1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã bắc phong, huyện cao phong, hòa bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan

120 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 599,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy tình hình tăng huyết áp ở người cao tuổi đang là vấn đềsức khỏe đáng lo ngại, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi.Theo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

-BÙI XUÂN TIẾN

THỰC TRẠNG BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

HUYỆN CAO PHONG, HÒA BÌNH NĂM 2020

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI – NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG

BÙI XUÂN TIẾN

THỰC TRẠNG BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

HUYỆN CAO PHONG, HÒA BÌNH NĂM 2020

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bêncạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quýThầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thờigian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy TS Nguyễn Đức Sơn vàThầy PGS.TS Đào Xuân Vinh người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốtnhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đếntoàn thể quý thầy cô trong khoa Y tế công cộng và khoa sau đại học Đại họcThăng Long đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọiđiều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và chođến khi thực hiện đề tài luận văn

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến UBND xã Bắc Phong, Trung tâm

Y tế huyện Cao Phong đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất chotôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạnđồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Học viên thực hiện

Bùi Xuân Tiến

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêngtôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bốtheo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phântích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Cáckết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Học viên thực hiện

Bùi Xuân Tiến

Trang 5

Thang Long University Library

Trang 7

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số định nghĩa và khái niệm 3

1.1.1 Huyết áp và Huyết áp động mạch 3

1.1.2 Tăng huyết áp 3

1.2 Thực trạng bệnh tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam 14

1.2.1 Thực trạng tăng huyết áp trên thế giới 14

1.2.2 Thực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Việt Nam 17

1.3 Các yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp 20

1.3.1 Tuổi 20

1.3.2 Giới 21

1.3.3 Béo phì 21

1.3.4 Ăn nhiều muối 22

1.3.5 Ăn nhiều chất béo 23

1.3.6 Ăn thiếu chất xơ 23

1.3.7 Hút thuốc lá 24

1.3.8 Thói quen uống rượu 25

1.3.9 Ít hoạt động thể lực 26

1.3.10 Trình độ học vấn 27

1.4 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 28

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 30

Chương 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 31

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 31

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 31

Thang Long University Library

Trang 8

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 31

2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 32

2.3.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 32

2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá 34

2.4 Phương pháp thu thập thông tin 36

2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 36

2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 36

2.4.3 Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu 38

2.5 Phân tích và xử lý số liệu 41

2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 41

2.6.1 Sai số 41

2.6.2 Biện pháp khống chế sai số 41

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 42

2.8 Hạn chế của đề tài 42

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 43

3.2 Thực trạng THA ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong 48

3.3 Một số yếu tố liên quan đến THA 53

Chương 4: BÀN LUẬN 59

4.1 Về thực trạng bệnh THA ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong huyện Cao phong tỉnh Hòa Bình năm 2020 59

4.2 Một số yếu tố liên quan đến THA 63

KẾT LUẬN 70

KHUYẾN NGHỊ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO .73

PHỤ LỤC 1: 79

PHỤ LỤC 2 85

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI 4

Bảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp theo WHO/ISH 1999 4

Bảng 2 1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 32

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi (n=460) 43

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc (n=460) 44

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp trước khi nghỉ hưu (n=460) 44

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo công việc hiện tại (n=460) 45

Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn (n=460) 45

Bảng 3.6 Phân bố chỉ số BMI theo giới tính (n=460) 46

Bảng 3.7 Phân bố chỉ số BMI theo nhóm tuổi (n=460) 46

Bảng 3.8 Phân bố tỷ số VB/VM (WHR) theo giới (n=460) 47

Bảng 3.9 Phân bố tỷ số VB/VM (WHR) theo nhóm tuổi (n=460) 47

Bảng 3.10 Phân bố đối tượng theo chỉ số nhân trắc và giới tính (n=460) 48

Bảng 3.11 Thực trạng THA ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong (n=460) 48

Bảng 3.12 Phân bố tỷ lệ THA theo giới tính (n=460) 49

Bảng 3.13 Phân bố đặc điểm tăng huyết áp theo giới tính (n=460) 50

Bảng 3.14 Phân bố THA theo nhóm tuổi (n = 460) (n=460) 50

Bảng 3.15 Phân bố THA theo nghề nghiệp trước khi nghỉ hưu (n=460) 51

Bảng 3.16 Phân bố THA theo công việc hiện tại (n= 460) 51

Bảng 3.17 Phân bố THA theo trình độ học vấn (n = 460) 52

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa giới tính và tình trạng bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=460) 53

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa nhóm tuổi với THA (n=460) 54

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và tình trạng bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu (n=460) 54

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa chỉ số BMI với tình trạng huyết áp (n=460) 55

Thang Long University Library

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 40Biểu đồ 2.2 Phố bố đối tượng nghiên cứu theo phân độ THA……… 49Biểu đồ 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo các yếu tố nguy cơ THA……53

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong vài thập niên gần đây, cùng với sự tiến bộ vượt bậc về khoa họctrên nhiều lĩnh vực, người ta đã chứng kiến sự gia tăng nhanh dân số già do tuổithọ ngày càng cao Sự gia tăng nhanh dân số già là mối quan tâm chung của cácnước phát triển và các nước đang phá triển vì nó đặt ra hàng loạt vấn đề cần giảiquyết thuộc nhiều lĩnh vực như xã hội, kinh tế, y tế …

Người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở lên Người cao tuổi thường có bệnhmạn tính, trong đó tăng huyết áp là bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới, tỷ

lệ mắc bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng ngày càng gia tăng, đặc biệt ở cácnước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Bên cạnh đó Việt Nam là một trong

số những quốc gia già hóa dân số nhanh nhất trong khu vực Trong năm 2013 tỷ

lệ người cao tuổi đã lên tới 10,5% tổng dân số [12] Các nghiên cứu trên thế giới

và tại Việt Nam cho thấy tình hình tăng huyết áp ở người cao tuổi đang là vấn đềsức khỏe đáng lo ngại, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi.Theo Nghiên cứu của Hoàng Phương Thủy năm 2016 cho thấy tỷ lệ mắc bệnhtăng huyết áp ở người cao tuổi (≥ 60 tuổi) chiếm 51,29 % [34], Nguyễn ThanhNgọc năm 2007 cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi chiếm 37,6% trong

đó nam giới cao tuổi có tỷ lệ tăng huyết áp cao hơn nữ giới cao tuổi [19]

Theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam năm 2008, ở người lớn (≥60tuổi) tại 8 tỉnh, thành phố của Việt Nam tỷ lệ tăng huyết áp đã tăng lên đến 47,8%nghĩa là cứ 2 người cao tuổi ở nước ta thì có 1 người bị tăng huyết áp; năm 2012 tỷ

lệ tăng huyết áp ở người >75 tuổi là 69.8%, trong đó nam là 70,5% và nữ là 68,8%[40] Đến điều tra mới 2015-2016, có đến 47,3% người dân từ 25 tuổi trở lên bịtăng huyết áp Tuy nhiên, số ca tăng huyết áp được phát hiện đã tăng từ 48,4% lên60,9% Còn người tăng huyết áp được điều trị tăng từ 61,1% lên 92,8% Như vậy,với dân số gần 100 triệu người thì số người tăng huyết áp từ 25 tuổi trở lên ở ViệtNam ước tính khoảng 17,1 triệu người Đặc biệt, trong những người bị tăng huyết

