố tỷ lệ bệnh nhân theo các nhóm nghề nghiệp
Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ chấn thương mắt do tai nạn giao thông cao nhất gặp ở nhóm lao động tự do (42,3%), tỷ lệ tai nạn thấp hơn ở nhóm cán bộ công chức, học sinh sinh viên, công nhân…Sự khác biệt về tỉ lệ có ý nghĩa thông kê với p < 0,05
3.2.Đặc điểm của các tai nạn:
3.2.1 Phân bố địa điểm xảy ra tai nạn
Biểu đồ 3.5: Phân bố địa điểm xảy ra tai nạn
Nhận xét: Địa điểm xảy ra tai nạn giao thông: Tai nạn giao thông gặp ở nội thành (59,8%) nhiều hơn ngoại thành (40,2%)
3.2.2 Tình trạng đội mũ bảo hiểm
Không đội mũ bảo hiểm Đội mũ bảo hiểm
Biểu đồ 3.6: Phân bố tỷ lệ đội mũ bảo hiểm Nhận xét : Trong 75 trường hợp TNGT do sử dụng xe gắn máy có 74,2% trường hợp không sử dụng mũ bảo hiểm, chỉ có 25,8% trường có sử dụng mũ bảo hiểm Tỉ lệ này có ý nghĩa thống kê p < 0,05
3.2.3 Đặc điểm các nhóm phương tiện gây tai nạn
0% Ô tô Xe máy Phương tiện thô sơ
Biểu đồ 3.7 : Phân bố tỷ lệ các loại phương tiện gây tai nạn giao thông
Biểu đồ 3.7 cho thấy xe máy là phương tiện gây tai nạn giao thông nhiều nhất chiếm 81,5% trên tổng số các vụ tai nạn giao thông Trong khi đó tỷ lệ tai nạn do ô tô chiếm 13%và phương tiện thô sơ chiếm 5,4% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p 8/10 chiếm 27,2%.
4.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới:
Tỷ lệ bệnh nhân nam gặp nhiều hơn nữ với 73 trường hợp chiếm 79,3% Đây là tỷ lệ khá chênh lệch Lý do nam giới thường hay có thói quen khi tham gia giao thông trong tình trạng đã uống rượu bia và ý thức kém, chủ quan điều khiển phương tiện với tốc độ cao, phóng nhanh vượt ẩu, lạng lách đánh võng Điều này cũng lý giải vì sao tỷ lệ BN nam chiếm tới 79,3% so với BN nữ là 20,7%
Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của những tác giả khác về dịch tễ học của chấn thương mắt là số BN nam chiếm đa số so với BN nữ [1]
4.1.2 Đặc điểm bệnh nhân theo nhóm tuổi:
Qua phân tích 92 trường hợp bệnh nhân tai nạn thương tích mắt do TNGT đến khám tại phòng trực cấp cứu Bệnh viện mắt Trung ương chúng tôi nhận thấy độ tuổi trung bình là 34,4( ± 13.9) tuổi, đây thuộc nhóm tuổi thanh thiếu niên Tuổi nhỏ nhất là
5 tuổi, người tuổi cao nhất là 73 tuổi Ở độ tuổi từ 0 – 15 tuổi có 5 trường hợp chiếm 5,4 % Độ tuổi thanh niên ( từ 16-40 ) với 62 trường hợp chiếm 56,6% tiếp theo là độ tuổi trung niên từ 41-60 có 21 trường hợp chiếm 33,7% Như vậy độ tuổi thanh niên ( từ 16-40) có tỷ lệ cao nhất Đây thực sự là con số đáng lo ngại và cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa về tình hình thương tích mắt do TNGT ở độ tuổi này vì đây là lứa tuổi phải học tập và lao động nên thương tích mắt cũng dễ xảy ra hơn Họ là lực lượng lao động chính trong gia đình và xã hội nên khi bị chấn thương mắt không chỉ thiệt hại cho bản thân họ, mà còn là gánh nặng đối với gia đình và xã hội là rất nặng nề. Ở độ tuổi từ 0 – 15 tuổi có 5 trường hợp chiếm 5,4 % kết quả này cũng phù hợp với tổng kết nghiên cứu về tai nạn thương tích trẻ em do TNGT đối với trẻ dưới 6 tuổi được thực hiện tại bệnh viện nhi Trung ương tháng 3/2009, tỷ lệ này là 8,6% trẻ em bị chấn thương do TNGT [1] Nhưng đây không phải là nghiên cứu sâu về tai nạn thương tích trẻ em nên chỉ dẫn về số liệu không thể hiện ở trên bảng thống kê Đặc biệt còn có các yếu tố kinh tế, xã hội với các nguyên nhân gây tai nạn thương tích do TNGT ở trẻ em Như biến đổi về cấu trúc gia đình, tác động của kinh tế thị trường và trình độ văn hóa của các bậc cha mẹ trẻ.