áp, có 39,1% (8,1 triệu người) không được phát hiện bị tăng huyết áp;

Thang Long University Library

Trang 12

đó và nhằm cung cấp bằng chứng cho các nhà quản lý y tế ở địa phương về thựctrạng tăng huyết áp ở người cao tuổi và đưa ra những khuyến cáo ban đầu trongviệc kiểm soát huyết áp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về: “Thực trạng bệnh tănghuyết áp ở người cao tuổi tại xã Bắc Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình năm

2020 và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu:

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng bệnh Tăng huyết áp của người cao tuổi tại xãBắc Phong - Huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình năm 2020

Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp của nhómđối tượng nghiên cứu

Trang 13

Chương 1:

TỔNG QUAN 1.1 Một số định nghĩa và khái niệm

1.1.1 Huyết áp và Huyết áp động mạch

* Huyết áp: Là áp lực máu cần thiết làm máu lưu thông trong hệ tuầnhoàn, đưa máu đến các mô trong cơ thể Trong hệ mạch máu có huyết áp độngmạch, huyết áp tĩnh mạch, huyết áp mao mạch

Huyết áp động mạch gồm có:

- Huyết áp tâm thu (còn gọi là huyết áp tối đa) là trị số huyết áp cao nhất

đo được trong chu kỳ tim Huyết áp tâm thu là áp lực của máu lên thành độngmạch khi tim co (tim ở trạng thái co bóp) Huyết áp tâm thu thay đổi theo tuổi,giới, trạng thái hoạt động của cơ thể Trị số bình thường ở người trưởng thành là

90 - 140 mmHg [9]

- Huyết áp tâm trương (còn gọi là huyết áp tối thiểu) là trị số huyết ápthấp nhất đo được trong chu kỳ tim, đo được lúc tim giãn (tâm trương), do lựcđàn hồi của động mạch tác động lên máu trong động mạch Huyết áp tâm trươngthay đổi theo tình trạng của thành động mạch Trị số bình thường dao động trongkhoảng từ 50 đến 90 mmHg [9]

Thang Long University Library

Trang 14

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm tăng huyết áp của Tổchức Y tế thế giới được trình bày ở trên Khái niệm này cũng trùng hợp với kháiniệm mà Bộ y tế và các chương trình y tế tại Việt Nam đang sử dụng [38]

1.1.2.2 Phân loại và các giai đoạn của THA

Các giai đoạn của THA phân loại như sau:

Bảng 1.1 Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI

Mức độ

Tối ưu

Bình thường

Bình thường cao

THA giai đoạn I

THA giai đoạn II

THA giai đoạn III

Bảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp theo WHO/ISH 1999

Loại

Tối ưu

Bình thường

Trang 15

Ví dụ: Huyết áp đo được 160/92mmHg là THA độ II.

Huyết áp đo được 170/120mmHg là THA độ III

* Cách phân loại tăng huyết áp ở Việt Nam [9]:

Theo đề nghị của Phạm Gia Khải và các cộng sự thì ở Việt Nam cả haicách đều có thể áp dụng và khi dùng cách nào chúng ta phải ghi rõ Tuy nhiênJNC VI ngày càng có giá trị thực tế khi các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tănghuyết áp đang gia tăng Xơ vữa động mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, tuổi đờikéo dài và khả năng chẩn đoán các tổn thương ở các cơ quan đích, xác địnhcác yếu tố nguy cơ được cải thiện hơn

1.1.2.3 Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp

Các bệnh không lây nhiễm thường không xác định được nguyên nhân cụ thể

mà chỉ có các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển gọi là yếu tố liên quan (YTLQ).Theo Tổ chức Y tế thế giới, yếu tố liên quan là bất cứ thuộc tính, đặc điểm nào làmtăng khả năng mắc bệnh không lây nhiễm Các yếu tố liên quan của bệnh không lâynhiễm gồm: Hành vi lối sống, môi trường và các yếu tố sinh học

Thang Long University Library

Trang 16

[33].Khi các cá thể phơi nhiễm với các YTLQ một thời gian dài (thường là hàngchục năm) sẽ dẫn tới nguy cơ trung gian hay còn gọi là tình trạng tiền bệnh Nếukhông có các giải pháp ngăn ngừa các nguy cơ trung gian mà vẫn tiếp tục phơinhiễm với các YTLQ sẽ dẫn tới các BKLN như tim mạch, đái tháo đường, ungthư và bệnh phổi mạn tính Và hậu quả tất yếu của những bệnh này là tử vong vàtàn tật [34]

- Một số yếu tố hành vi lối sống

Các YTLQ thuộc về hành vi lối sống vô cùng quan trọng trong BKLN Một

số nước, ví dụ như Nhật Bản gọi BKLN là những bệnh liên quan đến lối sống.Kiểm soát tốt các YTLQ này là cách hiệu quả nhất trong phòng bệnh BKLN TheoWHO, 80% bệnh tim mạch, đái tháo đường có thể phòng được thông qua thực hiệnlối sống lành mạnh loại bỏ các YTLQ hành vi [35] Theo khảo sát quốc gia về cácyếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở Việt Nam của Bùi Văn Tân và cộng sự năm

2016 cho thấy, tỷ lệ những người hút thuốc hiện tại (nam 57,7%, nữ 1,7 %), vàngười uống rượu (nam 25,11%, nữ 0,63%) và ở các khu vực có sự khác biệt về chế

độ ăn uống, tỷ lệ dân số đô thị có chỉ số BMI trung bình cao hơn và tỷ lệ hoạt độngthấp hơn[35] Theo nghiên cứu của tác giả Hồng Mùng Hai (2014), các yếu tố nhưchỉ số khối lượng cơ thể, tỷ số vòng eo/vòng mông, béo bụng và ăn mặn đều có liênquan đến tăng huyết áp [25] Tác giả Élodie Giroux (2013), thực hiện nghiên cứuFramingham về tim (được gọi tắt là nghiên cứu Framingham), là một nghiên cứudài hạn về hệ tim mạch tiến hành trên các cư dân thị trấn Framingham, bangMassachusetts, Mỹ Kết quả tìm thấy từ nghiên cứu Bramingham đã giúp xác địnhđược các 06 yếu tố liên quan chính của các bệnh tim mạch, bao gồm: Tăng huyết

áp, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, béo phì, đái tháo đường và lối sống ít vậnđộng Tại Trung Quốc có một nghiên cứu thuần tập trên quy mô lớn (ChineseMulti-provincial Cohort Study - CMCS) thực hiện trên 16.552 người sống ở 11 tỉnh

và 3.118 người sống ở Bắc Ninh, tuổi từ 5 đến 64, không có bệnh 13 mạch vành,được theo dõi từ 1992 đến 2002 Vào lúc kết

Trang 17

thúc nghiên cứu có 191 ca mắc bệnh mạch vành và 625 ca chết [36] Nghiên cứudịch tễ học tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch tại Việt Nam (2001 -2009) của tác giả Nguyễn Lân Việt cho thấy, các yếu tố nguy cơ tim mạch chínhkhá phổ biến trong cộng đồng người trưởng thành ở Việt Nam, đa số các yếu tốnguy cơ này là đi với nhau thành chùm Do đó, việc kiểm soát từng yếu tố nguy

cơ riêng rẽ sẽ thu được lợi ích không nhiều so với việc can thiệp tác động đồngthời lên nhiều yếu tố nguy cơ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối tương quan

“kiểu chữ U” giữa số huyết áp và BMI, điều này cho thấy gánh nặng THA khánổi cộm ngay cả trên người gầy, đối tượng thường bị xem nhẹ trong các chươngtrình bệnh lý tim mạch Đỗ Thái Hoà và cộng sự, nghiên cứu trên 1.200 đốitượng trung niên (40 - 59 tuổi), thuộc 4 xã thuần nông của huyện Đông Sơn, tỉnhThanh Hóa Kết quả nghiên cứu xác định được mối liên quan giữa tỷ lệ tănghuyết áp và nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, chỉ số BMI, số đo vòng mông vớicác OR từ 1,84 - 2,24, p< 0,05 [26]

Hút thuốc (lá, lào): Những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh mạchvành gấp 2 - 4 lần và tử vong nhiều hơn khoảng 70% do bệnh này Tác giảAurelio Leone nghiên cứu về hút thuốc và tăng huyết áp, cho thấy có bằngchứng có sự kết hợp của hút thuốc với tăng huyết áp theo cấp số nhân làm tăngnguy cơ tim mạch [37] Nghiên cứu của Trương Thị Thùy Dương cho thấy cómối liên quan giữa hút thuốc với THA (p < 0,05) [38] Tác giả A Stallones Reuel(2015), nghiên cứu mối liên quan giữa hút thuốc lá và bệnh tim mạch vành, chothấy hút thuốc là liên quan đến nguyên nhân của bệnh tim mạch

Lạm dụng rượu, bia: Theo quy chuẩn của WHO, lượng rượu, bia uống trungbình trên ngày trên 4 đơn vị chuẩn đối với phụ nữ và trên 5 đơn vị 14 chuẩn đối vớinam được coi là lạm dụng rượu bia [29] Theo tác giả Phan Thị Kim Liên, uốngnhiều rượu (> 3 xuất/ngày, mỗi suất khoảng 148 ml rượu vang hay 1 lon bia) cónguy cơ THA gấp 2 - 3 lần bình thường [39] Nghiên cứu của Trương Thị Thùy

Thang Long University Library

Trang 18

115 bệnh nhân có tăng huyết áp tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 Kết quả,những yếu tố nguy cơ chính của THA nguyên phát lần lượt là: tuổi cao

>60 chiếm 57,39%; rối loạn lipid máu 88,69%; đái tháo đường 33,91%; ăn mặn21,74% Tỷ lệ bệnh nhân không biết mình bị THA chiếm tỷ lệ cao 33,04%; tỷ lệngười biết mình bị THA mà không điều trị cũng cao 30,04%; tỷ lệ bệnh nhânkiểm soát được huyết áp mục tiêu chỉ đạt 21,74% [41] Tác giả Hồng Mùng Hai(2014), nghiên cứu tình hình tăng huyết áp tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau chothấy, ăn mặn có nguy cơ tăng huyết áp gấp 1,1 lần [25]

Ăn ít rau quả: Khoảng 2,7 triệu người trên thế giới được cứu sống nếukhẩu phần ăn có đủ rau xanh; 26,7 triệu (1,8%) DALY toàn cầu là do khẩu phần

ăn không có đủ rau xanh [42] Trong tổng số gánh nặng bệnh tật do ăn thiếu rauxanh gây ra thì bệnh tim mạch chiếm 85%, ung thư 15% WHO khuyến nghị ăn

ít nhất 400g rau, quả/ngày, dung môi hòa tan vitamin (A, D, 15 E, K), tạo nănglượng… Sử dụng nhiều chất béo gây thừa cân béo phì, rối loạn lipid máu, hộichứng chuyển hóa và NCD Tăng cholesterol máu ước tính gây ra 56% bệnhmạch vành toàn cầu, tương đương 4,4 triệu tử vong (7,9%), 40,4 triệu DALY(2,8%) Thay thế việc sử dụng nhiều chất béo no nguồn gốc động vật bằng chấtbéo không no nguồn gốc thực vật được chứng minh giảm nguy cơ ĐTĐ týp 2 vàbệnh mạch vành [34][39]

Trang 19

Ít hoạt động thể lực: Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, do kinh tế pháttriển, cuộc sống có đầy đủ điều kiện vật chất hơn làm cho con người dễ sa vàolối sống ít vận động thể lực, bên cạnh đó một chế độ ăn uống không hợp lý (quánhiều calo, nhiều mỡ động vật, nhiều chất ngọt ), lối sống luôn căng thẳng nhất

là ở các thành phố lớn tạo điều kiện cho bệnh tim mạch phát triển, trong đó THAchiếm một tỷ lệ không nhỏ [33][13]

- Một số yếu tố sinh học:

Tỷ lệ THA tăng theo tuổi, có hơn một nửa số người ở độ tuổi 60 - 90 và baphần tư số người 70 tuổi trở lên bị THA Nghiên cứu của Élodie Giroux và cộng sự(2013) sử dụng mô hình Bramingham đã đưa ra nguy cơ trong toàn bộ cuộc đời,THA là gần 90% cho cả nam và nữ, những người chưa bị THA ở tuổi 55 hoặc

65 và sống tới độ tuổi 80 - 85 Kể cả sau khi đã hiệu chỉnh cho các nguyên nhân

tử vong, nguy cơ THA trong toàn bộ cuộc đời còn lại vẫn là 86 - 90% với nữ và

81 - 86 % đối với nam Tỷ lệ tiến triển thành THA trong 4 năm là 50% ở nhóm

65 tuổi trở lên và có huyết áp ở mức 130-139/85-89 mmHg, 26% ở những người có

HA trong khoảng 120-129/80-84 mmHg [43] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng cómối liên quan chặt chẽ giữa cân nặng cơ thể và huyết áp động mạch Với nhữngngười có cân nặng cao, nếu giảm bớt cân nặng, huyết áp động mạch cũng giảm.Theo nghiên cứu của Đào Thu Giang cho thấy BMI và béo bụng có liên quankhá chặt chẽ với THA nguyên phát [44] Yếu tố nguy cơ THA nguyên phát ởnhững bệnh nhân thừa 16 cân và béo phì cao hơn rõ rệt so với nhóm không thừacân Chỉ số khối cơ thể (BMI) và tỷ lệ phần trăm mỡ ở nữ cao hơn so với namgiới Có một mối tương quan dương đáng kể giữa BMI, tỷ lệ phần trăm chất béo

và huyết áp cả tâm thu lẫn tâm trương Các đối tượng thừa cân, béo phì có nhiềukhả năng bị tăng huyết áp hơn những người có chỉ số BMI bình thường [45][19]

Đỗ Thái Hòa, Trương Việt Dũng và cộng sự (2013), xác định có mối liên quangiữa tỷ lệ THA và nhóm tuổi, giới tính, chỉ số BMI, số đo vòng mông [26] TheoNgô Trí Tuấn, Hoàng Văn Minh, tuổi càng cao nguy cơ mắc THA càng cao [27]

Trang 20

Thang Long University Library

Trang 21

1.1.2.4 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và hậu quả của THA

Trong hơn 40 năm gần đây hầu như các nhà sinh lý và lâm sàng tim mạch

đã rất cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để giải thích cơ chế tăng huyết áp Có một

số vấn đề đã được xác định, song còn nhiều vấn đề chưa được sáng tỏ Dưới đây

là một số cơ chế bệnh sinh của bệnh tăng huyết áp đã được công nhận [4]