4.1.3 Đặc điểm trình độ văn hóa
Trong 92 trường hợp tai nạn thương tích mắt do TNGT chỉ có khoảng 18,5% trường hợp bệnh nhân có trình độ học vấn từ đại học trở lên có sự hiểu biết nhất định về vấn đề phòng tránh tai nạn thương tích nên tỷ lệ mắc tai nạn thương tích mắt cũng ít hơn Tai nạn thương tích mắt do TNGT tập trung ở nhóm có trình độ phổ thông trung học trở xuống ( chiếm 62%) do đó trình độ nhận thức kém, coi thường pháp luật, không nắm được luật giao thông nên chưa hiểu đúng đắn việc tham gia giao thông một cách an toàn và các biện pháp phòng chống nên tỉ lệ gặp tai nạn thương tích cũng nhiều hơn.
4.1.4 Đặc điểm bệnh nhân theo nhóm nghề nghiệp:
Về phân bổ nghề nghiệp lao động tự do dễ mắc TNGT nhiều hơn cả do đặc thù công việc họ phải liên tục di chuyển trên đường tham gia giao thông nên tai nạn thương tích cũng dễ xảy ra hơn Có 39 trường hợp là lao động tự do chiếm tỉ lệ 42,4%, công nhân có 16 trường hợp chiếm 17,4%, CBCC có 18 trường hợp chiếm 19,6%, tỉ lệ này nói lên sự hạn chế trong nhận thức hiệu quả của việc tham gia giao thông an toàn.
4.2.Đặc điểm của các tai nạn:
4.2.1 Phân bố địa điểm xảy ra tai nạn
Khu vực xảy ra tai nạn thương tích mắt ở nội thành nhiều hơn chiếm 59,8% do mật độ tham gia giao thông ở đây rất lớn, người dân rất dễ bị các va chạm dẫn đến TNGT Thanh niên thành thị bị tai nạn giao thông cao hơn nhiều so với thanh niên nông thôn, kể cả nam lẫn nữ ở mọi độ tuổi Tuy nhiên mức độ tai nạn giao thông ở nội thành nhẹ hơn ngoại thành do các vụ tai nạn giao thông trong nội thành gặp nhiều tai nạn xe máy, trong khi đó tai nạn ở ngoại thành lại hay xảy ra các vụ tai nạn ôtô và tốc độ di chuyển ở ngoại thành cao hơn nội thành, nên mức độ chấn thương nặng hơn. Trong số những thanh niên bị TNGT ở thành thị, độ tuổi 15-19 chiếm tỷ lệ cao nhất.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm bệnh nhân
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới:
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới tính
Qua biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ gặp tai nạn giao thông ở nam là 79,3% và ở nữ là 20,7% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Tỉ lệ bệnh nhân nam gặp nhiều hơn nữ với 73 trường hợp chiếm 79,3%
Kết quả này cũng phù hợp với thống kê về tình hình tai nạn thương tích tại cộng đồng 6 tháng đầu năm 2005 của Tổng cục nghiên cứu thống kê.