* Tăng huyết áp nguyên phát: chiếm 95% tổng số bệnh nhân tăng huyết áp,

cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng, người ta cho rằng một số yêu tốsau có thể gây tăng huyết áp

- Tăng hoạt động thần kinh giao cảm:

Trường hợp này thường gặp ở người trẻ tuổi, khi tăng hoạt động hệ thầnkinh giao cảm sẽ làm tăng hoạt động của cơ tim dẫn đến tăng cung lượng tim

Hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận bị co thắt làm tăng sức cảnngoại vị để dẫn đến hậu quả tăng huyết áp

- Vai trò của Renin – Angiotensin – Aldosteron (RAA):

Renin là một enzym được các tế bào quanh thận và một số tổ chức kháctiết ra khi có yếu tố kích thích Các tế bào cơ trơn trên thành mao động mạch đếncủa tiểu cầu thận nhận trách nhiệm nhận cảm áp lực của động mạch tiểu cầuthận, kích thích các tế bào cạnh tiểu cầu thận tiết ra renin để điều hòa huyết áp,duy trì áp lực lọc ở tiểu cầu thận Yếu tố kích thích tiết renin là nồng độ muốitrong huyết tương và khích thích thụ cảm thể beta adrenecgic

- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp [4]:

Đã từ lâu người ta biết vai trò của natri trong tăng huyết áp có thựcnghiệm và điều trị theo Tubian (1954): Lượng natri và nước có trong vách độngmạch cao hơn một cách rõ rệt ở người và xúc vật có tăng huyết áp

Theo Braun Wald (1954): Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của tănghuyết áp tiên phát thực hiện ở hai vị trí:

Trang 22

+ Stress (tác nhân gây bệnh): Ở những người ăn nhiều natri (do thói quentrong gia đình), khả năng lọc của thận tăng nhưng cũng tăng tái hấp thu nướclàm thể tích máu tăng

+ Màng tế bào có sự tăng thẩm thấu di truyền đối với natri, calci vào trong

tế bào của cơ trơn mạch máu, dẫn đến tăng tính co mạch, tăng sức cản ngoại vigây tăng huyết áp

- Giảm chất điều hòa huyết áp:

Postaglandin E2 và kalikrein ở thận có chức năng sinh lý điều hòa huyết

áp, hạ calci máu tăng calci niệu Khi các chất này thiếu hoặc bị ức chê gây nêntăng huyết áp

- Một số yếu tố tác động làm bệnh tăng huyết áp nặng lên:

+ Yếu tố di truyền và tính gia đình: Người da đen có tỷ lệ tăng huyết áp cao và nặng hơn các chủng tộc khác

+Chế độ và tập quán ăn mặn đều liên quan chặt chẽ với tăng huyết áp

+ Béo: Người béo dễ bị tăng huyết áp, để đánh giá về béo người ta dựa vào chỉ khối cơ thể [13]

Bình thường BMI = 18,5 – 25 kg/m2 Khi BMI > 25 là béo phì

+ Hút thuốc lá trên 10 điếu/ngày và uống rượu trên 100ml/ngày liên tục trong 3 năm là những nguy cơ gây tăng huyết áp

+Rối loạn chuyển hóa lipit máu là nguy cơ quan trọng gây tăng huyết áp,

đặc biệt là người có “tâm chướng lipit”

*Tăng huyết áp thứ phát: Khoảng 5% tăng huyết áp có nguyên nhân rõràng đó là:

- Bệnh thận: Các bệnh của nhu mô thận đều gây tăng huyết áp thứ phát Cơ

chế do tăng thể tích trong lòng mạch hoặc tăng hoạt độ của renin – angiotensin –aldosteron Tăng huyết áp do thận ở trẻ em chiếm một tỷ lệ rất cao [4]

Trang 23

Thang Long University Library

Trang 24

- Tăng huyết áp do dị dạng mạch máu thận: Hẹp động mạch thận chiếm1

– 2% tổng số bệnh nhân tăng huyết áp

- Cường aldosteron: Tổn thương thường thấy là u tuyến thượng thận

- U tủy thượng thận: Chiếm 1 – 2% tổng số bệnh nhân THA

- Hẹp eo động mạch chủ: Tăng ở phần trước chỗ hẹp và giảm ở phần sau chỗ hẹp

- Tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai: Bệnh tăng huyết áp xuất hiện hoặcnặng lên khi có thai là một trong những nguyên nhân gây tử vong của người mẹcũng như thai nhi Tỷ lệ tử vong của mẹ là 10%, của con là 33% [30]

- Sử dụng Oestrogen: Sử dụng kéo dài sẽ gây tăng huyết áp vì

oestrogen

gây tăng tổng hợp tiền chất renin Đây cũng là dạng phổ biến nhất của tănghuyết áp thứ phát Cơ chế do tăng hoạt động của R.A.A do oestrogen kích thíchtổng hợp angiotensin và làm tăng angiotensin II làm cường aldosteron thứ phát.Trong trường hợp này chỉ xảy ra ở 5% phụ nữ sử dụng thuốc và huyết áp ở trởlại bình thường sau 6 tháng dừng thuốc [4]

- Ngoài ra dùng corticoid kéo dài, cường tuyến giáp cũng gây THA

- Các nguyên nhân khác: Tăng huyết áp kết hợp với tăng kali máu, bệnh to

đầu chi, tăng can xi máu do cường tuyến cận giáp

Trang 25

mục tiêu cần đạt là < 130/80 mmHg Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần

Trang 26

* Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống:

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, Chương trình phòng chốngtăng huyết áp Quốc gia và Phân Hội Tăng huyết áp Việt Nam áp dụng cho mọibệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cầndùng, bao gồm:

- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:

+Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày)

+Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi

+Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no

- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2

- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ

- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn

2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốcchuẩn/tuần (nữ) Một cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc 120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh

- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào

- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày

- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh: cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi

hợp lý

Trang 27

Thang Long University Library

Trang 28

- Tránh bị lạnh đột ngột

- Những khuyến cáo trên được đưa ra dựa trên những bằng chứng nghiêncứu các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ và tử vong đối với người tăng huyết áp và cầnđược áp dụng tối đa trên người bệnh để tăng cường hiệu quả điều trị tăng huyết

áp [37]

1.2 Thực trạng bệnh tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Thực trạng tăng huyết áp trên thế giới

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện nay bệnh tim mạchđang là nguyên nhân hàng đầu của tử vong không những ở các quốc gia đã pháttriển mà ngay cả quốc gia đang phát triển Tử vong do bệnh tim mạch chiếm 1/3

tử vong chung của toàn thế giới (17/50 triệu ca tử vong) trong đó 80% tập trung

ở các quốc gia đang phát triển Một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch chính

đã được khẳng định là THA, tỷ lệ THA trên thế giới từ 10- 20% đối với ngườitrên 18 tuổi Tăng huyết áp đã ảnh hưởng đến một tỷ người trên toàn thế giới,dẫn đến các cơn đau tim và đột quỵ Các nhà nghiên cứu ước tính rằng huyết áptăng lên hiện nay giết chết khoảng 9,4 triệu người mỗi năm [11] Trước sự giatăng và tác động to lớn của THA, WHO (2001) đã có báo cáo toàn cầu về tănghuyết áp: “kẻ sát nhân thầm lặng, cuộc khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng toàncầu” Theo đó, người lớn trên thế giới có tỷ lệ THA là 28,5% (27,3- 29,7%) ởcác nước thu nhập cao và 31,5% (30,2 - 32,9%) ở các nước thu nhập thấp vàtrung bình Từ năm 2000 đến 2010, tỷ lệ THA chuẩn hóa theo tuổi đã giảm 2,6%

ởcác nước có thu nhập cao nhưng tăng 7,7% ở các nước thu nhập thấp và trungbình Trong cùng thời kỳ, tỷ lệ nhận thức (58,2% so với 67,0%), điều trị (44,5%

so với 55,6%), và kiểm soát (17,9% so với 28,4%) tăng đáng kể ở các nước thunhập cao, trong khi nhận thức (32,3% so với 37,9%) và điều trị (24,9% so với29,0%) tăng ít hơn, và kiểm soát (8,4% so với 7,7%) thậm chí giảm nhẹ ở cácnước thu nhập thấp và trung bình [11] Tài liệu này cũng hướng dẫn để bệnhnhân THA có thể phòng ngừa và điều trị được và làm thế nào để các chính phủ,

Trang 29

nhân viên y tế, khu vực tư nhân, gia đình và cá nhân cùng hợp sức để giảm sựtăng huyết áp và tác động của nó.

Dữ liệu từ các cuộc điều tra quốc gia và khu vực khác nhau cho thấy THA làphổ biến ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở khu vực đô thị Một số yếu tốnguy cơ THA dường như phổ biến hơn ở các nước đang phát triển so với các nướcphát triển [13] Theo Norm R Campbell, Tej Khalsa và cộng sự (2016), THA là yếu

tố nguy cơ hàng đầu đối với tử vong và tàn tật trên toàn cầu, là nguyên nhân gây rakhoảng 10,3 triệu người chết và 208 triệu người tàn tật năm 2001 Cứ 10 người lớntrên 25 tuổi thì có khoảng 4 người mắc THA, và ước tính 9 trong số 10 người lớnsống đến 80 tuổi sẽ bị THA Hai phần ba số người bị THA là ở các nước đang pháttriển [14] Tara Kessaram, Jeanie McKenzie và cộng sự (năm 2015) nghiên cứu vềcác bệnh không lây nhiễm và các yếu tố nguy cơ ở quần thể người lớn ở một sốquần đảo thuộc Thái Bình Dương: kết quả từ phương pháp tiếp cận theo phươngpháp của WHO về giám sát, cho thấy tỷ lệ THA đã vượt quá 25% ở một số quầnthể Ở Ấn Độ (năm 2014), tác giả Anchala, Raghupathy và cộng sự tiến hành mộttổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp về sự phổ biến, nâng cao nhận thức vàkiểm soát tăng huyết áp đối với người lớn (≥18 tuổi) tại một số vùng nông thôn vàthành thị của Ấn độ Qua tổng hợp 142 bài viết trong tổng số 3.047 bài viết, kết quảcho thấy tỷ lệ THA chung của Ấn Độ là 29%, nông thôn 25% và thành thị là 33%.Trong số này, 25% người dân ở nông thôn và 42% người dân ở đô thị nhận thứcđược tình trạng THA của họ Chỉ có 25% người THA ở nông thôn và 8% ngườiTHA ở đô thị đang được điều trị THA Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu ở người THAthuộc khu vực nông thôn và khu vực đô thị lần lượt là 10% và 20% [16] Một điềutra về sự phổ biến, nâng cao nhận thức, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp và cácyếu tố nguy cơ liên quan trong dân số trưởng thành ở Bangladesh (2011) trên mẫuđại diện là 7.876 người tuổi từ 35 tuổi trở lên, sử dụng mô hình hồi quy logistic đểxác định các yếu tố nguy cơ đối với nhận thức, điều trị và kiểm soát THA Kết quả:Nhìn chung, tỷ lệ chuẩn hóa theo tuổi của tiền THA và THA lần lượt là 27,1% và

Thang Long University Library

Trang 30

24,4% Trong số những bệnh nhân bị tăng huyết áp thì chỉ có 50,1% biết về tìnhtrạng HA của họ, 41,2% là trong điều trị, nhưng chỉ có 1,4% đạt huyết áp mụctiêu[17] Tại Rumani các tác giả tổ chức hai (02) cuộc điều tra cắt ngang cách 7nhau 7 năm, cuộc thứ nhất với 2.017 cá nhân tuổi từ 18-85, tỷ lệ tham gia nghiêncứu 45%, cuộc thứ hai với 1.975 cá nhân tuổi từ 18-80, tỷ lệ tham gia nghiêncứu 69%, bằng cách phỏng vấn theo bộ câu hỏi, đo huyết áp và các số đo nhântrắc học trong hai nghiên cứu Tỷ lệ THA ở Rumani là 40,41%, nhận thức đúng

về THA là 69,55%, trong đó với 59,15% cá nhân THA được điều trị, tỷ lệ kiểmsoát được HA là 25% Qua 7 năm, đã giảm 10,7% về tỷ lệ THA, gia tăng 57%trong nhận thức của THA và tăng 52% trong điều trị tăng huyết áp, dẫn đến gầnnhư tăng gấp đôi tỷ lệ kiểm soát của THA [18] Một nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ(2012), các tác giả tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá dịch tễ học hiện tại củatăng huyết áp, bao gồm mức độ phổ biến của nó, nhận thức, điều trị và kiểm soáthuyết áp để đánh giá những thay đổi trong các yếu tố này trong 10 năm qua bằngcách so sánh kết quả với sự phổ biến, nâng cao nhận thức, điều trị và kiểm soáttăng huyết áp ở Thổ Nhĩ Kỳ từ dữ liệu nghiên cứu năm 2000, cũng như đánh giácác thông số ảnh hưởng đến nhận thức và kiểm soát huyết áp Kết quả: Mặc dù

tỷ lệ THA ở 2 cuộc điều tra đã ổn định ở mức khoảng 30%, song nhận thức vềTHA, điều trị và tỷ lệ kiểm soát THA đã được cải thiện ở Thổ Nhĩ Kỳ Nhìnchung, 54,7% bệnh nhân THA đã nhận thức đúng về bệnh của họ trong năm

2012 so với 40,7% trong năm 2000 Tỷ lệ điều trị tăng huyết áp tăng từ 1,1%năm 2000 lên 47,4% vào năm 2012, và tỷ lệ kiểm soát ở bệnh nhân THA tăng từ8,1% năm 2000 lên 28,7% trong năm 2012 Tỷ lệ kiểm soát THA ở bệnh nhânđiều trị được cải thiện giữa năm 2000 (20,7%) và năm 2012 (5,9%) Qua các sốliệu nêu trên đây đã cho thấy, vẫn còn một số lượng lớn của THA không đượcđiều trị hoặc điều trị không đầy đủ ở Thổ Nhĩ Kỳ[19] Nghiên cứu của các tácgiả Norm Campbell, Pedro Ordunez và cộng sự (2017): Thực hiện các chỉ sốhiệu suất được chuẩn hóa để cải thiện kiểm soát huyết áp ở cả cấp độ dân cư và