3.1.2 Đặc điểm bệnh nhân theo nhóm tuổi:
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Qua biểu đồ 3.2 tỉ lệ BN TNGT gặp ở nhóm tuổi từ 16-40 chiếm nhiều nhất với
62 trường hợp chiếm 56,6%, tiếp theo là độ tuổi từ 41-60 có 21 trường hợp chiếm 33,7% Ở độ tuổi từ 0 -15 tuổi có 5 trường hợp chiếm 5,4 % Ở tuổi trên 60 tuổi có 4 trường hợp chiếm 4,3% Khi so sánh độ tuổi từ 16-40 với độ tuổi trẻ nhỏ và trên 60 thì có sự khác biệt về thống kê p < 0,05
3.1.3 Đặc điểm trình độ văn hóa
Tỷ lệ Đại học ,trên đại học Trung học phổ thông
Trung học cơ sở Tiểu học Trình độ
Biểu đồ 3.3: Phân bố trình độ văn hóa
Qua biểu đồ 3.3 cho thấy số BN TNGT có trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất ( 62% ) tiếp đến là trình độ đại học và trên đại học (18,5%), trung học cơ sở 15,2%, tiểu học 4,3% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05
3.1.4 Đặc điểm bệnh nhân theo nhóm nghề nghiệp:
0% Cán bộ CC HS, SV Công nhân
Lao động tự do Nông dân Khác
Nghề nghiệp Biểu đồ 3.4 : Phân bố tỷ lệ bệnh nhân theo các nhóm nghề nghiệp
Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ chấn thương mắt do tai nạn giao thông cao nhất gặp ở nhóm lao động tự do (42,3%), tỷ lệ tai nạn thấp hơn ở nhóm cán bộ công chức, học sinh sinh viên, công nhân…Sự khác biệt về tỉ lệ có ý nghĩa thông kê với p < 0,05
Đặc điểm của các tai nạn
3.2.1 Phân bố địa điểm xảy ra tai nạn
Biểu đồ 3.5: Phân bố địa điểm xảy ra tai nạn
Nhận xét: Địa điểm xảy ra tai nạn giao thông: Tai nạn giao thông gặp ở nội thành (59,8%) nhiều hơn ngoại thành (40,2%)
3.2.2 Tình trạng đội mũ bảo hiểm
Không đội mũ bảo hiểm Đội mũ bảo hiểm
Biểu đồ 3.6: Phân bố tỷ lệ đội mũ bảo hiểm Nhận xét : Trong 75 trường hợp TNGT do sử dụng xe gắn máy có 74,2% trường hợp không sử dụng mũ bảo hiểm, chỉ có 25,8% trường có sử dụng mũ bảo hiểm Tỉ lệ này có ý nghĩa thống kê p < 0,05
3.2.3 Đặc điểm các nhóm phương tiện gây tai nạn
0% Ô tô Xe máy Phương tiện thô sơ
Biểu đồ 3.7 : Phân bố tỷ lệ các loại phương tiện gây tai nạn giao thông
Biểu đồ 3.7 cho thấy xe máy là phương tiện gây tai nạn giao thông nhiều nhất chiếm 81,5% trên tổng số các vụ tai nạn giao thông Trong khi đó tỷ lệ tai nạn do ô tô chiếm 13%và phương tiện thô sơ chiếm 5,4% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p 8/10 chiếm 27,2%.
4.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới:
Tỷ lệ bệnh nhân nam gặp nhiều hơn nữ với 73 trường hợp chiếm 79,3% Đây là tỷ lệ khá chênh lệch Lý do nam giới thường hay có thói quen khi tham gia giao thông trong tình trạng đã uống rượu bia và ý thức kém, chủ quan điều khiển phương tiện với tốc độ cao, phóng nhanh vượt ẩu, lạng lách đánh võng Điều này cũng lý giải vì sao tỷ lệ BN nam chiếm tới 79,3% so với BN nữ là 20,7%
Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của những tác giả khác về dịch tễ học của chấn thương mắt là số BN nam chiếm đa số so với BN nữ [1]
4.1.2 Đặc điểm bệnh nhân theo nhóm tuổi:
Qua phân tích 92 trường hợp bệnh nhân tai nạn thương tích mắt do TNGT đến khám tại phòng trực cấp cứu Bệnh viện mắt Trung ương chúng tôi nhận thấy độ tuổi trung bình là 34,4( ± 13.9) tuổi, đây thuộc nhóm tuổi thanh thiếu niên Tuổi nhỏ nhất là
5 tuổi, người tuổi cao nhất là 73 tuổi Ở độ tuổi từ 0 – 15 tuổi có 5 trường hợp chiếm 5,4 % Độ tuổi thanh niên ( từ 16-40 ) với 62 trường hợp chiếm 56,6% tiếp theo là độ tuổi trung niên từ 41-60 có 21 trường hợp chiếm 33,7% Như vậy độ tuổi thanh niên ( từ 16-40) có tỷ lệ cao nhất Đây thực sự là con số đáng lo ngại và cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa về tình hình thương tích mắt do TNGT ở độ tuổi này vì đây là lứa tuổi phải học tập và lao động nên thương tích mắt cũng dễ xảy ra hơn Họ là lực lượng lao động chính trong gia đình và xã hội nên khi bị chấn thương mắt không chỉ thiệt hại cho bản thân họ, mà còn là gánh nặng đối với gia đình và xã hội là rất nặng nề. Ở độ tuổi từ 0 – 15 tuổi có 5 trường hợp chiếm 5,4 % kết quả này cũng phù hợp với tổng kết nghiên cứu về tai nạn thương tích trẻ em do TNGT đối với trẻ dưới 6 tuổi được thực hiện tại bệnh viện nhi Trung ương tháng 3/2009, tỷ lệ này là 8,6% trẻ em bị chấn thương do TNGT [1] Nhưng đây không phải là nghiên cứu sâu về tai nạn thương tích trẻ em nên chỉ dẫn về số liệu không thể hiện ở trên bảng thống kê Đặc biệt còn có các yếu tố kinh tế, xã hội với các nguyên nhân gây tai nạn thương tích do TNGT ở trẻ em Như biến đổi về cấu trúc gia đình, tác động của kinh tế thị trường và trình độ văn hóa của các bậc cha mẹ trẻ.