tổ chức chăm sóc sức khoẻ, các tác giả đã đưa 8 ra các khuyến nghị sửa đổi từ

Trang 31

cuộc họp của chuyên gia về Tổ chức Y tế Hoa Kỳ về "các chỉ số hoạt động" được

sử dụng để đánh giá các thực hành lâm sàng Như vậy, quản lý huyết áp sẽ vẫn làvấn đề sức khoẻ quan trọng trên toàn cầu và các kết quả đo lâm sàng là một thànhphần quan trọng để hiểu gánh nặng toàn cầu và đánh giá tác động của các can thiệp[20] Các tác giả Tej K Khalsa, Norm R.C Campbell và cộng sự (2015) tiến hànhđánh giá nhu cầu các tổ chức THA Quốc gia Châu Phi Tiểu vùng Sahara, về cácchương trình phòng ngừa và kiểm soát THA cho thấy: Ở khu vực Châu Phi, THA làmột trong những gánh nặng bệnh tật lớn nhất, với tỷ lệ hiện mắc THA ở người lớntrên 25 tuổi là 46% và tỷ lệ THA đang gia tăng ở hầu hết các quốc gia ở Châu Phivùng hạ Sahara [16] Theo tác giả Sarki, Ahmed M MSc và cộng sự (2015), báocáo đánh giá về phòng, chống THA ở châu Mỹ Latinh và vùng Caribê Qua báo cáonêu trên cho thấy gánh nặng đối với bệnh tim mạch chiếm 29% số ca tử vong và lànguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở tất cả các nước (Haiti, Bolivia và Nicaragua).Mỗi năm, có khoảng 1,6 triệu người chết do các bệnh này ở khu vực này, nửa triệungười trong số họ chết trước

70 tuổi Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính cho bệnh tim thiếu máu cục bộ

và bệnh mạch não, ảnh hưởng từ 20% đến 40% người lớn trong khu vực này ỞChâu Mỹ Latinh và Caribê, một khu vực có sự chênh lệch về kinh tế xã hội vàcác quốc gia ở các giai đoạn khác nhau của quá trình chuyển đổi dịch tễ, việcphòng ngừa và kiểm soát THA đã được ưu tiên nhưng khá không đồng đều [21].Diễn đàn kinh tế Thế giới dự báo, đến năm 2025, gần ba phần tư người bị THA

sẽ sống ở các nước đang phát triển Diễn đàn này cũng mô tả các NCD như làmối đe dọa lớn nhất đối với sự phát triển kinh tế, dự báo một sự mất mát tích lũytrong sản lượng kinh tế toàn cầu là 47 nghìn tỷ USD, hay 5% tổng sản phẩmquốc nội vào năm 2030 [4]

1.2.2 Thực trạng bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Việt Nam

Tại hội thảo quốc tế về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Hà Nội, sốliệu đưa ra cho thấy Việt Nam có hơn 7 triệu người cao tuổi, chiếm 10% dân số

Trang 32

Thang Long University Library

Trang 33

Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam đang trở thành thách thức đối với kinh tế - xãhội Tại hội thảo này, theo các chuyên gia y tế, chi phí chăm sóc y tế người caotuổi cao gấp 7 lần so với người trẻ nếu không có các giải pháp thích hợp Ngườicao tuổi mắc các bệnh về huyết áp, tim mạch, nội tiết, trầm cảm, mất trí nhớ, cácbệnh về xương khớp , ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống người caotuổi [1], [6].

Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy tình hình tăng huyết

áp ở người cao tuổi đang là vấn đề sức khỏe đáng lo ngại Nghiên cứu tỷ lệ tănghuyết áp ở người cao tuổi tỉnh Hải Dương trên cơ sở điều tra 3.117 người caotuổi tại cộng đồng, tác giả Nguyễn Đăng Phải đã đưa ra tỷ lệ tăng huyết áp là28,2%, trong đó nam cao hơn nữ (30,3% so với 26,7%) [19] Năm 2006, ĐinhThị Hương nghiên cứu sức khỏe, bệnh tật người cao tuổi tại huyện Đồng Hỷ,tỉnh Thái Nguyên thấy tỷ lệ THA là 19,5% [21] Trong khi đó, Viện chiến lược

và Chính sách y tế năm 2006 đã đưa ra tỷ lệ tăng huyết áp của người cao tuổiqua điều tra 7 tỉnh trong cả nước (bao gồm Sơn La, Hải Dương, Hà Tĩnh, NinhThuận, Đắc Lắc, Bà Rịa – Vũng Tàu và Vĩnh Long) là 28,4%

Theo Phạm Thắng khi nghiên cứu tình hình bệnh tật của người cao tuổi tại

3 xã, phường thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam: Phường Phương Mai (Hà Nội), xãPhú Xuân (Huế) và xã Hòa Long (Bà Rịa – Vũng Tàu) thấy nổi bật trong bệnhtim mạch là tăng huyết áp (HA ≥ 140/90mmHg), tỷ lệ tăng huyết áp là 45,6%,không có sự khác biệt giữa nam và nữ Tỷ lệ tăng huyết áp ở nhóm tuổi ≥ 75 là54,6%, cao hơn một cách rõ rệt so với nhóm 60 – 74 tuổi là 42% Tỷ lệ huyết áptâm thu đơn độc là 24,8% Có 18,5% người cao tuổi bị tụt huyết áp tư thế Thứhai là bệnh mạch vành 9,9%, biểu hiện bằng đau ngực trên lâm sàng và thay đổitrên điện tâm đồ Tỷ lệ suy tim là 6,7%, chủ yếu ở những người tăng huyết áp,suy vành, bệnh van tim, suy tĩnh mạch chi dưới cũng thường gặp, tỷ lệ là 16,1%[27]

Trang 34

Theo Nguyễn Đức Hoàng, Dương Vĩnh Linh, Trần Hữu Dàng, NguyễnDung và cộng sự (2004), khi tiến hành nghiên cứu trên 227 cụ tại xã HươngVân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa thiên Huế cho thấy tỷ lệ người cao tuổi ở nữcao hơn nam, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,001) Tỷ lệ tăng huyết áp là40,53%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với người không tăng huyết áp (p< 0,01)

Có sự tương quan chặt chẽ giữa tuổi với huyết áp tâm thu (p<0,001), huyết áptâm trương (p<0,05) Tương quan thuận giữa BMI với VB/VM (p<0,001) vàtuổi (p<0,01) [8]

Tại Khánh Hòa, năm 2008 Trương Tân Minh, Lê Tấn Phùng và cộng sựkhi nghiên cứu 2.240 người cao tuổi thấy kết quả tỷ lệ tăng huyết áp ở KhánhHòa là khá cao: 48,1% (95% độ tin cậy: 46,0% - 50,2%) Tăng huyết áp ở namcao hơn nữ có ý nghĩa thống kê (52,2% so với 45,4%), người Kinh cao hơnngười Raglai (48,5% so với 29,7%) Có mối tương quan giữa tăng huyết áp vớichỉ số BMI và tuổi [14]

Theo Ngô Trí Tuấn, Hoàng Văn Minh và cộng sự nghiên cứu về: Tănghuyết áp ở người dân 40-79 tuổi tại xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tỉnh TháiNguyên và một số yếu tố liên quan Kết quả cho thấy tỷ lệ THA của nhóm đốitượng nghiên cứu là 5,7%, tỷ lệ THA ở nam cao hơn nữ là 1,53 lần [11] Nghiêncứu về tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến THA ở người cao tuổi tại thị trấnChâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội, năm 2011, cho thấy: Nghiên cứu cắt ngang đượcthực hiện trên 207 người cao tuổi (người từ 60 tuổi trở lên) Kết quả cho thấy45% người cao tuổi bị THA, trong đó có hơn 1/ người cao tuổi không biết mình