4.1.3 Đặc điểm trình độ văn hóa
Trong 92 trường hợp tai nạn thương tích mắt do TNGT chỉ có khoảng 18,5% trường hợp bệnh nhân có trình độ học vấn từ đại học trở lên có sự hiểu biết nhất định về vấn đề phòng tránh tai nạn thương tích nên tỷ lệ mắc tai nạn thương tích mắt cũng ít hơn Tai nạn thương tích mắt do TNGT tập trung ở nhóm có trình độ phổ thông trung học trở xuống ( chiếm 62%) do đó trình độ nhận thức kém, coi thường pháp luật, không nắm được luật giao thông nên chưa hiểu đúng đắn việc tham gia giao thông một cách an toàn và các biện pháp phòng chống nên tỉ lệ gặp tai nạn thương tích cũng nhiều hơn.
4.1.4 Đặc điểm bệnh nhân theo nhóm nghề nghiệp:
Về phân bổ nghề nghiệp lao động tự do dễ mắc TNGT nhiều hơn cả do đặc thù công việc họ phải liên tục di chuyển trên đường tham gia giao thông nên tai nạn thương tích cũng dễ xảy ra hơn Có 39 trường hợp là lao động tự do chiếm tỉ lệ 42,4%, công nhân có 16 trường hợp chiếm 17,4%, CBCC có 18 trường hợp chiếm 19,6%, tỉ lệ này nói lên sự hạn chế trong nhận thức hiệu quả của việc tham gia giao thông an toàn.
4.2.Đặc điểm của các tai nạn:
4.2.1 Phân bố địa điểm xảy ra tai nạn
Khu vực xảy ra tai nạn thương tích mắt ở nội thành nhiều hơn chiếm 59,8% do mật độ tham gia giao thông ở đây rất lớn, người dân rất dễ bị các va chạm dẫn đến TNGT Thanh niên thành thị bị tai nạn giao thông cao hơn nhiều so với thanh niên nông thôn, kể cả nam lẫn nữ ở mọi độ tuổi Tuy nhiên mức độ tai nạn giao thông ở nội thành nhẹ hơn ngoại thành do các vụ tai nạn giao thông trong nội thành gặp nhiều tai nạn xe máy, trong khi đó tai nạn ở ngoại thành lại hay xảy ra các vụ tai nạn ôtô và tốc độ di chuyển ở ngoại thành cao hơn nội thành, nên mức độ chấn thương nặng hơn. Trong số những thanh niên bị TNGT ở thành thị, độ tuổi 15-19 chiếm tỷ lệ cao nhất.