Thang Long University Library

Trang 35

45,5% Tỷ lệ tiền THA tâm thu chiếm 29,5%, nam giới: 33,8 % và nữ giới:

27,5% THA tâm thu giai đoạn 1 chiếm tỷ lệ 23,8%, THA tâm thu giai đoạn2: 10,0% [10]

Chúng ta đang chứng kiến một cuộc cách mạng về tăng tuổi thọ trên phạm

vitoàn thế giới Trong thế kỷ qua, tuổi thọ trung bình của loài người đã tăng thêmhơn 30 năm Đây là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của loài người Thànhtựu này, cùng với sự tăng nhanh của dân số trong nửa đầu thế kỷ XXI đồng nghĩavới số người cao tuổi trên thế giới sẽ tăng từ 600 triệu người năm 2000 lên 2 tỷngười năm 2025 Tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng từ 10 lên 15% Các nước đangphát triển sẽ là nơi có tỷ lệ người cao tuổi tăng cao nhất và nhanh nhất Mặc dùhiện tại cấu trúc dân số nước ta vẫn thuộc loại trẻ, song tỷ lệ người cao tuổi đang

có xu hướng tăng nhanh Theo dự báo sẽ tăng gấp đôi từ 8,1% năm 1999 lên đến16,6% năm 2029 [9]

Ngành y tế cũng sẽ phải đương đầu với những thách thức mới, cùng với

sự gia tăng tuổi thọ trung bình, mô hình bệnh tật của nước ta cũng đang thay đổinhanh chóng Một mặt chúng ta vẫn phải đương đầu với các bệnh lây truyền,mặt khác chúng ta phải đối phó với sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh khônglây nhiễm Chi phí y tế cho người cao tuổi sẽ tăng lên nhanh chóng, điều này đặcbiệt quan trọng nếu chúng ta biết là bình quân chi phí y tế cho một người caotuổi cao gấp 7 lần so với một người ở nhóm tuổi trẻ Một nghiên cứu gần đâycho thấy, chi phí y tế cho nhóm người trên 75 tuổi chiếm tới 30% tổng ngân sách

y tế của một quốc gia [9]

1.3 Các yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp.

1.3.1 Tuổi

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, tuổi càng cao thành mạch càng

xơ cứng và càng dễ THA Mối liên quan giữa tuổi và THA đã được xác định quanhiều nghiên cứu cắt ngang cho thấy có liên hệ giữa tuổi và huyết áp trong hầu

Trang 36

1.3.3 Béo phì

Béo phì là một yếu tố nguy cơ gây THA, béo phì còn liên quan với một sốyếu tố nguy cơ khác như rối loạn lipid máu, hiện tượng kháng insulin, glucosetăng máu, thiếu hụt lipoprotein lipase, các yếu tố này có vai trò trong bệnh sinhTHA Tim của người béo phì buộc phải làm việc nhiều hơn để cung cấp máu vàoxy cho khối mỡ thừa Mối liên quan giữa béo phì và THA được ghi nhận rõ,trong nghiên cứu Framigham tỷ lệ THA cả nam lẫn nữ cùng một lứa tuổi tăng tỉ

lệ thuận với cân nặng tương đối và ở nhóm béo phì tỉ lệ THA là 50% [10]

Nghiên cứu của Kamal Rahmouni và cộng sự tại Hoa Kỳ cho biết béo phìliên quan chặt chẽ với THA[47]

Nghiên cứu về dịch tễ học THA của quần thể người trưởng thành ở thànhphố Maracaibo - Venejuela thấy rằng người có BMI > 25 thì tỷ lệ THA gấp 2 lầnngười có BMI < 25 (47,6% so với 24,2%) Theo nghiên cứu của Trần Đình Toán

và cộng sự năm 1995, khi BMI từ 21,5 - 22,9 trở lên, tỷ lệ THA bắt đầu tăng caohơn tỷ lệ chung trong cùng quần thể Qua nghiên cứu 1.437 nông dân ở xã ĐịnhCông - huyện Thanh Trì - Hà Nội và 101 cán bộ viên chức đang được theo dõi

ĐT ngoại trú bệnh THA tại Ban bảo vệ sức khoẻ thành phố Hà Nội cho thấy:Với người THA là cán bộ viên chức chỉ số khối cơ thể cao hơn hẳn NMTHA lànông dân 11,7 % luôn tìm thấy sự phối hợp nhiều YTNC

Thang Long University Library

Trang 37

1.3.4 Ăn nhiều muối

Một chế độ ăn nhiều muối sẽ gây THA do làm tăng thể tích lưu thông vàtiền tải và qua đó làm tăng cung lượng tim Mối liên hệ giữa lượng muối ăn và

HA động mạch đã được Ambad và Beaufard nhận xét lần đầu vào năm 1904cũng như Allan xác định vào năm 1918 [15] Năm 1939, Kempner đã có côngtrình với chế độ ăn cơm - trái cây hoàn toàn không muối để chữa bệnh THA, sau

đó tổng kết hội thảo vào năm 1984 đã khẳng định và khởi đầu chế độ giảm muốiđiều trị THA[15]

Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn muối nhiều natri (trên 14g/ngày) sẽ gâyTHA trong khi ăn ít muối (<1g/ngày) gây giảm huyết áp động mạch Theo WHOnên ăn <6g muối/ngày, hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trongnhững biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và đây cũng là cách điều trị hiệuquả nhất mà không phải dùng thuốc[35]

Hiện nay, WHO khuyến cáo chế độ ăn muối chỉ có 6g/ngày là giới hạn đểphòng chống THA Các nghiên cứu cũng cho thấy nhiều trường hợp còn chưabiết chế độ ăn nhạt Chế độ ăn giảm muối vừa phải (1-2,5g muối/mỗi ngày) ápdụng cho các trường hợp THA hoặc đang dùng thuốc lợi tiểu, trong chế độ ănnày chỉ cần có ý thức giảm bớt muối cho vào thức ăn hơn trước Mặt khác, một

số người biết cần phải ăn nhạt nhưng lại khó từ bỏ được thói quen ăn mặn[40]

Ở Nhật Bản, sau khi vận động nhân dân ăn ít muối, tỷ lệ mắc bệnh chảymáu não giảm 40%, tắc mạch não giảm 24,6% Một nghiên cứu của tại Israel vềhiệu quả của chế độ muối khoáng tác động lên HA 24 giờ ở người lớn tuổi THA:Chế độ ăn muối hàng ngày được điều chỉnh cho ít Na và tăng K, Mg trong 6tháng Một máy đo HA tự động đo HA cứ 20 phút một lần vào ban ngày và 30phút một lần vào ban đêm Nghiên cứu được làm trước và sau 6 tháng bắt đầuchế độ ăn này Kết quả giảm ăn Na và tăng ăn cả K và Mg có thể có tác dụngtrong việc khống chế THA [14]

Trang 38

Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn nhiều muối (trên 14g/ngày) sẽ gây THA;trong khi ăn ít muối (dưới 1g/ngày) gây giảm HA động mạch Theo WHO(1990) nên ăn dưới 6g/ngày Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là mộttrong những biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và cách điều trị mà khôngphải dùng thuốc tốt nhất[35]

Việt Nam ở vùng nhiệt đới, với trên 3000 km bờ biển, nhân dân ở cácvùng ven biển này chủ yếu là lao động thuần tuý nên họ có thói quen ăn mặn Vìvậy, tác động của chế độ ăn gây ra THA ở nước ta có thể là tác nhân có ý nghĩa

Một nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An là nơi người dân hay ăn mặn, mỗi ngàytrung bình ăn 13,9g muối, thì tỷ lệ THA 17,9%, còn người dân ở Hà Nội ăn nhạthơn, chỉ có 10,5g muối thì chỉ có 10,6% bị THA [16] Một số nghiên cứu chothấy: vùng ven biển ăn mặn có tỷ lệ THA cao rõ hơn ở vùng đồng bằng và miềnnúi Một điều tra dịch tễ học: so sánh 1128 và 909 cặp đôi giữa nhóm THA vànhóm đối chứng thấy rằng, tỷ lệ số người ăn mặn THA cao hơn rõ rệt so vớinhóm những người bình thường [16]

1.3.5 Ăn nhiều chất béo

Theo tác giả Nguyễn Lân Việt năm 2006, nên ăn uống điều độ, phù hợp vìchế độ ăn quá dư thừa sẽ gây béo phì và phát triển bệnh lý vữa xơ động mạch,đái tháo đường Chế độ ăn để giảm cân ở người béo phì trong đó trước tiên vàchủ yếu là: giảm các chất glucid (bánh trái, đồ ngọt, chất bột) và bù đắp bằng rauquả Ăn giảm mỡ động vật và thay bằng dầu thực vật kèm theo tăng cường vậnđộng thể lực [37]

1.3.6 Ăn thiếu chất xơ

Đã có nhiều công trình nêu lên tác dụng của chất xơ trong điều hoà HA cả

ởngười lớn và trẻ em Tuy nhiên tác dụng độc lập của chất xơ còn đang là vấn

đề cần nghiên cứu Trong chế độ ăn của người bệnh THA cần thiết phải tăngnhiều chất xơ lực[32]

Thang Long University Library

Trang 39

1.3.7 Hút thuốc lá

Khói thuốc lá chứa hơn 4000 loại hoá chất Trong đó có hơn 200 loại hoáchất có hại cho sức khoẻ Nicotin là chất có trong thuốc lá Nicotin được hấp thụqua da, niêm mạc miệng, mũi hoặc hít vào phổi Khi hút một điếu thuốc, ngườihút đưa vào cơ thể từ 1 đến 2 mg nicotin Nicotin có tác dụng chủ yếu làm comạch ngoại biên, làm tăng nồng độ serotonin, catecholamin ở não, tuyến thượngthận làm THA Hút một điếu thuốc lá, HA tâm thu có thể tăng lên tới 11 mmHg,

HA tâm trương tăng lên đến 9 mmHg, kéo dài 20-30 phút Hút thuốc nhiều cóthể có cơn THA kịch phát Một nghiên cứu trên công nhân viên nhà máy thuốc

lá, nơi chịu đựng bụi và khói thuốc lá nhiều thấy tỷ lệ bệnh THA cao hơn rõ rệt.Nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở người THA có hút thuốc lá cao hơn 50 - 60% sovới những người THA không hút thuốc lá[33], [36]

Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu về dịch tễ học bệnh THA kết quả chothấy: ở nhóm người hút thuốc lá nhiều (trên 8 điếu/ngày) có tỷ lệ THA cao hơnhẳn nhóm không hút thuốc lá, nhưng nếu hút thuốc lá dưới 8 điếu/ngày thì tỷ lệTHA giữa nhóm có hút thuốc lá và nhóm không hút thuốc là không có sự khácbiệt rõ ràng Năm 1998 - 1999, Phạm Gia Khải và cộng sự tại Hà Nội đã tiếnhành nghiên cứu trên các đối tượng nghiện thuốc lá, có 1450 người chiếm tỷ lệ19,03% (nam: 1399 người chiếm 96,48%; nữ 51 người chiếm 3,51%) Số điếuhút trung bình là 22,14 ± 4,7 điếu/ngày tức khoảng 1 bao (20 điếu)/ngày/người

Tỷ lệ THA chung ở nhóm những người nghiện thuốc lá là 15,86% [10]

Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên gấp 2-3 lần Khi hít khóithuốc vào cơ thể sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim và mạch máu Khóithuốc gây THA cấp tính và THA dao động Hút thuốc còn giảm tác dụng của cácthuốc điều trị THA Mặc dù chưa được chứng minh rõ ràng là yếu tố nguy cơ vềtăng huyết áp nhưng là một nguy cơ lớn về bệnh tim mạch Một vài nghiên cứuchứng minh giữa hút thuốc lá và THA có mối liên quan và các chương trình giáodục sức khỏe cho bệnh nhân THA đều khuyên bỏ hút thuốc [33], [19]

Trang 40

Nicotin có tác dụng gây co mạch như Adrenalin và cũng kích thích tăng tiếtcatecholamin, oxyd cacbon và các chất khác trong thuốc lá cũng dễ gây tổ thươngmạch máu Có nghiên cứu cho thấy trên điện tâm đồ ghi ngay sau khi bệnh nhânhút liên tục 3 điếu thuốc lá cũng thấy có sự biến đổi như khi bệnh nhân làm nghiệmpháp gắng sức Phải cai thuốc trên 10 năm mới biết tác hại của thuốc lá [26]

1.3.8 Thói quen uống rượu

Theo WHO năm 2001, có khoảng 140 triệu người trên thế giới nghiện rượu,

400 triệu người sử dụng rượu ở mức nguy hại, dẫn đến tai nạn và tử vong[37]

Ở Việt Nam tỷ lệ lạm dụng rượu ước tính 8% dân số và 4% là

nghiện rượu

[3]. Rượu được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, chủ yếu đoạn đầu ruột non vàđạt hàm lượng trong máu cao nhất sau khi uống từ 30 đến 90 phút Đã có một sốnghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống rượu nhiều và THA, nhưng cơchế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng Có những ý kiến chưa thống nhấtnhưng đa số thừa nhận uống nhiều rượu làm THA [3] Một số nghiên cứu cho thấyTHA ở 20-30% số người lạm dụng rượu Hơn nữa rượu còn có thể gây rối loạnnhịp tim, rối loạn điều hoà lipoprotein và triglycerid, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơtim và các bệnh lý về mạch máu [8] Các thực nghiệm cho thấy rằng với khối lượnglớn, ethanol có tác dụng co mạch trực tiếp Giảm tiêu thụ rượu xuống tới dưới 3 lầnuống trong ngày (30ml rượu) làm giảm HA ở bệnh nhân có điều trị Uống nhiềurượu hay gây THA, càng uống nhiều HA càng cao Vùng nào tiêu thụ nhiều rượu,nơi đó nhiều người bị THA Rượu uống nhiều còn làm mất hiệu quả của nhữngthuốc chữa THA[26] Qua điều tra dịch tễ học bệnh THA ở Việt Nam trong 4 năm(1989 - 1992) nhận thấy lạm dụng rượu ở người THA cao hơn những người bìnhthường [40] Nghiên cứu của Phạm Gia Khải về dịch tễ học bệnh THA tại Hà Nộinăm 1999 thấy uống rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA ở cả 2 giới [10].Khoảng 10% trường hợp THA liên quan đến uống rượu

Uống rượu thường xuyên trên 3 cốc/1ngày làm tăng nguy cơ mắc bệnhTHA Uống rượu và THA là mối liên quan đã được chứng minh qua nghiên cứu,

Ngày đăng: 24/04/2021, 08:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w