Hầu hết thanh niên thành thị biết đi xe máy từ 15 tuổi (bất chấp quy định của luật pháp là 18 tuổi) chủ yếu là nam thanh niên Mặt khác họ chưa có bằng lái xe nên không nắm được luật giao thông nên việc vi phạm giao thông dẫn đến tai nạn là điều khó tránh khỏi [1 ]
4.2.2 Tình trạng đội mũ bảo hiểm
Theo kết quả tại biểu đồ 3.6 có tới 74,2% số bệnh nhân không đội mũ bảo hiểm khi lưu thông trên đường Tuy nhiên tình trạng đội mũ bảo hiểm hay không đội mũ không liên quan đến tỷ lệ bị tai nạn giao thông nhưng nó lại liên quan rất chặt chẽ tới mức độ trầm trọng của chấn thương nói chung và chấn thương tại mắt nói riêng Theo số liệu từ 54 tỉnh thành của Bộ Y tế trong năm 2008 có 495.545 vụ chấn thương đầu. Trong số này, tỷ lệ nạn nhân dưới 14 tuổi là 13% Gần 50% số trẻ em bị chấn thương não không đội mũ bảo hiểm Nguồn số liệu đó cũng cho biết 21% số ca nhập viện vì tai nạn giao thông là trẻ em và vị thành niên trong độ tuổi 0-19 [1] Từ khi Nghị quyết 32 được ban hành năm 2007, tất cả mọi người đều phải đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy và kể từ 15/12/2007, việc đội mũ bảo hiểm đã được thực thi chặt chẽ trên toàn quốc với hi vọng giảm đáng kể tỷ lệ tử vong và chấn thương vùng đầu, mặt Kết quả giám sát chấn thương ở bệnh viện Việt Đức cho thấy trong 6 tháng từ tháng 3 đến tháng 10/2006, tỷ lệ có đội mũ bảo hiểm chỉ chiếm 5% ở tất cả các trường hợp gặp chấn thương do tai nạn giao thông Bảng thống kê trên cho thấy tình trạng đội mũ bảo hiểm vẫn chưa được chấp hành nghiêm chỉnh Có tới 49 trường hợp chiếm 74,2% không đội mũ BH khi tham gia giao thông Đây thật sự là vấn đề nhức nhối của xã hội khi ý thức người dân còn kém.
4.2.3 Đặc điểm các nhóm phương tiện gây tai nạn
Hầu hết tai nạn giao thông đường bộ và tai nạn giao thông nói chung ở Việt Nam đều liên quan đến xe máy và ôtô Số lượng phương tiện này trong nước cũng gia tăng nhanh chóng Số lượng xe máy tăng 4 triệu xe từ năm 1996 lên gần 30 triệu xe vào năm 2009 và trở thành thị trường xe máy đứng thứ 4 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ,Indonesia [5] Trong khi đó cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu phà vẫn chưa bắt kịp với nhu cầu Trong nghiên cứu của chúng tôi chấn thương tại mắt do TNGT chủ yếu là tai nạn xe máy với 75 trường hợp chiếm 81,5%, tỷ lệ này có mối liên quan đến hành vi không an toàn như thói quen uống rượu, bia Theo thống kê của bệnh viện Việt Đức có 12% người lái xe máy có uống rượu bia trước lái xe máy vài giờ [5] Mặt khác một nguyên nhân không thể bỏ qua là do người dân sử dụng xe máy quá cũ không đảm bảo an toàn, những xe máy máy Trung Quốc không được kiểm tra chất lượng đã được đưa vào sử dụng nên gây ra những tai nạn giao thông đáng tiếc.
4.2.4 Tình trạng sử dụng rượu bia:
Mặc dù luật GTĐB có quy định chặt chẽ nghiêm cấm người điều khiển ô tô,mô tô, xe gắn máy khi tham gia giao thông không được sử dụng rượu bia nhưng tình trạng này vẫn còn xảy ra phổ biến và có xu hướng gia tăng Qua biểu đồ trên cho thấy hơn một nửa (52,2%) số bệnh nhân tai nạn giao thông có sử dụng rượu bia khi tham gia lưu thông trên đường Theo một thống kê chưa đầy đủ của Ủy ban ATGT Quốc gia, từ năm
2000 đến năm 2009, có tới 6% tổng số vụ tai nạn giao thông xảy ra do sử dụng rượu bia [3] Các vụ tai nạn này phần lớn xảy ra ở các thành phố lớn như Hà nội, Thành phố
Hồ Chí Minh…Hơn 70% nhóm người tham gia giao thông có sử dụng rượu bia là người điều khiển xe máy, trong số này có khoảng 3,6% bị TNGT sau khi sử dụng rượu, bia Có tới 77,9% nam giới điều khiển phương tiện giao thông ngay sau khi vừa uống rượu, bia [3] Đây là một thực trạng đáng báo động Cũng theo thống kê trên thì độ tuổi bắt đầu uống rượu, bia của người dân đang ngày có xu hướng trẻ hóa, khoảng từ 18-25 tuổi.
4.3 Đặc điểm tai nạn thương tích tại mắt